Thứ Tư, 25 tháng 2, 2009

Thơ Lê Ngọc Thuận



HUẾ VỚI VVL MỘT CHIỀU


Ông nội tôi chẳng hiểu

những bức tranh năm kỷ sửu

trán ngắn - trán tròn - sừng cao - sừng thấp

chung quanh đầy nhan sắc đủ thứ màu mè

những khuôn mặc phù thuỷ

nguệch ngoạc tóc râu

dăm ba lon bia cô quạnh

vài ba nụ cười thị phi

tôi chợt thoáng thấy em từ quá khứ

với bàn tay không quen đá lạnh

sửa lại tách càfê

nghiêng môi cười khuya khoắt

bà nội tôi sống lại

chắc cũng không thể biết được

tại sao em thôi mặc áo dài

tại sao em không còn đốt thuốc

để mình tôi lơ lửng

trong khói toả men cay

với mùa xuân một mình rót rượu

góc phố chợ đìu hiu

20 năm rồi

Không có em chạm chén

Tôi là nhà sư không xuất gia

Không tụng kinh nhưng nhớ em chắc chắn


TIM DU KÍCH


nụ hôn em hạn hán

buồn nứt má nẻ môi

tháng giêng rượu xảo quyệt

say lưu lạc chổ ngồi


lòng ta như rét hại

teo tóp ngọn sầu trông

người xưa chừ mất mặt

tình vẫn vòng tay không


tóc nội thành đã ngắn

mắt vương phi tàn canh

đâu rồi đêm chim thuý

gió phu thê đoạn đành


ta một phương ngây dại

chìm trong sóng rượu lay

em đã thôi nhả khói

điếu thuốc vàng lẻ loi


ta nhớ tách càfê

môi hồng xưa nhẹ nhấp

gốc khế già chốn cũ

thanh âm quý nguyệt cầm


tên du kích đã chết

phơi xác giữa đồng hoang

sao trái tim còn đập

bởi tình vốn thênh thang.


CHUẨN TẾT KỶ SỬU


Cái đầu là của nhà sư ăn mặn

Trái tim là của một tay lãng tử yêu người

từ đó mùa xuân có lá vàng rụng

rượu một trăm phần trăm

gã say tình mua xôi gà về hàng bè

bạn hữu dăm đứa lai rai

khuya trời vvl xù mất tiêu

còn lạc Ngọc bạc – Vĩnh cao với Thuận mù

giá như có sáu câu vặn cổ

giá như có Hồ Điệp ngâm thơ

ta lại nhớ em

con chim thuỳ hót giữa tàn canh

người đàn bà chơi bài ba lá

và ta - gã đàn ông thật thà

trên chiếc xe đò nhung nhớ

ngồi mộng dấu môi xưa

buồn hết nước nói

tri âm! tri kỷ!

ai cũng muốn

nhưng toàn là nhôm nhựa

bỡi nhan sắc như rượu nồng giữa mùa đông

hết rượu lại lạnh tiếp

bởi thế nên Tất Đạt Đa Thái tử qua sông

dựa vào gốc cây Bồ Đề thành Phật

còn ta

không lên thiên đàng

không về cực lạc

ta vẫn hoài Mỹ Chánh

nơi có đôi mắt khế

nơi có mái tóc tết dài

nơi có ta yêu người Lăng – ba - vi - bộ

huế - sông Hương và tơ nhện

huế - không có em

bởi ta đã khổ hạnh mang em dấu vào địa ngục

tháng giêng lại nhớ Bs Hùng

thần thông một cõi.


BIỆT KÍCH


Áo em khuy cỡi Nam tào

Hoá ra Bắc Đẩu đã vào thiên thu

Sàigòn bỗng dưng sương mù

Chuông chùa sửa mộng thầy tu về nhà

Ta từ trong cõi quỷ ma

bước ra nhịp thở đã là thánh nhân

sá chi rượu rót phong trần

cạn cho hết cuộc phù vân ta bà

sông Hương hừ ! một khúc ca

ngó đi – ngó lại – nhìn xa – nhìn gần

tình yêu vốn thứ lần đân

chẳng cần pháp luật – đâu cần đúng sai

nói chi đạo lý thọ mai

yêu em lòng đã bên ngoài thế gian

em nói láo - tội em mang

còn ta vẫn cứ một đàng yêu em

tình yêu như thể mắm nêm

ta đành chấm với đêm đêm nhớ người.


2009

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2009

Những bất ngờ thú vị từ đồ sứ ký kiểu



Nhà nghiên cứu TRẦN ĐÌNH SƠN
ra mắt tác phẩm
Thưởng ngoạn đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn 1802-1945

Quyển sách đầu tiên “trưng bày” các vẻ đẹp và sự độc đáo của đồ sứ ký kiểu qua ảnh và chú thích vừa được nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn cho ra mắt. Sách mang tên Thưởng ngoạn đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn 1802-1945 (NXB Văn Nghệ), khổ 25x25,5 cm, in trên giấy đẹp, trình bày song ngữ Anh - Việt.

Có thể người đọc - người nghe còn thấy lạ lẫm với thuật ngữ “đồ sứ ký kiểu” - một di sản văn hóa truyền thống đáng trân trọng nhưng lâu nay chưa có tên gọi thống nhất cũng như chưa được nhiều người khám phá.

Thật ra, cụm từ “đồ sứ ký kiểu” được dùng thay cho “đồ sứ men lam Huế”. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn cho biết cụm từ “đồ sứ men lam Huế” không có nguồn gốc tên gọi từ chính người Việt, mà được cố học giả Vương Hồng Sển dịch từ tên “bleus de Hue” của học giả người Pháp say mê các đồ sứ của triều Nguyễn.

Trong khi đó, tên gọi do chính tiền nhân chúng ta đặt là “đồ kiểu”, “đồ mẫu”, “đồ ký kiểu”. Và trong Đại Nam quấc âm tự vị (1895), nhà biên khảo Huỳnh Tịnh Của cũng có giải thích về chữ “đồ ký kiểu”: đồ làm theo kiểu mình gửi. Tìm một cụm từ có thể diễn tả đầy đủ các chủng loại đồ sứ do người Việt gửi kiểu mẫu đặt làm ở nước ngoài dưới hai triều Lê - Nguyễn, tác giả đã chọn tên “đồ sứ ký kiểu” và công bố trong một bài báo cách đây 15 năm - khoảng thời gian đủ cho một thuật ngữ mới được chấp nhận và đi vào đời sống.

Đúng như tên sách,Thưởng ngoạn đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn giúp người đọc bước vào một "bảo tàng" di sản có hệ thống khoa học,mở rộng về những hiểu biết về lịch sử,văn hóa dân tộc qua từng hiện vật .Từ những hình ảnh trang trí trên đồ sứ ta được thưởng thức những bài thơ nôm,chữ viết của mỗi thời đại thịnh suy,gu thẩm mỹ của người xưa.

Chén thời Minh Mạng có đề tài
trang trí hoa mai và chim hạc.
Đề thơ Nôm:
Nghêu ngao vui thú yên hà/
Mai là bạn cũ,hạc là người quen.

Tuoi Tre Online - 23/2/2009


Thứ Tư, 18 tháng 2, 2009

Trong một buổi sáng ở quán

Viên gạch lát vỉa hè vỡ ra tiếng nói
Những bàn chân bước tới trên những chiếc đế giày nhọn
Chiếc ống vố thở làn khói lạ
Các nhà thơ huyền hoặc những chữ leo lên ngọn cây bông giấy
Buổi sáng muộn lời chào hỏi
“ Em không thể quên anh
Khi đi xa đi xa“
Lời bài hát rè vang giữa đường phố im vắng
Tiếng chổi nhẹ đung đưa
Thiên đường không ở nơi tấm vé số người bán dạo

Ngồi quanh tôi có những người thường ngày quen biết và lạ lẫm
Chỉ có cùng một suy nghĩ
Cuộc sống đã bắt đầu rồi hãy vui đi

THT

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2009

Nguyễn Tiến Văn: Về tập thơ M – N & Z của Đoàn Minh Châu

Mùa Đông cuối năm 2008, có một tập thơ do tác giả tự xuất bản. Quy mô của việc in bằng Tapmáy vi tính, với số lượng khiêm tốn 50 bản chưa đủ tặng cho bạn hữu và những người yêu thơ trong phạm vi thân thiết nhất, thực là nhỏ bé. Tuy nhiên ý nghĩa của hành vi này lại hàm chứa những hạt nhân không thể coi nhẹ đối với những ai quan tâm tới sinh hoạt văn học

Đó là tập M – N & Z của Đoàn Minh Châu do Minh Châu xuất bản; kích thước 13×19cm, 57 trang ruột, in trên giấy ngà vàng; bìa màu kem, chỉ trình bày kiểu chữ viết tay nhan đề. Tập thơ gồm 49 bài và 8 trang minh họa của chính tác giả.

Sau đây là một số nhận xét về tập thơ:

1.

Điều trước tiên phải nói là về tác giả. Một nữ nhà thơ gốc Quảng Nam, sinh năm 1984 trong một gia đình cha mẹ đều là nhà giáo, đã tốt nghiệp đại học và hiện sống tại Đà Nẵng. Đoàn Minh Châu đã từng có thơ in trên mạng, trên báo chí, trong các tuyển tập từ vài ba năm nay, và có một số giải thưởng.

Tập thơ này gồm những sáng tác từ 2002 cho tới bài mới nhất làm trong tháng 11–2008. Gần như toàn bộ các bài thơ đều có ghi năm tháng và nhiều lần cả ngày sáng tác (trừ bài Cảm ơn anh ở trang 20, và bài “Muộn” ở trang 49) – cho nên ta có thể xem đây như một tập thơ-nhật ký của một người con gái Việt Nam từ năm 21 đến năm 24 tuổi. Nếu lập một bảng thống kê về tháng năm sáng tác, thì trừ bài đầu tiên làm năm 2002, trong tập này có 8 bài làm năm 2005; 18 bài làm năm 2006; 13 bài làm năm 2007; và 9 bài làm năm 2008.

Đây là một tập nhật ký-thơ về những cảm xúc, suy tư, và trải nghiệm của một người thiếu nữ sau 18 năm sống ở một thị trấn miền Trung; 4 năm sống ở thủ đô Hà Nội - những năm đi học; 2 năm sống ở thành phố Đà Nẵng đi làm việc. Tất cả những sáng tác này vừa đặc trưng cho tác phẩm đầu tay của một nhà thơ, có những e dè, cầm chừng; vừa đại diện cho hàng triệu thanh niên đương thời. Tập thơ rất có thể xuất hiện theo đường lối quan phương chính thống, tức là qua biên tập và xuất bản theo lề lối hiện hành của xã hội Việt Nam ngày nay. Nhưng tác giả đã tự chọn đường lối độc lập trong phát biểu và xuất bản. Đây là một quyết định đầu tiên và duy nhất cho tới nay đối với một nhà thơ nữ ở miền Trung, cũng như miền Nam và miền Bắc thời XHCN. Ngay cả ở một trung tâm vừa đông dân vừa quan trọng nhất về văn hóa và kinh tế hiện nay là Sài Gòn, các nữ tác giả cũng khá e dè trong công việc tự chịu trách nhiệm và tự xuất bản tác phẩm cá nhân của mình. Có một vài trường hợp hiếm hoi, vì vấp váp một vài khó khăn trong việc xin phép xuất bản chính thống thì mới chọn đường lối bên lề, in lên mạng… cho “hả giận”, cho ra vẻ mình “dũng cảm”. Cho nên, với một hành động vốn nhỏ bé và cũng khá đơn lẻ, nhẹ nhàng của Đoàn Minh Châu, tôi cho đây là một điểm son cần ghi nhận.

2.

Tập M – N & Z tập trung vào vũ trụ thân thiện của tác giả, là một thiếu nữ trưởng thành tại môi trường nông thôn và thị trấn nhỏ. Tất cả những tình cảm và tư tưởng tiêu biểu cho một thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh hàng chục năm, được hấp thụ những lối nhìn và cách sống cùng thời trên thế giới qua văn học và nhất là kỹ thuật học thông tin đương đại, trong đó quan trọng nhất là ý thức về nữ tính và nữ quyền cũng như tính hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu thuộc địa.

Ý thức về nữ tính và nữ quyền ở đây nổi bật trong cách nhìn lạnh và sắc về quan hệ nam nữ trong luyến ái. Xa rồi cái thời hồn nhiên ngớ ngẩn của chủ nghĩa Lãng mạn thời tiền chiến với Thơ Mới (1932 – 1945). Khi đó thanh niên nam nữ tin vào tính tuyệt đối và thiêng liêng của ÁI TÌNH – coi đó như lý tưởng và chung đích của cuộc sống, có thể tự tử vì thất tình như cái lý do đương nhiên thích đáng, không cần biện minh.

Trong bài “Cảm ơn anh” (trang 20), Đoàn Minh Châu viết:

Em đã từng nghi ngại vào sự vĩnh hằng của tình yêu

mơ hồ với dấu hỏi to tướng cuộn tròn vọng tưởng tím than ủ giấc ngủ con gái

và khi quan hệ đổ vỡ, tác giả bình tĩnh viết:

Cảm ơn anh!

đập nát những nghi ngại trong em

vọng tưởng vỡ bung bốc mùi thối khẳm

để rồi kết thúc bằng:

Cảm ơn anh nhiều!

sau cuộc vui ồn ào

sau nỗi buồn ồn ào

em không khóc đâu

những giọt máu chảy từ hốc mắt

sẽ không dành cho bất kì gã đàn ông chết tiệt nào nữa!

Một trong những nguyên tắc chủ chốt của tinh thần nữ quyền là ý thức rất rõ về thân phận người nữ với chức năng sinh học tâm lý đặc thù của phái tính mình như Simone de Beauvoir (1908-1986) đã vạch rõ trong tác phẩm Phái tính thứ hai (Le Deuxième Sexe, 1949): sinh học là định mệnh. Người nữ chấp nhận cái đặc thù tâm sinh lý của mình nhưng đề kháng với các sự đàn áp của phụ quyền và nam quyền như một chuyên chế bất công trong lịch sử chứ không phải chân lý khoa học hay vĩnh hằng. Vì thế khẩu hiệu từ những phong trào tranh đấu cho phụ nữ là: “Cái thiết thân là cái chính trị; cái chính trị là cái thiết thân” (The personal is the political; the political is the personal). Người phụ nữ phải kiên trì làm chủ thân thể và vận mệnh của mình, không chấp nhận những giáo điều luân lý, tập tục xã hội đặt ra để đàn áp và coi đó là chân lý muôn đời, là thiên kinh địa nghĩa.

Trong bài Chìm (trang 24), Đoàn Minh Châu viết:

Khi em vớt thân thể mình ra khỏi chậu nước

thấy rớt lại những nụ hôn ngày xưa

xếp hàng dài như con đường trước mắt

từ đâu giọng nói trong cơn mộng du bò trên núm ngực hoang sơ màu hạt dẻ

loãng vào bầu trời đổi màu ngôi sao chết yểu

Thân thể và những trải nghiệm được nhìn một cách lạnh sắc và khách quan vì không để cho những thành kiến xã hội và giáo điều đại tự sự chi phối đến, trở thành sự tha hóa.

Đoàn Minh Châu cũng không như các nữ tác giả cùng thời thường xem mình như là một phần lệ thuộc của đàn ông nên khi viết cứ hay xưng chủ thể tôi như là một yếu tố “em” bị lệ thuộc–làm như không có anh thì em không còn được sống như chính mình.

Cho em nắng óng cất từ màu da Anh

Cho em tiếng cười từ khoé môi rộng lượng Anh

Cho em ngủ ngon trong vòng ôm định phận của Anh

(“Cất giấu”, Vi Thùy Linh)

Chủ động kêu đòi được yêu, kêu đòi được hạnh phúc… cũng là một tinh thần của nữ quyền, nhưng ở Vi Thùy Linh vẫn có cái gì đó như lệ thuộc, như van nài và luôn giữ khoảng cách. Và một điểm cũng để suy nghĩ là Vi Thùy Linh hay viết hoa chữ “anh”, còn viết thường chữ “em”.

Đoàn Minh Châu cũng đi ra từ bầu khí quyển chung đó, nhưng đã nhanh chóng phá bỏ sự lệ thuộc ấy (như trong bài“Cảm ơn anh”), để tìm kiếm một giá trị tự thân, chấp nhận vào một không gian sống rất cô đơn, nhưng cũng rất can trường:

Em mang hình dạng của con bù nhìn rơm đặt giữa ngã tư phố đông

khoác mảnh vải rách chắp nối ý muốn người khác

chân trần gậy khô

trên thành phố ngập ứ cuộc mưu sinh

lẩn quẩn với ý nghĩ rơm rạ mê mải tìm một không gian lẻ.

Khác với những nhà thơ nữ như Thảo Phương, ca ngợi “người đàn bà do đàn ông sinh ra”; như Vi Thùy Linh đặt người bạn tình là tất cả ý nghĩa đời sống; những nhà thơ trong nhóm Ngựa Trời với tập Dự báo phi thời tiết được giới thiệu, hỗ trợ bằng những “uy tín” trên văn đàn của phái nam, Đoàn Minh Châu xuất hiện không hình ảnh, không tiểu sử, không tựa, bạt hay nhận định phê bình của ai. Cô đơn và kiêu hãnh như thế hệ nhà văn - nhà thơ nữ tự chủ phải thế, một tinh thần cần tôn trọng và khích lệ trong thế kỷ 21 mới mở ra này.

3.

Tập thơ mở ra với lời đề tặng cho mùa Đông và với bài Những con đường(2002). Nhìn bàn tay bao đường ngang dọc, tác giả tự hỏi :

Nhân gian có mấy con đường

mà một tay đã ngàn lối rẽ?

Thắc mắc trong bài thơ đầu đời này có thể gợi ra nguồn mạch ngạc nhiên của thơ Đoàn Minh Châu. Đây là ngạc nhiên của hàng triệu thanh niên, nhất là giới nữ từ quê ra thành thị để học hành, lao động. Xã hội Việt Nam đang làm một cuộc đổi mới lớn lao chưa từng có trong lịch sử: sự đổ xô ra thành thị của đông đảo người dân của một nước nông nghiệp đang đi vào công nghiệp hóa. Những bài như Phố” (trang 5):

xoè tay hứng mặt người chảy dòng dòng quết dày mặt phố

ngẫu nhiên thấy mặt ai trong đó

quen quen như mặt mình.

hay bài Không ngủ (trang 10):

(- 5 cái giường tầng bé

- căn phòng 10 đứa

- 5 cái tủ vải cũ

- 3 ô cửa sổ bụi

giá có một quả gì ụp xuống thì hay nhỉ?)

7 năm trời làm thơ (trong đó 2 năm trống vắng có lẽ vì việc học và việc thích ứng sự thay đổi nếp sinh hoạt từ quê ra thủ đô), chọn lọc được 49 bài để công bố là một mùa gặt đầu tiên của Đoàn Minh Châu.

Tiếng thơ mới mẻ và rất trẻ này không phải là một kiệt tác nhưng đã xác định được một nhà thơ có bản sắc. Tác giả nắm vững kỹ thuật thơ trong việc dùng hình tượng và ngôn ngữ - nhất là sự vững vàng trong việc định vị sáng tác và xuất bản. Sự chân thật không làm dáng và cầu trợ nơi người khác – khiến người ta chào đón tập thơ M – N & Z của Đoàn Minh Châu như báo hiệu cho một tiếng thơ sáng giá. Điều này cũng báo hiệu cho một mùa gặt mới của thơ, đặc trưng của giới nữ, không bị điều kiện hóa vì những ý hệ đại tự sự và những hoang tưởng của phái nam từ mười ngàn năm nay, với chế độ phụ quyền, nam quyền nay đang bị ném vào thùng rác của lịch sử.

4.

Cuối cùng, nhan đề tập thơ là một mật mã hay một ẩn số mà mỗi người đọc đều có thể thông giải theo cảm nhận riêng của mình. Nó mang cả tính cách ngắn gọn, súc tích như đại số của thông tin trên mạng, trên blog, và trên điện thoại di động. Có thể đọc là “ em với anh và vô tận”, “ em trừ anh và ẩn số”, “ em với anh và số không (zero)”, “ Minh Châu với người và thiền (zen)”. Một thú vị của nhan đề này là nó sẽ giữ nguyên được diện mạo khi xuất hiện (nếu có) trong bất cứ bản dịch ra ngôn ngữ văn tự nào khác.

Sài Gòn 7-1-2009.

Nguyễn Tiến Văn

M – N & Z, tập thơ của Đoàn Minh Châu, do Minh Châu xuất bản tại Đà Nẵng, năm 2008. In lần thứ nhất 50 bản photocopy. Ak trình bày và vẽ bìa. Minh họa: Đoàn Minh Châu. Tác giả giữ bản quyền.

Trích từ damau.org


Ba bài thơ tình

Cao Thoại Châu
Vầng trăng nghi vấn


Mười năm trở lại bờ sông cũ
Ai sẽ thay người đứng đón tôi
Thấy một vầng trăng đầy nghi vấn
Lặng thinh tôi chẳng nói ra lời

Vầng trăng chỉ sáng trên sông nước
Không sẻ cùng tôi nửa tấm lòng
Sóng thì cứ chập chờn hư ảo
Rất lu mờ dù chưa được bao năm

Tất cả lờ mờ trong bóng đêm
Muốn nhận ra người phải lắng nghe trong gió
Nghe tiếng chân nào đi rất nhẹ
Tôi tin mình nhận ra tiếng chân quen

Mười năm những cát còn nguyên đấy
Hai tấm lòng còn một đợi nhau thôi
Tiếng thông reo không giống ngày xưa ấy
Lạnh lùng không hiểu cuộc chia tay

Mười năm mọi sự đầy nghi vấn
Cả vầng trăng không đáng để tôi tin
Rất im lặng chỗ ta ngồi năm ấy
Trăng thì hiền nhưng rất khéo nguỵ trang

Về đây có thể sẽ đi tìm
Nghi vấn về điều gọi là hạnh phúc
Nơi tạm trú của người yên ổn nhất
Tôi yên lòng, cứ thế lại lang thang!

25-12-08



NGUYỄN MIÊN THẢO
Em là cô gái dư hiền thục

Em là cô gái hay làm nũng
Cho nên lắm kẻ nói lời yêu
Khi em bỗng hoá thành ngọn gió
Bao chàng trai trẻ cứ liêu xiêu

Đôi khi em giả đò ngang ngược
Anh bỗng hoá thành con bướm say
Chờ khi em nói lời ngon ngọt
Anh về hút nhuỵ phấn vàng bay

Một ngày mấy bận em hờn dỗi
Anh cứ làm thinh không nói năng
Chờ khi con tim em yếu đuối
Anh mới làm thơ gửi trăng rằm

Nhiều khi em rất chi mềm yếu
Mỏng manh như là giọt sương mai
Chỉ hơi thở nhẹ là tan vỡ
Anh đành nín thở đợi ngày lên

Đôi khi em nói lời xa vắng
Là biết rằng em rất nhớ anh
Đôi khi anh nói lời xa cách
Là muốn em về em biết không?

Anh biết con tim em yếu đuối
Nên suốt đời em lắm khổ đau
Trái tim em vô cùng ấm áp
Cho nên lòng em luôn giá băng

Nhiều khi em vui như chim sáo
Là lúc anh vui đến nghẹn ngào
Có lúc em buồn như mây trắng
Anh ngồi sầu muộn đến nghìn sau

Em là cô gái dư hiền thục
Anh gã giang hồ hết chốn đi
Nhiều khi muốn về quê quán cũ
Sợ em phai dấu tuổi xuân thì

Em vẫn dịu hiền như cơn gió
Anh vẫn phiêu bồng như mây trôi
Hãy đợi chờ nhau dù muôn kiếp
Có ngày hai đứa sẽ chung đôi


VIÊM TỊNH

CHÂN ĐẤT


Anh làm kẻ hồ đồ đi chân đất

Mòn bao nhiêu sỏi đá cũng bất cần

Em liếc xéo xem như tuồng hát bội

Cợt thế gian, anh nung chảy kiếm cùn


Kiếm cùn dầm xuống tận ao sâu

Hoen rỉ loang tròn khúc kinh cầu

Thì ra chỉ còn câu tình ái

Đọng lại đáy tim anh... não cả lòng.


Ngày đầu năm 2009

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2009

ẢNH XUÂN

Bảo Cường - Trần Hữu Lục - Võ Quê - Từ Hoài Tấn


Trần Hữu Lục - Trần Áng Sơn
Từ Hoài Tấn - Nguyễn Tôn Nhan - Bảo Cường


Nguyễn Miên Thảo - Lê Ngọc Thuận - Cao Huy Vĩnh - Văn Viết Lộc - Viêm Tịnh


Anh em sum họp
Thu Huyên - Văn Hậu - Hồng Hạnh - Văn Hiền

NGÀY ĐẦU NĂM

Trang giấy trắng nguyên trinh như ngày đầu một năm
Viết vào đây những lời mừng chúc
Chúc tháng rộng với năm dài những niềm vui
Chúc tình yêu muôn đời đẹp đẽ
Chúc em nhan sắc không tàn
Chúc đời xanh tươi vạn nẻo
Chúc em năm mới như lòng
Tràn đầy niềm tin cuộc sống
Chúc bạn bè ta xa và gần
Ấm áp mãi tình bằng hữu
Chúc hết mọi người những điều ước ao sẽ được
Chúc cả trái đất màu xanh
Bao la biển tình nhân ái

Ngày đầu một năm
Ngồi trước trang giấy trắng
Lòng rộn ràng mơ ước bay cao