Thứ Năm, 19 tháng 3, 2009

ATAO - thơ VƯƠNG TỪ

Atao

thơ

hồi ức: trần thế châu

Quảng Đức 1989

Tựa

Ta bình sinh xin ăn thiếu bị

Hôn mê sâu trong hèm bã thị phi

Cảm duyên người cho cơm rượu tiện nghi

Còn tặng cả thêm thơ

Ngẫu hứng

Bèn dốc hết cuồng ngu

Kính cẩn mà bỡn hoa

Tạ lòng

Tưởng rằng thừa hứng

Dựa nương vần điệu

Duỗi tay phóng bút là xong

Nào ngờ chớp mắt đã qua đêm

Đuối sức

Rõ ràng bì bõm giữa bùn sâu

Thêm ngậm ngùi mà cười lớn

Văn chương dẫu ngang tầm thánh giải

Cũng chẳng đủ mua vui

May ra bằng bóng của trăng suông

Ngấn tích trong mộng

Hòa Khánh 1989

Trân Trọng

Vương Từ


Vịt

Như vịt nghe sấm

Chẳng thực chẳng mơ

Sấm chớp mây mưa

Trửng trơ đầu vịt

Tập

Kỳ diệu như nhiên

Tập tành sai thêm

Ngậm ngùi thiên cổ

Ơi thánh ơi hiền

Làm

Mịt mù thành trụ hoại không

Tha hồ xẻ núi lấp dòng sông xưa

Thói văn minh dám ai chừa ?

Núi xương sông máu còn lưa hãi hùng !

Thơ

Một nguồn không trước không sau

Mà chồi nụ nẩy mà cầu sang sông

Trăng soi sáng đáy bùn trong

Tồn sinh kỳ diệu là không nên trò

Ba láp

Cười mình ba láp làm sao

Khi say hụt đất vác sào quơ trăng

Dưới sông Lý Bạch la rằng

Ta ôm trăng những nghìn năm chớ đùa

Sao lục

Diệu pháp tám vạn tư

Ai ngờ chuyện thiếu dư

Cứ hỏi người sao lục

Ngoại lệ những thiền sư

Tặng

Thôi đừng chôm chỉa nữa

Cứ tha hồ nằm ngửa

Trời đất tặng một bầu

Thổ nạp cho thả cửa !

Vua

Những ông vua thuở trước

Bây giờ ở đâu ta

Sử xanh còn nguyên đấy

Có dám mà diễn ca ?

Lành

Dữ lành xin chớ biện phân

May ra còn có đôi phần tiện nghi

Âm dương máy tạo huyền vi

Nheo con mắt ngó có khi nghiêng trời

Vương

Cảm ứng dung thông rạng đức vương

Ngai vàng ấn tín loạn cương thường

Đáy bùn ngọc ẩn sen chồi nụ

Địa ngục đi lên há lạc đường

Chân dung vẽ bằng dao

Trương Thìn


Từ

Tỉnh say nào biết ai mình

Sức thừa đùa với lưu linh một từ

Tửu đức tụng sao ậm ừ

Sáng danh tửu đạo như chưa có người

Ta

Có ta trời đất mừng thay

Không ta tháng rộng năm dài mà chi

Đề huề tạo hóa ngôi chia

Ngọc châu xuống giá gánh về nặng vai

Vừa

Chuyển thân trong một tiếng vừa

Hồn nhiên lóng lặng như chưa có gì

Mà trăm ngàn kiếp qua đi

Không thừa không thiếu vừa khi chưa là

Mới

Càng thêm năm tháng càng thêm mới

Càng đắm trầm luân càng nhẹ ra

Cuộc đời muôn mặt không sống tới ?

Đâu chỉ mười phương giản dị là

Khảy mỏ

Vịt ơi khảy mỏ ra đi

Nhảy ngay xuống nước cần gì học bơi

Nhìn lên bờ thấy con người

Đứng đi quờ quạng khóc cười ngẩn ngơ

Thấy

Biết bao châu báu trong mơ

Chôn sâu vào mộng phòng hờ mai sau

Bán buôn thơ túi rượu bầu

Nửa lời ái ngại còn xao xuyến lòng

Một

Nói im thêm khéo điêu ngoa

Cước quyền dao súng cũng là du côn

Rượu tăm ta ướp xác hồn

Thiêu ta thơm cả càn khôn ai thèm

Màu

Trời trăng pha sắc đất dâng hương

Rau cháo ơn sâu đến dị thường

Thù tạc tro than cùng khói tỏa

Trời trăng pha sắc đất dâng hương

Xanh

Cát đằng tùng bá đua xanh

Lỡ từ phân định giới ranh cỏi bờ

Từ thiên tài đến ngu khờ

Ngo ngoe nhu cá trong lồng thương ơi

Xanh

Thương ai xám xanh

Những ngày thiếu đói

Có một trái lành

Chúa chưa hề nói

Ngây ngô

Ngây ngô hết khóc lại cười

Hết say lại xỉn cuộc đời ra chi

Ngỡ ngàng vương mối đại nghi

Thánh hiền quên mất những khi dại khờ

Có mà không phải chăng a

Hồn nhiên đáy nước trăng tà thảnh thơi

Ta ngang dọc giữa đất trời

Gặp em tươi khóc úa cười ngụy chưa

Ngông

Sống chết lòng quên đẹp nết ngông

Cười ta lẩm cẩm chửa nên khùng

Lỡ nghe Tiên Phật khua lời mộng

Chẳng kịp bưng tai mãi thẹn thùng

Nghênh

Sá gì nghiệp trước duyên sau

Sức tàn cạn hủ nghiêng bầu như chơi

Tìm chi góc biển chân trời

Long lanh nắng ủ sương mai bên hè

Bỗng

Đất im đợi giọt sấm xuân

Ta yên lòng đợi người câm ngỏ lời

Em về như ánh sao rơi

Rõ ra là đã thế rồi nhiên như

Vang

Ngôi Lời từ được tấn phong

Đã thành cá chậu chim lồng mua vui

Nghiến răng hay méo môi cười

Chắc chi khỏa lấp được vài âm u

Vang

Tỉnh say có khác chi mà

Tử sinh thiên cổ chưa qua ánh cười

Nhớ thầm vang một tiếng ơi

Mới hay không có chưa rồi ớ em

Chào anh

Chào nhau chưa kịp tròn lời

Nẻo về xuôi ngượi tơi bời biển dâu

Cạn tàu ráo máng chi nhau

Hò ơ tiếc sợi dây gàu tính sai

Thêm

Ngàn tay ngàn mắt không thêm

Vô tâm vô niệm chẳng nên ước nguyền

Ơi thuyền quyên hỡi thuyền quyên

Xem ta múa túy lúy quyền tỉnh queo

Xị

Xị là bản vị

Của giới lưu linh

Cân đo đong dếm

Rất mực siêu hình

Nữa

Từ đáy mộ sâu nhắm mắt nhìn

Trăm ngàn ảo ảnh rõ như in

Cỏ hoa tiếp cuộc tồn sinh nhé

Đành đoạn tay người trắng của tin

Đi

Mừng ai vũ trụ du hành

Riêng ta nửa bước đi quanh cũng lười

Mừng ai sinh tử qua rồi

Riêng ta cảm cúm lai rai sá gì

Chú

Nguồn thiêng vũ trụ mãi truyền

Chưa tương ưng chỉ não phiền mà thôi

Cây khô chú cũng nên chồi

Đôi bờ bên lở bên bồi bởi đâu

Kha kha

Kha kha vọng tiếng kha kha

Phải là tiếng Phật tiếng ma hú người

Phật ma khác giọng chung lời

Rạch ròi thỏa sức khóc cười kha kha

Đục

Tinh khô khí kiệt thần suy

Linh đơn diệu quyết ích gì cho ai

Còn lưa cái mặt xưa nay

Cần chi son phấn dồi mài mới xinh

Trong

Nhìn qua lưới chống bốn mươi

Thương em dẫu thấy mặt người rất vuông

Trăm ngàn năm một thoáng buồn

Chuông u minh lặng cõi nguồn chưa khơi

Lành

Buông dao là Phật dễ gì đâu

Khép mở tồn sinh mỗi nhiệm mầu

Ngán nỗi đầu thừa đuôi lại thẹo

Xị chai be hũ khác chi bầu


BẠT

Người xưa làm thơ cảm đến quỷ thần

Trời đất cùng thiên cổ

Tôi nay đọc lại những bài thơ tặng bạn già trong một cơn say càng thêm ái ngại, chẳng dám trao. Thoáng ngập ngừng mà đã năm năm.

Tập thơ này hoàn thành được là nhờ bạn tôi: Trần Thế Châu, đã không tiếc thời gian, tâm sức để chăm chút giúp tôi từng trang bản thảo, rồi đánh máy và đặt tên cho tập thơ.

Và lạ thay, ban tôi vốn chẳng mấy thích thơ

Mà lạ thật, có khi với cả chính mình

Lạ cả chân tay lẫn thịt da

Lạ ơi khuôn mặt tháng ngày qua

Bóng trăng ngày cũ còn in dấu

Chẳng nhớ thương chi lệ cứ nhòa

Tôi mãi lang thang, đi mãi mà không qua khỏi cái thương, cái nhớ, cái bóng của mình, trong niềm kinh dị rất đổi dịu dàng

Ô hô tận thế ngày hôm qua

Như mắt em tươi trong veo ra

Ta thấy bóng mình nhòa vách núi

Đỉnh trời sông biển dịu dàng xa

Ôi, biết mấy là trân trọng, tri ân.

Lầu Gió 19-05-1993

Vương Từ

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2009

Cao Thoại Châu: Mời Em Uống Rượu

Có những đêm trường gợi tiếc thương
Có ta lấy tóc đếm ưu phiền
Có ta nâng trái sầu chín rã
Có lệ ta hòa chung hơi men

Có mắt ta là ly rượu nhỏ
Có đời ta là quán cô hồn
Và có ta đang ngồi trong quán
Uống cho tàn cho mạt kiếp nhân sinh

Cũng có đau thương làm vui bạn nhỏ
Có hoang đàng tìm thấy giữa cơn say
Có tuyệt vọng trên vành ly rực sáng
Và có em buồn ta cõng trên vai

Có nắng chiều đang rơi ngoài bãi
Bãi nắng chiều xa không bóng người
Chứng kiến giờ ta lên cơn hấp hối

Ta đội nón đi mời em uống rượu
Cuộc tình sầu thôi hãy gác qua bên
Ta đâu có giận hờn chi cuộc sống
Dù thật tình buồn lắm phải không em

Ta là ly vậy mà em biết không
Ta là rượu vậy mà em biết không
Uống đi em bởi ly đã kề
Bởi ta buồn như một câu chuyện kể

Câu chuyện buồn kể giữa cơn say
Bởi lát đây mặt trời sẽ chết
Mặt trời chết ở nơi nào trong ta
Ta đã say làm sao biết được

Mùa đông về không chỗ dung thân
Ta sẽ đứng run trong giá lạnh
Dáng bơ vơ như kẻ thất tình
Và thấy em như bờ dốc đứng
Ta chiếc xe đò nổ bánh bơ vơ

Ta đã cố nài xin vậy em hãy uống
Chất men đời làm cháy mắt ta xanh
Rượu đắng cay hay chén vàng tê tái
Em chối từ ta biết nói sao hơn

Em không uống nên có ta lẻ bạn
Vòng tay ôm hồ rượu thấy mênh mông
Rượu đã hết hay mắt ta vừa cạn
Mà hồn ta rung chuyển tang thương


Thôi giã biệt và xin chào bạn nhỏ
Ta tủi hờn bóp nát chiếc ly không
Và ta tưởng chính mình vừa vỡ
Quán cô hồn ngủ trọ khách cô đơn

Có ta trong một toa tàu trắng
Tỉnh rượu nằm nô giỡn một mình
Có em còn đứng sau khung kính
Có nỗi buồn gửi một toa riêng
Saigon 1969

Thơ Từ Hoài Tấn

GỬI NGƯỜI EM SÔNG HƯƠNG


Một mùa nghe mưa trên mái lá
Chiều nhỏ tiếng chuông buồn đỏ gay
Hỡi cô em đã thành qúa khứ
Có biết lòng ta ngây lệ say

Lá biếc hôn cành hoa thắm mộng
Những ngày mây bỏ lạc xa ngàn
Em tới bên hồn thơm hương sớm
Mười năm nghe vỡ những mùa sang

Em tớí như xuân vừa thoáng động
Hãy yêu người một thuở vào xuân
Sông có sầu dâng cơn lệ đỏ
Hãy chờ xuân muôn ánh lời vàng

Hỡi cô em đã thành qúa khứ
Tiếng hát còn buồn trong nhạt phai
Mời em hư ảo lời vui của
Ngày chia xa bóng nhạt sông dài

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2009

Huỳnh Như Phương - Dài thêm những ngày nắng đẹp


Một ngày cuối năm, trốn được những cuộc họp hành vô bổ với những bài diễn văn đầy sáo ngữ, trốn được những tiệc tùng rượu chè lai láng tràn ngập tiếng "dzô – dzô”, chúng tôi tìm được chỗ ngồi trong một quán cà phê bên đường, dưới giàn hoa giấy. Không ai nói gì, tất cả lặng lẽ nghe thời gian chầm chậm trôi qua, tự mình tính sổ một năm của đời mình.


Những nhà thơ kiêm nhà báo vừa trả nợ bài cho số báo cuối năm, đang sơ kết những bài viết được đăng. Gương mặt nhà nghiên cứu thường ngày đăm chiêu, nay thư giãn khoan khoái vì một việc lớn trong năm đã làm xong: chuyển giao thư viện quý giá của mình từ nước ngoài về, tặng một cơ quan khoa học của thành phố. Một nửa trong bàn cà phê này ăn Tết xa. Người của "bếp lửa còn thơm mùi bã mía" về Nha Trang xả hơi sau khi đã chuẩn bị số báo tân niên. Người của "dốc thông non và em trăng sương mù” năm nay không cùng bạn ngắm mai anh đào Đà Lạt, mà dự Liên hoan thơ quốc tế ở Kolkata, rồi còn đi thăm chùa Việt ở Bồ Đề Đạo Tràng và gửi mail báo tin vui rằng gặp một cậu học trò cũ của tôi đang tu ở đó.


Sau đôi câu chuyện bâng quơ, chúng tôi lại vơ vẩn ngắm trời tháng Chạp. Những ngày năm cũ chuyển giao cho năm mới, thời tiết phương nam hửng nắng, óng ả một màu vàng mật. Nhớ một câu thơ của Từ Hoài Tấn: "Thời tiết giao mùa rất nhẹ nhàng". Cái lô cốt chắn ngang tầm nhìn cả năm qua vừa được tháo dỡ. Một cơn gió thổi qua, bụi bay lên, nhưng pha loãng trong nắng dịu, không còn cảm giác ngột ngạt như những tháng trước đây.


Mọi người đi xa, tôi ăn Tết với chồng báo xuân còn đọc dở dang, bất ngờ bắt gặp một bài tạp văn thật hay của một cây bút trẻ không quen biết. Giao thừa mở máy thu hình, lại được chương trình "Gặp nhau cuối năm" thưởng cho những tràng cười sảng khoái. Thêm vài bữa gặp mặt anh em, bạn bè đủ cho những cơn stress năm cũ được rũ bỏ. Một cái Tết nữa trong đời trôi qua trong ý nhị của tình bạn.


Màu nắng những ngày cuối năm vẫn còn lưu lại Sài Gòn cho đến qua Giêng. Chậu phong lan chưng Tết trong nhà như cũng đòi được đưa ra ngoài sân để hưởng mùi nắng gió. "Càng có tuổi tôi càng thấy sự kỳ diệu của mỗi độ xuân về" - lời trong file chúc Tết ai đó đã gửi trong ngày đầu năm mới. Ước sao những ngày nắng đẹp này còn kéo dài, như một ân thưởng chia đều cho khắp mọi miền, mọi nhà trên đất nước.

Huỳnh Như Phương

http://www.baophunu.org.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=8509&ChannelID=62


Thứ Năm, 26 tháng 2, 2009

Về Nguyễn Đức Sơn

Lão Thi sĩ
NGUYỄN ĐỨC SƠN
Hư vô một cõi phiêu bồng


NGUYỄN MIÊN THẢO


Trước năm 1975,giới văn học miền Nam xếp thi sĩ Nguyễn Đức Sơn là một trong 4 quái kiệt của làng văn thời đó: Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn,Thế Phong, Phạm Công Thiện, vừa tài năng vừa ...quậy. Xin hiểu quậy ở đây có nghĩa là khác người đại để như N Đ Sơn ra biển nằm vọc c..., Bùi Giáng chui xuống gầm cầu Trương Minh Giảng (sát bên Viện Đại học Vạn Hạnh, nay là trường Đại học Sư phạm) để ngửi ...


Cũng có một sắp xếp khác thuần văn học hơn mà thi sĩ Nguyễn Đức Sơn cũng là một trong tứ trụ thi ca của miền Nam : Bùi Giáng, Nguỵễn Đức Sơn, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên. Với sư sắp xếp của làng văn miền Nam thời đó hoàn toàn vô tư, trong sáng, không dựa trên quyền uy, chức tước, bè phái, điếu đóm như bây giờ mới thấy chỗ ngồi của Nguyễn Đức Sơn trên chiếu văn sáng như Sao Trên Rừng.

Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, bút hiệu Sao Trên Rừng, gốc Thừa Thiên Huế. Sinh năm 1937 tại Ninh Chữ, Ninh Thuận (Phan Rang). Ông từng theo học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn nhưng nửa chừng bỏ học. Trong lý lịch trích ngang trong tập thơ Những Bài Tình Đầu, ông viết :Sống vô gia cư, chết vô địa táng, và tuyên bố: Nếu trường Đại học Văn khoa Sài Gòn sản sinh ra được một nhà văn nhà thơ nổi tiếng tôi xin chịu chặt đầu.


Trước năm 1975, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm thơ, truyện ngắn nổi tiếng: Những Bài Tình Đầu, Đêm Nguyệt Động, Mộng Du, Cái Chuồng Khỉ, Cát Bụi Mệt Mỏi...Các tác phẩm của ông đều do Nhà xuất bản An Tiêm (Tỳ kheo Thích Thanh Tuệ) in ấn và phát hành.


Ông ở nhiều nơi Phan Rang, Sài Gòn, Bình Dương-Thủ Dầu Một, Blao-Lâm Đồng và sinh sống bằng nghề dạy học.
Sau năm 1975, ông về ở hẳn tại Phương Bối Am, Blao-Lâm Đồng, cách ly với sinh hoạt văn học. Ông nổi tiếng là lão thi sĩ vạn thông (vì ông trồng một vạn cây thông) với biệt danh Sơn Núi.

Nhà văn Võ Phiến, một nhà văn nổi tiếng đứng đắn và cực đoan đã có nhận xét độc đáo và thú vị về Nguyễn Đức Sơn:

"Hầu hết những ai bắt đầu xun xoe vào làng văn đều muốn tỏ ra khác người, nghĩa là ngông nghênh. Để có thể tha thứ những bậy bạ hư hỏng ở một kẻ nào, ta tắc lưỡi kêu: hắn trót có tí "máu văn nghệ" trong người. Trong đám văn nghệ với nhau thì nhố nhăng nhất phải thú thật là những chàng thi sĩ. Một nhà nho như ông Tản Đà mà để xứng danh thi sĩ ông cũng làm trò con nít: gửi thư lên chị Hằng, gánh thơ đi bán chợ trời v.v..Còn Chế Lan Viên thì thấy trăng sáng vội kêu: "Ta cởi truồng ra, ta cởi truồng ra " Nguyễn Đức Sơn không cần phải làm như thế. Hãy xem cốt cách của ông: điềm nhiên giản dị hơn biết bao:


đầu tiên tôi thở cái phào
bao nhiêu phiền não như trào ra theo
nín hơi tôi thở cái phèo
bao nhiêu mộng ảo bay vèo hư không...

(Một mình nằm thở đủ kiểu trên bờ biển )


Cứ thế ông thở "đủ kiểu. Rồi qua một bài thơ khác ông lại "khoái trí nằm thở nữa". Một đằng cố gắng làm ra lạ đời nên phải cởi truồng, phải chọc trời ghẹo trăng cho to chuyện; một đằng vốn có bản lĩnh tự nhiên, nên chỉ nằm mà thở thong thả cũng đủ độc đáo chán. Trong thơ, ta đã mấy ai nghe những tiếng thở cái phào cái phèo ngang tàng như vậy? (Nhất là đọc cho đến hết bài "thở đủ kiểu" ta giật mình thấy không phải đó là cái ngông vô cớ, ta không ngờ những hơi thở ấy lại đưa ta đi xa đến thế.) Khi Chế lan Viên muốn cho khác thường, ông đòi: "Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh", còn Nguyễn Đức Sơn thì chẳng xin một tinh cầu nào, cứ việc nằm ngay trên bờ biển mà vọc c... Khi Chế Lan Viên muốn tỏ ra ngông, ông đòi cởi truồng để tắm trăng; còn Nguyễn đức Sơn thì lại lăn cù trên bờ biển, rồi ngủ quên trên bờ biển, nửa khuya bị mưa ướt, thức dậy tự hỏi mình: "đã đời chưa con?”
(Trích "Văn học miền Nam" của Võ Phiến.)

GIỚI THIỆU LAI RAI Thơ Nguyễn Đức Sơn

HÀNH ĐỘNG

các em hãy cùng công kênh trái đất
dang chân dài lấy thế trước hư vô
anh núp rình sợ thần thánh về xô
dành tác phẩm muôn đời to lớn nhất.

BẮT ĐẦU THỞ

bắt đầu thở là bắt đầu hạnh phúc
không bao giờ anh nói dối em đâu
ôi bất động ngàn năm thân gỗ mục
cửa tồn sinh em hãy mở cho lâu.

THI SĨ

khi ý thức mặt đất này dang dở
ta vội chìm trong bóng nguyệt mang mang
khi chấp nhận một ngàn lần đổ vỡ
ta một hồn đắm đuối giữa tan hoang.

TÔI THẤY MÂY RỪNG

một ngày đau khổ chín trong tôi
tôi đến bên cây lẳng lặng ngồi
cây thả trái sầu trên nước lắng
mặt hồ tan vỡ ánh sao trôi

thôi nhé ngàn năm em đã qua
hồn tôi cô tịch bóng trăng tà
trời sinh ra để chiều hôm đó
tôi thấy mây rừng bay rất xa

QUÊ HƯƠNG

tháng bảy dì về đơm nhãn
nhớ mang ra ít giạ chiêm
ruộng xưa cò bay thẳng cánh
gặt hái vừa độ trăng liềm

mười mấy năm rồi dì nhỉ
lạc loài xa mãi cố hương
giờ đây ngồi mà suy nghĩ
lòng dạ ai người không thương

quê mình ai còn ai mất
đi rồi gươm súng mùa thu
khóc mãi từng đêm lưu lạc
nói ra thêm oán thêm thù

ngỏ về làm sao ngài ngại
xe cộ có dễ dàng không
kháng chiến người đi chưa lại
lúa khô héo cả ruộng đồng

ông ngoại chắc già ghê lắm
mấy người dì nữa nhưng thôi
đất cằn quê hương nứt rạn
kể thêm đau lòng dì ơi

dù sao cũng là xứ sở
đói nghèo đừng lạt tình thương
mười năm không cúng không giỗ
dì về ấm lại khói hương

tháng bảy dì về đơm nhãn
nhớ mang ra ít giạ chiêm
ở đây làm gì có bán
thấy người ta ăn bắt thèm.

MAI KIA

Mai kia tan biến hận thù
Giữa đêm sao chiếu mịt mù phương đông
Cha về ôm cả biển sông
Duỗi chân duỗi cẳng nằm không một đời
Cho con cha hứa một lời
Đuổi mây thiên cổ rong chơi suốt ngày
Thu nào tóc bạc òa bay
Có con chỉ trỏ mới hay tuổi già
Cúi hôn trời đất đậm đà
Cha tan theo bóng trăng tà vạn niên

ĐỐT CỎ NGOÀI RỪNG

Xem cha đốt cỏ ngoài rừng
Nâng niu mẹ ẵm theo mừng không con
Có vài chiếc lá còn non
Gió xua lửa khói nổ giòn trên không
Nắng tà trãi xuống mênh mông
Bước theo chân mẹ cha bồng hư vô

NHÌN CON LẬP TẬT

Nắm tay lật úp đi con
Co thân tròn trịa như hòn đá lăn
Muốn cho đời sống không cằn
Tập cho quen mất thăng bằng từ đây

TRÊN BỜ HƯ KHÔNG

một đêm sao ở trên rừng
đua nhau rụng xuống chào mừng nhân gian
hồn tôi cây cối liên hoan
rưng rưng tôi thấy trăm ngàn ước mơ
tuổi vàng suối mộng trời thơ
lớn lên tôi chết trên bờ hư không.

ĐÊM KHƠI

lênh đênh thuyền giạt xa miền
nửa đêm bừng tỉnh man thiên một trời
trông lên thượng đế đi rồi
hỏi mây thái cổ con người vân vi
lối mòn cỏ mộ xanh rì
ngoài ra kìa chẳng có gì nữa sao
đảo buồn thổi gió lao xao
ngàn xưa còn tiếng thì thào biển khuya

NGHE TIẾNG GÀ RỪNG GÁY

chợt nghe tiếng gáy rụng rơi
khóc lên tang hải giữa trời tha ma
từ sương mai đến ác tà
khuất trong thiên cổ dấu gà hiển linh.

MỘT TÂM ẢO TƯỢNG

xe chênh bánh giữa luân hồi
ưu bi chở ngập bên trời bao la
ngày chưa sụp bóng ta bà
đã nghe chừng Hội Long Hoa đến rồi
một ngài Di Lặc xa xôi
một tâm ảo tượng tôi ngồi thâu đêm.

NGÀN SAU

về đây say với trăng ngàn
phiêu diêu hồn ngập giấc vàng đó em
trăm năm bóng lửng qua thềm
nhớ nhung gì buổi chiều êm biến rồi
mai kia tắt lửa mặt trời
chuyện linh hồn với luân hồi có không
thái hư chừng sắp chuyển vòng
đại dương tràn kéo núi đồng tan đi
chúng ta chờ ước mong gì
văn minh gửi cát bụi về mai sau..

(Từ bài Trên Bờ Hư Không đến bài Ngàn Sau
trích trong Những Bài Tình Đầu, tập 3: Lời Ru).

Thơ Nguyễn Đức Sơn
(Đăng trên Tạp chí ĐỐI DIỆN,tháng 5.1971)


NHỮNG BUỔI TRƯA CÂM

từ hôm lính trói anh về
chuông tù réo gọi não nề thân tâm
bịt bùng những buổi trưa câm
anh thường náo nức được đâm mặt trời
(kỷ niệm Tổng nha,trại B phòng 17,ngày 28.5.1968)

CHÚT LỜI THỞ THAN

mỗi ngày cúi xuống hạt cơm
anh nghe thấu một mùi thơm lạ lùng
cắn đôi hạt muối thường dùng
biết ơn trời đất vô cùng em ơi
trăm năm ta sống một đời
ngàn năm gửi lại chút lời thơ than
(kỷ niệm Tổng nha,trại c,phòng 36,5.6.1968)

NÓI VỚI QUÁN THẾ ÂM
Kính gửi hương linh Sư Bác,nhà sư Việt Nam đầu tiên
Đi Tây Tạng về và là một trong những nhà sư
kháng chiến nổi danh của miền Nam

cho con xin một chút trăng
đêm nay mười bốn phải chăng khởi đầu
trên cao toả sáng nhiệm mầu
sao con chỉ thấy địa cầu tối om
bốn bên súng chĩa đen ngòm
thiết tha tâm Phật con dòm vô trong
(kỷ niệm trại c quên phòng quên ngày)

SỰ THẬT

năm thằng ngột thở trong phòng
năm thằng tù nữa muốn thòng cổ ra
căn phòng thước sáu nhân ba
thầy chú bắt được chết cha chúng mày
(kỷ niệm Tổng nha,trại B,phòng17,26.5.1968)

KỶ NIỆM BÌNH DƯƠNG

những chiều sẩm tối anh về
em ra lớp dạy đi kề vai anh
một thân áo cánh mong manh
hôn nhau lệ nhỏ trung thành cho nhau
cầm tay ta bước đi mau
hình như bố ráp đằng sau xóm này
nhìn nhau bụng trống một ngày
mà sao hạnh phúc giăng đầy nhà thôi
nửa khuya sao chiếu xa vời
ở trong thiên cổ anh ngồi bên em
(Kỷ niệm Tổng nha,trạiB,phòng 17,24.5.1968)

LẠI CHUYỆN THẬT

người tù thổ huyết chết tươi
tên y tá đến đứng cười nhe răng
một mình y nói rất hăng
mười lăm phút nữa có băng ca rồi
(kỷ niêm Tổng nha trại B,phòng 17,26.5.1968)

CHUYỆN NGÀY XƯA

nửa đêm thức dậy nấu chè
lim dim hai mắt ai dè rất ngon
gọi em giấc mộng vuông tròn
trăm năm bếp lửa chưa bòn đâu em
(kỷ niệm Tổng nha trại B , phòng 17,24.5.1968)

BẦU TRỜI NGÀY MAI

trời sinh ta có tay chân
đẹp hơn đôi cánh thiên thần biết bao
phi thuyền tăm tắp trăng sao
ta cùng đứng dậy nghiêm chào hư không
bơi trong thế giới đại đồng
tay ôm trời rộng tay bồng thân em
(kỷ niệm Tổng nha trại C ,phòng 36,5.6.1968)

NHỚ CHÙA XƯA
Thân kính tặng cô Sáu,Tây Tạng Tự Bình Dương,
một trong những người đàn bà hiếm hoi và lạ lùng nhất
tôi đã gặp trên cõi ta bà này

bao giờ trở lại chùa xưa
viếng thăm cây cỏ cho vừa lòng nhau
trưa nằm nghe chút thương đau
tan theo mây trắng phau phau trên đồi
(Kỷ niêm Tổng nha,trại B,phòng 17,28.5.1968)

Thơ Nguyễn Đức Sơn
(Đăng trên Tạp chí TRÌNH BẦY số 18,ngày 22.4.1971)

CÁM ƠN TÙ
(tặng Võ Sỹ Khải,quen nhau ở trại C)

cám ơn ghẻ mọc đầy mình
cám ơn bệnh hoạn chung tình với ta
cám ơn dái tróc đầy da
cám ơn tù dẫn tôi ra khỏi đời
cám ơn tất cả xa rồi
hôm nay tôi thấy tôi ngồi bên tôi
(kỷ niệm Tổng nha,trạiC,quên phòng,quên ngày)

CHÒM XÓM CŨ

có ai về được Bình Dương
hỏi thăm hàng xóm có thường hay không
đêm đêm bom tưới đầy đồng
những oan hồn cụ bế bồng đi đâu
(kỷ niệm Tông nha ,trai B,phòng 17,27.5.1968)

NẰM MỘNG TRONG TÙ

bên trong khung cửa sắt này
anh ngồi đếm lại từng ngày xót xa
đêm qua mơ trốn về nhà
ôm em ngủ suốt canh tà với trăng
(kỷ niệm Tổng nha,trại B,phòng 17,22.5.1968)

HOÀI CẢM

những ngày anh sống bên em
những trưa tóc ngủ êm đềm biết bao
những lần em ốm xanh xao
những oan khiên dẫn anh vào đau thương
những đêm hạnh phúc vô lường
đố em cây cỏ bên đường biết không
(kỷ niệm Tổng nha,trại B,phòng 17,22.5.1968)

SAU KHI TẮM

sáu mươi thằng đứng tồng ngồng
xoay qua trở lại đừng hòng nghe con
chúc cho thân thể chết mòn
để xem thần trí mày còn hay không
(kỷ niệm Tổng nha,trại C,quên phòng ,quên ngày)

Thơ Nguyễn Đức Sơn chép theo trí nhớ

1
Thở hổn hển là bắt đầu sướng nhất
Cỏ cây nằm im bẹp giữa hôn mê
Giường tre cũng rung rinh như trái đất
Nên suốt đời tôi thích ở nhà quê

2
Năm mười sáu có lần anh ngó thấy
Em ở truồng ngoe nguẩy cuối vườn trăng
Hồn thảo dã trong anh vừa thức dậy
Suốt bầu trời ướt mượt cả lông măng

3
Mai sau bé lớn làm chi
Trăm năm đừng có lo đi lấy chồng
Nhớ lời ta dặn nghe không
Vạn năm đừng có lấy chồng lam chi
Làm chi trên thế gian ni
Triệu năm đừng có lo đi lấy chồng
Rủi ro tay bế tay bồng
Sao bằng ôm cả trời hồng đi chơi

ĐÁM CƯỚI

THI SĨ NGUYỄN ĐỨC SƠN

Nguyễn Miên Thảo

(Viết theo trí nhớ)

Tình cờ tôi gặp nhà sư Nguyễn Đức Vân ở quán cà phê Bông Giấy ,vui miệng tôi bảo với sư thời trẻ tôi có thời gian sống vơi bố Nguyễn Đức Sơn hơn 1 năm ở chùa Tây Tạng Thủ Dầu Một-Bình Dương. Sư Vân nghe vậy chuyễn ngay cách xưng hô gọi tôi bằng chú và tôi vẫn gọi sư Vân bằng Thầy. Tôi kể cho Sư Vân nghe một số câu chuyện về bố anh thời trẻ, là những giai thoại có thật, trong đó có chuyện Đám cưới của bố mẹ anh: Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn và chị Nguyễn thị Phượng.

Nguyễn Đức Sơn là một người đầy cá tính mà nếu không hiểu thì tưởng là …khó tính.Tính cách của ông khác người, luôn mâu thuẫn với chính mình.Tôi nghĩ sự ” va chạm “ nội tại đã đưa ông tới đỉnh điểm của sáng tạo trong tác phẩm của ông. Tâm địa ông thì rộng bao la nhưng hay… thù vặt; rất mê chủ nghĩa Cộng sản nhưng không ưa “cách mạng”, sẵn sàng chửi cả những người khen ngợi ông dù người khen rất thật tình và có nhân cách nhưng trong bụng Nguyễn Đức Sơn thì sướng rơn. Tôi ví dụ một câu chuyện nhỏ: Sau khi tập thơ Những Bài Tình Đầu ra đời, nhà văn Tam Ích, một nhà văn đứng đắn và nổi tiếng thời đó viết một bài phê bình khen thơ Nguyễn Đức Sơn hết lời. Nguyễn Đức Sơn viết một bức thư ngắn nhờ tôi đem về Sài Gòn trao tận tay nhà văn Tam Ích. Nội dung lá thư không phải là lời cám ơn mà vỏn vẹn một dòng chữ như sau : Bởi vì ông là nhà văn đứng đắn nên tôi không biết chửi ông như thế nào. Nhà văn Tam Ích nhận thư, không giận, lại viết thêm một bài ca ngợi N Đ Sơn là thiên tài, mặc dầu không nói ra nhưng tôi biết N Đ Sơn sướng trong bụng lắm. Sướng không phải vì được khen mà vì có cớ để chửi người khác.

Tôi kém N Đ Sơn 9 tuổi mà tính theo tuổi mụ năm nay tôi đã 64, quĩ thời gian sắp hết nên nảy ra ý định viết một số giai thoại độc đáo về N Đ Sơn mà tôi từng biết, có gì sai Sơn còn có thể bổ sung đính chính và còn kịp thời gian để …chửi. Nguyễn Đức Vân cũng khuyến khích :”Chú viết đi”

Tôi vào Sài Gòn khoảng giữa thập niên năm 1960, thuê một phòng trọ ở khu Nguyễn Thông nối dài gần ga xe lửa. Một hôm vào khoảng 9 giờ sáng, một người đàn ông khoảng 30, áo quần chỉnh tề, thắt cà vạt, tay ôm một chồng sách trên 20 cuốn đến gõ cửa phòng tìm tôi (sau này tôi mới biết khi nào đi đâu N Đ Sơn cũng thắt cà vạt vì trốn lính). Anh giới thiệu là Nguyễn Đức Sơn và hỏi tôi có phải là Tụng không (Tụng là tên tục của tôi mà chỉ những người thân mới biết), thì ra do Thái Ngọc San giới thiệu. N Đ Sơn hỏi sơ tình hình ăn ở của tôi và bảo: Cậu cầm mấy cuốn sách đem bán ăn cơm tạm, ít hôm nữa moa lên đón cậu về Bình Dương. Một tuần sau anh lên đón tôi thật. Thực ra tôi biết N Đ Sơn từ trước, chỉ là chưa gặp mặt.Tôi biết anh khi tờ MẶT ĐẤT do anh chủ trương ra đời và tôi có gửi thơ nhưng chưa được đăng. Nguyễn Đức Sơn sinh sống bằng nghề dạy Anh văn, đời sống rất đạm bạc bây giờ lại thêm một miệng ăn quả là vất vả. Nhà N Đ Sơn khá rộng, không phên vách, bốn bề lộng gió, nằm trên đường Thích Quảng Đức, cách chùa Tây Tạng khoảng 300 mét. Ngôi nhà vừa là phòng học, thư viện vừa là nơi ăn ở. Học trò học với Sơn khá đông, nhưng cuối khoá học chỉ còn vài ba em nên cả hai thường đói. Chỉ cần không trả lời đúng câu hỏi hoặc làm sai bài tập là bị đuổi và đặc biệt học sinh bị đuổi được …trả lui tiền học phí đã đóng trước đó. Thế mà khoá nào học trò cũng đăng ký học rất đông. Cơm chùa thì không thiếu, cửa chùa thì rộng mở nhưng N Đ Sơn cấm tiệt không ăn cơm chùa vì đang thời gian “tìm hiểu “ cô Phượng, cháu của Hoà thượng Thích Trì Bổn. Và thế là chúng tôi trở thành những kẻ ăn trộm bất đắc dĩ và bảo đảm không bao giờ bị bắt. Ngày nào hết gạo mà hết gạo hầu như thường xuyên, Sơn rủ tôi đi dạo vườn chùa, muc đích là xem vị trí của những quả bí đao, bí ngô để chờ tối rình mò đi làm đạo chích.Thực ra hái đôi ba trái ban ngày ban mặt chẳng ai nói gì nhưng Sơn thích vậy. Bí đao hoặc bí ngô cứ rửa sạch, gọt vỏ và nấu nhừ, bỏ một chút muối và xúc ăn bằng bánh tráng. Những hôm có chút tiền Sơn đi chợ và làm đôi món ăn rất ngon, phổ biến là món xúp xương heo hầm cà rốt, khoai tây.

Cuộc tình của Nguyễn Đức Sơn và cô học trò Nguyễn thị Phượng chín mùi khi nào thì quả tình tôi không hay biết. Một hôm vào khoảng giữa năm 1967, 1968 gì đó (tôi không nhớ chính xác), N Đ Sơn nhờ tôi lên báo với Thầy Thích Thanh Tuệ in gấp tập thơ Đêm Nguyệt Động để kịp ngày đám cưới. Và khoảng mươi ngày sau, đám cưới Nguyễn Đức Sơn –Nguyễn thị Phượng được tổ chức tại chùa Tây Tạng, Thủ Dầu Một-Bình Dương.

Từ sáng sớm, môt chiếc xe con 4 chỗ ngồi đỗ trước nhà Nguyễn Đức Sơn, Sơn trong bộ com lê màu sẫm sang trọng, đầu húi cua đã chờ sẵn đón những người trên xe bước xuống, đó là Đại đức Thích Thanh Tuệ, chủ Nhà xuất bản An Tiêm; Giáo sư, nhà văn Bửu Ý và Đại đức Thích Nguyên Tánh tức nhà thơ Phạm Công Thiện, Khoa trưởng Văn Khoa Đại học Vạn Hạnh. Khi biết tập thơ Đêm Nguyệt Động không in kịp ,N Đ Sơn chào đoàn nhà trai một câu chửi: “ Đ. mẹ…mẹ thầy, thầy có biết ngày này là ngày ngày trọng đại của tôi không? “Thầy Thanh Tuệ cười trừ còn mọi người đã biết N Đ Sơn là ai.

Đám cưới cử hành tại Đại điện chùa Tây Tạng,Thượng Toạ Thích Trì Bổn, trụ trì chùa, cậu ruột của cô dâu Nguyễn thị Phượng đại diện nhà gái vừa là chủ hôn (Phượng mồ côi cha mẹ ở với cậu từ nhỏ), Đại đức Thích Thanh Tuệ, đại diện nhà trai, Đại đức Thích Nguyên Tánh (Phạm Công Thiện) và nhà văn Bửu Ý phụ rể. Trong khi niệm hương lễ Phật,Thượng toạ Thích Trì Bổn và Đại đức Thích Thanh Tuệ quì phía trước, Sơn và Phượng quì phía sau, Sơn dùng miệng mum hết chân nhang, khi cắm nhang vào lư, ba cây nhang của Sơn lùn tịt, không giống ai. Khi qua làm lễ cáo tổ tiên, Sơn láy mắt với tôi, tôi nghĩ Sơn bày trò gì đây nhưng không nghĩ ra. Bàn dọn cỗ là loại bàn tròn bằng gỗ, mặt bàn rời đặt trên cái giá 4 chân hình chữ x, Sơn và Phượng quì trươc bàn cáo tổ tiên, lạy bốn lạy, Sơn lạy thêm một lạy, trồi người tới trước, khi đứng dậy, đầu đội vào cạnh bàn, cỗ bàn bị lật đổ không còn một món. Những người dự lễ cưới không ai không cười, trừ Bửu Ý.

Một tuần lễ sau đám cưới, tôi từ Sài Gòn về Bình Dương thăm vợ chồng Nguyễn Đức Sơn, vừa bước vào nhà tôi thấy Sơn cầm một con dao dí Phượng vào sát vách, Tôi kêu lên: Sơn, làm gì vậy? Sơn vứt dao, choàng vai tôi bước ra ngoài: moa muốn đo sự sợ hãi của Phượng như thế nào!

Từ dạo đó tôi không còn gặp Nguyễn Đức Sơn cho đến những ngày đầu tháng năm 1975, tôi gặp lại Sơn trong một ngôi chùa ở Gia Định .

N.M.T

Chú thích ảnh: Đặng Phú Phong, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Đức Sơn


NGƯỜI ĐÀN BÀ TRÊN ĐỒI CỎ

(về gia đình thi sĩ Nguyễn Đức Sơn)

Bút ký Đào Hiếu

Năm đó Phượng mười bảy tuổi.

Năm đó chùa Tây Tạng ờ Bình Dương có một vị Phật tên gọi là Tỳ Lô Giá Na và một cô tiên nhỏ tên là Annie Phượng. Buổi tối khi các tín hữu đã xong lễ về nhà, khi thầy trụ trì và các sư sãi đã tụng xong bài kinh Kim Cang Đảnh, khi rừng cây đã im lặng, mái chùa đã chìm khuất trong màn đêm… thì ánh sáng của hai vầng hào quang tỏa ra, ôm lấy ngôi chùa. Một vầng sáng màu tím nhạt, ấm áp của đức Phật và một vầng sáng trắng tinh khiết của Phượng.

Hào quang của Phượng tươi mới, rực rỡ như một khóm hoa lung linh trong sân chùa. Annie Phượng không phải là ni cô, không đi tu, nhưng hai mươi năm sau, khi theo Nguyễn Đức Sơn lên rừng, nàng đã hóa thân thành Bồ tát.

Tôi chưa từng gặp Phượng thời con gái. Cũng chưa từng gặp Phượng năm nàng hai mươi tám tuổi dắt con theo chàng thi sĩ ngông cuồng lên rừng. Tôi chỉ gặp nàng khi nàng đã vượt qua chín tầng địa ngục, qua những cái chết, những cơn bệnh, những đám cháy rừng và những cơn đói.

Nhưng tôi vẫn biết nàng rất đẹp.

Trịnh Công Sơn cũng biết nàng rất đẹp.

Nguyễn Đức Sơn thì chửi bới, nguyền rủa mọi thứ. Tôi nói:

-Tôi đến đây để tìm một Nguyễn Đức Sơn “vĩ đại” nhưng tôi chỉ gặp một Phượng vĩ đại. Nếu không có người đàn bà này, ông đã chết rồi Sơn ạ.

Sơn chửi thề. Và Phượng im lặng. Luôn luôn im lặng. Một cái bóng mảnh mai ngồi bất động trong hoàng hôn, trên mặt đất đầy lá khô và cỏ. Một khuôn mặt đầy nếp nhăn và một đôi mắt đẹp đầy những dấu chân chim.

&

Năm 1972 Nguyễn Đức Sơn trốn lính, về tá túc ở Bình Dương, dạy Anh văn tại một tư thục. Nếu không gặp Phượng hắn sẽ chẳng có tác phẩm nào ra hồn. Phượng rọi hào quang của nàng vào cái đầu mê gái tơi bời của hắn và hắn được cô “độ” cho thành…thi sĩ. Tác phẩm “Đêm Nguyệt Động” ra đời từ dòng nước cam lồ róc rách tuôn ra từ nhục thể của “thánh cô” Annie Phượng.

Và huyền thoại đã bắt đầu:

Năm mười bốn có lần anh ngó thấy

Em cởi truồng ngoe nguẩy cuối vườn trăng

Hồn thảo dã trong đêm vừa thức dậy

Khắp bầu trời ướt mượt cả lông măng

Từ dạo đó xác hồn anh mất hết

Một đêm nào trở lại cõi vô biên

Đời anh đó đâu có bằng hạt cát

Đã vô tình vương dưới gót chân em

Từ đó chàng thi sĩ luôn trộn lẫn trần tục với bồng lai nên khi cô nữ sinh “tụt quần xuống đái” thì hào quang cũng rực sáng muôn trùng.

Trên rừng vắng một mình anh hái trái

Bỗng mơ hồ trông thấy quá nhiều chim

Bên mương vắng em tụt quần xuống đái

Anh thấy càn khôn rụng xuống trong tim

 

Nhưng những vần thơ mê gái thượng thừa ấy cũng không lay động được Annie Phượng. Chàng khóc lóc, rên siết, quỳ lạy…cũng chẳng ăn thua, bèn dùng “khổ nhục kế”. Nếu như ngày nay thì chàng thi sĩ sẽ quấn chất nổ quanh mình rồi lao vào “đánh bom tự sát”, nhưng Nguyễn Đức Sơn thời đó đã trèo lên thành giếng và kêu lên: “Bớ Chúc Anh Đài! Ta chết đây!” làm Phượng hoảng hốt.

Cuộc hôn nhân đã bắt đầu như vậy.

&

Cuối đời nhà Thương, Vũ Vương cử binh đi đánh Trụ. Bá Di, Thúc Tề cản lại mà rằng: “ Bầy tôi đánh vua để cướp nước, thế có gọi là nhân được không?”

Khi vua Vũ diệt được Trụ, dựng nên nhà Chu, thiên hạ ai cũng tôn phù. Bá Di, Thúc Tề chê là bất nghĩa, không thèm ăn thóc nhà Chu, cùng nhau lên núi Thú Dương, hái rau vi mà độ nhật.

Sau có người đến bảo rằng : “Nhà Chu đã trị thiên hạ, thì nơi nào lại chẳng phải của nhà Chu, ăn rau núi này chẳng phải ăn rau nhà Chu ư?” Hai ông nghe nói, bèn nhịn đói cho đến chết.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Đức Sơn bỏ đời, đưa vợ con lên núi. Tuy ông không đến nỗi “dở hơi” như Bá Di và Thúc Tề nhưng ông cũng cực đoan đến nỗi cấm không cho các con học chữ.

Lúc ấy hình như Phượng mới có ba đứa con: Nguyễn Đức Thạch, Nguyễn Đức Thảo và Nguyễn Đức Vân. Hàng ngày hai vợ chồng phải vô rừng bẻ măng, hái rau rừng, đào củ mài về ăn thay cơm. Sau đó họ trồng rau lang vừa để ăn vừa để bán.

Buổi sáng Phượng thường dậy rất sớm. Chiều hôm trước mấy mẹ con đã cắt rau lang bó thành từng bó lớn để sẵn trong sân. Nguyễn Đức Vân giúp mẹ cột các bó rau lên chiếc xe đạp rồi vịn xe cho mẹ ngồi. Phượng đạp xe qua những lối mòn trong rừng để ra chợ. Nguyễn Đức Vân chạy yểm trợ phía sau. Mỗi lần lên giốc Vân đẩy phụ xe cho mẹ. Khi xuống giốc Vân phải rị xe lại, nếu không xe sẽ lao đi, ném Phượng xuống triền giốc.

Hai mẹ con ra đến chợ lúc bốn giờ sáng. Trời còn tối mù, có hôm sương xuống dày đặc nhưng mồ hôi toát ra ướt áo. Vân trải tấm ny-lông xuống đất ngay trước cổng nhà thờ cho mẹ nằm. Phượng, nằm nghiêng, bó gối, thiếp đi một lúc.

Khi tiếng chuông nhà thờ vang lên, hai mẹ con thức giấc. Lác đác đã có tiếng người và tiếng bước chân xôn xao quanh khu chợ nhỏ.

Hai mẹ con đẩy xe rau đến đó.

&

Ba anh em tìm được một vạt rau rừng tươi tốt. Hôm nay không có măng và củ mài cũng cạn kiệt, những con nhím đã đến trước và lấy đi hết. Ba anh em trở về với một gùi rau.

Phượng đem rửa ngoài chái nhà và bắc nồi nước.

Trong vò chỉ còn một lon gạo.

Cả nhà xúm quanh nồi rau rừng.

Mớ rau ấy mang những độc tố gì? Sau bữa ăn mọi người đều chìm vào một cơn mê ngủ. Hai vợ chồng và ba đứa con trai, tất cả năm người nhưng chỉ có 4 người thức dậy. Nguyễn Đức Thảo đã ngưng thở. Bệnh viện cũng không cứu được. Thảo chết có lẽ vì sau bữa ăn em còn uống thêm một bát nước rau luộc. Năm ấy em mười ba tuổi.

Em nằm trên chiếc giường tre nhỏ, chiếc áo đang mặc trên người đã rách tả tơi, xơ xác đến nỗi không thể vá được nữa. Phượng ngồi bên giường. Giọt nước mắt mệt mỏi vừa ứa ra đã nhòe trên gò má nhăn nheo.

Mấy anh em không ai có được chiếc áo lành để mặc cho đứa em bất hạnh. Phượng lục tìm trong mớ áo xống của mình, chọn được một chiếc tương đối lành lặn. Bà lấy kim chỉ, ngồi bên giường của đứa con trai vừa vá lại những chỗ sờn rách vừa khóc:

-Con ơi! Mẹ xin lỗi vì đã không có được một chiếc áo lành để chen thân cho con lúc con ra đi. Hãy mặc tạm chiếc áo của mẹ.

Nguyễn Đức Sơn thì bất động như một gốc thông già, lặng thinh như hòn đá nám khói.

Ông chôn con mình trên đồi thông rồi ném cái cuốc xuống triền giốc. Ông ôm lấy nấm đất đen và khóc ngất.

&

Cũng từ đó Phượng im lặng. Nguyễn Đức Sơn thắp ngọn đèn dầu, viết những gì ông nghĩ. Bôi xóa. La hét. Vò nát bản thảo, vứt bừa bãi trong xó tối, trên nền đất đen ẩm ướt.

Phượng đi lại trong túp lều như cái bóng. Bà gom những tờ bản thảo bị vò nát, vuốt cho chúng thẳng ra, xếp lại theo thứ tự rồi ngồi lại cái bàn gỗ ọp ẹp, trước cái máy chữ. Bà đánh máy lại những tác phẩm của chồng.

Xong việc, bọc theo mấy củ khoai và vác cuốc vô rừng. Bà gom lá khô lại, đốt thành tro rồi đem bón cho những gốc thông mà Sơn đã trồng mấy tuần trước đó. Bà dọn cỏ cho những luống mì, luống khoai. Lưỡi cuốc miệt mài. Hai bàn tay sạm đen, khô cứng.

Mỗi ngày bà làm việc trong rừng tới khi tắt nắng mới về. Cơm nguội buổi sáng vẫn còn. Mấy con cá kho nhỏ như ngón tay. Trong bữa ăn không ai nói gì, cũng không ai than thở.

Đời sống vật vã như cơn gió đang mắc kẹt trong rừng thông. Hoàng hôn che khuất dần mảng trời trước khung cửa.

Hôm sau Phượng lại vác cuốc vô rừng. Buổi trưa, Phượng ngồi trên đồi thông, hát một mình những ca khúc thời con gái. Gió rì rào từ dưới lũng thấp thổi tới.

Phượng vừa chợp mắt đã nghe nóng rát mặt. Gió hừng hực. Nó ập tới mạnh mẽ khác thường. Nó mang theo tiếng răng rắc của củi cháy.

Phượng đứng dậy, dùng cuốc xúc đất vãi vào lửa. Nhưng lửa sỗ sàng. Khói cuộn lên như đám mây lớn. Những nắm đất nhỏ nhoi của bà trở nên vô nghĩa. Hơi nóng táp vào mặt. Lửa rừng rực, xồng xộc tới như bầy tê giác điên.

Phượng sợ hãi nhưng không bỏ chạy. Bà cầm cây cuốc. Hai tay run bần bật. Lửa đã trùm lên cả một mảng rừng, Lửa đỏ trời, che khuất những đám mây.

Phượng sợ quá nhưng không chạy được. Bà quỵ xuống, gãy gập như cây bắp khô.

Vừa lúc Nguyễn Đức Vân chạy tới. Phượng đã bất tỉnh.

&

Nguyễn Đức Sơn lấy cái mền, cột túm hai đầu, luồng một cành cây vào giữa. Cùng với Nguyễn Đức Vân, hai cha con cáng mẹ băng rừng ra phố. Vừa chạy vừa khóc. Gai tre và cành cây cào xước mặt. Máu lẫn với nước mắt.

Nhưng trời vẫn còn thương cha con chàng thi sĩ ngông cuồng.

Phượng đã tỉnh lại.

Ba hôm sau Trịnh Công Sơn từ Sàigòn lên, ghé bệnh viện Bảo Lộc.

Sơn Núi hỏi:

-Mày lên đây làm gì?

Sơn nhạc sĩ đáp:

-Thăm Phượng. Sao nỡ hành hạ người ta đến vậy?

Sơn Núi bỏ đi.

Trịnh Công Sơn ở lại với các con của Phượng. Có lẽ hôm đó là một ngày của năm 1982. Tôi không biết, và các con của Phượng cũng không biết chính xác là ngày và tháng nào. Trịnh Công Sơn đã tặng cho gia đình Nguyễn Đức Sơn 60 triệu đồng. Thời điểm đó số tiền ấy rất lớn.

Nó đã cứu Phượng, đã giành giựt Phượng khỏi tay tử thần.

&

Cuộc rượu cũng tàn theo nắng xế. Nhưng những lời vung vít của chàng cuồng sĩ thì vẫn còn sôi nổi. Bóng tối đã tràn ngập rừng cây, đồi cỏ và những lối mòn. Phượng và mấy cô con gái tiễn chúng tôi về. Khi xuống tới cuối ngọn đồi, Phương Bối – cô con gái lớn của Sơn và Phượng – nói:

-Chú ạ, ba con chửi đời và tỏ vẻ bất cần đời nhưng đó chỉ là để che giấu nỗi buồn, che giấu sự cô đơn của ông. Và trong thâm tâm ông cũng biết là ông đã sai lầm khi đưa tụi con lên đây và cấm tụi con đi học.

Đó là bi kịch của ông. Bi kịch của Sơn Núi. Bi kịch của Nguyễn Đức Sơn thi sĩ.

Ngày 24.11.2008

(Bài này đã đăng trên báo Xuân DOANH NHÂN SÀIGÒN với bút hiệu Hà Danh)