Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2010

Thơ Phạm Tấn Hầu


Xứ sở dịu dàng


Mẹ thầm lặng của con ơi!

dòng sông thân yêu vượt bao gành thác

thiết tha giữ lấy lời ru

đưa con tới bờ tới bến


Mẹ ơi con chỉ biết

đằng sau lớp áo vải thô bạc màu thuở ấy là xứ sở dịu dàng

che dấu được người con qua cơn đớn đau thô lỗ

dịu dàng hơn cả sông Hương

dịu dàng cho con vóc dáng

của một người sống để yêu thương

dịu dàng làm chiến thắng của con

trở thành bao dung, giản dị


Và mẹ của con sau nhiều dâu bể vẫn chỉ biết một nụ cười khiêm tốn trên môi

mẹ mỉm cười vì thấy mình còn chỗ đứng

làm bóng râm nho nhỏ cho con

vì cuộc đời mình, mẹ nghĩ

dẫu như chiếc bánh ít oi

vẫn còn đem chia xẻ được

vì giữa đứa con hư và đứa con ngoan

vẫn có chung món quà của mẹ

và mẹ mỉm cười vì còn thấy được trong mắt con có bóng dáng niềm vui


Như mặt trời của những ngày mưa

mẹ sống với việc làm thầm lặng

luồn những đường kim của mình

vào trong tấm áo…

Cho đến lúc sợi chỉ ngắn dần

và nguyệt thực sầm sì choán hết

mẹ lặng lẽ ra đi

để lại trong đêm nhiều nước mắt.


PHẠM TẤN HẦU

Thứ Năm, 19 tháng 8, 2010

HOÀI NIỆM MẪU THÂN

Nhớ Người một dáng năm xưa
Đôi triên gióng gánh chưa vừa trần gian
Ra đi vào giữa mùa Xuân
Hận buồn cách biệt nghìn trùng núi non
Không gặp Người buổi lâm chung
Thương và nhớ cả mịt mùng ngàn năm
Qua đời chưa tới bốn lăm
Mẹ không già để ân cần sớm hôm
Nắng mưa chuyện cũng bình thường
Tháng ngày qua với đau thương mất Người
Bao giờ còn dáng Mẹ tôi
Ngoài sân thấp thoáng bóng Người phù du

Nhớ Người hình tạc thiên thu
Trong bi ai vọng tiếng ru ngàn đời

TỪ HOÀI TẤN

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

Ý Nghĩa Mùa Vu Lan




LÊ ANH MINH

Khoảng rằm tháng 7, một mùa lễ Phật giáo được tổ chức khắp Đông Nam Á. Ở Nhật gọi là lễ Obon お盆. Chữ Bon này là tức là Urabon, do Nhật phiên âm từ tiếng Phạn Ullambana; Trung Quốc phiên âm từ Phạn ra Hán là Vu Lan Bồn 盂蘭盆 hoặc Ô Lam Bà Na 烏藍婆拏; Việt Nam gọi tắt là Vu Lan 盂蘭.
Nhiều người hiểu chữ Bồn theo âm Hán Việt, nghĩa là cái bồn, cái chậu, mà không ngờ đây chỉ là mượn âm Hán để phiên âm tiếng Phạn (Sanskrit) chứ nó không liên quan gì đến ý nghĩa nói trên. Sự ngộ nhận của nhiều người là vì mùa lễ này tín đồ cúng dường Tam Bảo để cầu nguyện vong linh thân nhân được siêu thoát. Cái bồn là vật đựng thức ăn cúng dường. Nếu hiểu trại như vậy (Vu: cái bát; Bồn: cái chậu) thì không ai giải thích được chữ Lan nghĩa là gì trong ngữ cảnh này (mặc dù nghĩa thông thường là hoa lan). Do đó, để hiểu đúng thuật ngữ này ta phải quay về gốc tiếng Phạn của nó. Ullambana có nghĩa là treo ngược, ngụ ý sự thống khổ của các vong linh đói khát bị đọa đầy (bị treo ngược) nơi địa ngục.
Sự cúng dường Tam Bảo đây cũng là nhân dịp kết thúc mùa An cư 安居 (Vārşika), tức là ba tháng mùa mưa từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 để tăng ni tu học, niệm kinh và tham thiền liên tục trong tự viện, không bước ra ngoài. Tại Việt nam, Phật giáo Bắc Tông tổ chức mùa An cư từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 (giống như ở Nhật và Trung Quốc) và Phật giáo Nam Tông tổ chức từ rằm tháng 6 đến rằm tháng 9. Mùa này cũng gọi là Kiết hạ, Trung Quốc gọi là Tọa hạ 坐夏, Nhật cũng gọi là An cư 安居 (Ango), Tọa hạ 坐夏 (Zage).
Như vậy cuối mùa An cư kiết hạ là lễ Vu Lan. Chính thức là rằm tháng 7, nhưng đa số các chùa Bắc Tông đã tổ chức từ mồng một lễ tụng Kinh Vu Lan và từ rằm đến cuối tháng thì lễ tụng kinh Địa Tạng. Bên chùa Nam Tông thì khác, chủ yếu là tổ chức giảng giáo lý lấy ra từ Tạng Kinh, chứ không tổ chức lễ Vu Lan, không sử dụng Kinh Vu Lan, Kinh Địa Tạng, v.v. như Bắc Tông.
Kinh Vu Lan (tức Vu Lan Bồn kinh 盂蘭盆經: Ullambana-sūtra) thường bị ngộ nhận là do Phật Thích Ca (Sākyamuni) viết. Kinh này đầu tiên được Trúc Pháp Lan 竺法蘭 (Dharmarakşa, 266-317) dịch từ Phạn văn sang Hán văn. Các lễ tụng kinh này mãi đến thời Lương Vũ Đế 梁武帝 (tại vị 502-549) mới phổ biến. Có thuyết khác cho rằng Kinh này được biên soạn tại Trung Quốc.
Tập quán cúng dường Tam Bảo để độ rỗi vong linh đói khát nơi địa ngục không rõ bắt nguồn tự bao giờ, nhưng người ta hay liên hệ đến câu chuyện Mục Kiền Liên 目犍連 (Maudgalyāyana), một đệ tử của Phật Thích Ca, hỏi Ngài cách cứu độ mẹ ông hiện là quỷ đói (preta) nơi địa ngục. Phật bảo muốn thế thì phải cầu sự hộ trì của thập phương chúng hội 十方眾會 (tức là tăng lữ). Đó là nguyên do của Vu Lan Bồn kinh.
Như vậy Phật giáo Ấn Độ truyền vào Trung Quốc đã pha trộn với tín ngưỡng gia tiên (ancestor worship) bản địa mà hình thành phong tục cúng dường để độ rỗi vong linh gia tiên bảy đời đang đói khát, đồng thời người ta cũng cúng tế thực phẩm và đốt y phục giấy cho vong linh của thân nhân. Lễ Vu Lan rất phổ biến tại Trung Quốc, Nhật Bản, và Việt Nam. Tại Nhật, cuối mùa Vu Lan, trên các ngọn núi người ta đốt các ngọn lửa xếp thành chữ Hán như chữ đại 大, diệu 妙, pháp 法, v.v. xem như là những ngọn lửa dẫn đường các vong linh trở về cõi âm.
Việc cúng dường cầu xin cho cha mẹ và tổ tiên đã khuất được siêu thoát đã toát ra nét đẹp rất văn hóa và nhân bản của Vu Lan, bởi vì mùa Vu Lan cũng được xem là mùa báo hiếu. Trong nền đạo đức Đông phương, hiếu là đức hạnh đứng đầu trăm hạnh khác (Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên 人生百行孝為先). Chữ hiếu 孝 đã xuất hiện tại Trung Quốc từ thời xa xưa. Những mảnh xương và mai rùa (giáp cốt 甲骨) thời Ân-Thương 殷商 ghi chép lời bói (bốc từ 卜辭) đã có ghi khắc chữ hiếu (theo dạng giáp cốt văn). Hứa Thận 許慎 thời Đông Hán giải thích chữ hiếu 孝 trong Thuyết Văn Giải Tự 說文解字 là: Khéo phụng sự cha mẹ, chữ hiếu 孝 gồm chữ lão 老 (người già; bị lược nét 匕) và chữ tử 子 (con). Ý nói con cái vâng lời cha mẹ già (Thiện sự phụ mẫu giả. Tòng lão tỉnh, tòng tử. Tử thừa lão dã 善事父母者, 从老省, 从子.子承老也).
Như vậy hiếu là nét văn hóa có sẵn tại Trung Quốc lâu đời, trước khi Trung Quốc tiếp thu Phật giáo Ấn Độ. Cách nói thông thường của người Trung Quốc «Dưỡng nhi phòng lão» 養兒防老 (nuôi con để trông cậy lúc tuổi già) đã thể hiện khát vọng chung của các bậc cha mẹ trên thế gian. Đó cũng là mục tiêu cơ bản của giáo dục tại Trung Quốc ngày xưa. Chữ giáo 教 (từ tố giáo trong giáo dục 教育 và tôn giáo 宗教) nghĩa là dạy bảo. Thuyết Văn Giải Tự giảng: Người trên thi hành cho kẻ dưới bắt chước (Thượng sở thi hạ sở hiệu dã 上所施下所效也). Phân tích chữ giáo 教, ta thấy chữ này gồm chữ hiếu 孝 ghép với bộ phộc 攴 (đánh khẽ), ý nói dạy bảo cho người ta đạo hiếu (nếu cần, cũng nên có roi vọt: phộc). Do đó mục tiêu của giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức (trí dục) mà còn phải dạy cho người ta đạo đức (đức dục), mà trong đức dục thì điều quan trọng nhất là dạy cho con người biết kính yêu phụng dưỡng cha mẹ và tri ân tổ tiên nguồn cội. Một tôn giáo hay một hệ giáo dục nếu bỏ qua yếu tố này sẽ là một thực thể phi nhân bản.
Tam giáo Đông phương đều coi trọng đạo hiếu. Trường A Hàm Kinh 長阿含經 (quyển 11), các chiếu thư khắc trên đá (số 2 và số 4) của A Dục Vương 阿育王 (Aśoka, tại vị khoảng 274-237 tcn), v.v. đều nhấn mạnh sự hành thiện mà quan trọng nhất là kính yêu, vâng lời, và phụng dưỡng cha mẹ.
Nho giáo càng đề cao đạo hiếu qua các kinh điển như: Hiếu Kinh 孝經, Thượng Thư 尚書, Tả Truyện 左傳, Lễ Ký 禮記, Thi Kinh 詩經, Tứ Thư 四書, v.v. Giáo dục con trẻ (tức là khải mông 啟蒙) phải lấy đạo hiếu làm nền và điều này thấy rõ trong các tác phẩm dạy trẻ như: Tam Tự Kinh 三字經, Ấu Học Quỳnh Lâm 幼學瓊林, Tiểu Học 小學, Đệ Tử Quy 弟子規, Tiểu Nhi Ngữ 小兒語, v.v.
Đạo giáo tuy tôn chỉ là tu luyện thành tiên (gọi là tiên đạo 仙道) nhưng không coi thường nhân đạo 人道 bởi lẽ đơn giản: làm người còn chưa xong lẽ nào thành tiên cho được? Trong nhân đạo thì trung và hiếu là trên hết, và đó cũng là gốc rễ của Đạo giáo như đạo gia Lý Thúc Hoàn 李叔還 nói: «Đạo giáo lấy trung hiếu làm gốc, lấy kính trọng Trời-noi theo pháp tắc tổ tiên- gây lợi cho vật-cứu giúp người mà làm nhiệm vụ.» (Đạo giáo thị dĩ trung hiếu vi bản, dĩ kính thiên pháp tổ lợi vật tế nhân vi vụ 道教是以忠孝為本以敬天法祖利物濟人為務). Vì thế có giáo phái của Đạo giáo là Tịnh Minh Đạo 淨明道 lấy Trung Hiếu làm tôn chỉ nên còn gọi là Tịnh Minh Trung Hiếu Đạo 淨明忠孝道 (hưng khởi ở Nam Xương 南昌 Tây Sơn 西山, vào giữa đời Tống và đời Nguyên, thờ Hứa Tốn 許遜 [239-?] làm tổ sư). Các kinh điển Đạo giáo từ Thái Bình Kinh 太平經 đời Hán cho đến Bão Phác Tử Nội Thiên 抱朴子內篇 đời Tấn và cả những sách khuyến thiện (gọi là thiện thư 善書) của Đạo giáo như Cảm Ứng Thiên 感應篇, Âm Chất Văn 陰騭文, Công Quá Cách 功過格, v.v. đều giảng dạy về đạo hiếu.
Xem thế, truyền thống đạo đức Đông phương (gồm những quy luật đạo đức phổ quát dân gian dung hợp với quy luật đạo đức tam giáo Nho, Thích, Đạo) đều coi trọng đạo hiếu. Cho nên mùa Vu Lan không chỉ dành riêng tăng ni và Phật tử tại gia mà còn dành cho tất cả mọi người có dịp nhìn lại bản thân: Cảm nhận thâm ân dưỡng dục của cha mẹ và ân đức khải đạo của tổ tiên; xót thương vong linh thân nhân đang đói lạnh; hành thiện để hồi hướng cho cửu huyền thất tổ được siêu thoát; và nhất là tận tâm phụng dưỡng cha mẹ chu đáo khi cha mẹ còn tại thế.
Nhân mùa Vu Lan, nêu lại vấn đề đạo hiếu là một điều thiết thực, và đạo hiếu được thể hiện không chỉ trong một mùa, mà phải thể hiện suốt cả đời. Một gia đình đề cao đạo hiếu tức là gia đình đó trở thành tế bào lành mạnh của xã hội, là một thành trì ngăn cản mọi tệ nạn của xã hội. Như Hiếu Kinh đã nói, để thể hiện đạo hiếu người ta phải lập thân (nếu không thể tự nuôi thân, lấy gì nuôi cha mẹ?), làm những việc tốt đẹp cho đời để rạng rỡ mẹ cha và gia tiên. Xã hội hiện nay bước dần theo xu hướng đa văn hóa và toàn cầu hoá. Để khỏi lạc nẻo, những người con phải ý thức mình đang đứng ở đâu và làm gì. Những gì đã và đang làm có tác hại gì đến danh dự cha mẹ, tổ tiên, có tác hại xã hội hay không? Sự tự vấn để răn mình này tăng cường ý thức công dân, giúp xã hội thêm lành mạnh.

LÊ ANH MINH
http://www.thienlybuutoa.org/LAM/vulan.htm

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

Khổng Ðức : Đọc Bông & Giấy (Phần 1: Những Cây Bút Nữ)


Người đọc thơ là người hành hương xuất phát lên đường giải bày
( The reader of poetry is a kind of pilgrim setting out,setting forth)
Wallace Stevens

Tôi vốn là kẻ la cà, sao mà cũng lọt vào nhóm café Bông giấy vỉa hè, bông giấy trồng theo bờ rào, tàn cây de ra đường thành bóng mát, rất thuận tiện việc bán cà phê cho thứ lữ khách nghệ sĩ cà tàng vớ vẩn - nói ngay cho bà con tọ mọ muốn biết - nó nằm ngay trên đường Trấn Quốc Thảo, quận 3, thành phố HCM. Cũng từ quán cà phê này mà có tuyển tập thơ Bông & Giấy do NXB Lao Động xuất bản, mà chủ xị vẫn là những khách cà tàng uống cà phê hay trà đá ở đây. Tuyển tập gồm có 30 tác giả hôm nay - từ Việt răc rối – hôm nay cũng có nghĩa là hiện nay.

Tôi chẳng dính gì với 30 tác giả, nếu có chăng chỉ là hơi hướm cà phê, thuốc lá, trà đá, với đôi tà áo các bà thơ thẩn…, và được tặng sách, nên phải bành mắt ra mà đọc thơ …Thế là tôi phải lên đường làm kẻ hành hương, bởi tôi quan niệm đọc thơ không phải như đọc báo hằng ngày hay tiểu thuyết ba xu (nay là ba đồng, ba ngàn đấy).

Ba chục tác giả trong tuyển tập thơ này là bao gồm đủ già trẻ - từ thế hệ 4x đến 8x, trong đó có 11 nhà thơ nữ, cần khoanh vùng thì đủ cả Nam Bắc Đông Tây ( Bắc 3, Cà Mau 1, Tây nguyên 2, còn lại là Trung và Saigon). Về hình thức thì tuyển tập cũng bộc lộ tính đơn sơ như cơ sở sản sinh ra nó,

Trần trụi không tựa, không bạt, chẳng có phụ bản phụ biết, hình ảnh, tiều sử tác giả cũng không, nói là NXB xuất bản, thực ra ai cũng biết chỉ là cơ quan cấp giấy phép. Chính những tác giả có máu mặt móc hồ bao lo in ấn.

Họ đến họp mặt trong tuyển tập là tự nguyện với nghĩa bạn bè, chứ không phải là cùng xu hướng hay trường phái gì cả, đặc biệt của nhóm Bông Giấy là mỗi người đều có quan niệm và lập trường riêng, chẳng ai giống ai. Họ đến với nhau chỉ vì thích tự do, có chỗ để tán bậy nói bừa, tiêu ma hết ngày tháng. Nhưng chớ thấy hình thức đơn sơ đó mà coi thường, nhất là vội vàng đánh giá, mà phải chịu khó lên đường đi sâu vào nội dung tuyển tập, dù chỉ có 30 tác giả vẫn tỏa lên cái không khí hùng vĩ, cao sâu, thể hiện được tính chất thi ca hiện đại, Họ có thể là đại diện cho cả bộ mặt của Văn học Việt Nam, nó rách nát nó nghèo nàn vắn vỏi, nhưng vượt bỏ những tuyển tập to lớn đồ sộ của Hà Nội, hay cả đám thi nhân dưới cờ của hội này hè kia. Họ cùng thống nhất với quan điểm chung là không quay về với dĩ vãng chiến chinh xa xưa, mà là hướng về tương lai, thể nghiệm và khám phá một chân trời mới. Chân trời đó là cuộc sống tâm linh, không thần thánh, không phúc âm, không tôn giáo, rút lại trong trạng thái bồn chồn lo âu…, dấn thân vào thi ca hiện đại, biết rõ những dụ dỗ và không bị rơi vào những ảo tưởng, họ không còn tin vào đâu kể cả Thượng Đế. Bằng hình ảnh và tình cảm thi ca cáo tố sự dối trá, bài bác hình thánh, chống lại mọi sự sùng bái những hình ảnh…

Họ giống như Claude Vigée tự hỏi và tự trả lời: “ Thơ là gì? Phải chăng là một cuộc lửa trại của một đêm hè đã bỏ đi, vẫn còn âm ỉ bốc khói trên ngọn núi hoang vu.” Bởi vì nó là đối tượng của ngôn ngữ không cam phần thất bại mà tái tạo những mạng lưới ý nghĩa đặc biệt. Thi ca khẳng định dục vọng và lý trí của chúng ta. Nó liên kết, nó phân chia, nó căn dặn. Nó tìm ra đường thẳng của khoảng trống để tiếp tục lia vào đó sự đối kháng về cuộc đời không hoàn hảo. (trích dịch trong Poésie comme l’amour cúa J.M Maulpoix). Nhưng không hề mang tính chất tranh đấu mà chỉ là sự trở về với hoạt động thuần túy của thơ. Nội dung của nó dù không phân chia mà chỉ sắp theo thứ tự mẫu tự A,B,C… vẫn gồm có hai phần: thơ nữ và thơ nam. Nữ chỉ có một phần ba, mỗi người một vẻ, nhưng vẫn mang ý hướng chung là thiên về tình cảm, đi sâu vào cuộc sống nội tâm. Trong khi thơ của nam giới đông đảo hơn, đa phần lại hơi thiên về lý, tuy cũng hướng về nội tâm. Nhưng thi nhân hiện đại không bao giờ rời khỏi thế giới cảm giác, họ muốn kết nối với thế giới ấy bằng một thỏa ước mới, giống như nhà thơ hiện đại của Pháp là Yves Bonnefoy (1923) tự thú nhận rằng cá tính của ông là ở giữa một thứ vật chất bẩm sinh và một thứ ưu tư siêu việt cũng bẩm sinh. Thứ siêu việt ấy nếu muốn tóm bắt lấy nó chỉ có thề là quay về với thực tại. Cái thực tại lại chỉ có trong ẩn ngữ mang tính mờ nhạt và đơn giản, nó giống như cửa ngỏ hé mở của một thửa vườn ở ngoại ô, hay là trong một cơn mưa nhỏ, có một tia nắng cuối cùng sót lại trong lùm cây như bị ngủ quên. (vẫn trích từ Poesie comme l’amour).

Nói cho dữ là để tạo uy phong chứ thơ nữ vẫn có những ưu thế hơn thơ nam, dù họ thuộc thế hệ trẻ 8x, mà tôi cũng có ý là liệt tất cả 30 tác giả vào thế hệ 80, bởi thơ trong toàn tập Bông - Giấy đều làm sau 1980, dù có những bậc thuộc thế hệ 4x. Riêng tôi, người viết bài này lại không nằm trong thế hệ của các nhà thơ, mà là thuộc lớp tiền tiền bối, nói như thế không phải là tự đề cao mình, mà chỉ để nhấn mạnh là tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời nhận xét của mình, bởi tôi tin đó là chân lý. Giờ thì xin trở lại vấn đề, tôi chỉ là người thưởng ngoạn đọc thơ chứ không phải là nhà phê bình. Bởi sự phê bình không đến với thơ, ngay nhà thơ cũng không đến được với tinh chất của thi ca (l’essence de la poésie), cũng như họ chỉ tiến về một địa hạt, ở đó tính chất chính không kết hợp với sự phổ quát mà chính là với nội tâm.

Mỗi nhà thơ đúng nghĩa là đạt đến và khám phá cái vương quốc của mình, không phải bằng những đại lộ gắn đầy những mũi tên chỉ dẫn, nào ranh giới, quán xá, trường học, nhà thương, v..v… mà là những nẻo đường nhỏ đầy gai góc chỉ mở riêng ra cho nhà thơ thôi, trong một thế giới đồng trinh thuần khiết. Nêu ra như vậy là để minh xác một lần nữa vị thế của mỗi nhà thơ, vì đến đây là lúc tôi đọc kĩ một số những nhà thơ tôi quen biết trong tổng số 30, trước tiên hãy nói về phái nữ. Để chúng minh cho lời nhận xét của tôi ở trên là thơ nữ có nhiều ưu thế hơn thơ nam, vậy xin đề cập ngay đến vợ chồng Nguyệt Phạm – Nguyễn Hữu Hồng Minh. Thơ ông có vẻ mênh mông, đi nhiều thấy rộng, ít nhiều mang tính chất triết khinh bạc:
Đại lộ bát ngát, Thơ rác vỉa hè

Do đó tôi không dám đả động đến nhiều mà chỉ nói đến hai bài thơ tình : Con ngựa trời của anh và bài Ẩn từ của bà đủ thấy sự chênh lệch, nội dung của Ẩn từ với những hình ảnh nhẹ nhàng hàm súc kín đáo đầy ma lực hấp dẫn như: Nhân loại như ngoài em ra chỉ còn một người
…..Mình ngã cạnh nhau, những hơi thở vội/ Mùi hương rất lạ
Cuốn tung trái chiều.
……Phòng đói nhau / Nuốt từng thớ da căng….
Trong khi đó ở Con ngựa trời…( Nguyệt Phạm vốn là một trong 5 ngựa trời)
đầy những hình ảnh thô bạo : Đầu bọ thân ngựa
Nhịp vó rướn trên trên đồi hoang nhiệt đới
….Như khi cặp đùi em quặp chặt anh
hoài thai loài buồn sang kiếp khác

Nữ sống nội tâm và chỉ nói về tình thì cũng hợp lý thôi. Vì tình yêu tham gia vào thi ca của cuộc đời, thi ca tham gia vào tình yêu của cuộc đời. Tình yêu và thi ca tự sinh sản lẫn nhau và có thể đồng nhất với nhau… Trong cuộc sống chúng ta luôn luôn đi tìm ý nghĩa; nhưng ý nghĩa không phải bẩm sinh, nó không ở bên ngoài con người của chúng ta, nó xuất hiện ở sự chia xẻ, sự thân thiện, ở tình yêu. Ý nghỉa của tình yêu và ý nghĩa của thi ca là ý nghĩa có phẩm tính cao cả trong cuộc đời. (trích trong Amour,poésie, sagesse của E. Morin).
Ngẫu nhiên sắp tên tác giả theo mẫu tự, Tiểu Anh hóa ra người đứng đầu sổ, mà cũng xứng đáng để đưa lên đầu, vì thuộc thế hệ trẻ 8x, hơn nữa thơ lại thuộc bậc siêu đẳng, bậc thầy cho nhiều người. Chắc là vô tình thôi bài “Câu hỏi thảng 3” cũng được đưa lên hàng đầu. Thật không sao ngờ được một cô gái mới ngoài 20 tuổi đã viết những câu :
Phải chăng chúng mình chẳng bao giờ có thể lớn lên vì oằn trên lưng cõng dăm thằng không lồ và hàng vạn nỗi đau
Anh ra đi tháng ba ……em về soi bóng mình dưới dòng sông một con hủi đầy đủ 10 ngón tay dài thon, nhọn nhưng không thể cầm nắm bất cứ thứ gì.

Nhà thơ vẫn sử dụng ngôn từ để nói, nhưng không phải chỉ với ý nghĩa của nó, mà có thể vượt ra ngoài ý nghĩa đó, nó có tính cách như một thần chú của thế giới. Trong tay thi nhân, sự nắm bắt ngôn từ là một pháp thuật, chứ không phải là logic. Từ đó gây ra cho thơ cái trạng thái gò bó nước đôi, nó không thể thoát ra mà không tự tiêu hủy mình. Thế nhưng cũng có những nhà thơ không cần phải vận dụng pháp thuật gì cả, mà chỉ tận dụng hình ảnh để mô tả cuộc sống tâm linh cũng tuyệt vời; đó là trường hợp của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh. Có lẽ chị thuộc thế hệ 5x, làm thơ với chị là tự đối diện và tự nhận chìm mình; chị dã ra mắt bạn đọc nhiều tập tho. từng nhận được các giải thưởng văn học. Đây tôi chỉ trích dẫn một số câu trong đôi bài của Bông - Giấy như Gọi hồn khi sống, Miệt vườn, Mùa hè khóc … lớn lên gặp và iu anh / nhớ anh / linh hồn em ở trong anh….nay ngó vô anh / thấy linh hồn em mất tiêu /.em mần thơ / là để gọi hồn về …em ước hồn thanh rắn…biến thành người đàn bà này…đan bà khác… /hớp hết hồn thiên hạ mà thương ….em là miệt vườn / anh bỏ quên / ngoài cửa sổ ?
….mồ hôi em / là nước mắt mùa hè / mùa hè bật khóc.

Tất cả những câu cuối trong thơ Ánh Huỳnh như có một dư âm, nó bao hàm cái lực lượng thống nhiếp liên hệ đến tất cả. Đó là lực lượng thể hiện sự sinh tồn, là lực “tính linh” tối cao của con người, là sức tưởng tượng nghệ thuật, là “thần tứ”. chính nó tạo ra sự tồn tại của tác phẩm, hay là tính thần bí của nghệ thuật, cũng là nơi phát sinh ra chân lý nguyên thủy: là thi ca.

Trong số các nhà thơ nữ của Bông – Giấy, tôi nể nhất hai người, dù chưa bao giờ gặp mặt và cũng rất ít biết về thân thế họ, đó là Huỳnh Thúy Kiều và Đinh Thị Như Thúy, người ở tận Đất Mũi, người sinh sống ở Daklak Tây Nguyên, Tôi đã viết một bài nhận xét về thơ HTK, bây giờ mới viết cho ĐTNT ít dòng đây. Do đâu mà họ viết được những câu thơ tuyệt vời, như :
Lơ đãng chạm vòm sao vừa chớm
Ngân không dứt nhạc xưa

…. Ào ạt đường về có cơn mưa/ ….hào phóng phục sinh màu lá
Ào ạt cá mòi phập phồng mang thả/ những bọt khí tròn trong suốt
Mơ đại dương xa xa xa ….ngày mai lại quăng mình vào hộp
Cưỡng bức mình một vị trí buổi chiều

Từ đâu mà Như Thúy tạo ra được những từ “ mưa,, buổi chiều, vào hộp, cá mòi (từ cá mòi chỉ dân ở Bình Thuận mới biết), đã hay là những từ thông dụng, nhưng khi đi vào thơ thì mang một áo khoác mới “mưa chảy trôi mà không thanh lọc…dâng lên từ da diết khát nhớ, lớp khói xanh cuộn lí lẽ khóc cười, vừa kín đáo vừa ẩn ức, có lẽ phải làm dân Darlak thời KM mới thấm thía - cá mòi là thứ cá xưa ướp làm mắm xếp lớp chồng chất, ở đây cá như được giải phóng thở ra những bọt khí tròn trong…Cũng như buổi chiều là buổi chiều của vi trí gấn hoàng hôn, chắc chắn là vô cùng ảm đạm, quăng vào hộp là đi vào khuôn khổ, như bị cưỡng bức…Nên thơ ở đây như câu kinh, nhịp cầu, một Phúc âm buồn /cho bình yên người thiếu phụ mắt buồn/…đã đi qua tuổi bốn mươi. Nhưng thơ ĐTNT đâu phải chỉ có thế, còn bao nhiêu tình cảm rạt rào : Thôi anh đùng phủ dụ em….

Giá như em làm vỡ được/ Nỗi đau thập ác trong ngực mình/ Để có thể bắt đầu cuộc đời/ Bằng một màu mắt khác…Nhưng liệu có còn thời gian để bắt đầu/…Có còn thời gian để va đập/ Hởi quả chuông pha lê mỏng mảnh/ Trong lồng ngực buốt đau . Lời thơ biểu hiện sự chân thiết, nó như gởi vào khoảng trống không - cho một người là bản thân tác giả, cũng là độc giả, một khuôn mặt đáng yêu hay bạn bè không quen biết. Tiếc rằng giấy bút không cho phép để viết về ĐTNT nhiếu hơn. Vả lại dưới mắt tôi còn bao nhân tài: Đoàn Minh Châu, Lưu Mêlan, Khương Hà, Chiêu Anh , Nguyễn Thị Hậu…., và các đấng nam nhi.

Bây giờ hãy nói về người đẹp trẻ Hội An Đoàn Minh Châu - người đã tự mình xuất bản tập thơ đầu tay M – N & Z từ năm 2008, đã gây được nhiều tiếng vang. Trong Bông – Giấy in 5 bài thi 3 bài là Lấp lánh lạnh, Một ví dụ cho anh, Mưa tháng chạp đã có trong tập M-N ( em và anh), chỉ có hai bài : Thành phố mùa đông và Mưa lõa thể là mới; cũng là tình yêu, nhưng là tình yêu trinh trắng trong địa hạt tinh thần cũng đáng để ca tụng. Nôi dung vẫn có những câu đẹp :

Những vì sao thay mắt em trìu mến
Và tiếng gió reo mang những nguyện cầu
Trong Một ví dụ cho anh cũng có những câu hay :
Lãng đãng theo các vì sao xa/ giọt nước tan đi trên vành tai
Không khô được nỗi buồn lênh loang đêm…

Cái đẹp của tình yêu ở đây - nói như E. Morin – chính là biểu hiện cái chân lý tự ngã qua kẻ khác hay ngược lại, chính là xuyên qua tha nhân tự tìm thấy cái chân lý của nó. (La beauté de l’amour c’est l’interprétation de la vérité de l’autre en soi, de celle de soi en l’autre, c’est de trouver sa vérité à travers l’altérite).

Nếu ở Đoàn Minh Châu là mùa đông cô đơn đầy mưa gió ướt nhẹp thì đến Lưu Mêlan là một mùa xuân của miền Nam ấm áp cứng rắn nặng về lý hơn tình. Con người ở đây vốn có bộ mặt sáng sủa, đó là sự tự do, tính tự chủ, có trách nhiệm. Nhưng rồi… ( do thời đại, hoàn cảnh, xã hội), nó phải mang một bộ mặt tối tăm, bóng tối đó tự tăng trưởng nơi chúng ta, đó là sự hủy diệt, sự cô đơn, lo âu…kết hợp lại, chúng ta khám phá những liên hệ giữa linh hồn, tinh thần và thể xác chúng ta bị nhiễu loạn, do đó phải cầu đến đức Phật, đến Jésus, Thượng Đế, nhưng tất cả đều bị chối từ…..

Tiếng vọng kinh cầu đêm phụt rỗng / Thượng Đế chối từ ….
Chỉ còn thân xác rã rời mi/ quần la trong đêm tối
Mảnh hồn mi nhòa khan cát bụi….
Mi sinh ra/ Thời thế khác,/Dòng họ khác/ con sông khác
Mùa lũ, mùa khô, thời gian đã
Khác Bụm xương rồng ngạo ngang thời khác
Bãi đất hoang nứt đỡ thân người Sụp Tàn…..

Một cô gái sinh ở Ninh Thuận, tuổi mới ngoài 20, là sinh viên , năm nay mới ra trường, mà đã sáng tác những câu thơ như một người già nua từng trải qua bao gian nan đau khổ : Mi đúng đi ? Cách đồi bí lối

Luồng gió lay úp ngạt núi đồi
Những vần thơ của tôi / Đã chết trên một gác xép nào đó
Những vần thơ của tôi / Đã đón những điều tôi không với tới
Hàng đêm/ góc tối? Ngó qua lỗ thủng những vì sao và cơn mưa nhỏ xuống
Xóa nhòa

Không cần phải trích dẫn nhiều cũng đủ thấy thơ của Lưu Mêlan thuộc loại thơ điên, hay nói như Castoriodis : Người là con thú điên nhưng cái điên đã sáng tạo ra lý tính ( L’homme est cet animal fou dont la folie a inventé la raison). Hoặc cũng có thể nói qua thi ca – thật ra tôi cũng chẳng biết gì về Lưu Mêlan – tâm trạng của LMl là tâm trạng phản ứng với môi trường hiện đại mà thi ca tạo tác sáng lập trong ngôn ngữ một lực lượng khá lạ lùng , sự tả tác bắt đầu và tự hoàn thành trong sự bất an. Đây là sự hòa lẫn minh trí, điên khùng với thi ca, tất nhiên phải có tình yêu chen vào làm chất xúc tác hòa giải, nếu không có tình yêu thì cũng ngại lắm thành điên thật, và dẫu sao cũng phải chấp nhận đây là một thiên tài. Thơ điên chừng đó đủ rồi.

Chúng ta hãy trở lại với thơ tình của Khương Hà - cũng là một trong 5 ngựa trời đây. Nhưng đã được thuần hóa chứ không phải như của Hồng Minh có “cặp vàm sắc nhọn vẫn thường cắt cổ anh trong giấc ngủ”. Khương Hà dịu dàng: ….Tỉnh táo và nghĩ về anh
Về những gì đã một lần hạnh ngộ và mãi mãi trượt
Em trở về quán cũ thân quen/ Tìm đến chỗ ngồi kỷ niệm…
Nắng buổi chiều hờn dỗi trốn đi đâu/ Giấu biệt hơi ấm một ihời từng cảm nhận…Có gì mà trách hận? Nắng làm sao giữ nổi bóng người

Tình yêu bắt rể trong thể xác hiện hữu của chúng ta, nó có vai trò hội ngộ với thiêng liêng và phàm tục, với huyền thoại và tính dục. Nó cũng có thể xuất thần, có sự thể huyền bí, thể nghiệm lễ bái kì diệu. Tình yêu là sự tái sinh thường trực của tình yêu bẩm sinh.Tất cả những gì thiết lập trong xã hội, tất cả những gì an bài trong cuộc đời đều phải bắt đầu chịu một thế lực làm tan rả hay lạnh nhạt. Vấn đề luyến ái trong tình yêu thường bi thảm, vì sự quyến luyến lâu dài thường dẫn đến sự tổn hại khoái lạc. Do đó phải tạo cho tình yêu có quyền lực, có tiềm năng, phải biết canh tân, thực hiện đối thoại và tận dụng thi ca ( tức tình cảm) để đem lại tinh lực cho cuộc sống hằng ngày ( trích từ Amour, Poésie Sagesse của E. Morin- có thể coi như bí quyết của tình yêu gởi đên cho Khương Hà và cả Ng. T. Ánh Huỳnh, nói chung giới nữ lưu đã có chồng con mà lại đeo đuổi nghiệp văn thơ.)

Giờ còn lại hai tác giả là Chiêu Anh Nguyễn và Nguyễn Thị Hậu, vốn là hai nhân vật tôi hằng gặp gỡ, nhưng biết về họ cũng rất ít. Riêng Chiêu Anh Nguyễn, nghe đâu có đến hàng trăm bài thơ, nhưng với 7 bài trong Bông – Giấy cũng đủ tiêu biểu. Nhìn bên ngoài tưởng đó là con người đơn giản , thật ra là con người sống bằng nội tâm không đơn giản chút nào, khôn ngoan đáo để – một nhà thơ nữ sống độc lập, làm thơ mà sở trường kinh doanh là một hiện tượng hiếm hoi, do đó không lạ: chỉ một thoáng đam mê đủ gợi ra bao hình ảnh. Cùng bao nhiêu người tụ hội ở Bông Giấy, có mấy ai đã viết thành thơ :

…đẩy chiếc ghế xanh nham nhở mà có nhận xét ngay thời gian liếm quanh chỗ chúng ta ngồi/ Cả vết nâu trầm loan trên mặt bàn…Hạ một từ liếm là đáng giá hàng trăm tách café, và viết tiếp :…Công cuộc giải phóng cho những câu chuyện dài bất tận…Chúng ta / đến và đi….Em đọc đâu đó những ý tưởng tuyệt vời (có chút đỉên rồ)/ Cuộc sống kéo dài bất tận với tường rào và giấc mơ đa nghĩa/ Những con thú mang linh hồn chúng ta nuôi dưỡng qua hết mùa đông. Chiêu Anh ở Bông Giấy đã thành tranh cho bao người chiêm ngưỡng nên mới có những câu như vừa nêu, nhưng không lẽ tất cả đều là những con thú hết sao thì hơi oan…Đọc thêm một số câu trong bài Tự họa mới thấy một sức sống rạt rào: Em gục trên khung toan/ ý tưởng chảy dọc từ mu bàn tay run rẩy nhỏ giọt/ sõng soài trên nền đá lạnh/ những găm màu phản bội nhau / một cuộc đảo chánh nho nhỏ diễn ra…
…em để khuôn mặt mình đóng băng/ trên nền trời hực lên phía tây đỏ quạch/ như người đàn ông trút kiệt cùng sinh lực vào vực thẳm..

Nhà thơ với sự sáng tạo là đối kháng là khiêu khích liên tục, trong luật truyền thông của con người, nó liên tục hảm hiếp ngôn từ đặt ra những vị trí đặc biệt để cưu mang cái phần không sao nói được mà nó phải vượt qua bằng cách tạo ra một hình thức thực tại (…le poète dont la création est un défi continuel aux lois de la communication humaine, puisqu’il viole sans cesse le langage, lui imposant par des dispositions particulières de porter en lui cette part ineffable du monde qui précisément le dépasse, ne crée en réalité qu’une forme. (Introduction à la poésie…). Thật ra đây là những ẩn ngữ không dễ gì giải mã nếu không đến với thơ như kẻ hành hương; nó là thứ vú nuôi, là đầy tớ của thi ca, nó làm công việc của nghệ thuật, bằng cách đặt ra những hình ảnh những từ thích ứng để nói cái điều muôn thuở không sao nói được; hay nói như J.M.Maulpoix : Tả tác là phân phối lại cái vô cùng , nó thuần hóa sự sáng tạo đến cứu cánh, cùng lúc nó thay thế cho sự khát khao vô giới hạn.

Ở Bông Giấy, Chiêu Anh và Nguyễn Thị Hậu rất khắn khít nhau như chị em , nên tôi dành cho hai người vị thế cuối cùng, hơn nữa tôi cũng là người mê tín chúa, vì chữ Hậu là sau, cũng là sâu , là dày, nặng…như hồn hậu , đôn hâu … v..v… Chị cũng vùa mới cho ra đời hai tác phẩm tản văn là Ngắn & rất Ngắn, Quay qua Quay lại. Những bản văn đưa vào Bông Giấy cũng là tản văn, nhưng nó vẫn mang đầy tính chất nghệ thuật thơ. Tản văn thường là tự sự, mà tự sự nói chung là phương thức cơ bản biểu hiện nghệ thuật và bảo tồn tình cảm. Sự biểu hiện nghệ thuật đối với tình cảm, không phải đơn thuần là bộc lộ tình cảm, mà cần phải đặt vào những hình tượng (images) mang tính cảm xúc mới có thể biểu hiện và bảo tồn một cách chính xác. Như trong bài “Gặp lại dã quỳ” : …dã quỳ mới càng non xanh, thật lạ thật khác những bụi dã quỳ phơi mình trong nắng và phủ đầy bụi đỏ trên con đường cũ trước đây.

Một ngày nào đó có người rất yêu dã quỳ bụi bặm
Một ngày nào đó có người đã từ bỏ dã quỳ ngơ ngác

Dã quỳ cũng được gọi là hoa hướng dương, vì hoa thường hướng về phía có ánh mặt trời, nó là hình ảnh của nữ tính, câu văn mà ở đây đã thành thơ, đã nói lên thân phận của tác giả, lận đận trong bề gia thất, dù có chức vụ có học vị cao vẫn cô đơn.. Chúng ta hãy đọc thêm :

Có khoảng cách thời gian, như trước sau về tuổi tác….
Có khoảng cách mơ hồ mà cụ thể, như khoảng cách về trình độ nhận thức…
Có một không gian nào đo chiều dài nỗi nhớ / Có khoảng mênh mông nào sâu thẳm hơn tình yêu?
<…Khoảng cách >

Khoảng cách mới đọc qua như thiên về lý luận, thật tế đi sâu vẫn là tình cảm, nếu đỉnh cao của nghệ thuật là tìm kiếm và phát hiện thì NTHậu là người thường đi vào ngóc ngách tâm lý sâu kín của cuộc đời. Chị cũng đã viết “ Góc khuất”: …Đừng để mình tư chán mình, chỉ thấy mình là cái góc khuất tối tăm….Nhiệm vụ của nghệ thuật gia là khai thác làm mới kinh nghiệm, đó cũng là cung cách vĩ đại của nó, nghệ thuật gia không khai thác thì con người không có kinh nghiệm. Cũng từ ý nghĩa ấy mà chúng ta có thể lý giải nghệ thuật là một thứ sáng tạo; do sự khai thác tân kinh nghiệm mà trình bày được bộ mặt và tình chất của đồ vật. Nên nói như Dewey rất đúng “ mỗi một nghệ thuật gia phải là một nhà thí nghiệm.’, như thế làm nghệ thuật cũng là một cách tự hành mình để quên đi mọi nỗi cô đơn.

Viết đến đây tôi cứ tưởng là mình đã xong nhiệm vụ đối với phái nữ trong Bông & Giấy, xem lại là đã quên một nhân vật quan trọng là Phan Huyền Thư – một nhà thơ vĩ đại của Hà Nội hay Hà Nội vĩ đại đều đúng cả, bởi sự đời là ngược ngạo , Phan Huyền Thư cũng nghĩ như vậy mà.
Trước tiên là xin lỗi chị Hậu, vì phần cuối nầy không phải Hậu mà là Thư thì cũng tốt thôi, bởi nghĩa của Thư là sách, là viết. Trong Bông & Giấy tôi đã gặp một Tiểu Anh ngang tàng, một Lưu Mêlan điên điên, đến cuối sách mới đụng phải Phan Huyền Thư, một nhà thơ nữ mà lại mang tính triết cũng hơi lạ, Phải chăng đây cũng chỉ là phản ứng của con người gần bên sức nóng gay gắt của mặt trời. ….Loài chim mơ mộng. Biết quyên sinh.

Sau những quyến rũ áo quần. em mặc. Sự ngượng ngùng/ Xin lỗi. Vì đã nhầm …<Ảo vọng>
Tôi đã từng có đề tài “Mặc áo bính”là thứ áo mượn mặc không vừa, loai hoai mãi mà có viết được đâu, nay đọc được mấy câu của PHT đầy đủ quá khỏi viết. Cũng trong Ảo vọng có những câu tuyệt :

…Thôi thì quảng đại/ sẽ đuợc / từ /bi
Vụng dại. Nghĩa / ở lại. Tình / đi.

Đúng là dân Hà Nội, Huyền Thư bị ảnh hưởng thứ thơ vắt dòng vắt giò lên cổ của nhóm Tân Hình Thức, mà tôi chê thậm tệ vì đó là thứ thơ ẹ của Mỹ đã bị bỏ sọt rác lâu rồi, nhưng khi mang về VN thì vẫn là của quý, nên ở PHT cũng khá thành công . Một dân tộc…/…tranh nhau hót. / Không thể / bay lên /…những lặng im

…Một ngày chúng ta hẹn ước dưới mưa Ngâu? Buộc chặt nhau bằng sợi tóc / quy hoạch lại nhịp cầu Ô Thước. Một ngày/ chúng ta thủ tiêu khoảng cách/ lập lại quy ước gối chăn/ lau sạch những dị nghị nước bọt..Waltz gửi… Bình thường chúng ta đều cho rằng, con người suy tư phát hiện được chân lý là do lý tính; thế nhưng chính Marx lại bảo với chúng ta rằng nguồn gốc của chân lý là ở trong cuộc sống, tức là trong sinh hoạt cảm tính,tự nhiên trong đó có bao hàm nghệ thuật. Heidegger cũng nói: ’ Khoa học quyết không phải là nguồn gốc phát sinh chân lý, khoa học chỉ là lãnh vực chân lý mở rộng; trước sau nghệ thuật là một trong những phương thức cơ bản được mở rộng”. Vì thế thi ca thường dính liền với triết lý cũng phải thôi.

Viết xong phần nữ thì không thể không viết phần nam, số lượng họ gần gấp đôi, cũng hùng mạnh lắm, nhưng đến đây tôi như cây khô cùng kiệt, nên phải ngừng nghỉ. Phần Nam giới sẽ viết sau – cũng có người đề nghị tôi thôi bỏ phần nam đi – nhưng nghe theo lời khuyên này thì tự mình cắt đứt với Bông Giấy đâu dám ló mặt ra đó nữa. Thật ra đối với Nam giới tôi đắn đo hơn, bởi với nữ có nói bậy bạ, nhiều lắm cũng bị chưởi bới là hết, chứ nam giới mà lơ mơ không khéo là phải đòn, tôi lại là kẻ nhát đòn, nên xin hứa sẽ viết tiếp trong những ngày gần đây./.

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2010

Nguyễn Miên Thảo : Thôi Đành Xa Huế

Nấn ná chi cũng đành phải xa thôi
Hẹn ngày sau có buổi quay về
Chiều thu vàng ta nhìn nhau xa vắng
Mai anh đi rồi em có buồn không
0
Ngồi bên em - cầm lòng không đậu
Mà giả đò thánh thiện đến ngu ngơ
Trong tim anh- em mãi là trinh nữ
Vẫn hoang mang chờ một phút dại khờ
0
Huế vẫn thế anh nghìn năm chờ đợi
Chỉ sợ một ngày thành quách tan hoang
Anh đi tìm em giữa kinh thành đổ nát
Trái tim em xin hãy hóa trăng vàng

NGUYỄN MIÊN THẢO

Lữ Kiều : Chàng thi sĩ viết văn

Sàigòn, 8.1.2007
Trần Hoài Thư thân mến,

Cuối năm, tôi quyết định viết thư cho bạn. Một tình bạn gần nửa thế kỷ gói ghém lại trong vài dòng chữ. Tự hẹn lâu rồi, và cũng nhiều lần rồi, nhưng chẳng bao giờ đủ bình tâm viết. Không phải vì xa cách, mà vì viết cho nhau là một dạng thức nhìn lại mình. Nhìn lại mình, tự vấn, cũng khó khăn lắm. Bởi vì trong ta có bạn, và trong bạn có ta. Cùng một lứa bên trời lận đận! (Tỳ bà hạnh)

Đầu tiên, xin gửi lời thăm bà Trần Hoài Thư. Vợ của Thư, cũng như vợ của những nghệ sĩ thời chúng ta, đều mang chung một số phận, mà trong đó, nước mắt nhiều hơn nụ cười. Chị Yến có còn nhớ một buổi trưa tháng 7 năm 1970, có chàng trung úy Thân Trọng Minh ghé lại thư viện của viện đại học Cần Thơ, coi mắt chị, người phụ nữ nào đủ dũng cảm để yêu và cọng nghiệp với bạn mình là anh chàng lang bạt kỳ hồ Trần Quý Sách. Hình như lúc đó hai người chưa cưới nhau. Tôi đóng ở Phú Quốc, bay về phi trường Bình Thủy, ăn thịt chuột ở Cái Răng (Trung tâm 4 nhập ngũ) và thăm người vợ chưa cưới của bạn – Ôi, một thời hào sảng, một thời lãng mạn, của những tình văn quá đổi nồng nàn, khốc liệt và tinh khiết. Bây giờ, hơn 46 năm sau, không thể nhớ ngày ấy chị Yến như thế nào, tôi như thế nào.

Bấy giờ, cháu Trần Quý Thoại chưa có mặt trên đời. Nhưng nửa thế kỷ sau, đã có một bác sĩ Thoại tài hoa, làm thơ và có nét vẽ rất gần với phong cách hội họa của Lữ Kiều (những phác thảo mực tàu).

Viết lan man theo dòng hồi tưởng, bây giờ tôi muốn viết cho bạn những điều tôi nghĩ về nhà văn Trần Hoài Thư. Thật ra, tôi định viết về Bạn như một bài nhận định về văn chương Trần Hoài Thư, nhưng viết như vậy có nghĩa là một bài viết chính thức cho nhiều người đọc. Quá khó. Hoặc quá mệt mỏi. Bạn biết rằng, giờ đây, tôi chỉ còn thấy được bằng một con mắt , tôi đã hư một con mắt từ 15 năm nay, và tôi nhớ cái kính cận thị dày cộm của Thư. Bạn là người hiểu hơn ai cả nỗi khổ tâm của cái nhìn bị giới hạn. Tất cả bài văn viết về chiến tranh, về người lính thám kích là Bạn đều có nhắc đến cái kính nặng độ ấy, nó làm cho Bạn nhìn thấy bom đạn qua một làn kính khác người! Cùng với những thảm kịch, cũng qua làn kính, nhưng là một làn kính khác, Bạn nhìn thấy vô hình hơn, nhưng cũng vô minh hơn. Đó, tôi đang bắt đầu nói về Bạn đó, Thư ạ. Tức là tâm tình với người bạn nửa đời người, một người bạn mà tôi đã yêu mến nhiều hơn bạn tưởng, bởi vì chúng ta quả thật rất ít gặp nhau ngoài đời, nhưng đã gặp nhau thân thiết lâu dài trên những dòng chữ.

Còn nhớ không Trần Hoài Thư, một đêm ở Đà Lạt năm 1973, Bạn cùng tôi đốt những điếu thuốc Bastos xanh nói chuyện văn chương, thời hiệp định Paris về ngưng bắn. Chúng ta tạo những đốm lửa trong đêm lạnh tại căn nhà có tên gọi là Rectorat thuở ấy, đâu có ngờ những đốm lửa thuốc lá trong ngày cũ còn cháy mãi trong tim tôi, trong tim Bạn cho đến bây giờ.

Tôi đã đọc Trần Hoài Thư từ những thập niên 60. Đọc thơ. Đọc văn. Đọc truyện, đọc Rong bút. Và lạ thay, mạch văn ấy liên tục một dòng chảy: Trần Hoài Thư thuở ấy và bây giờ có khác gì đâu. Hay là tôi thuở ấy và tôi bây giờ không thay đổi. Ít ra, trong văn chương.

Văn của Trần Hoài Thư là lời tự sự viết bằng tất cả cảm tính nhạy bén của chàng thi sĩ. Những mảng đề tài của Thư rất thật: tuổi thơ, tình yêu và sự nhập thế với vai trò người lính trong cuộc chiến mình không có quyền chọn nhưng có quyền tồn tại. Thời ấy, Thư viết về tuổi thơ buồn bã của mình rất cảm động, tôi không còn nhớ hết những gì Thư đã viết về những tai ương bất hạnh đầu đời, nhưng tôi nhớ rất rõ những trang văn viết về người mẹ tội nghiệp, về một cô gái tên Quỳnh cùng tình yêu tuyệt vọng của Thư. Thư viết về những miền đất mình đã trôi nỗi đi qua: một thành phố Huế cổ kính, những đồi cà phê ở Ban Mê Thuột, Pleiku. Những trang viết tự tình ấy đã làm se sắt trái tim chàng trai tuổi 20 là tôi thuở ấy.

Thư viết bằng tâm cảnh của một người chia xẻ nổi niềm với tri âm – dù là tri âm ấy dấu mặt trong đám đông người đọc thuở ấy – cho nên giọng văn ấy là giọng văn tâm sự, và giữa hai dòng chữ, hình như còn đọng lại nổi đau đớn sắt se của Thư trong từng hồi tưởng: hình như còn tồn tại hơi thở, mồ hôi, nước mắt và cả máu nữa, của một thời khốc liệt.

Một buổi sáng tôi gọi điện cho Nguyên Minh, chia xẻ những cảm xúc khi đọc lại văn Trần Hoài Thư. Tôi nói với Nguyên Minh rằng, Thư viết như thể không thể làm khác được. Với con tim nồng nàn của mình. Thư không kềm chế được cảm xúc vì hình như tất cả những điều Thư viết đều mang hình bóng của tác giả, cho nên đọc Thư là đọc lời tự sự, chia với tác giả những vui buồn, tủi hận và nhẫn nhục, cay đắng và bao dung của một chàng trai bất hạnh giữa một lịch sử bất hạnh không kém. Tôi nói rằng tôi gần như thuộc lòng văn phong của Thư, vì có một số con chữ của Thư lặp đi lặp lại trên những trang viết – những con chữ ấy phải nằm trong mạch văn của Thư mới gây xúc cảm, tách ra một câu riêng rẻ, tác động văn học của nó giảm đi. Có lẽ, trong các tác giả của thời chúng ta, câu “văn là người” áp dụng vào trường hợp Trần Hoài Thư chính xác nhất.

Tôi cũng nói với Nguyên Minh rằng tôi tìm ra một chi tiết này trong văn của Trần Hoài Thư. Đó là cái kính cận 8 độ của chàng lính trinh sát đã làm vướng bận chàng không ít, và sau làn kính ấy, có đôi mắt rất dễ dàng rơi lệ, vì mình, vì người, vì vui cũng như buồn, vì cái ác cũng như cái thiện. Ôi, quả tim của Trần Hoài Thư, quả tim của chàng thi sĩ bẩm sinh, một quả tim nhạy cảm trước một tiếng chim bình minh nhưng cũng biết chai lì trước cái chết cận kề, quả tim ấy vẫn theo chàng dù trong hoàn cảnh nào, trước 1975 hoặc sau đó.

Gần đây, tôi tìm lại được một Trần Hoài Thư nguyên vẹn của hơn 30 năm về trước, khi tôi đọc những bài văn mới nhất của Thư. Tôi nhớ đến truyện “Cơn mơ” của bạn, hình như đã viết vài năm trước. Bây giờ tôi không có trước mặt để đọc lại, nhưng tôi không thể quên câu chuyện vừa lãng mạn vừa cay đắng bạn kể về một chàng sinh viên già đi học chung với một cô gái Việt xinh đẹp trong một lớp học về điện toán ở New York. Cô gái ấy làm rung động chàng Trần Hoài Thư đang sống xa quê nhà, không phải chỉ là một rung động của quả tim muộn màng, mà trong đó chứa cả một bầu trời ký ức đau đớn của hiện tại quê người mà Thư không thỏa hiệp được. Tôi nhớ hơi văn dồn dập, nồng nàn mà bi thiết khi Thư viết về đêm chờ năm mới tại quảng trường “thời gian”. Và cô gái kia không thể không làm tôi nhớ tới cô bé Quỳnh của ngày xưa tội nghiệp.
Bạn thấy không “ta cùng giống nòi tình thương người đồng điệu” (1), nói cho cùng, chúng ta là thế đó.

Tôi cũng muốn chia xẻ với Bạn cảm xúc của tôi khi đọc “ Hành trình của một cổ trắng”. Đó là tự truyện của Bạn, phải thế không? Từ chuyện vượt biển, đến quê người, khu phố da màu, nhà thờ, những người hàng xóm, người vợ chịu đựng. Rồi công việc. Thành công. Thất bại. Và nhất là tình người. Và Bạn là một trong những nhà văn đầu tiên đề cập đến nỗi ê chề trong công việc bạc bẻo ở Mỹ: đó là qui luật đào thải trong một xã hội cạnh tranh. Bạn viết rất hay, nhưng tôi có cảm tưởng bạn viết bằng tình. Tình nhiều hơn Lý. Sự sa thải nhân viên trong sở làm của bạn đâu phải vì những chuyên viên Ấn Độ, mà đó là qui luật của cạnh tranh tư bản, tại sao bạn trút trách móc lên họ, họ có khác chi bạn ngày bạn mới vào làm.

Thế nhưng rốt cuộc thì cái tình bao giờ cũng thắng, và sự bao dung của Bạn ở đoạn cuối làm tôi mừng vui vì biết rằng Bạn vẫn mang quả tim Việt Nam thời trai trẻ để vượt qua tất cả khổ nạn. Có phải bi kịch của lịch sử đã cho chúng ta một cách hành xử rất gần với chữ xả – buông xả – nó giúp cho hành trang văn học của chúng ta thêm phần phong phú, nghĩa là có tình hơn!
.
Tôi cũng nhắc ở đây tập thơ “Ô cửa” của Trần Hoài Thư, một tập thơ dễ đọc cho nên tôi đã đọc một mạch tập thơ dày cộm ấy, nó là biên niên sử cho những rung động của bạn, và đó là những phút sự thật, như là những ô cửa mở vào cuộc đời bạn. Cuộc đời đa tài và đa đoan của bạn. Bạn có thể cười tôi thiếu khiêm tốn, nhưng quả thật sau khi đọc xong, tôi cười một mình và tự nhủ : Bạn làm thơ giống thơ của tôi quá. Ôi, phải chi có Thư ở cạnh, tôi sẽ mừng Thư một ly rượu nồng, để có thể hào sảng cùng nhau đọc lên vài câu thơ kia, vài câu thôi, ở bất cứ bài thơ nào của bạn, cũng đủ làm chất nhắm cho dậy men ly rượu kia. Nhưng bạn cũng hiểu rằng, đôi khi ta phải rót rượu để uống một mình, vì bạn thì vắng mặt hoặc không còn nữa. Ly rượu thì vẫn phải rót ra, dù không thể uống chén đắng ấy, nhưng bọt rượu vẫn sủi tăm.

Thư ơi, để tạ từ tất cả những bài thơ tuổi dại của bạn đã cho tôi sống lại tuổi dại của tôi, tôi dành tặng cho bạn một bức sơn dầu tôi vừa vẽ xong, nhan đề: “Uống rượu một mình”.

Hình như thư viết cho bạn đã dài, nói chuyện văn chương thì không bao giờ dứt được. Nhưng tôi đã mỏi mắt lắm rồi. Đành ngừng đây./.

TB. Tôi gửi lời thăm chị Yến. Bây giờ chị ra sao, có khỏe không? Tôi cám ơn chị đã cho chúng tôi cháu Trần Quý Thoại, người đã tiếp nối nghề và nghiệp của chúng tôi. Chúng tôi đây là những người bạn thiết của Trần Hoài Thư vừa mang nghiệp văn chương vừa nghề y khoa, đó là Trương Thìn, Đỗ Hồng Ngọc, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Mậu Hưng và tôi. (Và còn ai nữa, bạn của Trần Hoài Thư mà tôi không biết). Nghề Y và nghệ thuật thật ra là một. Nói cho cùng, là một cách sống với mình, với người.


LỮ KIỀU

Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

LỮ KIỀU CHÀNG NHO SINH - Bài của Nguyễn Lệ Uyên


Viết về Lữ Kiều. Khó quá. Khó không phải trong tay tôi hiện giờ chỉ có hai tập sách anh đề tặng, mà bởi văn xuôi của anh như thơ, truyện của anh không là truyện. Những dòng chữ đẩy đưa như câu hò mái nhì, mái đẩy trôi trên sông Hương, như một họa khúc nhỏ nối tiếp những gam màu bất tận. Lữ Kiều có cái cốt cách bay bổng, lãng mạn bởi anh vừa là nhà thơ, nhà văn, lại vừa viết kịch, vẽ tranh. Và ở lãnh vực nào anh cũng đem đến cho người đọc chút ngạc nhiên từ sự khám phá của anh về sự vật, hình thể và ngay cả tâm trạng nữa!
Văn của Lữ Kiều là loại văn chương quí phái của các công tằng tôn nữ trong cung đình hoàng triều, của những tà áo dài màu tím bay bay trên vai cầu Tràng Tiền, như dòng nước biếc xanh, lặng lờ trên dòng sông ngan ngát mùi hương trong tâm thức mọi người. Lại nữa, có khi đọc hết một đoạn văn, tôi lại có cảm tưởng như đang lắng nghe từng giọt nước rơi từ mái tranh, như đang nhìn ngắm những giọt sương đọng trên lá lấp lánh trong ánh nắng sớm.
Vâng. Khó. Thật khó. Tôi loay hoay đọc đi đọc lại hai tập Trên đồi là lô cốtChàng nho sinh dưới gốc tùng nhiều lần, nhưng không sao đặt bút viết cho xuôi từ hai tác phẩm trên, với lối hành văn tự sự nhuốm chút lãng mạn riêng tư của tùy bút.
Anh sinh trưởng ở Huế rồi xa Huế. Xa chốn thân yêu để luôn nhớ về. Đó là những kỷ niệm đầu đời của chàng trai trẻ. Những kỷ niệm ấy là những dấu ấn không dễ gì phai mờ trong tâm trí của họ, những người gốc Huế “lang thang”.
Đó là một thành phố đẹp, êm đềm; là nơi còn giữ được cốt cách quí phái, khác với sự xô bồ của Đà Nẵng, khô khốc của Quảng Trị. Và có phải chính miền đất đẹp đã tạo ra những con người đẹp đến thế không?
Dưới mắt Lữ Kiều, đến những cái nhỏ nhất, ít được nhiều người chú ý nhất lại là nơi đẹp nhất đối với riêng anh. Chỉ một ngọn đồi nhỏ, không cao; chỉ có vài viên đá lởm chởm, nhưng từ đó nhìn xuôi, anh như ôm cả thành phố thơ mộng vào lòng: “Góc phố đó, cửa hàng đó, vẻ bày biện đó và những khuôn mặt đó. Huế có một bề ngoài nhàn nhã” (Trên đồi là lô cốt, trg 10). Cái lô cốt nhỏ kia có gì để đáng lưu tâm, nếu Tôi không gặp O trong một khoảnh khắc tình cờ, nếu Tôi và O không sóng đôi lên ngọn đồi “không cao lắm” kia, nếu Tôi và O không dừng trên vai cầu Bạch Hổ để Tôi đón nhận câu nói cuối cùng của O trước khi Tôi xa Huế: “Cầu bấy giờ vắng. Tự nhiên O quay sang nhìn tôi và khẽ nói với tôi rằng tôi đi, O sẽ buồn và nhớ. Nói xong O cười e thẹn và giục tôi đạp xe về” (SĐD, trg 14).
Trên đời, sống là biết nhận và biết cho. Lữ Kiều đã đón nhận những khói sương một thuở nhưng chưa kịp trao lại, thì “Một khoảng trống trước mặt. Và thành phố cũng bắt đầu tuột khỏi vòng tay. Lần đầu , tôi mang cảm tưởng hai dãy phố đứng dậy đuổi tôi ra khỏi ngõ” (SĐD, trg 16). Cái khoảng trống ấy được anh giải thích, không đến nỗi quá bất ngờ: “Phải, đáng lẽ tôi phải kể cho O nghe, chuyện về cái lô cốt trên ngọn đồi phía tây thành phố. Cũng như đáng lẽ tôi phải hiểu là tôi yêu O, yêu O từ lâu rồi” (SĐD, trg 18). Những mối tình khói sương thuở đầu đời, chừng như chàng trai nào cũng có chút lãng đãng, vu vơ nhưng hiếm khi bày tỏ, dười hình thức này hay hình thức khác. Còn Lữ Kiều cứ thoải mái trải lòng, nâng những cảm xúc bay thật xa thật cao như tiếng sáo vi vu trên những cánh diều buổi chiều hôm nắng quái. Một tôi bâng khuâng với bản Berceuse “thật là buồn. Âm thanh rời rạc, nhẹn ngào, se sắt. Bàn tay thím chầm chậm trên phím đàn. Những ngón tay thon dài...” (trg 24) . Và một tôi khác thì có những hờn giận về người chị bắt đầu thay đổi tâm tính từ ngày bước về nhà chồng, đến làm Tôi ngạc nhiên!
Những truyện như thế anh viết lúc còn là cậu học sinh trung học, hay khi xa nhà, bước chân vào đại học. Nghĩa là những truyện ngắn của những quả mận xanh, trái cam còn lẫn với màu lá.
Sau này, trong những va đập của cuộc sống, như bao chàng “văn sĩ thư sinh” khác, Lữ Kiều đã “lớn” hẳn lên. Sự lớn của một thanh niên bắt đầu đặt những dấu hỏi về thân phận con người trước hoàn cảnh xã hội.Một buổi mai thức dậy, chàng tuổi trẻ đã nhìn thấy “...ngọn lửa đã ngút lên, bùng cháy sáng trong lòng một buổi sáng thức dậy. Có phải đó là phút sự thật của ý thức, là lúc nghiệm ra mình vô thủy vô chung, dềnh dàng bập bềnh như những bè lục bình trôi trôi lờ đờ trên dòng sông mù mờ khói sóng” (SĐD, trg 94).
Số phận của mỗi người không ai giống ai, nhưng vào thời điểm đó, lúc mà chiến tranh cuốn hút tất cả vào cơn lốc, những chàng trai gặp nhau trên căn gác nhỏ với những tâm trạng nặng nề cùng sự nhập cuộc, lên đường bắt buộc. Họ không suy nghĩ viễn vông, họ chỉ đặt câu hỏi về thân phận làm người và rồi tất cả xoay qua hồi tưởng về một người thầy khả kính, đại diện cho một thế hệ gánh vác trách nhiệm trước lịch sử, dân tộc không chu toàn. Trước mắt họ, đó là một sự thất bại nhục nhã, đó là những đau đớn ê chề dẫn đến những hệ lụy cho các thế hệ sau. Họ kính trọng thầy, nhưng đồng thời cũng “tức tưởi” bởi những thất bại không đáng có của cha ông do những sai lầm trong cách hành xử, chụp bắt lịch sử trong tư thế hụt hẫng: “Nửa đời lận đận với lòng ái quốc, ông ta nhìn chúng tôi như những kẻ nối tiếp. Sự thành tâm của ông làm tôi cảm động. Và chúng tôi không nỡ dồn ông vào chân tường... Ông nói giọng chắc nịch: Nếu thêm một lần tuyệt vọng, tôi sẽ đâm chết vợ con tôi rồi tôi treo cổ tự tử” (SĐD trg 99).
Nguyên nhân dẫn đến những thất bại ê chề trong sự tập họp của số đông tự nhận trách nhiệm trước lịch sử để hành động là: “Ông đã không lớn theo dòng lịch sử. Ông là tên trẻ con bên cạnh gã đàn ông là những biến động lịch sử” (SĐD, trg 108).
Hẳn nhiên là không hề có chuyện bàn giao việc gánh vác trách nhiệm lịch sử từ một thế hệ này cho một thế hệ khác. Lịch sử là sự chọn lựa của mỗi thế hệ. Và những người trẻ tuổi ấy lại gặp nhau, họ tâm sự, chia sẻ qua men rượu mượn từ cõi tạm nhiễu nhương. Họ say khước. Họ khóc. Họ cười. Và, họ cảm thấy cô đơn, bơ vơ trước cuộc chiến tranh bắt đầu leo thang đến hồi khốc liệt nhất. Thế hệ trẻ ấy vừa xấu hổ bởi cuộc chiến tương tàn, phi nghĩa, vừa tuyệt vọng trước những đớn đau khổ lụy cả dân tộc phải hứng chịu. Họ không có lối thoát và tự chọn cái chết một cách “hèn nhát” như chính đất nước họ bị bội phản một cách “đớn hèn” từ phía những tên cầm đầu: “Gã rút trong túi ra một khẩu súng thật đẹp, khẩu súng lục đen làng...Gã hững hờ mở khóa an toàn... Mắt bình thản nhìn đứa trẻ la hét, gã đàn ông đưa súng kề màng tang. Bóp cò” (SĐD, trg 131).
Rồi như một chiếc lá trên dòng nước cuốn xiết, những người trẻ tuổi một lần nữa lại lên đường sau chiến tranh. Lên đường không có sự chọn lựa của riêng mình. Họ không còn có quyền chọn lựa. Trong trại cải tạo chỉ có lao động và “...ông đã té từ trên ngọn cao xuống. Anh em phải khiêng ông về. Quần áo tả tơi, da thịt rách nát, khi tỉnh dậy ông không nói một lời nào” (SĐD, trg 165) cùng những buổi tối phải thốt lên hai tiếng “có mặt” trong những lần điểm danh đột xuất. Họ đúng là những con chim bị nhốt trong lồng của người Thượng ốm o đang bẫy chim. Đấy là phần số của cuộc đời họ: “Văn hóa là con người. Sự cám dỗ là của quỉ... Thật ra tôi không lưu tâm đến số phận con chim hay cái lồng lừa đảo. Với tôi, đôi phổi rách nát của người Thượng già là bi kịch của chúng ta. Sự bi thảm cùng cực/ Anh muốn nói đến sự phi lý của kiếp người? Của muôn loài? Của trần gian?” (SĐD, trg 171) .
Câu hỏi đã được đặt ra. Nhiều câu hỏi đã đặt ra, nhưng đó chỉ là những tra vấn cô đơn, là hành trình tìm kiếm sự toàn bích không bao giờ nhìn thấy ánh sáng bởi lịch sử luôn im lặng, không trả lời tại sao. Bi kịch và phi lý chính ở chỗ đó!
Nhưng đến tác phẩm Chàng nho sinh dưới gốc tùng thì lại khác xa. Đó là những trang viết ngắn về bạn bè, những cảm xúc bất chợt hiện đến, hay một tâm sự cần được sẻ chia... của một Lữ Kiều đã qua tuổi 60. Và tác phẩm này anh gọi là thử bút & xuôi dòng. Đó chỉ là cách gọi của anh. Chẳng có thử bút mà là ngọn bút thật, thật đến rỡ ràng như cơn gió mát mùa hè, như cái lạnh se sắt mùa đông cùng những cơn mưa dầm dề.Viết về tác phẩm này, thì Đỗ Hồng Ngọc trong bài tựa đầu sách đã nói đủ cả, nói hết trơn, không còn gì để xoáy vào ngõ ngách tâm hồn Lữ Kiều trên từng trang viết nữa: “Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà còn ngập ngừng, rồi thè lưỡi liếm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực vào nhất điểm:rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhấn bút sâu vào nghiêng mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán rút nhanh ra rồi chắt vào vào thành nghiêng, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim rồi phóng bút...” (Đỗ Hồng Ngọc, Bài tựa đầu sách).
Vâng, Lữ Kiều đã trải lòng ra cho từng nét chữ trên đầu ngọn bút lông, để vẽ chân dung chính mình, để tìm đến cái đẹp trong đời sống, người tình và bằng hữu. Cây cọ dưới bàn tay tài hoa của chàng nho sinh chỉ cần cái phết nhẹ của những gam màu mông lung, mờ ảo: “Sáng nay, tôi chợt thấy một chiếc lá điệp màu vàng thật kỳ lạ. Cái màu vàng não nùng buồn bã, khiến không thể tìm trong đó chút ánh sáng nào... chiếc lá độc nhất, giữa vùng nắng rực rỡ dọi vào” (SĐD, trg 14).
Trên đời này, ngoài thực tế, chưa có một họa sĩ nào vẽ được âm thanh cao thấp, đục trong... réo rắt như sáo diều trên không, ì ồ như tiếng suối đổ xuống lòng vực. Vậy mà chàng nho sinh của chúng ta chỉ cần vung ngọn bút, phẩy nhẹ một nét sổ, nét ngang là đã tạo được bức tranh tuyệt mỹ: “Em đã ở đó, đã quì gối bên cạnh tôi, khuôn mặt thánh thiện. Nhưng làm sao em hiểu lòng tôi lênh đênh, cũng như làm sao chúng ta hiểu được bao nhiêu điều mơ hồ không thật vây quanh và áp bức đời mình…” (trg 35), và: “Như con bướm đã chết. Chiếc cầu đã gãy. Có gì đâu – kể cả giọt nước mắt một lần nào khóc cho mình, cho người – cũng đã khô. Biết đâu chẳng biến thành mây” (trg 37).
Những trang viết như vậy cứ trôi dần về cuối như một thiên khúc, như một áng mây trôi bềnh bồng trên bầu trời thăm thẳm xanh
“Tình yêu như cái chết, chỉ một lần, không thể lặp lại… quả thật tình yêu là điều huyền nhiệm không thể lặp lại, nhưng tình yêu là sự chết được phục sinh” (trg 53).
Và rồi Lữ Kiều đâu chỉ có những bài thơ ngọt ngào, phóng bút, thử bút, xuôi dòng…, đâu chỉ cầm cọ trước khung vải để nhìn thấu suốt cuộc đời anh trải qua. Anh còn là một nhà viết kịch hiếm hoi của thế hệ chúng tôi, sau những Vi Huyền Đắc, Vũ Khắc Khoan, Dương Kiền… Tôi không rõ những vở kịch anh viết trước đây đã đưa lên sân khấu kịch nghệ Sài Gòn chưa? Nhưng với Kẻ phá cầu, chỉ còn đọng lại trong tôi vở kịch: Con sâu trong mắt.
Bối cảnh là trại tù Phú Quốc với 500 tù binh đang tuyệt thực làm reo đòi trao trả xác của đồng đội, nhưng thực chất là để che giấu âm mưu đào thoát. Nhân vật chính là Quyết, kỹ sư, người đã vẽ bàn đồ tuyệt mật và tuyệt hảo cách đào một đường hầm từ sân trại tù binh ra ngoài vòng rào, và là người sẽ chịu trách nhiệm trước anh em về những hành vi “phản bội” của mình. Đường hầm đã đào xong. Những tù binh lần lượt chui ra khỏi “địa ngục trần gian”. Nhưng khốn thay, ba khẩu đại liên trên chòi canh đã quét sạch 99 con người luôn có niềm tin chiến thắng. Máu đã đổ. Tấm thảm kịch không phải là biển máu, mà là những người còn sống sót phải tìm cho ra kẻ phản bội. Tòa án được thiết lập. Lần lượt từng con người chung số phận với họ bị mang ra xét xử. Quyết ngồi vào phiên tòa đó hằng đêm và bi kịch đã xảy ra ngay tại thời điểm này:
“MỘT GIỌNG KHÁC
Anh em bắt gặp quả tang chú đứng nói chuyện riêng với tên giám thị trong lần đi tạp dịch tuần rồi.
NẠN NHÂN (khóc)
Trời ơi. Xin các anh xét lại cho em nhờ. Quả em có nhận điếu thuốc của tên lính canh,bị em thèm quá...(khóc) mà hắn mời: Em không nhớ mình có làm rơi khăn tay hay không. Nhưng thật sự em không phản bội anh em, oan em lắm...
MỘT GIỌNG NÓI (lạnh lùng)
Chú nói xong rồi?
NẠN NHÂN (hấp tấp)
Dạ con điều này nữa. Hôm rằm, chính em ngồi gần anh Năm. Anh Năm biểu anh Quyết trốn đi. Vậy mà anh Quyết không chịu đi, nói rằng anh Năm phải trốn với anh em. (khích động) Sao anh Quyết không đi ? Nếu anh Năm ở lại anh đâu có chết. Vậy sao không ai nghi ngờ anh Quyết. Còn em có làm gì đâu mà các anh nỡ nghi ngờ (khóc).
Vòng tròn im lặng. Những con mắt nhìn nhau. Một lát. Không khí nặng nề.
MỘT GIỌNG NÓI
Biểu quyết.
Có bốn bàn tay giơ lên. Rồi một bàn tay hạ xuống. Chỉ còn ba bàn tay giơ lên, nhưng không được vững vàng như trước”. Vậy là cuộc săn lùng kẻ phản bội diễn ra gay gắt. Kẻ phản bội ấy là ai? Hãynghe Lữ Kiều dựng lên:
“NGƯỜI ĐÀN ÔNG (khích động, cầu khẩn):
Này các đồng chí, các đồng chí nghi ngờ tôi sao? Tôi:kẻ chuyên môn đào hầm. Những đường hầm đã giải thoát bao nhiêu anh em khỏi địa ngục trần gian này ? Tôi: kẻ ở lại, ở lại để tiếp tục đào hầm, để cùng chịu chung số phận của anh em. Các đồng chí nghi ngờ tôi thật tình sao? (hét lớn) Hãy nhìn tôi! Hãy nhìn thẳng tôi. Tôi có thể là kẻ phản bội không? Sao mọi người im lặng. Các đồng chí chết cả rồi sao?”.
Bi kịch không phải ở chỗ người trẻ tuổi ấn con dao vào ngực Quyết, mà chính ở chỗ sự bỉ ổi và hèn nhát từ một niềm tin mù quáng: Phải tìm cho ra kẻ thù, phải nhấn chết kẻ thù nhân dân. Bởi bất kỳ nơi đâu, chỗ nào cũng có kẻ thù của nhân dân. Viết đến đây làm tôi nhớ lại trên Giai phẩm Nhân Văn số ra ngày 11.11.1956 có một bức tranh biếm họa vẽ một ông cán bộ mặc áo đại cán, đội mũ Mao đứng trước gương soi, đập tay vào kính kêu lên: Địch! Địch đây rồi!.
“Vậy là xong. Kỹ sư Trần Văn Quyết đã chết. (một lát).Tôi biết anh vô tội, nhưng tôi phải giết anh. Người ta cần kẻ phản bội, và họ chọn anh. Lỗi tại anh đó, lỗi tại trái tim anh. Anh Năm và anh đều cá mè một lứa. Trái tim. Trái tim. Trái tim là cái thứ gì? Đúng là giọng lưỡi của bọn lãng mạn”.
Một trái tim gần với cửa Phật còn nhuốm bụi trần là chú tiểu. Một trái tim khác đúng nghĩa trái tim, là người đàn ông, là Quyết, mang gửi cửa Phật với cả lòng thành, trái tim còn lại cũng đến cửa Phật, nhưng hành xử theo trái tim sói, là người trẻ tuổi. Đó là bi kịch trong cuộc sống và là thảm cảnh của sự cuồng tín và là sự hèn mạt của những mưu đồ!
Khép lại vở kịch, giá như Lữ Kiều cho nhân vật trẻ tuổi tự dằn vặt mình bằng chút lương tri man trá hơn là nói ra sự thật với nhân vật chú tiểu, có lẽ kịch sẽ hoàn hảo hơn nhiều, sẽ khiến người xem, người đọc luôn băn khoăn tự tra vấn, tìm kiếm kẻ phản bội như cảnh anh dựng ở tòa án nhân dân trong trại giam.
Những tác phẩm của Lữ Kiều từ văn xuôi, thơ đến kịch, hội họa không nhiều, nhưng ở mỗi miền đều có nét riêng, là những vòng xoáy cuộn tròn trong dòng nước lũ, là những vực thẳm, là chiếc lá chao nghiêng lặng lẽ rơi xuống, im lìm, bất động. Những gam màu và những dòng chữ của Lữ Kiều luôn là những tra vấn, tra vấn để đầy con người tới cái đẹp. Tiếc thay, điều mà chàng nho sinh mong mỏi, và cả chúng ta nữa, những mong mỏi vẫn là những điều không đến, chúng ta và cả nhân gian này chưa bao giời với tới. Chàng nho sinh ơi, anh có buồn chăng khi mộng ước không thành? Và vì vậy anh đã lôi tôi cùng bạn bè anh, người đọc anh về với hình ảnh một Chàng Kinh Kha buồn: Vẫn bước đi, cuộc hành trình cô độc. Đêm như mê ngủ mà ráo hoảnh ý thức, bất động mà vẫn bùng bùng xao xuyến. Viết như một ăn năn. (SĐD, trag 65).
Vâng, viết như một ăn năn để trả nợ đời, bởi chúng ta đã vay ở cõi tạm này quá nhiều, trước khi tiếng om khải thị, phải không?

(Tháng 6/2010)
NGUYỄN LỆ UYÊN