GỞI MỘNG THƯỜNG
Hãy buồn em nhé, đôi tay
Mây không kín lấp đường bay đêm dài
Hãy rung em nhé, đôi vai
Tinh cầu đã lạnh sương phai nhạt rồi
Hãy tình em nhé, đôi môi
Để anh ngỏ vội một lời kẻo tan
Hãy cùng anh nhé, đôi chân
Hai ta đi suốt trần gian mịt mù
TẶNG HOÀNG ANH THỊ
Trái đất thôi hãy ngừng quay
Cho sông thôi chảy cho ngày thôi đêm
Cho em thôi hết u phiền
Cho ta tạ cả nỗi niềm trước sau
TẶNG TÔN NỮ
Gởi tình trong quán chiều nay
Khói sương một thuở mù mây trời gần
Xin em đôi chút ân cần
Nữa mai xa tới trăm ngàn dặm trông
THƠ DẠI
Chào em buổi sáng rất vui
Có con chim nhỏ bên đời hát ca
Chào em tình cả bao la
Trần gian rộng chỉ có ta với nàng
XUÂN THU
Hôm nay ngày của tháng năm
Mây gần lủng thấp cỏ nằm non cao
Lời vàng đã cháy trăng sao
Ngàn khơi còn vọng tiếng gào xuân thu
THƯ KHÔNG GỞI
Trùng dương em mới gọi mùa
Trăng ngàn khơi dội sóng lùa kẽ tay
Tờ thư để trống bao ngày
Hiên sân quạnh một mình xoay xở buồn
MỘT THUỞ NỌ
Khi sao ngủ ở trên rừng
Thì cây về dưới cánh đồng tìm chim
Khi giông che mặt bình minh
Thì mây cam chịu lênh đênh về trời
VỀ, CÓ HAY
Khi về mây ngủ trên tay
Gió ru dưới lủng sương bay ngang đầu
Khi về em mở đôi câu
Hoa môi hoen thắm giọt sầu nặng mi
Khi về tôi lỡ ai bi
Xin em hãy cứ quay đi mĩm cười
CHỜ
Chờ em mai sớm mùa thu
Ai đi năm ngoái để ngu ngơ lòng
Chờ em trăm lối nghìn đường
Thu đông qua mấy nẻo phường phố xưa
Chờ em những sáng cùng trưa
Rượu men nồng nhắp chưa vừa sầu anh
ƯỚC VỌNG
Đi cho kịp với thời gian
Vượt qua mặt hẵn tới ngàn triệu năm
Sắp bên trái đất hai hàng
Triệu nàng thơ đứng cười vang cuộc đời
Đi cho kịp với niềm vui
Tình nghe lẫm lạ hôn mù mịt cơn
TỪ HOÀI TẤN
Thứ Hai, 8 tháng 9, 2008
Những bài sáu tám (1)
BÀI MƯA 1
Mưa mùa xin trút giùm tôi
Những đau khổ ải những lời đắng cay
Mưa mùa xin đẫm lời cây
Lá non sẽ nẩy mầm thay cuộc đời
BÀI MƯA 2
Gởi tình trong quán chiều nay
Khói sương một thuở mù mây trời gần
Xin em đôi chút ân cần
Nữa mai xa tới trăm ngàn dặm trông
CHÀO EM
Chào em thôi nhé cuộc tình
Đêm nằm nghe mộng lênh đênh bên trời
Chào em thôi nhé nụ cười
Trăm năm vui chỉ một lời hư không
Chào em thôi nhé chờ mong
Mòn con mắt với nỗi lòng chiều hôm
Cuối cùng em nỗi cô đơn
Cùng ta bầu bạn nguồn cơn tháng ngày
TỪ BIỆT
Hôm nay em đã lên đường
Với đôi vai nhỏ dăm trường biển xanh
Hôm nay còn lại mình anh
Với cơn ảo mộng cũng đành hư hao
Từ Hoài Tấn
Mưa mùa xin trút giùm tôi
Những đau khổ ải những lời đắng cay
Mưa mùa xin đẫm lời cây
Lá non sẽ nẩy mầm thay cuộc đời
BÀI MƯA 2
Gởi tình trong quán chiều nay
Khói sương một thuở mù mây trời gần
Xin em đôi chút ân cần
Nữa mai xa tới trăm ngàn dặm trông
CHÀO EM
Chào em thôi nhé cuộc tình
Đêm nằm nghe mộng lênh đênh bên trời
Chào em thôi nhé nụ cười
Trăm năm vui chỉ một lời hư không
Chào em thôi nhé chờ mong
Mòn con mắt với nỗi lòng chiều hôm
Cuối cùng em nỗi cô đơn
Cùng ta bầu bạn nguồn cơn tháng ngày
TỪ BIỆT
Hôm nay em đã lên đường
Với đôi vai nhỏ dăm trường biển xanh
Hôm nay còn lại mình anh
Với cơn ảo mộng cũng đành hư hao
Từ Hoài Tấn
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2008
Hai bài thơ
TÌNH YÊU MỚI
Buổi sáng hót tiếng chim
Đôi mắt mặt trăng
Tên thi sỹ dở hơi
Ở ngoài cõi hư không chấn động
Người đàn bà không biết tuổi thanh xuân
Ẩn mình sau cuộc sinh tử
Nàng có đôi mắt của sự chân thật
Đôi môi của hòa dịu
Và tiếng nói của cái đẹp
Nàng có cả tấm lòng lớn như thiên nhiên
Trái tim không ngăn nổi dòng máu hồng tuôn trào mặt đất
Tình yêu ta
Thừa thải
Như những câu thơ của tên thi sỹ dở hơi
KHÚC TỪ BIỆT
Em sẽ đi sẽ đi sẽ đi
Sẽ đi
Câu hát ngậm trong miệng
Trái tim hòn bi lăn
Kẻ dối trá quay ngoắc người lại
Toác miệng nhe răng
Loài quỉ dữ
Em sẽ đi sẽ đi sẽ đi
Sẽ đi
Tiếng chuông đổ rục xuống thềm
Gã tu sỹ cởi áo bỏ lại
Câu kinh buồn như dòng cổ tự trên bia đá
Một loài hoa không sắc
Em sẽ đi sẽ đi sẽ đi
Sẽ đi
Ngừơi đàn ông của em có hàm râu quai nón
Phủ phàng và nồng nàn sự thật
Một đóa hồng đâm vào môi
Con dao cắm lên ngực
Em sẽ đi sẽ đi sẽ đi
Sẽ đi
Đi
Từ Hoài Tấn
Buổi sáng hót tiếng chim
Đôi mắt mặt trăng
Tên thi sỹ dở hơi
Ở ngoài cõi hư không chấn động
Người đàn bà không biết tuổi thanh xuân
Ẩn mình sau cuộc sinh tử
Nàng có đôi mắt của sự chân thật
Đôi môi của hòa dịu
Và tiếng nói của cái đẹp
Nàng có cả tấm lòng lớn như thiên nhiên
Trái tim không ngăn nổi dòng máu hồng tuôn trào mặt đất
Tình yêu ta
Thừa thải
Như những câu thơ của tên thi sỹ dở hơi
KHÚC TỪ BIỆT
Em sẽ đi sẽ đi sẽ đi
Sẽ đi
Câu hát ngậm trong miệng
Trái tim hòn bi lăn
Kẻ dối trá quay ngoắc người lại
Toác miệng nhe răng
Loài quỉ dữ
Em sẽ đi sẽ đi sẽ đi
Sẽ đi
Tiếng chuông đổ rục xuống thềm
Gã tu sỹ cởi áo bỏ lại
Câu kinh buồn như dòng cổ tự trên bia đá
Một loài hoa không sắc
Em sẽ đi sẽ đi sẽ đi
Sẽ đi
Ngừơi đàn ông của em có hàm râu quai nón
Phủ phàng và nồng nàn sự thật
Một đóa hồng đâm vào môi
Con dao cắm lên ngực
Em sẽ đi sẽ đi sẽ đi
Sẽ đi
Đi
Từ Hoài Tấn
thơ một thời nhiễu nhương
Mỗi ngày, lúc vợ tôi gánh đôi gióng lên vai ra chợ
Cười bảo tôi
Này ông làm thơ ơi
Thơ có đem cơm áo gạo tiền
Nuôi nổi ba đứa con
Thơ có tạo được cuộc sống như mọi người chung quanh
Nhà xây, xe cúp, tivi, cát xét
Hút thuốc ba số
Cơm nhà hàng, giải trí vũ trường
Mỗi tuần lại đi Cấp
Ối ông làm thơ ơi
Thơ không kiếm được một tô bún riêu
Làm no bụng
Thơ không đẻ ra mấy lon gạo chiều nay
Ngon lành một nồi cơm nóng
Danh vọng và tài năng
Có bằng một dĩa rau muống luộc
Tôi sẽ trả lời cho em như thế nào
Trong thời đại nhiễu nhương
Mọi giá trị nổ bùng như trái phá
Con tim rao bán dọc đường tàu
Những tên mặt thú hình người
Diễn trò trên sân khấu
Cuốc sống bày biện những con rối
Ca múa trên sân băng
Tôi có thể làm được gì
Chữ nghĩa tuồng khánh kiệt
Lỡ làng dăm câu thơ
Thằng bạn thương tình đăng báo
Gởi cho mấy chục ngàn
Mua được vài thùng gạo
Thơ có thể làm được gì
Giữa những ngày “móc bọc”
Vợ nặng hai vai chùng sức nặng tháng năm
Đàn con đói no học hành chưa tới chốn
Ôi ông làm thơ ơi
Những lằn roi tai ác cuộc đời
Phủ mặt những chiều hôm
Những mê u què quặt
Cỏ khô trên lối mòn
Mưa chết thời mong đợi
Trăng tàn ở bến sông trong
Cất ly rượu buổi hoàng hôn
Dọn mình cho đêm tuẫn tiết
Tất cả những dòng sông
Đều xanh
Màu nước biếc
Tất cả những người yêu nhau
Vẫn vô vàn nhớ tiếc
Những gốc cây
Những hè đợi
Bến bãi mong chờ
Loài hoa đã nở ra lời ái ân độc dược
Những đêm khuya trở về
Khúc sonate ngoài hiên
Người thiếu nữ nghiêng
Lặng lẽ một vì sao rơi
“ Em hỡi em
tự hỏi lòng đã thấy vui chưa
khi nói lời phụ bạc”
Mỗi ngày, lúc cuộc sống dàn hàng ngang
Vợ con, mưa nắng, buồn vui
Tỉnh rồi say, say rồi tỉnh
Đường về trăm lối ngu ngơ
Những đồi mây khuya trên bầu trời đêm giá lạnh
Tiếng hát ai, nhịp mòn
Đổ xuống lòng tôi một triều đại
Mỗi ngày, lúc cuộc sống vừa mở mắt
Nắng hay mưa
Chiều hay tối
Tôi dọn mình chờ
Một cuộc chia tay
HN tháng 6/1990
Từ Hoài Tấn
Cười bảo tôi
Này ông làm thơ ơi
Thơ có đem cơm áo gạo tiền
Nuôi nổi ba đứa con
Thơ có tạo được cuộc sống như mọi người chung quanh
Nhà xây, xe cúp, tivi, cát xét
Hút thuốc ba số
Cơm nhà hàng, giải trí vũ trường
Mỗi tuần lại đi Cấp
Ối ông làm thơ ơi
Thơ không kiếm được một tô bún riêu
Làm no bụng
Thơ không đẻ ra mấy lon gạo chiều nay
Ngon lành một nồi cơm nóng
Danh vọng và tài năng
Có bằng một dĩa rau muống luộc
Tôi sẽ trả lời cho em như thế nào
Trong thời đại nhiễu nhương
Mọi giá trị nổ bùng như trái phá
Con tim rao bán dọc đường tàu
Những tên mặt thú hình người
Diễn trò trên sân khấu
Cuốc sống bày biện những con rối
Ca múa trên sân băng
Tôi có thể làm được gì
Chữ nghĩa tuồng khánh kiệt
Lỡ làng dăm câu thơ
Thằng bạn thương tình đăng báo
Gởi cho mấy chục ngàn
Mua được vài thùng gạo
Thơ có thể làm được gì
Giữa những ngày “móc bọc”
Vợ nặng hai vai chùng sức nặng tháng năm
Đàn con đói no học hành chưa tới chốn
Ôi ông làm thơ ơi
Những lằn roi tai ác cuộc đời
Phủ mặt những chiều hôm
Những mê u què quặt
Cỏ khô trên lối mòn
Mưa chết thời mong đợi
Trăng tàn ở bến sông trong
Cất ly rượu buổi hoàng hôn
Dọn mình cho đêm tuẫn tiết
Tất cả những dòng sông
Đều xanh
Màu nước biếc
Tất cả những người yêu nhau
Vẫn vô vàn nhớ tiếc
Những gốc cây
Những hè đợi
Bến bãi mong chờ
Loài hoa đã nở ra lời ái ân độc dược
Những đêm khuya trở về
Khúc sonate ngoài hiên
Người thiếu nữ nghiêng
Lặng lẽ một vì sao rơi
“ Em hỡi em
tự hỏi lòng đã thấy vui chưa
khi nói lời phụ bạc”
Mỗi ngày, lúc cuộc sống dàn hàng ngang
Vợ con, mưa nắng, buồn vui
Tỉnh rồi say, say rồi tỉnh
Đường về trăm lối ngu ngơ
Những đồi mây khuya trên bầu trời đêm giá lạnh
Tiếng hát ai, nhịp mòn
Đổ xuống lòng tôi một triều đại
Mỗi ngày, lúc cuộc sống vừa mở mắt
Nắng hay mưa
Chiều hay tối
Tôi dọn mình chờ
Một cuộc chia tay
HN tháng 6/1990
Từ Hoài Tấn
Thứ Hai, 1 tháng 9, 2008
NHỮNG NGÀY MƯA BỤI THÁNG MƯỜI HAI
Gởi tặng một mối tình
Em đã về đó phải không
Giữa những ngày mưa xóa trắng kinh thành
Anh ngàn năm cô đơn
Đợi em suốt mùa thu cố xứ
Em về
Giữa một cơn mưa
Hay giữa hai cơn mưa đời anh liên hồi rào rạc đổ
Ta vẫn có nhau
Những chiều đông xám
Bên kia đường
Bên kia những dấu vết quê nhà
Anh đã sống
Và ấu thời em đã sống
Anh chờ mong
Những canh thâu
Hát thầm trong bóng tối
Những khuya mắt xa vời
Tiếng đàn ngoài hiên
Giọng hát cao
Đã đưa anh qua mấy bờ hoạn nạn
Cho anh quên
Những cay đắng
Những buồn đau
Một thời thanh niên hiu hắt
Em hát
Cho đời anh vui
Trong đêm xa mộng về rộn rã
Trăng mơ hồ sáng lại tự nghìn xưa
Soi mặt nước hồ tỉnh tâm
Những rêu phong đền đài lăng miếu
Trăng huyền bí
Nhưng vĩnh viễn trăng
Làm sao nói được với em
Bên kia những núi
Những sông
Qua biết mấy đời chia cách
Rằng anh vẫn đời đời
Yêu em yêu em
Trong muôn ngày giá rét của mùa đông
Những mưa bay
Tìm quán nhỏ
Uống chút nhớ nhung
Trong đôi mắt bức tranh người thiếu nữ
Chiều nay dưới đường mưa bụi
em về
ngồi ấm lưng anh
quanh thành phố cũ
mùa đông ơi
nghe thấy gì không
tiếng hát trong lòng tôi vụt bổng
hay lời ca xang
mùa hội năm xưa
đưa em đi
giữa ngày mưa cố quận
ta đã nói gì với nhau trên
đường vào thành nội
em đã nói gì trong
mắt nhìn yêu dấu
những tháng năm xa đẩy lùi trí nhớ
một ngày gần bâng khuâng
ôi mưa mùa đông
trái tim anh bùi ngùi muốn rụng
em đã về, phãi không
em trăm năm, người bạn tình yêu dấu
giữa đường mưa mịt mùng
thôi hết cô đơn
thôi chờ thôi đợi
em đã vế
theo bóng chim trong hồn anh
những đêm thâu cánh đập rộn rã
trên đường bay mộng tưởng
em đã về
theo cơn gió lang thang
những năm dài không ngừng xô anh bước tới
biết rồi, chiều nay
mưa làm sao dứt
em thở bên vai anh
em nhìn trong mắt anh
biết rồi, những ngày yêu nhau
làm sao nói được
hỡi môi
hỡi mắt
hỡi tay
thiên thu sẽ bước về không kịp
biết rồi, mưa
mưa hãy mưa
đừng bao giờ dứt
đường hãy dài
đừng bao giờ hết
tình sẽ xa xôi
bởi tình gần trong giây phút
biết rồi, em
hãy im lặng
ngàn đời im lặng
như cỏ cây
như bức tường thành trường nữ trung học
mầu vôi tím ngát tháng năm
em đã về, phải không
hay mưa
mưa không ngừng bay trên khuôn mặt anh
nhạt nhòa triều nước lớn
em về
bên anh
ấm trời tương tư giá rét
em về
giữa cơn mơ
dưới đáy ly cà phê chiều quán lạnh
làm sao nói được, chiều nay
tay em
mắt em
môi em
ôi mắt ôi tay ôi môi
hỡi mưa
hỡi mùa đông
hãy nói giùm ta
bằng những hạt mưa
hãy nói giùm ta
bằng cơn gió buốt
hãy nói hãy nói hãy nói
hãy nói lại với nàng
những đêm ta chập chờn hình bóng
nàng trở về
trên một đóa bông ngâu
nở rộ trời tháng bảy
một mùa thu ai bước đi
bước chân trần giá lạnh
bên lề tháng năm
trôi mãi lời ru phiền muộn
của người góa phụ già nua
mà hồn ai mới ngất say
hồn chuông rung thánh nhạc
thu ca đời cô độc
ơi thu
những đêm trăng khuyết bên sông
ngồi đốt thuốc
nhớ ai bàn tay gõ đều trên phiến đá
bài hát ngân vang
trong mờ sương kinh đô
bóng thiên thu tạc ngời ngày tháng
hãy nói lại với nàng
ngày chia cách bến xe khuya
mùa hè năm xưa
tiễn nàng về bên kia núi non
heo hút một trời thương nhớ
mắt vời vơị trông về
những núi ngàn
những thông rừng vi vu trong gió lộng
chờ hết mùa thu
hết mùa thu ai sẽ quay về
với đôi mắt sầu chia hai nẽo
mà hồn trên tấm băng đời
vỡ tan một ngày hy vọng
ai sẽ bỏ xuôi con sông này
chiếc lá trăm năm tương tư
(đuổi theo con nước bạc
ngóng chờ ai nước lớn từng chiều)
hãy nói lại với nàng
những ngày mưa bão mịt mùng
sớm mai qua cầu gió xé
chiếc áo lạnh người
đốt điếu thuốc
nhớ ai hoài bật que diêm không cháy
mà mưa bay tạt xoáy lòng ta
một đời chim chờ cánh lớn
bao nhiêu năm qua
đã qua hết một thời thanh niên vô vàn mơ ước
ta vẫn đi
dưới trời tang thương
bật que diêm hoài không cháy
hãy nói lại với nàng
đêm đớn đau nguyệt tận
trên đường nội thành ai hát vang vang
nhịp mưa hối tiếc
vàng son xưa còn đây
người nơi đâu
lớp rêu xanh
phủ dầy trên bức tường đổ nát
mà lòng ta rung hết mấy mùa
trong gió lộng
em đã về em sẽ về hay em sẽ
không bao giờ nữa
hồn anh đốt nến đêm khuya
dấu lệ tàn mòn mỏi
em sẽ về hay em sẽ
không bao giờ nữa
chim chim ơi
mưa mưa ơi
chim hãy bay đi mãi bay đi mãi
bên trời xa khuất
mưa hãy mưa thêm
mưa hãy nói mưa sẽ nói
đồng vọng thinh không
qua những bến bờ
mưa hãy nói giùm ta
mưa ơi
những tháng ngày ta thiết tha
là những tháng ngày mưa xóa trắng kinh thành
(Huế, tháng 12 -1971)
Từ Hoài Tấn
LÀM VÁN ÉP - truyện
Xưởng của Phúc nằm cuối đường, lọt thỏm giữa khuôn đất trống sau khu cơ quan của Ngô, bạn Phúc, là Phó Giám đốc Xí nghiệp. Hai bên ký hợp đồng ăn chia theo phần trăm 40/60. Bên có mặt bằng, bên có vốn, tay nghề, nhân công sản xuất ván ép Phúc lo. Xí nghiệp bao tiêu một nửa sản phẩm. Thế là xưởng sản xuất ván ép ra đời, gần được một năm nay. Đó là khoảng đầu năm một chín chín mươi.
Ngô và Phúc học chung trường Canh nông ra trường trước năm 75, mỗi đứa một đường. Ngô theo ngành, leo lên tới quan chức Nhà nước; Phúc lận đận nhiều nghề ở tận miền Trung, đến đầu năm nay mới trở lại Thành phố sau nhiều thất bại. Còn ít vốn liếng, số máy móc vừa mua vừa tự chế, bên vợ hỗ trợ thêm, mở xưởng sản xuất ván ép. Lúc này thành phố cơ chế mở, khuyến khích sản xuất nên việc xin giấy phép không mấy khó khăn, lại liên doanh với đơn vị Nhà nước, có nhiều mặt tương đối thuận lợi.
Nhà xưởng thuộc dạng tiền chế, lợp tôn, khá nóng mặc dầu giữa bãi đất trống. Dây chuyền sản xuất thủ công, có máy lạn ván, máy cưa bàn, hai máy ép công suất khoảng 145 tấn. Sản phẩm có hai loại thông dụng: 1 mét, 2 mét, ván ép ba lớp năm lớp. Bạn hàng đa phần của Xí nghiếp Ngô đưa về, một số đại lý bán lẻ trong nội thành. Nhân công mười lăm người, toàn bà con, đảm nhận đủ các khâu: ra ván, phơi phóng, bôi keo, ép, cưa tề đầu, bốc vác, sắp xếp. Cả đám làm quần quật có khi tới đêm hoặc qua đêm để có hàng giao. Phúc là Trưởng xưởng kiêm kế toán cung tiêu, thủ quỹ, đốc công … cái gì cũng làm.
Văn quay về, sau mười hai năm phiêu dạt ở vùng biên giới các tỉnh miền Đông Nam bộ và Campuchia, với những rẫy mỳ khoai, bắp đậu với đám người dân tộc làm thuê cho những chủ thầu mua đất khẩn hoang, xây dựng các khu kinh tế nông trại cho Thành phố. Ngô là bạn cũ hồi trung học với Văn. Văn tìm Ngô ở cơ quan nói: tao đang vả, thất nghiệp, cần kiếm hai bữa cơm. Ngô dẫn gặp Phúc. Phúc bảo bạn bè thôi, không chủ cả gì, làm cùng nhau, sướng khổ cùng chia.
Phúc giao cho Văn làm Tổ trưởng cưa cắt. Tổ có 4 người, em cháu Phúc cả, còn nhỏ chưa tới hai mươi.
“Ông có thể ăn ngủ ở đây, tôi bảo tụi nó đem cái giường tre bỏ bên văn phòng cho ông, kiêm luôn bảo vệ cũng được, tụi nhỏ đi chơi dữ lắm, không quản nổi.” Phúc nói.
Thế là xong. Văn phòng: là cái lều mấy mét vuông vừa đủ để cái giường đơn, cái bàn tre nhỏ, vách ván ép che sơ sịa mấy miếng hai bên hông, gió lộng nhiều hướng.
Một ngày lương bốn ngàn, cơm, thuốc lá, cà phê, dư vài trăm bạc mua báo. Đám công nhân nhỏ mười lăm mười sáu, mỗi mình Văn là bố già trong bọn.
Văn để râu trên, nắng của miền Đông còn sạm da mặt, bộ đồ Ngô đưa hơi rộng, trông vừa ngố vừa buồn cười và hơi lạc lỏng. Bữa đầu xuống xưởng, tụi nhỏ có vẻ e dè, lần hồi cũng có đứa lân la hỏi chuyện.
“ Chú làm đây hả ?”
“Ừ, như tụi mày thôi”
“Chú bạn ông Phúc?”
“Ừ, gần như thế”
“Sao chú lại làm đây?”
“Chứ mày nghĩ tao làm gì ?”
“Chú phải làm việc gì khác sướng hơn tụi con. Cực lắm chú “
“Thì phải chịu thôi “
“Lương ở đây làm sao chú nuôi vợ con nổi?”
“Nuôi được cái thân mình là tốt rồi”
“Tụi con sống một mình thiếu hụt lắm, nợ đìa”
“Tao chỉ cần ăn cơm tàu hủ chiên, hút thuốc đen, chiều chiều đâu có lai rai như tụi bây. Gói gọn thôi”
“Chú không nhậu ?”
“Chút đỉnh”
“Rẻ lắm cũng năm ngàn một chầu”
“Mình hợp tác “Cam pu chia sâm bành ki”, khi nào đi rủ tao với”
Khiêng ván, sắp vào mâm cưa, đo, ngắm, bật cầu dao. Được một đợt ván cao nghệu, tiếp tục câu chuyện.
“Chú mấy con rồi”
“Ba”
“Chà, hơi nhiều!”
“Nhiều hơn hai, bà xã mắn con. Kiêng rồi”
“Vợ chú ở dưới quê ?”
“Ừ”
“Lên về tốn kém dữ. Sao chú không tìm cách đưa lên?
“Lên ở đâu ? Làm gi? Một thân tao còn chưa xong”
“Nhà cháu cũng kinh tế mới về, ơ’ nhà thuê, ba chạy xích lô, mẹ bán rau muống, sống cũng được!”
“Từ từ mày ơi. Cái nhà tao dưới quê bị dột tùm lum, bán chưa ai mua, có mua cũng chẳng là bao. Thuê nhà chịu gì xiết. Mấy nhỏ còn vướng học hành, di chuyển khó. Tạm vậy đã. Mạnh ai nấy làm, no bụng ưu tiên, cạy cục cho bọn nó học may ra đỡ tấm thân, không lý như tụi mày suốt đời đi làm lao công sao “
Một lát. Một đống ván lại được chất lên. Sắp giờ trưa.
“Chú chắc lớn tuổi rồi nhỉ ?”
“Bốn mốt”
“Thua ba cháu 5 tuổi”
“Ba mày đạp khá không?”
“Lớn tuổi, chở mối không à, ngày kiếm được năm mười ngàn”
“Vậy là nhất rồi”
“Chia với chủ xe hết phần ba, mình còn hai phần”
“Thế cũng được. À trước ba mày làm gì?”
“Công chức”
“Không đi học à?”
“Công chức quèn, học chính sách tại địa phương mấy ngày thôi, xong đi kinh tế mới. Đi gần mười năm, mới về mấy năm nay”
Lứa tuổi những tên bốn mươi như bọn Văn bây giờ lỡ thầy lỡ thợ. Những tên già không có tuổi trẻ, và nếu có thì đó là cuộc chiến tranh vừa qua. Những thằng như Văn hiện nay đa số đều đổi vai cho bà vợ.
“Hồi trước chú làm gì?”
“Làm quan”
“Vậy là chú phải đi học tập”
“Phải vậy chứ. Nhưng ngắn thôi vì có thân nhân cách mạng bảo lãnh. Học ở trại không chừng lại sướng, mập và khoẻ như trâu vì ngày ngày đi rừng, đốn cây, cắt tranh, làm nhà, trổng tỉa rẫy nương, tối về ngủ khò, chả lo nghĩ gì cả. Nếu cách mạng cho đi học nữa chắc chú tình nguyện”
“Chú nói cho vui, ai đi cũng mong ngóng về”
“Ừ dĩ nhiên là tự do vẫn quý”
“Nhưng sao giờ chú ốm o vậy?”
“Về, thất nghiệp, làm đủ nghề, kể cả làm ruộng dù từ nhỏ lớn chẳng biết lúa mạ là gì. Buồn cười thật!”
“Sao chú không ở quê làm ruộng ? Cháu thấy mấy ông nhà quê lên sắm đồ khối tiền”
“Tùy thôi. Chú làm ba mùa sạch vốn, ruộng bưng mới khai phá làm không có ăn thua trắng. Đi đốn củi, thiếu ăn, bò ra chợ, không có việc lại mò trở về đây.”
“Ở đây mà không có tiền không sống nổi. Cái gì cũng tính bằng tiền”
“Đúng rồi. Nhưng có chút ít tiền khác với sự không có tiền. Cháo rau còn hơn là không có gì vô bụng”
“Chú có vẻ chán chường nhỉ?”
“Chán cóc khô gì? Vui không hết. Từ từ sẽ khá lên con ạ. Hết cơn bỉ cực ắt tới hồi thới lai!”
“Biết chừng nào?”
“Giàu nghèo cũng tợ áng mây thôi con”
“Chú nói như người cõi trên. Cháu chả thấy mây đâu cả chiều nào về cũng thấy ba má lằng nhằng có khi cự cãi nhau”
“Đời mà, nữa cháu ra sống giữa đời cũng vậy thôi, có vui buồn có cười khóc mới là đời”
Buổi sáng qua đi một nửa. Hơi nóng ngoài sân trống hắt vào, mùi hóa chất bên khâu ép đưa sang, cay xè con mắt.
Thằng nhỏ làm chung sắp xếp lại chồng ván ngay ngắn rồi rút điếu thuốc lẻ trong túi mời Văn.
“Nghỉ giải lao chú ạ?”
”Đồng ý”
Xưởng im lắng. Mùa hè. Hàng dừa trồng dọc theo hành lang tường rào xí nghiệp trông thật tội vì phải chịu trận trên vùng đất gò trái khoáy mùa nắng cháy khô. Không biết vị nào trong Ban lãnh đạo của Ngô nghĩ ra cái kế hoạch cây xanh một cách tréo cẳng ngỗng này. Những quài bông dừa trổ héo, rụng đầy dưới gốc. Không hề nghe ong bướm qua về, lui tới, gieo mầm nẩy hạt cho cây.
Phúc đi đâu về, ghé vào, mồ hôi nhễ nhại.
“Công việc thế nào?”
“Cũng được. Ông sao vậy?
“Chạy loanh quanh. Cả buổi sáng không kết quả gì, phải giải quyết ba cái tồn kho, kẹt vốn. Xí nghiệp không ứng trước nữa. Hết nguyên liệu rồi. Tôi đi đây”
Phúc vừa nói vừa đi về phía văn phòng Xí nghiệp, hình như thoáng thấy một bạn hàng đang đứng ở đó.
Thằng nhỏ nãy giờ lặng thinh, cái mặt choắt còm, ngó lên:
“Mười giờ rồi chú, làm chút nữa đi!”
"Ừ, làm thôi”
Lại khiêng, vác, chỉnh lưỡi cưa, bật cầu dao, đường cưa cháy xé khoảng không im ắng. Dù sao đó là công việc, hàng tuần có phát tiền vào chiều thứ bảy. Thứ bảy bao giờ cũng xinh đẹp. Và có 52 cái thứ bảy như thế mỗi năm. Làm một chầu cuối tuần, dãn cái lưng ra. Rủng rỉnh vài chục ngàn lưng túi, ra khỏi xưởng, về quê.
Buổi trưa đi ăn cơm căn tin, gặp Ngô.
“Ông cũng ăn cơm “nhà bàn” ? Phó Giám đốc gì xệ vậy”
“Bảy trăm đồng ngày, ra ngoài ăn gì được !”
Mỗi người lấy một suất, bưng ra bàn ăn.
“Làm được không?”
“Tốt. Qua ngày cái đã”
“ Để tôi nói Phúc cho ông chạy cung tiêu đi. Hợp với ông”
“Sao cũng được. Làm chung với tụi nhỏ cũng vui”
“Xưởng sản xuất yếu quá, không ra hàng được. Có lẽ Phúc phải chạy thêm một máy ép xịn nữa mới có khách”
“Đúng rồi. Chất lượng ép thua người ta xa, khó chạy hàng”
Bữa ăn lặng lẽ, chùng xuống. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hình như họ không phài đang nuốt cơm và thức ăn vào bụng.
Ngô, Văn và đám bạn cùng thời – năm 1968 – những ngày đêm trên lầu 3 của Trường Kiểu Mẫu ở Huế - những ước vọng của thời tuổi trẻ – quê hương hòa bình độc lập – Những người bạn đã bỏ đi về phía núi xanh cho lý tưởng cuộc đời mình. Cái hộ khẩu bảy người đăng ký ở trại tạm cư ngày ấy. Nhiều năm đã đi qua.
“Bà xã ông giờ sao:” Ngô bỗng hỏi
“Nhập nhằng mấy cái hụi hè. Bể hụi. Bị giựt dọc. Giờ cày trả nợ”
“Mấy đứa nhỏ ?”
“Cũng phải ráng cho tụi nó học”
“Găng nhỉ?”
“Ừ, duới đó cũng bí, tôi phải dọt lên đây, chờ kiếm một công việc nào khả dĩ ...”
”Lúc này khó, đâu cũng thải người ra. Ông còn giữ lại bằng cấp cũ không ?”
“Đốt hết rồi. Hồi đó bà dì trong nhà sợ quá đem đốt hết”
“Để mình hỏi xem có xin sao y lại được không, hồ sơ lưu sợ không còn”
“Cũng tìm cách, tạm thời với Phúc đã. Một thời gian xem sao, không chừng lại trở về quê”
“Ông bất ổn quá”
“Nó vậy mà, hinh như luôn luôn”
“Phải tổ chức lại cuộc sống”
“Ông thì dễ rồi. Thằng Vượng nói đúng ông là đứa ổn định nhất trong đám. Ra trường, lấy vợ, làm công tác khoa học, đâu cũng dùng được”
“Có lẽ vì thế mà mình luôn luôn bứt rứt thế nào. Mình sắp đi Ấn Độ, nửa năm. Mình sẽ thu xếp cho ông một công việc trước khi đi. Có đủ tiền để toan tính việc riêng”
“Cảm ơn ông, nhưng tôi sẽ liệu được. Mười lăm năm qua vẫn tồn tại đấy thôi”
“Thôi mình về đi!”
Buổi trưa nắng dội lửa. Khuôn viên vắng lặng. Mấy ngài tài xế xe tải nằm phê dưới gầm xe ngon lành. Văn nghĩ mình cũng muốn được như thế. Tại sao lại không được nhỉ?
Xưởng có lẽ không qua khỏi mùa mưa này, tôn ván lổ chổ hầu như mục nát. Phúc nói sẽ bàn với Ngô để di dời vào Kho lớn của Xí nghiệp mới cất, nhưng phải thương thảo lại với Ban quản trị Xí nghiệp. Phải qua năm tới. Như vậy thì đống hàng tồn có nguy cơ hư hỏng nếu không giải phóng sớm trứoc mùa mưa này.
Về tới mâm cưa Văn thấy thằng nhỏ đứng xớ rớ như có ý chờ. Nó rủ Văn đi uống cà phê trưa cho tỉnh.
Quán ngoài đường, kế cạnh xưởng. Cô chủ quán nhỏ xinh, quen thuộc với đám nhân công xưởng ván ép, đon đả chào hỏi.
“Bà con hả?”
“Ông chú ở quê lên, người mới đấy”
“Sao râu ria nhiều thế ?”
“Thì già rồi. Này, nhưng cạo gọt rồi coi cũng bảnh lắm đó. Không chừng em dòm cũng xiêu xiêu ấy”
“Cái anh này, nói điêu!”
Ly cà phê đặc quánh, lớp bơ màng nổi lên trên trông cũng khá hấp dẩn.
Buổi trưa nhưng xe cộ vẫn chạy qua lại ì ào. Coi vẻ mặt ai nấy cũng nghiêm trọng, âu lo, vội vã. Không hiểu họ đang nghĩ gì. Còn Văn ?
Buổi chiều làm qua đi, chừng ấy việc, với thằng nhỏ lắm chuyện nhiều điều han hỏi lan man trên trời dưới đất. Và mãi miết. Một đống ván cao ngất chất ngoài sân. Thằng nhỏ nói “tụi cháu chưa bao giờ làm nhiều như thế, làm chung với chú vui thật”
Bốn giờ, Phúc đi đâu về ghé báo tin:
“Ông Văn này, mẹ Ngô mất rồi”
Văn dừng tay:
“Hồi nào ?”
“Mới khi trưa, chở từ bệnh viện, mất tại nhà. Bà đau đã lâu và một cơn mệt cấp kỳ”
“Vậy cũng an phần, tội nghiệp Ngô chưa báo hiếu được bao lâu, hai mẹ con nơi tha hương. Chừng nào ông đi xuống nhà Ngô cho tôi đi cùng”
“Chiều tối ông cứ chờ tôi ở đây”
Bảy giờ tối Ngô mới xuất hiện, tay xách đùm đề hoa, trái cây, nhang đèn, nói Văn đừng mua gì hết, đã có đầy đủ đây rồi.
Nhà Ngô đặc người. Văn gặp lại đám bạn xưa cũ hồi sinh viên lao xao trong nhà ngoài cổng. Ốm gầy, mập phì, bụng bự, đen và trắng, mỗi đứa thay đổi một hình dáng. Nhưng thật thân thiết và cuộc tái ngộ thật cảm động. Nhiều nghề trước đây cả bọn không thể nghĩ ra, để kể nhau nghe, vừa vui vừa tức cười. Dĩ nhiên là không đàn đúm với nhau trong đám tang được.
Vượng có ở đó, tóc bạc hết cả đầu, râu ria xồm xoàm, nhưng thật trang trọng trong bộ đồ vía nghiêm chỉnh. Chắc chắn là nhiều năm rồi hắn không ăn mặc như vậy nên trông lạ mắt (hơi có vẻ khôi hài nếu đã từng biết nhau). Vượng hỏi thăm công việc Văn, rủ Văn ra đầu xóm uống rượu.
Không biết hai đứa uống bao nhiêu, khi bà chủ ra kêu tính tiền đóng cửa thì cả hai đã ngất ngư. Văn hơi tỉnh một chút (chắc uống ít hơn), gọi anh xe ôm tống ba về xưởng ván của Phúc. Vượng dọc đường ngâm nga lè nhè bài tứ tuyệt tặng Văn. Hắn chê Văn suốt đời chả yêu ai ra hồn ra tật cả. Bài thơ ngắn, dễ nhớ:
“ Sợ nhất là trật đường rầy
Khi con tàu phóng như bay qua đèo
Sợ nhất là gặp người yêu
Nói – im – cười – khóc cũng đều dở dang “
Hình như tấm chiếu cói cũng đã được trải ra dưới mâm cưa rộng hai thước trong xưởng ván ép của Phúc. Và hai đứa ngã vật xuống. Trong cơn thảng thốt, Văn nghe sức nặng của cái máy ép 145 tấn đè trên người.
TỪ HOÀI TẤN
(Tháng 9/1990)
Ngô và Phúc học chung trường Canh nông ra trường trước năm 75, mỗi đứa một đường. Ngô theo ngành, leo lên tới quan chức Nhà nước; Phúc lận đận nhiều nghề ở tận miền Trung, đến đầu năm nay mới trở lại Thành phố sau nhiều thất bại. Còn ít vốn liếng, số máy móc vừa mua vừa tự chế, bên vợ hỗ trợ thêm, mở xưởng sản xuất ván ép. Lúc này thành phố cơ chế mở, khuyến khích sản xuất nên việc xin giấy phép không mấy khó khăn, lại liên doanh với đơn vị Nhà nước, có nhiều mặt tương đối thuận lợi.
Nhà xưởng thuộc dạng tiền chế, lợp tôn, khá nóng mặc dầu giữa bãi đất trống. Dây chuyền sản xuất thủ công, có máy lạn ván, máy cưa bàn, hai máy ép công suất khoảng 145 tấn. Sản phẩm có hai loại thông dụng: 1 mét, 2 mét, ván ép ba lớp năm lớp. Bạn hàng đa phần của Xí nghiếp Ngô đưa về, một số đại lý bán lẻ trong nội thành. Nhân công mười lăm người, toàn bà con, đảm nhận đủ các khâu: ra ván, phơi phóng, bôi keo, ép, cưa tề đầu, bốc vác, sắp xếp. Cả đám làm quần quật có khi tới đêm hoặc qua đêm để có hàng giao. Phúc là Trưởng xưởng kiêm kế toán cung tiêu, thủ quỹ, đốc công … cái gì cũng làm.
Văn quay về, sau mười hai năm phiêu dạt ở vùng biên giới các tỉnh miền Đông Nam bộ và Campuchia, với những rẫy mỳ khoai, bắp đậu với đám người dân tộc làm thuê cho những chủ thầu mua đất khẩn hoang, xây dựng các khu kinh tế nông trại cho Thành phố. Ngô là bạn cũ hồi trung học với Văn. Văn tìm Ngô ở cơ quan nói: tao đang vả, thất nghiệp, cần kiếm hai bữa cơm. Ngô dẫn gặp Phúc. Phúc bảo bạn bè thôi, không chủ cả gì, làm cùng nhau, sướng khổ cùng chia.
Phúc giao cho Văn làm Tổ trưởng cưa cắt. Tổ có 4 người, em cháu Phúc cả, còn nhỏ chưa tới hai mươi.
“Ông có thể ăn ngủ ở đây, tôi bảo tụi nó đem cái giường tre bỏ bên văn phòng cho ông, kiêm luôn bảo vệ cũng được, tụi nhỏ đi chơi dữ lắm, không quản nổi.” Phúc nói.
Thế là xong. Văn phòng: là cái lều mấy mét vuông vừa đủ để cái giường đơn, cái bàn tre nhỏ, vách ván ép che sơ sịa mấy miếng hai bên hông, gió lộng nhiều hướng.
Một ngày lương bốn ngàn, cơm, thuốc lá, cà phê, dư vài trăm bạc mua báo. Đám công nhân nhỏ mười lăm mười sáu, mỗi mình Văn là bố già trong bọn.
Văn để râu trên, nắng của miền Đông còn sạm da mặt, bộ đồ Ngô đưa hơi rộng, trông vừa ngố vừa buồn cười và hơi lạc lỏng. Bữa đầu xuống xưởng, tụi nhỏ có vẻ e dè, lần hồi cũng có đứa lân la hỏi chuyện.
“ Chú làm đây hả ?”
“Ừ, như tụi mày thôi”
“Chú bạn ông Phúc?”
“Ừ, gần như thế”
“Sao chú lại làm đây?”
“Chứ mày nghĩ tao làm gì ?”
“Chú phải làm việc gì khác sướng hơn tụi con. Cực lắm chú “
“Thì phải chịu thôi “
“Lương ở đây làm sao chú nuôi vợ con nổi?”
“Nuôi được cái thân mình là tốt rồi”
“Tụi con sống một mình thiếu hụt lắm, nợ đìa”
“Tao chỉ cần ăn cơm tàu hủ chiên, hút thuốc đen, chiều chiều đâu có lai rai như tụi bây. Gói gọn thôi”
“Chú không nhậu ?”
“Chút đỉnh”
“Rẻ lắm cũng năm ngàn một chầu”
“Mình hợp tác “Cam pu chia sâm bành ki”, khi nào đi rủ tao với”
Khiêng ván, sắp vào mâm cưa, đo, ngắm, bật cầu dao. Được một đợt ván cao nghệu, tiếp tục câu chuyện.
“Chú mấy con rồi”
“Ba”
“Chà, hơi nhiều!”
“Nhiều hơn hai, bà xã mắn con. Kiêng rồi”
“Vợ chú ở dưới quê ?”
“Ừ”
“Lên về tốn kém dữ. Sao chú không tìm cách đưa lên?
“Lên ở đâu ? Làm gi? Một thân tao còn chưa xong”
“Nhà cháu cũng kinh tế mới về, ơ’ nhà thuê, ba chạy xích lô, mẹ bán rau muống, sống cũng được!”
“Từ từ mày ơi. Cái nhà tao dưới quê bị dột tùm lum, bán chưa ai mua, có mua cũng chẳng là bao. Thuê nhà chịu gì xiết. Mấy nhỏ còn vướng học hành, di chuyển khó. Tạm vậy đã. Mạnh ai nấy làm, no bụng ưu tiên, cạy cục cho bọn nó học may ra đỡ tấm thân, không lý như tụi mày suốt đời đi làm lao công sao “
Một lát. Một đống ván lại được chất lên. Sắp giờ trưa.
“Chú chắc lớn tuổi rồi nhỉ ?”
“Bốn mốt”
“Thua ba cháu 5 tuổi”
“Ba mày đạp khá không?”
“Lớn tuổi, chở mối không à, ngày kiếm được năm mười ngàn”
“Vậy là nhất rồi”
“Chia với chủ xe hết phần ba, mình còn hai phần”
“Thế cũng được. À trước ba mày làm gì?”
“Công chức”
“Không đi học à?”
“Công chức quèn, học chính sách tại địa phương mấy ngày thôi, xong đi kinh tế mới. Đi gần mười năm, mới về mấy năm nay”
Lứa tuổi những tên bốn mươi như bọn Văn bây giờ lỡ thầy lỡ thợ. Những tên già không có tuổi trẻ, và nếu có thì đó là cuộc chiến tranh vừa qua. Những thằng như Văn hiện nay đa số đều đổi vai cho bà vợ.
“Hồi trước chú làm gì?”
“Làm quan”
“Vậy là chú phải đi học tập”
“Phải vậy chứ. Nhưng ngắn thôi vì có thân nhân cách mạng bảo lãnh. Học ở trại không chừng lại sướng, mập và khoẻ như trâu vì ngày ngày đi rừng, đốn cây, cắt tranh, làm nhà, trổng tỉa rẫy nương, tối về ngủ khò, chả lo nghĩ gì cả. Nếu cách mạng cho đi học nữa chắc chú tình nguyện”
“Chú nói cho vui, ai đi cũng mong ngóng về”
“Ừ dĩ nhiên là tự do vẫn quý”
“Nhưng sao giờ chú ốm o vậy?”
“Về, thất nghiệp, làm đủ nghề, kể cả làm ruộng dù từ nhỏ lớn chẳng biết lúa mạ là gì. Buồn cười thật!”
“Sao chú không ở quê làm ruộng ? Cháu thấy mấy ông nhà quê lên sắm đồ khối tiền”
“Tùy thôi. Chú làm ba mùa sạch vốn, ruộng bưng mới khai phá làm không có ăn thua trắng. Đi đốn củi, thiếu ăn, bò ra chợ, không có việc lại mò trở về đây.”
“Ở đây mà không có tiền không sống nổi. Cái gì cũng tính bằng tiền”
“Đúng rồi. Nhưng có chút ít tiền khác với sự không có tiền. Cháo rau còn hơn là không có gì vô bụng”
“Chú có vẻ chán chường nhỉ?”
“Chán cóc khô gì? Vui không hết. Từ từ sẽ khá lên con ạ. Hết cơn bỉ cực ắt tới hồi thới lai!”
“Biết chừng nào?”
“Giàu nghèo cũng tợ áng mây thôi con”
“Chú nói như người cõi trên. Cháu chả thấy mây đâu cả chiều nào về cũng thấy ba má lằng nhằng có khi cự cãi nhau”
“Đời mà, nữa cháu ra sống giữa đời cũng vậy thôi, có vui buồn có cười khóc mới là đời”
Buổi sáng qua đi một nửa. Hơi nóng ngoài sân trống hắt vào, mùi hóa chất bên khâu ép đưa sang, cay xè con mắt.
Thằng nhỏ làm chung sắp xếp lại chồng ván ngay ngắn rồi rút điếu thuốc lẻ trong túi mời Văn.
“Nghỉ giải lao chú ạ?”
”Đồng ý”
Xưởng im lắng. Mùa hè. Hàng dừa trồng dọc theo hành lang tường rào xí nghiệp trông thật tội vì phải chịu trận trên vùng đất gò trái khoáy mùa nắng cháy khô. Không biết vị nào trong Ban lãnh đạo của Ngô nghĩ ra cái kế hoạch cây xanh một cách tréo cẳng ngỗng này. Những quài bông dừa trổ héo, rụng đầy dưới gốc. Không hề nghe ong bướm qua về, lui tới, gieo mầm nẩy hạt cho cây.
Phúc đi đâu về, ghé vào, mồ hôi nhễ nhại.
“Công việc thế nào?”
“Cũng được. Ông sao vậy?
“Chạy loanh quanh. Cả buổi sáng không kết quả gì, phải giải quyết ba cái tồn kho, kẹt vốn. Xí nghiệp không ứng trước nữa. Hết nguyên liệu rồi. Tôi đi đây”
Phúc vừa nói vừa đi về phía văn phòng Xí nghiệp, hình như thoáng thấy một bạn hàng đang đứng ở đó.
Thằng nhỏ nãy giờ lặng thinh, cái mặt choắt còm, ngó lên:
“Mười giờ rồi chú, làm chút nữa đi!”
"Ừ, làm thôi”
Lại khiêng, vác, chỉnh lưỡi cưa, bật cầu dao, đường cưa cháy xé khoảng không im ắng. Dù sao đó là công việc, hàng tuần có phát tiền vào chiều thứ bảy. Thứ bảy bao giờ cũng xinh đẹp. Và có 52 cái thứ bảy như thế mỗi năm. Làm một chầu cuối tuần, dãn cái lưng ra. Rủng rỉnh vài chục ngàn lưng túi, ra khỏi xưởng, về quê.
Buổi trưa đi ăn cơm căn tin, gặp Ngô.
“Ông cũng ăn cơm “nhà bàn” ? Phó Giám đốc gì xệ vậy”
“Bảy trăm đồng ngày, ra ngoài ăn gì được !”
Mỗi người lấy một suất, bưng ra bàn ăn.
“Làm được không?”
“Tốt. Qua ngày cái đã”
“ Để tôi nói Phúc cho ông chạy cung tiêu đi. Hợp với ông”
“Sao cũng được. Làm chung với tụi nhỏ cũng vui”
“Xưởng sản xuất yếu quá, không ra hàng được. Có lẽ Phúc phải chạy thêm một máy ép xịn nữa mới có khách”
“Đúng rồi. Chất lượng ép thua người ta xa, khó chạy hàng”
Bữa ăn lặng lẽ, chùng xuống. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hình như họ không phài đang nuốt cơm và thức ăn vào bụng.
Ngô, Văn và đám bạn cùng thời – năm 1968 – những ngày đêm trên lầu 3 của Trường Kiểu Mẫu ở Huế - những ước vọng của thời tuổi trẻ – quê hương hòa bình độc lập – Những người bạn đã bỏ đi về phía núi xanh cho lý tưởng cuộc đời mình. Cái hộ khẩu bảy người đăng ký ở trại tạm cư ngày ấy. Nhiều năm đã đi qua.
“Bà xã ông giờ sao:” Ngô bỗng hỏi
“Nhập nhằng mấy cái hụi hè. Bể hụi. Bị giựt dọc. Giờ cày trả nợ”
“Mấy đứa nhỏ ?”
“Cũng phải ráng cho tụi nó học”
“Găng nhỉ?”
“Ừ, duới đó cũng bí, tôi phải dọt lên đây, chờ kiếm một công việc nào khả dĩ ...”
”Lúc này khó, đâu cũng thải người ra. Ông còn giữ lại bằng cấp cũ không ?”
“Đốt hết rồi. Hồi đó bà dì trong nhà sợ quá đem đốt hết”
“Để mình hỏi xem có xin sao y lại được không, hồ sơ lưu sợ không còn”
“Cũng tìm cách, tạm thời với Phúc đã. Một thời gian xem sao, không chừng lại trở về quê”
“Ông bất ổn quá”
“Nó vậy mà, hinh như luôn luôn”
“Phải tổ chức lại cuộc sống”
“Ông thì dễ rồi. Thằng Vượng nói đúng ông là đứa ổn định nhất trong đám. Ra trường, lấy vợ, làm công tác khoa học, đâu cũng dùng được”
“Có lẽ vì thế mà mình luôn luôn bứt rứt thế nào. Mình sắp đi Ấn Độ, nửa năm. Mình sẽ thu xếp cho ông một công việc trước khi đi. Có đủ tiền để toan tính việc riêng”
“Cảm ơn ông, nhưng tôi sẽ liệu được. Mười lăm năm qua vẫn tồn tại đấy thôi”
“Thôi mình về đi!”
Buổi trưa nắng dội lửa. Khuôn viên vắng lặng. Mấy ngài tài xế xe tải nằm phê dưới gầm xe ngon lành. Văn nghĩ mình cũng muốn được như thế. Tại sao lại không được nhỉ?
Xưởng có lẽ không qua khỏi mùa mưa này, tôn ván lổ chổ hầu như mục nát. Phúc nói sẽ bàn với Ngô để di dời vào Kho lớn của Xí nghiệp mới cất, nhưng phải thương thảo lại với Ban quản trị Xí nghiệp. Phải qua năm tới. Như vậy thì đống hàng tồn có nguy cơ hư hỏng nếu không giải phóng sớm trứoc mùa mưa này.
Về tới mâm cưa Văn thấy thằng nhỏ đứng xớ rớ như có ý chờ. Nó rủ Văn đi uống cà phê trưa cho tỉnh.
Quán ngoài đường, kế cạnh xưởng. Cô chủ quán nhỏ xinh, quen thuộc với đám nhân công xưởng ván ép, đon đả chào hỏi.
“Bà con hả?”
“Ông chú ở quê lên, người mới đấy”
“Sao râu ria nhiều thế ?”
“Thì già rồi. Này, nhưng cạo gọt rồi coi cũng bảnh lắm đó. Không chừng em dòm cũng xiêu xiêu ấy”
“Cái anh này, nói điêu!”
Ly cà phê đặc quánh, lớp bơ màng nổi lên trên trông cũng khá hấp dẩn.
Buổi trưa nhưng xe cộ vẫn chạy qua lại ì ào. Coi vẻ mặt ai nấy cũng nghiêm trọng, âu lo, vội vã. Không hiểu họ đang nghĩ gì. Còn Văn ?
Buổi chiều làm qua đi, chừng ấy việc, với thằng nhỏ lắm chuyện nhiều điều han hỏi lan man trên trời dưới đất. Và mãi miết. Một đống ván cao ngất chất ngoài sân. Thằng nhỏ nói “tụi cháu chưa bao giờ làm nhiều như thế, làm chung với chú vui thật”
Bốn giờ, Phúc đi đâu về ghé báo tin:
“Ông Văn này, mẹ Ngô mất rồi”
Văn dừng tay:
“Hồi nào ?”
“Mới khi trưa, chở từ bệnh viện, mất tại nhà. Bà đau đã lâu và một cơn mệt cấp kỳ”
“Vậy cũng an phần, tội nghiệp Ngô chưa báo hiếu được bao lâu, hai mẹ con nơi tha hương. Chừng nào ông đi xuống nhà Ngô cho tôi đi cùng”
“Chiều tối ông cứ chờ tôi ở đây”
Bảy giờ tối Ngô mới xuất hiện, tay xách đùm đề hoa, trái cây, nhang đèn, nói Văn đừng mua gì hết, đã có đầy đủ đây rồi.
Nhà Ngô đặc người. Văn gặp lại đám bạn xưa cũ hồi sinh viên lao xao trong nhà ngoài cổng. Ốm gầy, mập phì, bụng bự, đen và trắng, mỗi đứa thay đổi một hình dáng. Nhưng thật thân thiết và cuộc tái ngộ thật cảm động. Nhiều nghề trước đây cả bọn không thể nghĩ ra, để kể nhau nghe, vừa vui vừa tức cười. Dĩ nhiên là không đàn đúm với nhau trong đám tang được.
Vượng có ở đó, tóc bạc hết cả đầu, râu ria xồm xoàm, nhưng thật trang trọng trong bộ đồ vía nghiêm chỉnh. Chắc chắn là nhiều năm rồi hắn không ăn mặc như vậy nên trông lạ mắt (hơi có vẻ khôi hài nếu đã từng biết nhau). Vượng hỏi thăm công việc Văn, rủ Văn ra đầu xóm uống rượu.
Không biết hai đứa uống bao nhiêu, khi bà chủ ra kêu tính tiền đóng cửa thì cả hai đã ngất ngư. Văn hơi tỉnh một chút (chắc uống ít hơn), gọi anh xe ôm tống ba về xưởng ván của Phúc. Vượng dọc đường ngâm nga lè nhè bài tứ tuyệt tặng Văn. Hắn chê Văn suốt đời chả yêu ai ra hồn ra tật cả. Bài thơ ngắn, dễ nhớ:
“ Sợ nhất là trật đường rầy
Khi con tàu phóng như bay qua đèo
Sợ nhất là gặp người yêu
Nói – im – cười – khóc cũng đều dở dang “
Hình như tấm chiếu cói cũng đã được trải ra dưới mâm cưa rộng hai thước trong xưởng ván ép của Phúc. Và hai đứa ngã vật xuống. Trong cơn thảng thốt, Văn nghe sức nặng của cái máy ép 145 tấn đè trên người.
TỪ HOÀI TẤN
(Tháng 9/1990)
lục bát
Gió nước mặn
Lửng lơ, chiếc nón qua sông
Một mùa gió nổi chiều hôm tan nhòa
Lửng lơ, mặt đất ngời xa
Ngày dài trên sóng mình ta chờ người
Lửng lơ, cơn gió về trời
Biển bờ năm ấy vọng lời ru xưa
Từ Hoài Tấn
(Báo Thanh Niên Chủ nhật 31/8/2008 )
http://www6.thanhnien.com.vn/Vanhoa/Vanhoc/2008/8/31/259308.tno
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)