Ngửi nắng
Mùa tháng chin thơm
Ngoài đường
Tiếng reo đồng nội
Lòng vi vu nhớ
Một cõi âm dương cuồng nộ
Bàn tay chờ
Nắm chặt những ngày
Không tiếng mưa rơi
Khoảng thời gian im đọng
Ngửi mùi nắng len vào da
Những ngày không bóng
Ai đi bên đường kia cất cánh tay vẫy
Chào
Ngày khô
Chị chàng hiu hót bên cánh lá
Lá xanh cây xanh trời xanh
Giọt sương ngời ánh sáng
Một chút mây cũng xanh trong màu nước
Ngày mở đầu trống
Không bước đi những bàn chân son thiếu nữ dậy thì
Bày biện hàng quán ngày nghỉ vắng
Dựa lưng bên ghế
Thời gian bước qua ngày
Khô
Hư tưởng
Tôi bỏ em vào túi áo rồi gài nắp lại
Suốt mùa thu không dỡ ra
Tôi bỏ em vào chiếc ly đầy nước
Bơi bập bềnh hết mùa hè
Tôi bỏ em vào trái tim tôi
Theo hồng cầu chu lưu cùng mạch máu
Có những điều không dự tưởng
Khi yêu
TỪ HOÀI TẤN
Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010
Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010
Nguyên Minh : Trăng Lưng Đồi (Tạp bút)
Nguyên Minh, Nguyễn Đức Sơn, Lữ Kiều, Đinh CườngChuyến đi có Châu Văn Thuận, vợ chồng Hồ Thanh Ngạn, vợ chồng Lữ Kiều và tôi, vào lúc 10 giờ tối trên xe Phương Trang. Ngồi dựa mình trên ghế nệm, thả hai chân thoải mái xuống gầm xe, suốt đêm tôi chỉ thiếp đi trong khoảng thời gian ngắn ngủi.
Đến Đà Lạt mới 4 giờ sáng. Mưa lâm râm, đủ ướt mình, đủ lạnh run, nhưng tôi phải gồng người, hai chân chàng hảng, bước từng bước một, chậm chạm, dò dẩm, trên con dốc hẹp và trơn. Đến cổng nhà có gắn chiếc bảng nhỏ mấy chữ “điền trang Thân Trọng”, tôi xem như vừa về đến nhà của mình sau một chuyến đi xa. Đáng lẻ tôi phải vùi mình trong tấm nệm bông, ngủ một giấc cho lại sức, nhưng phí đi nếu không nhìn tận mắt cảnh rạng đông ở núi đồi cao nguyên, mà không đâu xa, trước mắt mình, tại ngôi nhà này.
Như mọi lần lên Đà Lạt, ở nhà Lữ Kiều, tôi hay ngồi trên ghế sa lông nệm, dựa ngửa mình, gối đầu trên thành ghế, nhìn ra ngoài khung cửa chính, trầm ngâm với cảnh vật thiên nhiên, đồi núi mênh mông. Bây giờ trước mặt tôi vẫn còn là một màn đen của bóng tối. Bỗng từ trên cây bơ sum sê cành lá bên cạnh nhà phát ra những tiếng kêu của một loài chim lạ, lanh lảnh, như một tiếng thét gào của ai đó trong cái tỉnh mịch, yên lặng, làm tôi giật mình. Rồi con chim vỗ cánh bay đi. Tiếng chim kêu thế tiếng gà gáy báo hiệu trời mới sang canh. Tôi như đang ngồi trong rạp hát xem một vở kịch câm, màn từ từ cuốn lên, và cảnh vật hiện ra từ dưới lên trên rồi mới tới toàn cảnh dưới ánh đèn lờ mờ của sân khấu. Cảnh vật trước mặt tôi từ từ hiện hình, màu xám rồi đến màu xanh lạt và đậm dần của những hàng thông trùng trùng điệp điệp từ dưới thung lủng chạy lên ngọn đồi, mái nhà của khu biệt thự lẻ loi, ở tít đàng xa, như một cái chấm nhỏ màu đỏ trên toàn bức màu xanh của rừng cây và màu xám của mây trời. Thời gian chuyển động qua màu sắc đổi thay. Màu thời gian.
Cũng tại nơi này, khung cảnh này, cách đây 12 năm trước, sau trên hai mươi năm gác bút, tôi khởi đầu lại nghiệp văn chương của mình. Bấy giờ, mặc cho Lữ Kiều, Lê Ký Thương say sưa vẽ tranh sơn dầu, cũng cảnh núi đồi trước mặt, tôi trầm ngâm suy nghĩ, nhận ra màu thời gian chuyển hóa, nhận ra mình cũng biến dạng theo dòng lịch sử, và tôi đi tìm lại cái gì tôi đã bị cướp mất. Tôi viết một mạch, liên hồi qua bài mở đầu “Tưởng chừng đã quên”.
Còn giờ đây, anh nắng mặt trời đã chiếu xuống những vệt màu vàng nhạt lên những khóm hoa trong vườn. Tiếng xe chạy, tiếng nói của những người hàng xóm đã bắt đầu vang lên, lại là lúc chúng tôi chui đầu vào tấm mền bông, ngủ vùi.
Thức dậy mặt trời đã lên đỉnh đầu. Cả bọn kéo nhau ra phố, dạo một vòng, rồi vào ăn trưa ở một nhà hàng mà Lữ Kiều đã quen vợ chồng chủ nhân từ lâu, trước năm 1975. Xong bửa, chúng tôi lang thang, tìm đến một quán cà phê ngồi nhìn xuống con đường quanh co khúc khuỷ nói chuyện bâng quơ. Về lại nhà phải xuống dốc, lưng chừng tôi đứng thở, mới biết mình đã già, sức yếu. Thả người xuống, ngã lưng vào thành ghế sa lông, mắt nhìn mãi không chán cảnh núi đồi trước mặt.
Ngôi nhà của Lữ Kiều nằm ở lưng chừng sườn đồi, không bị che chắn bởi một mái nhà nào, khu vườn từng bậc cấp trồng hồng, cà phê, dọc xuống thung lủng. Và bên kia là đồi thông bao la. Thường khi Lữ Kiều nhờ người hàng xóm trông nom vườn tược, còn ngôi nhà thì đóng cửa kín mít. Thỉnh thoảng vợ chồng Lữ Kiều từ Sài Gòn lên đây nghỉ ngơi và cùng nhau vẻ tranh. Trên vách nhà gỗ treo những bức tranh của các họa sĩ đã từng đến ngôi nhà này như Dương Cẩm Chương, Lưu Công Nhân, Lê Ký Thương, Lê Triều Điển, Phạm thị Quí, Đinh Cường. Tiếc rằng tôi không biết vẽ dù từ ngày thơ ấu tôi ước mơ sau này mình trở thành họa sĩ.
Đáng lẻ 3 giờ chiều này Đinh Cường sẽ đến như đã hẹn. Sốt ruột, Lữ Kiều phải gọi điện thoại mới biết Đinh Cường đã đến phi trường Liên Khương từ lâu nhưng anh cho biết sẽ đến muộn vì đang ngồi uống cà phê với Nguyễn Đức Vân, con của Nguyễn Đức Sơn.
Một tiếng đồng hồ sau, Đinh Cường lửng thửng từ cổng bước vào. Lữ Kiều và tôi ra đón. Đinh Cường nở nụ cười và nói nhỏ:
- Cái dốc quá xuôi làm mình hơi mệt.
Tôi biết Đinh Cường vừa trải qua một cơn bạo bệnh. Tôi nhìn cái va li to, căng đầy, tự nghĩ đi chơi vài ngày, chuyện gì mang quá nhiều hành lý thêm cho mệt. Xuống cái dốc này mà còn phải cầm cái cần dài của cái va li có những bánh xe, tôi tưởng tượng Đinh Cường như một người đang cưởi ngựa, mà phải ngả người ra phía sau cố ghì dây cương để buộc con ngựa là sức nặng của hành lý đang phi nhanh phải chạy chậm lại. Đinh Cường nói với tôi:
- Nếu Nguyên Minh có tường thuật chuyến đi này nhớ nhắc đến cái dốc này nghe.
Tôi gật đầu. Vào đến nhà, Đinh Cường thả người xuống ghế sa lông và đưa mắt nhìn đăm đăm ra ngọn đồi trước mặt. Một lát sau, anh mở cái xách nhỏ lấy ra hai gói trà Ô Long, hai cái DVD và một tập bản thảo cuốn thơ đặt lên bàn:
- Nguyễn Đức Vân biết mình lên ĐàLạt. Hắn đón mình và tặng quà đây.
Lữ Kiều mở gói trà Ô Long bỏ một nắm vào cái bình bằng sứ, chế nước sôi, một lát rót ra những cái tách nhỏ và chúng tôi nhấm nháp, thưởng thức. Đinh Cường rủ ngày mai mướn chiếc xe taxi về Phương Bối thăm Sơn Núi. Cả bọn đều đồng ý. Lữ Kiều mời:
- Còn tối nay tụi mình đến uống cà phê tại Palace.
Lần nào lên Đà Lạt, Lữ Kiều cũng rủ chúng tôi vào đây uống cà phê và nghe tiếng đàn dương cầm của một người bạn trẻ. Còn đêm nay, anh ta vắng mặt, thế vào đó là một cô gái, mang kính cận, dáng nhỏ nhắn, vai gầy, hai bàn tay xinh xắn lướt nhẹ trên phím đàn.
Chúng tôi ngồi ở bộ bàn ghế sa lông nệm, trước cái lò sưởi, mang cảm giác ấm cúng, như tôi đang ngồi trong ngôi nhà thân yêu của mình, nếu không nhìn ra hành lang rộng và dài đặt nhiều bàn ghế trải khăn trắng để đón khách dự buổi ăn tối.
Đinh Cường ngồi một mình, thỉnh thoảng nhìn người phụ nữ luống tuổi – dì của Lữ Kiều – mà mỗi lần chúng tôi lên đây Lữ Kiều đều mời dì cùng đi chơi, Đinh Cường cầm cây bút chì quệt quạt lên tờ giấy trắng khổ A4 chân dung dì Toàn. Tôi đến đứng sau lưng Đinh Cường, im lặng và xem bức họa. Không đầy 15 phút đã hoàn thành một phát họa chân dung một thiếu nữ, đặc biệt là đôi mắt mang vẽ u hoài. Đinh Cường đề tặng Quận Chúa K. Tôi ngạc nhiên bao nhiêu năm, bao nhiêu lần cùng đi chơi với dì Toàn, bây giờ mới biết tên thật của dì, và là một người hoàng tộc.
Tiếng đàn dương cầm thánh thoát, âm thanh bay bỗng lên trần nhà và dội xuống, trong gian phòng ấm cúng, bản nhạc Danube Bleu, làm tôi thấy lòng nao nao, nghĩ đến một ai đó, trong tận cùng trí nhớ. Tôi nhẹ nhàng bước đến chiếc dương cầm, và nhìn cô gái đang thả hồn mình theo từng nốt nhạc. Tôi buột miệng thốt lên, rất nhỏ, gọi tên:
- Phương Anh.
Đó là tên cô cháu gái, con đầu của chị Mai, người chị mà suốt đời tôi kính yêu. Giữa hai cậu cháu đã một thời gắn bó, mang nhiều kỷ niệm. Chính nhờ Phương Anh, cô bé có chiếc răng khểnh, nụ cười có lúm đồng tiền, lúc 12 tuổi khi nghe tôi kể chuyện thời thơ ấu của tôi với Hà - cô bạn láng giềng, mà tôi vừa dẫn Phương Anh ra ga Nha Trang đón Hà từ Sài Gòn ra thăm tôi. Lúc bấy giờ, năm 1969, tôi nằm trong Quân Y Viện Nguyễn Huệ, chờ ngày ra giám định y khoa. Gia đình chị Mai từ Huế vào sống ở Nha Trang. Phương Anh cứ khen mãi về cô Hà. Thế là, suốt một tháng, đêm nào tôi cũng thức khuya viết cho xong truyện dài Đám Tang Đa Đa. Đọc xong bản thảo Phương Anh nói: “Cậu nhớ khi nào sách xuất bản nhớ đề tặng Cháu Phương Anh và cô Hà nhé.” Tiếc rằng khi tôi cho xuất bản “Đám Tang Đa Đa” vào năm 1972, thì Phương Anh đã đi Pháp du học rồi. Còn cô bạn láng giềng “Bắc kỳ nho nhỏ” cũng lên xe hoa. Không những riêng Hà, kể cả T. và Lan, sau này Phương Anh đều gặp họ. Cô cháu gái nói nhỏ với cậu mình trước khi chia tay: “Ráng giữ những tình cảm trong sáng của ba người đàn bà đó nghe cậu.” Tôi nắm chặt bàn tay cô cháu gái như một câu trả lời. Sau này trong truyện “Sợi chỉ mong manh” tôi đã viết: trong trái tim tôi vị trí ba người đàn bà đó; một người bạn, một người yêu và một người vợ có một chỗ đứng khác nhau.
Tưởng rằng chỉ có tôi thấy cô gái say mê, đắm đuối thả hồn theo tiếng đàn dương cầm. Ai ngờ, Lữ Kiều cũng men tới, đứng tựa tay một phía bên phải cây dương cầm, cũng như tôi đang đứng về phía tay trái. Cả hai đang chiêm ngưởng và cùng nói với nhau: Nhớ Phương Anh. Nhớ dáng người. Nhớ tiếng đàn dương cầm của cô cháu gái thân yêu ngày nào trong phòng khách ngôi nhà cũ. Thánh thoát. Từng giọt âm thanh buồn. Phương Anh giờ này đã thành thiếu phụ hạnh phúc bên chồng con. Không biết cô cháu gái đó có bao giờ nhớ đến cậu mình.
Tiếng đàn ngưng bặt. Cô gái gật đầu chào chúng tôi. Khách trong nhà hàng cũng vắng tanh. Chúng tôi ra về, lòng tôi man mác buồn. Trời Đà Lạt vẫn còn mưa lâm râm.
Nhìn đám củi mà người giữ vườn đã chất đống giữa sân được phủ lên tấm bạt che mưa, Lữ Kiều thích chí, hỏi chúng tôi:
- Mưa đã tạnh. Trăng mới tỏ. Đốt lửa lên chứ.
Lửa cháy bập bùng. Tiếng nổ lách tách. Ngồi xoay quanh chiếc bàn tròn, 5 ly rượu cùng cụng vào nhau, đưa lên môi mấp nháp, tôi nhìn những khuôn mặt các bạn vầng trán đã gấp nét nhăn, nụ cười đã xếp ly, khóe mắt đã mỏi mòn, tóc đã trắng bạc, bàn tay gân guốc, nhưng tâm hồn vẫn như thuở còn thanh xuân. Đinh Cường từ Mỹ về, ra Huế triển lãm tranh cùng với Hoàng Đăng Nhuận đang còn ngồi trên chiếc xe lăn, một tay Nhuận bị xuội, tay còn lại vừa mới cầm được cọ vẽ. Nhuận bị đột quỵ đã mấy năm nay. Đinh Cường cũng mới qua cơn bạo bệnh, sức khỏe chưa ổn. Lữ Kiều nói với Đinh Cường:
- Đinh Cường vào ngủ trước đi, dưởng sức mai còn một chuyến đi xa.
Còn lại bốn chúng tôi ngồi với nhau, đáng lẻ phải có Lê Ký Thương và Đỗ Hồng Ngọc, hai bạn này vắng mặt vì bận việc là sáu người còn lại trong nhóm chủ trương tạp chí văn học Ý Thức ngày xưa còn lại ở Sài Gòn. Vắng mặt Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư còn tạm trú trên đất người.
Bên ánh lửa hồng, cái nóng tan ra, lan vào thân xác mình. Còn những lời nói với nhau nhẹ nhàng êm ái sao mà như những hòn đá nặng nề rơi xuống đè nặng trái tim tôi. Đã mang cái nghiệp văn chương thì suốt đời phải trả bằng những tác phẩm chân chính mang đậm tình người, tình quê hương, không gian dối với lòng mình, không uốn cong ngòi bút vì lợi danh. Nếu không viết được nữa thì ngưng bút trải lòng mình qua màu sắc của hội họa như Lữ Kiều, Lê Ký Thương. Hoặc như Châu Văn Thuận dịch sách, dịch kinh Phật. May cho tôi, vẫn còn một trái tim nồng nàn khi gặp lại người yêu xưa. Bên cạnh đó vẫn còn một người vợ hiền, đảm đang, để cho tôi yên tâm, có thì giờ theo đuổi mộng văn chương. Nếu tôi không viết văn được thì tôi mang tội rất nhiều với những bạn bè, người thân và cả lịch sử nữa, đã cho tôi những điều hạnh phúc cũng như nỗi đau đớn ê chề. Cả Hồ Thanh Ngạn, Châu Văn Thuận, Lữ Kiều, Trần Hoài Thư và Lữ Quỳnh đều nhận xét và đồng ý với tôi: “Đến tuổi thất thập cổ lai hy này rồi đâu còn màng đến danh vọng, tiền tài nữa, nên dùng văn chương để trải lòng mình những chiêm nghiệm về đời sống mình đã trải qua.” Nên tôi chỉ bị thôi thúc bởi những cảm xúc, sống lại với nhân vật mà tôi sắp dựng lên cho một bài văn, có thể vừa gọi là ký, tuỳ bút, tự sự hay truyện ngắn gì cũng được. Trong đó sự kiện thì có thật, nhân vật lại nửa thật nửa hư, và hồn tôi lại nhập vào họ, cũng như họ hòa vào tôi. Viết về họ cũng như viết về tôi.
Trăng đã lên cao. Sương mù lúc có lúc tan. Có rồi tan. Tan rồi có. Lửa cũng sắp tàn. Gió mang theo cái lạnh run người. Chai rượu đã cạn hồi nào không hay. Đúng là rượu ngon phải có bạn hiền, những người bạn đi bên cạnh tôi suốt cả cuộc đời. Trời đã khuya lắm chúng tôi mới vào nhà, tìm một giấc ngủ ngon.
Buổi sáng, như đã hẹn, chiếc xe taxi đến đúng giờ, người tài xế gọi điện chờ chúng tôi trên mặt đường lộ. Lữ Kiều hướng dẫn cho anh tài xế vào nhà để giúp Đinh Cường vác lên chiếc va li bỏ vào xe. Tôi cười với Đinh Cường khi nhìn anh thanh niên vác lên vai chiếc va li mà dáng đi đã khệnh khạng, huống gì với tuổi già sức yếu làm sao Đinh Cường có thể mang lên. Đi về Bảo Lộc đến thăm Nguyễn Đức Sơn mang làm gì chiếc va li kềnh càng như thế. Như biết tôi thắc mắc. Đinh Cường nói nhỏ:
- Mang quà cho Phượng và các cháu.
Phượng là tên vợ Nguyễn Đức Sơn.
Chiếc taxi 7 chỗ chạy bon bon trên con đường nhựa láng trơn hơn hai tiếng đồng hồ mới đến nơi Nguyễn Đức Sơn hẹn. Cầu Đại Lào. Đợi không lâu, con gái của Sơn đi chiếc xe gắn máy chạy ra đón chúng tôi lên Phương Bối. Con đường đất nhỏ gồ nghề, quanh co và lên dốc rồi vào lối mòn dưới hàng thông xanh. Nguyễn Đức Sơn đón chúng tôi. Trước mặt tôi, Sơn bây giờ là ông lão già lụ khụ chống cây gậy tre. Trước đây hai năm tôi có gặp lại Nguyễn Đức Sơn tại Galery Tự Do ở Sài Gòn trong dịp khai mạc triển lãm tranh của Thân Trọng Minh và Vũ Thanh Hằng, sau mấy chục năm gặp lại, cả tôi và Sơn đều già cả, bạc đầu, nhưng sức khoẻ của Nguyễn Đức Sơn không yếu như bây giờ.
Chị Phượng và cô con gái chuẩn bị buổi ăn trưa, đải khách. Món càry chay. Măng rừng cạnh nhà. Khoai tây cũng trồng sau nhà. Chỉ có bánh tráng nướng, đậu hủ miếng là mua ngoài thôi. Cả gia đình Nguyễn Đức Sơn đều ăn chay trường từ lâu.
Ngồi trên chiếc chiếu trải giữa hàng hiên hai nhà trên và dưới, gần mười người ngồi sát bên nhau, như truyền hơi ấm cho nhau. Suốt trong buổi họp mặt, chúng tôi chỉ im lặng và thỉnh thoảng phá lên cười thích thú nghe Nguyễn Đức Sơn chưởi thề, văng tục và kể chuyện tiếu lâm thời đại. Tôi ngồi bên cạnh Nguyễn Đức Sơn, tình cờ bắt gặp nơi cánh cửa nhà sau bóng dáng người đàn bà một thời nhan sắc tuyệt đẹp có đôi mắt màu ô liu cùng nụ cười duyên dáng tươi vui, mái tóc màu vàng ửng và uốn cong của cô học trò, người yêu, người vợ của nhà thơ, nhà văn Sao Trên Rừng, bây giờ trở nên tiều tụy, không phải chỉ do thời gian tàn phá mà hình như do cái cực khổ vì lam lủ, hồn lẫn xác. Người đàn bà nhìn tôi với đôi mắt u hoài, xa xăm. Hai tay vòng lại ôm lấy ngực. Mái tóc bạc phơ, xơ xác như mấy cọng râu bắp, búi lại trên đầu. Ánh sáng lờ mờ làm hình ảnh người đàn bà đó thêm bi thảm. Trong tôi bừng lên một nỗi xót xa, và nước mắt tôi sắp chảy ra. Hình như Đinh Cường, đang ngồi đối diện với tôi, nhận thấy nỗi xúc động của tôi, anh đứng dậy mang chiếc va li vào nhà sau, chị Phượng cũng khuất bóng.
Lát sau, Đinh Cường trở ra, ngồi xếp bằng, trên tờ giấy trắng anh cầm cây bút than nguệch ngoặc vẽ chân dung Nguyễn Đức Sơn. Sơn cứ nói. Đinh Cường vẫn im lặng vẽ. Sơn cứ vung hai tay làm bộ tịch diễn tả cảnh một bọn lâm tặc chận đường muốn đâm chém anh, như một con khỉ đang làm trò xiếc. Đinh Cường thỉnh thoảng nhìn vào khuôn mặt Sơn rồi ngón tay của Đinh Cường chạy như cua bò trên trang giấy. Nét khắc khổ, trầm tư, ngạo mạn, cô đơn triền miên của một con người đầy cá tính của Nguyễn Đức Sơn qua nét vẽ của người họa sĩ và là bạn thân nhau từ thuở xa xưa là Đinh Cường đã làm tôi cảm động về một tình bạn. Đinh Cường bảo Nguyễn Đức Sơn viết vào đó vài chữ: Sơn Núi, Phương Bối ngày…Như một bút tích, kỷ niệm ngày gặp lại nhau. Tôi hiểu Đinh Cường chuyến lên Đà Lạt kỳ này của anh không ngoài việc thắp nhang trước mộ bà mẹ vợ và mang quà cho vợ con người bạn thân. Nguyễn Đức Sơn nhìn khuôn mặt mình qua nét vẽ của Đinh Cường, nỗi xúc động hiện ra trong đôi mắt đục ngầu, anh nháy mắt lia lịa và tay run run khi ký tên mình. Đinh Cường và Nguyễn Đức Sơn nắm chặt tay nhau. Nhìn nhau. Không nói gì. Nhưng tôi biết là hai người bạn già đang khóc thầm.
Cô con gái út dẫn thêm hai cô bạn cùng lứa về nhà, gặp chúng tôi các cô chào hỏi và cười vui vẻ. Không khí tươi vui của tuổi trẻ làm khu rừng thông này bớt thâm u, lúc này chị Phượng xỏa tóc xuống quá bờ vai, và nở nụ cười đưa hai hàm răng trắng trên khuôn mặt đã nám xám. Hằng, Phương và tôi cùng chụp một tấm ảnh trước cái giếng, tàn tích còn lại Phương Bối Am này. Đinh Cường, Lữ Kiều cùng Nguyễn Đức Sơn đứng trước cái chòi nhỏ bằng gỗ không thấy cửa sổ, và cánh cửa cái cũng khép kín mít. Đinh Cường chỉ chỗ ngủ của “Sơn Núi” đã bao đời nay. Quanh đó là khu vườn nhỏ, những bụi chuối, những cây mít, cây đu đủ đầy trái, cùng những hàng tre, hàng trúc, và trước mặt chúng tôi nhìn xuống sườn đồi là một rừng thông xanh ngát, bao la. Người ta phá rừng, chặt cây lấy gỗ, lấy đất làm làm trang trại. Nguyễn Đức Sơn lại đem cây giống trồng xuống, một rừng thông bao la xanh ngát màu xanh. Tình cờ tôi thấy trên TV người ta giới thiệu anh là một người bảo vệ rừng. Cái tên và nhất là bút hiệu như vận vào đời mình. Sao Trên Rừng. Những bài thơ, những truyện ngắn của Sao Trên Rừng xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo gần năm mươi năm trước đã làm độc giả ở miền Nam, trong đó có tôi say mê. Sau đó Sao Trên Rừng dùng lại đúng tên thật trong giấy khai sanh: Nguyễn Đức Sơn. Hết Rừng đến Sơn. Làm sao anh không gắn cuộc đời mình với rừng với núi. Bạn bè thân thích đều gọi anh là Sơn Núi. Anh đã trồng một rừng thông bao la nên rừng sẽ bảo bọc anh. Núi sẽ che chắn anh. Phải không Nguyễn Đức Sơn.
Nguyễn Đức Sơn rủ chúng tôi cùng đi vào trung tâm thị xã Bảo Lộc vào một quán cà phê mà chủ quán là bạn của các con gái anh. Quán mang tên “Lối về”. Cô chủ quán tên Thanh, có cái răng khểnh và nụ cười hồn nhiên. Cảnh vật của một sân vườn nhỏ, dễ thương. Ngồi bên cạnh Nguyễn Đức Sơn, trong không khí ấm cúng, tôi nhắc đến Mỵ, một nhân vật nữ trong một truyện ngắn của Sao Trên Rừng tôi không còn nhớ tựa truyện đã làm từng làm tôi say mê và đánh giá rất cao, đó là một truyện ngắn hay nhất của anh. Anh nắm lấy tay tôi bóp chặt. Đôi mắt anh nhìn về một cõi xa xôi nào đó, như đi tìm hình bóng người yêu đầu đời đã nằm tận đáy lòng bị khối núi thời gian nặng nề che lấp. Mối tình đó đã từng làm Nguyễn Đức Sơn đau khổ ê chề. Nguyễn Đức Sơn bỏ ngôi nhà người chú ở Đơn Dương ra đi. Người chú họ và gia đình bán nhà cũ kéo xuống núi, về đồng bằng, mua nhà ở cạnh nhà tôi tại Phan Rang. Cô Mỵ và các người em thành những người bạn thân thiết với chị em tôi.
Nguyễn Đức Sơn nói nhỏ với tôi:
- Ông S. còn sống không?
Tôi lắc đầu. Sao anh không hỏi: “Bây giờ Mỵ sống ra sao?” để tôi trả lời “Đã lâu lắm rồi. Ông chú họ và người vợ già đã chết. Mỵ cũng bặt tin.”
Nhắc đến Mỵ, Nguyễn Đức Sơn không còn nói huyên thiên, anh im lặng. Và tôi cũng im lặng. Chợt tôi nhớ đến T.
Chúng tôi lên xe về lại Đà Lạt bỏ Nguyễn Đức Sơn ngồi lại một mình trong cái quán đó với nổi cô đơn tận cùng ray rứt tâm can anh.
*
Đáng lẻ bài viết đến đây là chấm dứt nếu như tôi tình cơ không nghe những bài ca của Nguyễn Đức Vân từ trên mạng. Album Màu Thương Yêu của Nguyễn Đức Vân đã làm tôi ngạc nhiên, tôi nghe đi nghe lại, lời ca tiếng nhạc thấm vào tâm hồn của một ông già 70 tuổi là tôi. Ca từ giản dị, như lời thì thầm nói về Mẹ, về Cha, về núi đồi Phương Bối, với tất cả lòng yêu thương và vị tha bao la vô bờ bến.
Tôi rất mừng là Nguyễn Đức Sơn có một người con như thế.
Tôi cười một mình khi nghĩ đến có một ngày tôi gặp mặt Nguyễn Đức Vân tôi sẽ gọi anh là “Vân Mây” thân mật như với cha anh là “Sơn Núi”. Cha là Núi. Con là Mây. Cha là Sao Trên Rừng. Con là Mây Trên Đồi./.
Sài Gòn 1 tháng 9 năm 2010
Đến Đà Lạt mới 4 giờ sáng. Mưa lâm râm, đủ ướt mình, đủ lạnh run, nhưng tôi phải gồng người, hai chân chàng hảng, bước từng bước một, chậm chạm, dò dẩm, trên con dốc hẹp và trơn. Đến cổng nhà có gắn chiếc bảng nhỏ mấy chữ “điền trang Thân Trọng”, tôi xem như vừa về đến nhà của mình sau một chuyến đi xa. Đáng lẻ tôi phải vùi mình trong tấm nệm bông, ngủ một giấc cho lại sức, nhưng phí đi nếu không nhìn tận mắt cảnh rạng đông ở núi đồi cao nguyên, mà không đâu xa, trước mắt mình, tại ngôi nhà này.
Như mọi lần lên Đà Lạt, ở nhà Lữ Kiều, tôi hay ngồi trên ghế sa lông nệm, dựa ngửa mình, gối đầu trên thành ghế, nhìn ra ngoài khung cửa chính, trầm ngâm với cảnh vật thiên nhiên, đồi núi mênh mông. Bây giờ trước mặt tôi vẫn còn là một màn đen của bóng tối. Bỗng từ trên cây bơ sum sê cành lá bên cạnh nhà phát ra những tiếng kêu của một loài chim lạ, lanh lảnh, như một tiếng thét gào của ai đó trong cái tỉnh mịch, yên lặng, làm tôi giật mình. Rồi con chim vỗ cánh bay đi. Tiếng chim kêu thế tiếng gà gáy báo hiệu trời mới sang canh. Tôi như đang ngồi trong rạp hát xem một vở kịch câm, màn từ từ cuốn lên, và cảnh vật hiện ra từ dưới lên trên rồi mới tới toàn cảnh dưới ánh đèn lờ mờ của sân khấu. Cảnh vật trước mặt tôi từ từ hiện hình, màu xám rồi đến màu xanh lạt và đậm dần của những hàng thông trùng trùng điệp điệp từ dưới thung lủng chạy lên ngọn đồi, mái nhà của khu biệt thự lẻ loi, ở tít đàng xa, như một cái chấm nhỏ màu đỏ trên toàn bức màu xanh của rừng cây và màu xám của mây trời. Thời gian chuyển động qua màu sắc đổi thay. Màu thời gian.
Cũng tại nơi này, khung cảnh này, cách đây 12 năm trước, sau trên hai mươi năm gác bút, tôi khởi đầu lại nghiệp văn chương của mình. Bấy giờ, mặc cho Lữ Kiều, Lê Ký Thương say sưa vẽ tranh sơn dầu, cũng cảnh núi đồi trước mặt, tôi trầm ngâm suy nghĩ, nhận ra màu thời gian chuyển hóa, nhận ra mình cũng biến dạng theo dòng lịch sử, và tôi đi tìm lại cái gì tôi đã bị cướp mất. Tôi viết một mạch, liên hồi qua bài mở đầu “Tưởng chừng đã quên”.
Còn giờ đây, anh nắng mặt trời đã chiếu xuống những vệt màu vàng nhạt lên những khóm hoa trong vườn. Tiếng xe chạy, tiếng nói của những người hàng xóm đã bắt đầu vang lên, lại là lúc chúng tôi chui đầu vào tấm mền bông, ngủ vùi.
Thức dậy mặt trời đã lên đỉnh đầu. Cả bọn kéo nhau ra phố, dạo một vòng, rồi vào ăn trưa ở một nhà hàng mà Lữ Kiều đã quen vợ chồng chủ nhân từ lâu, trước năm 1975. Xong bửa, chúng tôi lang thang, tìm đến một quán cà phê ngồi nhìn xuống con đường quanh co khúc khuỷ nói chuyện bâng quơ. Về lại nhà phải xuống dốc, lưng chừng tôi đứng thở, mới biết mình đã già, sức yếu. Thả người xuống, ngã lưng vào thành ghế sa lông, mắt nhìn mãi không chán cảnh núi đồi trước mặt.
Ngôi nhà của Lữ Kiều nằm ở lưng chừng sườn đồi, không bị che chắn bởi một mái nhà nào, khu vườn từng bậc cấp trồng hồng, cà phê, dọc xuống thung lủng. Và bên kia là đồi thông bao la. Thường khi Lữ Kiều nhờ người hàng xóm trông nom vườn tược, còn ngôi nhà thì đóng cửa kín mít. Thỉnh thoảng vợ chồng Lữ Kiều từ Sài Gòn lên đây nghỉ ngơi và cùng nhau vẻ tranh. Trên vách nhà gỗ treo những bức tranh của các họa sĩ đã từng đến ngôi nhà này như Dương Cẩm Chương, Lưu Công Nhân, Lê Ký Thương, Lê Triều Điển, Phạm thị Quí, Đinh Cường. Tiếc rằng tôi không biết vẽ dù từ ngày thơ ấu tôi ước mơ sau này mình trở thành họa sĩ.
Đáng lẻ 3 giờ chiều này Đinh Cường sẽ đến như đã hẹn. Sốt ruột, Lữ Kiều phải gọi điện thoại mới biết Đinh Cường đã đến phi trường Liên Khương từ lâu nhưng anh cho biết sẽ đến muộn vì đang ngồi uống cà phê với Nguyễn Đức Vân, con của Nguyễn Đức Sơn.
Một tiếng đồng hồ sau, Đinh Cường lửng thửng từ cổng bước vào. Lữ Kiều và tôi ra đón. Đinh Cường nở nụ cười và nói nhỏ:
- Cái dốc quá xuôi làm mình hơi mệt.
Tôi biết Đinh Cường vừa trải qua một cơn bạo bệnh. Tôi nhìn cái va li to, căng đầy, tự nghĩ đi chơi vài ngày, chuyện gì mang quá nhiều hành lý thêm cho mệt. Xuống cái dốc này mà còn phải cầm cái cần dài của cái va li có những bánh xe, tôi tưởng tượng Đinh Cường như một người đang cưởi ngựa, mà phải ngả người ra phía sau cố ghì dây cương để buộc con ngựa là sức nặng của hành lý đang phi nhanh phải chạy chậm lại. Đinh Cường nói với tôi:
- Nếu Nguyên Minh có tường thuật chuyến đi này nhớ nhắc đến cái dốc này nghe.
Tôi gật đầu. Vào đến nhà, Đinh Cường thả người xuống ghế sa lông và đưa mắt nhìn đăm đăm ra ngọn đồi trước mặt. Một lát sau, anh mở cái xách nhỏ lấy ra hai gói trà Ô Long, hai cái DVD và một tập bản thảo cuốn thơ đặt lên bàn:
- Nguyễn Đức Vân biết mình lên ĐàLạt. Hắn đón mình và tặng quà đây.
Lữ Kiều mở gói trà Ô Long bỏ một nắm vào cái bình bằng sứ, chế nước sôi, một lát rót ra những cái tách nhỏ và chúng tôi nhấm nháp, thưởng thức. Đinh Cường rủ ngày mai mướn chiếc xe taxi về Phương Bối thăm Sơn Núi. Cả bọn đều đồng ý. Lữ Kiều mời:
- Còn tối nay tụi mình đến uống cà phê tại Palace.
Lần nào lên Đà Lạt, Lữ Kiều cũng rủ chúng tôi vào đây uống cà phê và nghe tiếng đàn dương cầm của một người bạn trẻ. Còn đêm nay, anh ta vắng mặt, thế vào đó là một cô gái, mang kính cận, dáng nhỏ nhắn, vai gầy, hai bàn tay xinh xắn lướt nhẹ trên phím đàn.
Chúng tôi ngồi ở bộ bàn ghế sa lông nệm, trước cái lò sưởi, mang cảm giác ấm cúng, như tôi đang ngồi trong ngôi nhà thân yêu của mình, nếu không nhìn ra hành lang rộng và dài đặt nhiều bàn ghế trải khăn trắng để đón khách dự buổi ăn tối.
Đinh Cường ngồi một mình, thỉnh thoảng nhìn người phụ nữ luống tuổi – dì của Lữ Kiều – mà mỗi lần chúng tôi lên đây Lữ Kiều đều mời dì cùng đi chơi, Đinh Cường cầm cây bút chì quệt quạt lên tờ giấy trắng khổ A4 chân dung dì Toàn. Tôi đến đứng sau lưng Đinh Cường, im lặng và xem bức họa. Không đầy 15 phút đã hoàn thành một phát họa chân dung một thiếu nữ, đặc biệt là đôi mắt mang vẽ u hoài. Đinh Cường đề tặng Quận Chúa K. Tôi ngạc nhiên bao nhiêu năm, bao nhiêu lần cùng đi chơi với dì Toàn, bây giờ mới biết tên thật của dì, và là một người hoàng tộc.
Tiếng đàn dương cầm thánh thoát, âm thanh bay bỗng lên trần nhà và dội xuống, trong gian phòng ấm cúng, bản nhạc Danube Bleu, làm tôi thấy lòng nao nao, nghĩ đến một ai đó, trong tận cùng trí nhớ. Tôi nhẹ nhàng bước đến chiếc dương cầm, và nhìn cô gái đang thả hồn mình theo từng nốt nhạc. Tôi buột miệng thốt lên, rất nhỏ, gọi tên:
- Phương Anh.
Đó là tên cô cháu gái, con đầu của chị Mai, người chị mà suốt đời tôi kính yêu. Giữa hai cậu cháu đã một thời gắn bó, mang nhiều kỷ niệm. Chính nhờ Phương Anh, cô bé có chiếc răng khểnh, nụ cười có lúm đồng tiền, lúc 12 tuổi khi nghe tôi kể chuyện thời thơ ấu của tôi với Hà - cô bạn láng giềng, mà tôi vừa dẫn Phương Anh ra ga Nha Trang đón Hà từ Sài Gòn ra thăm tôi. Lúc bấy giờ, năm 1969, tôi nằm trong Quân Y Viện Nguyễn Huệ, chờ ngày ra giám định y khoa. Gia đình chị Mai từ Huế vào sống ở Nha Trang. Phương Anh cứ khen mãi về cô Hà. Thế là, suốt một tháng, đêm nào tôi cũng thức khuya viết cho xong truyện dài Đám Tang Đa Đa. Đọc xong bản thảo Phương Anh nói: “Cậu nhớ khi nào sách xuất bản nhớ đề tặng Cháu Phương Anh và cô Hà nhé.” Tiếc rằng khi tôi cho xuất bản “Đám Tang Đa Đa” vào năm 1972, thì Phương Anh đã đi Pháp du học rồi. Còn cô bạn láng giềng “Bắc kỳ nho nhỏ” cũng lên xe hoa. Không những riêng Hà, kể cả T. và Lan, sau này Phương Anh đều gặp họ. Cô cháu gái nói nhỏ với cậu mình trước khi chia tay: “Ráng giữ những tình cảm trong sáng của ba người đàn bà đó nghe cậu.” Tôi nắm chặt bàn tay cô cháu gái như một câu trả lời. Sau này trong truyện “Sợi chỉ mong manh” tôi đã viết: trong trái tim tôi vị trí ba người đàn bà đó; một người bạn, một người yêu và một người vợ có một chỗ đứng khác nhau.
Tưởng rằng chỉ có tôi thấy cô gái say mê, đắm đuối thả hồn theo tiếng đàn dương cầm. Ai ngờ, Lữ Kiều cũng men tới, đứng tựa tay một phía bên phải cây dương cầm, cũng như tôi đang đứng về phía tay trái. Cả hai đang chiêm ngưởng và cùng nói với nhau: Nhớ Phương Anh. Nhớ dáng người. Nhớ tiếng đàn dương cầm của cô cháu gái thân yêu ngày nào trong phòng khách ngôi nhà cũ. Thánh thoát. Từng giọt âm thanh buồn. Phương Anh giờ này đã thành thiếu phụ hạnh phúc bên chồng con. Không biết cô cháu gái đó có bao giờ nhớ đến cậu mình.
Tiếng đàn ngưng bặt. Cô gái gật đầu chào chúng tôi. Khách trong nhà hàng cũng vắng tanh. Chúng tôi ra về, lòng tôi man mác buồn. Trời Đà Lạt vẫn còn mưa lâm râm.
Nhìn đám củi mà người giữ vườn đã chất đống giữa sân được phủ lên tấm bạt che mưa, Lữ Kiều thích chí, hỏi chúng tôi:
- Mưa đã tạnh. Trăng mới tỏ. Đốt lửa lên chứ.
Lửa cháy bập bùng. Tiếng nổ lách tách. Ngồi xoay quanh chiếc bàn tròn, 5 ly rượu cùng cụng vào nhau, đưa lên môi mấp nháp, tôi nhìn những khuôn mặt các bạn vầng trán đã gấp nét nhăn, nụ cười đã xếp ly, khóe mắt đã mỏi mòn, tóc đã trắng bạc, bàn tay gân guốc, nhưng tâm hồn vẫn như thuở còn thanh xuân. Đinh Cường từ Mỹ về, ra Huế triển lãm tranh cùng với Hoàng Đăng Nhuận đang còn ngồi trên chiếc xe lăn, một tay Nhuận bị xuội, tay còn lại vừa mới cầm được cọ vẽ. Nhuận bị đột quỵ đã mấy năm nay. Đinh Cường cũng mới qua cơn bạo bệnh, sức khỏe chưa ổn. Lữ Kiều nói với Đinh Cường:
- Đinh Cường vào ngủ trước đi, dưởng sức mai còn một chuyến đi xa.
Còn lại bốn chúng tôi ngồi với nhau, đáng lẻ phải có Lê Ký Thương và Đỗ Hồng Ngọc, hai bạn này vắng mặt vì bận việc là sáu người còn lại trong nhóm chủ trương tạp chí văn học Ý Thức ngày xưa còn lại ở Sài Gòn. Vắng mặt Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư còn tạm trú trên đất người.
Bên ánh lửa hồng, cái nóng tan ra, lan vào thân xác mình. Còn những lời nói với nhau nhẹ nhàng êm ái sao mà như những hòn đá nặng nề rơi xuống đè nặng trái tim tôi. Đã mang cái nghiệp văn chương thì suốt đời phải trả bằng những tác phẩm chân chính mang đậm tình người, tình quê hương, không gian dối với lòng mình, không uốn cong ngòi bút vì lợi danh. Nếu không viết được nữa thì ngưng bút trải lòng mình qua màu sắc của hội họa như Lữ Kiều, Lê Ký Thương. Hoặc như Châu Văn Thuận dịch sách, dịch kinh Phật. May cho tôi, vẫn còn một trái tim nồng nàn khi gặp lại người yêu xưa. Bên cạnh đó vẫn còn một người vợ hiền, đảm đang, để cho tôi yên tâm, có thì giờ theo đuổi mộng văn chương. Nếu tôi không viết văn được thì tôi mang tội rất nhiều với những bạn bè, người thân và cả lịch sử nữa, đã cho tôi những điều hạnh phúc cũng như nỗi đau đớn ê chề. Cả Hồ Thanh Ngạn, Châu Văn Thuận, Lữ Kiều, Trần Hoài Thư và Lữ Quỳnh đều nhận xét và đồng ý với tôi: “Đến tuổi thất thập cổ lai hy này rồi đâu còn màng đến danh vọng, tiền tài nữa, nên dùng văn chương để trải lòng mình những chiêm nghiệm về đời sống mình đã trải qua.” Nên tôi chỉ bị thôi thúc bởi những cảm xúc, sống lại với nhân vật mà tôi sắp dựng lên cho một bài văn, có thể vừa gọi là ký, tuỳ bút, tự sự hay truyện ngắn gì cũng được. Trong đó sự kiện thì có thật, nhân vật lại nửa thật nửa hư, và hồn tôi lại nhập vào họ, cũng như họ hòa vào tôi. Viết về họ cũng như viết về tôi.
Trăng đã lên cao. Sương mù lúc có lúc tan. Có rồi tan. Tan rồi có. Lửa cũng sắp tàn. Gió mang theo cái lạnh run người. Chai rượu đã cạn hồi nào không hay. Đúng là rượu ngon phải có bạn hiền, những người bạn đi bên cạnh tôi suốt cả cuộc đời. Trời đã khuya lắm chúng tôi mới vào nhà, tìm một giấc ngủ ngon.
Buổi sáng, như đã hẹn, chiếc xe taxi đến đúng giờ, người tài xế gọi điện chờ chúng tôi trên mặt đường lộ. Lữ Kiều hướng dẫn cho anh tài xế vào nhà để giúp Đinh Cường vác lên chiếc va li bỏ vào xe. Tôi cười với Đinh Cường khi nhìn anh thanh niên vác lên vai chiếc va li mà dáng đi đã khệnh khạng, huống gì với tuổi già sức yếu làm sao Đinh Cường có thể mang lên. Đi về Bảo Lộc đến thăm Nguyễn Đức Sơn mang làm gì chiếc va li kềnh càng như thế. Như biết tôi thắc mắc. Đinh Cường nói nhỏ:
- Mang quà cho Phượng và các cháu.
Phượng là tên vợ Nguyễn Đức Sơn.
Chiếc taxi 7 chỗ chạy bon bon trên con đường nhựa láng trơn hơn hai tiếng đồng hồ mới đến nơi Nguyễn Đức Sơn hẹn. Cầu Đại Lào. Đợi không lâu, con gái của Sơn đi chiếc xe gắn máy chạy ra đón chúng tôi lên Phương Bối. Con đường đất nhỏ gồ nghề, quanh co và lên dốc rồi vào lối mòn dưới hàng thông xanh. Nguyễn Đức Sơn đón chúng tôi. Trước mặt tôi, Sơn bây giờ là ông lão già lụ khụ chống cây gậy tre. Trước đây hai năm tôi có gặp lại Nguyễn Đức Sơn tại Galery Tự Do ở Sài Gòn trong dịp khai mạc triển lãm tranh của Thân Trọng Minh và Vũ Thanh Hằng, sau mấy chục năm gặp lại, cả tôi và Sơn đều già cả, bạc đầu, nhưng sức khoẻ của Nguyễn Đức Sơn không yếu như bây giờ.
Chị Phượng và cô con gái chuẩn bị buổi ăn trưa, đải khách. Món càry chay. Măng rừng cạnh nhà. Khoai tây cũng trồng sau nhà. Chỉ có bánh tráng nướng, đậu hủ miếng là mua ngoài thôi. Cả gia đình Nguyễn Đức Sơn đều ăn chay trường từ lâu.
Ngồi trên chiếc chiếu trải giữa hàng hiên hai nhà trên và dưới, gần mười người ngồi sát bên nhau, như truyền hơi ấm cho nhau. Suốt trong buổi họp mặt, chúng tôi chỉ im lặng và thỉnh thoảng phá lên cười thích thú nghe Nguyễn Đức Sơn chưởi thề, văng tục và kể chuyện tiếu lâm thời đại. Tôi ngồi bên cạnh Nguyễn Đức Sơn, tình cờ bắt gặp nơi cánh cửa nhà sau bóng dáng người đàn bà một thời nhan sắc tuyệt đẹp có đôi mắt màu ô liu cùng nụ cười duyên dáng tươi vui, mái tóc màu vàng ửng và uốn cong của cô học trò, người yêu, người vợ của nhà thơ, nhà văn Sao Trên Rừng, bây giờ trở nên tiều tụy, không phải chỉ do thời gian tàn phá mà hình như do cái cực khổ vì lam lủ, hồn lẫn xác. Người đàn bà nhìn tôi với đôi mắt u hoài, xa xăm. Hai tay vòng lại ôm lấy ngực. Mái tóc bạc phơ, xơ xác như mấy cọng râu bắp, búi lại trên đầu. Ánh sáng lờ mờ làm hình ảnh người đàn bà đó thêm bi thảm. Trong tôi bừng lên một nỗi xót xa, và nước mắt tôi sắp chảy ra. Hình như Đinh Cường, đang ngồi đối diện với tôi, nhận thấy nỗi xúc động của tôi, anh đứng dậy mang chiếc va li vào nhà sau, chị Phượng cũng khuất bóng.
Lát sau, Đinh Cường trở ra, ngồi xếp bằng, trên tờ giấy trắng anh cầm cây bút than nguệch ngoặc vẽ chân dung Nguyễn Đức Sơn. Sơn cứ nói. Đinh Cường vẫn im lặng vẽ. Sơn cứ vung hai tay làm bộ tịch diễn tả cảnh một bọn lâm tặc chận đường muốn đâm chém anh, như một con khỉ đang làm trò xiếc. Đinh Cường thỉnh thoảng nhìn vào khuôn mặt Sơn rồi ngón tay của Đinh Cường chạy như cua bò trên trang giấy. Nét khắc khổ, trầm tư, ngạo mạn, cô đơn triền miên của một con người đầy cá tính của Nguyễn Đức Sơn qua nét vẽ của người họa sĩ và là bạn thân nhau từ thuở xa xưa là Đinh Cường đã làm tôi cảm động về một tình bạn. Đinh Cường bảo Nguyễn Đức Sơn viết vào đó vài chữ: Sơn Núi, Phương Bối ngày…Như một bút tích, kỷ niệm ngày gặp lại nhau. Tôi hiểu Đinh Cường chuyến lên Đà Lạt kỳ này của anh không ngoài việc thắp nhang trước mộ bà mẹ vợ và mang quà cho vợ con người bạn thân. Nguyễn Đức Sơn nhìn khuôn mặt mình qua nét vẽ của Đinh Cường, nỗi xúc động hiện ra trong đôi mắt đục ngầu, anh nháy mắt lia lịa và tay run run khi ký tên mình. Đinh Cường và Nguyễn Đức Sơn nắm chặt tay nhau. Nhìn nhau. Không nói gì. Nhưng tôi biết là hai người bạn già đang khóc thầm.
Cô con gái út dẫn thêm hai cô bạn cùng lứa về nhà, gặp chúng tôi các cô chào hỏi và cười vui vẻ. Không khí tươi vui của tuổi trẻ làm khu rừng thông này bớt thâm u, lúc này chị Phượng xỏa tóc xuống quá bờ vai, và nở nụ cười đưa hai hàm răng trắng trên khuôn mặt đã nám xám. Hằng, Phương và tôi cùng chụp một tấm ảnh trước cái giếng, tàn tích còn lại Phương Bối Am này. Đinh Cường, Lữ Kiều cùng Nguyễn Đức Sơn đứng trước cái chòi nhỏ bằng gỗ không thấy cửa sổ, và cánh cửa cái cũng khép kín mít. Đinh Cường chỉ chỗ ngủ của “Sơn Núi” đã bao đời nay. Quanh đó là khu vườn nhỏ, những bụi chuối, những cây mít, cây đu đủ đầy trái, cùng những hàng tre, hàng trúc, và trước mặt chúng tôi nhìn xuống sườn đồi là một rừng thông xanh ngát, bao la. Người ta phá rừng, chặt cây lấy gỗ, lấy đất làm làm trang trại. Nguyễn Đức Sơn lại đem cây giống trồng xuống, một rừng thông bao la xanh ngát màu xanh. Tình cờ tôi thấy trên TV người ta giới thiệu anh là một người bảo vệ rừng. Cái tên và nhất là bút hiệu như vận vào đời mình. Sao Trên Rừng. Những bài thơ, những truyện ngắn của Sao Trên Rừng xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo gần năm mươi năm trước đã làm độc giả ở miền Nam, trong đó có tôi say mê. Sau đó Sao Trên Rừng dùng lại đúng tên thật trong giấy khai sanh: Nguyễn Đức Sơn. Hết Rừng đến Sơn. Làm sao anh không gắn cuộc đời mình với rừng với núi. Bạn bè thân thích đều gọi anh là Sơn Núi. Anh đã trồng một rừng thông bao la nên rừng sẽ bảo bọc anh. Núi sẽ che chắn anh. Phải không Nguyễn Đức Sơn.
Nguyễn Đức Sơn rủ chúng tôi cùng đi vào trung tâm thị xã Bảo Lộc vào một quán cà phê mà chủ quán là bạn của các con gái anh. Quán mang tên “Lối về”. Cô chủ quán tên Thanh, có cái răng khểnh và nụ cười hồn nhiên. Cảnh vật của một sân vườn nhỏ, dễ thương. Ngồi bên cạnh Nguyễn Đức Sơn, trong không khí ấm cúng, tôi nhắc đến Mỵ, một nhân vật nữ trong một truyện ngắn của Sao Trên Rừng tôi không còn nhớ tựa truyện đã làm từng làm tôi say mê và đánh giá rất cao, đó là một truyện ngắn hay nhất của anh. Anh nắm lấy tay tôi bóp chặt. Đôi mắt anh nhìn về một cõi xa xôi nào đó, như đi tìm hình bóng người yêu đầu đời đã nằm tận đáy lòng bị khối núi thời gian nặng nề che lấp. Mối tình đó đã từng làm Nguyễn Đức Sơn đau khổ ê chề. Nguyễn Đức Sơn bỏ ngôi nhà người chú ở Đơn Dương ra đi. Người chú họ và gia đình bán nhà cũ kéo xuống núi, về đồng bằng, mua nhà ở cạnh nhà tôi tại Phan Rang. Cô Mỵ và các người em thành những người bạn thân thiết với chị em tôi.
Nguyễn Đức Sơn nói nhỏ với tôi:
- Ông S. còn sống không?
Tôi lắc đầu. Sao anh không hỏi: “Bây giờ Mỵ sống ra sao?” để tôi trả lời “Đã lâu lắm rồi. Ông chú họ và người vợ già đã chết. Mỵ cũng bặt tin.”
Nhắc đến Mỵ, Nguyễn Đức Sơn không còn nói huyên thiên, anh im lặng. Và tôi cũng im lặng. Chợt tôi nhớ đến T.
Chúng tôi lên xe về lại Đà Lạt bỏ Nguyễn Đức Sơn ngồi lại một mình trong cái quán đó với nổi cô đơn tận cùng ray rứt tâm can anh.
*
Đáng lẻ bài viết đến đây là chấm dứt nếu như tôi tình cơ không nghe những bài ca của Nguyễn Đức Vân từ trên mạng. Album Màu Thương Yêu của Nguyễn Đức Vân đã làm tôi ngạc nhiên, tôi nghe đi nghe lại, lời ca tiếng nhạc thấm vào tâm hồn của một ông già 70 tuổi là tôi. Ca từ giản dị, như lời thì thầm nói về Mẹ, về Cha, về núi đồi Phương Bối, với tất cả lòng yêu thương và vị tha bao la vô bờ bến.
Tôi rất mừng là Nguyễn Đức Sơn có một người con như thế.
Tôi cười một mình khi nghĩ đến có một ngày tôi gặp mặt Nguyễn Đức Vân tôi sẽ gọi anh là “Vân Mây” thân mật như với cha anh là “Sơn Núi”. Cha là Núi. Con là Mây. Cha là Sao Trên Rừng. Con là Mây Trên Đồi./.
Sài Gòn 1 tháng 9 năm 2010
Nguồn: vanchuongviet.org
Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2010
Nguyễn thị Hậu : Từ Một Con Đường

Đường Đồng Khởi có lẽ là con đường nổi tiếng nhất trong những con đường đẹp, buôn bán sầm uất và có tuổi đời xưa nhất của Sài Gòn.
Nằm ở quận 1 đường Đồng Khởi có chiều dài gần 1km, bắt đầu từ ngã tư với Nguyễn Du ngay trước mặt Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn và kết thúc là đường Tôn Đức Thắng nhìn ra sông Sài Gòn.Trên con đường này tập trung nhiều khách sạn sang trọng, cửa hàng, tiệm cà phê, hiệu sách… đã trở thành địa chỉ văn hóa quen thuộc và in đậm dấu ấn trong tâm trí nhiều thế hệ người Sài Gòn và những người từng đến, từng ở Sài Gòn. Hình ảnh những khách sạn, cửa hàng như thế đã trở thành biểu tượng văn hóa của con đường.
Tại đây khách sạn Continental trong việc trùng tu để có một khách sạn hiện đại đã rất khôn ngoan khi giữ lại kiến trúc cũ, chắc chắn không phải vì nhà đầu tư không đủ nguồn lực xây dựng tòa nhà lên hàng chục tầng để khai thác lợi nhuận từ số diện tích tăng lên rất nhiều.. Nhưng, chắc hẳn chủ đầu tư đã tính đến việc sẽ khai thác nguồn lợi từ “thương hiệu văn hóa” bao gồm vị trí cảnh quan, gíá trị lịch sử - tuổi đời, ký ức của những người từng đến, từng ở khách sạn, giá trị những sự kiện đã diễn ra ở đây, những nhân vật nổi tiếng đã từng lưu trú tại đây. Việc khai thác “lợi nhuận” này ngòai việc tăng kinh phí đóng góp cho thành phố (qua thuế, các dịch vụ khác…) còn mang một ý nghĩa to lớn là đã bảo tồn và khai thác một cách phù hợp và có hiệu quả gía trị di sản văn hóa của thành phố. Đóng góp này tuy “vô hình” nhưng lâu bền vì nó tác động vào tình cảm con người, làm chiếc cầu tiếp nối ký ức của nhiều thế hệ.
Tôi chưa từng lưu trú một ngày nào trong khách sạn Continental nhưng đã có lần dự tiệc, họp hành tại đây. Tất nhiên tôi biết rằng giá cả chi phí dịch vụ ở đây không như nơi khác vì là khách sạn 4*. Không rõ việc xếp lọai khách sạn có tiêu chí nào về giá trị “phi vật thể” của khách sạn đó không? Nếu không thì thật đáng tiếc! Vì giá trị “phi vật thể” có thể “quy đổi” thành “vật thể”: chi phí tại đây cao hơn vì ngòai chi phí cho tiện nghi dịch vụ còn có “phí” từ giá trị lịch sử của khách sạn. Đừng bỏ lỡ những cơ hội vàng như thế để giới thiệu và nâng tầm giá trị văn hóa Việt Nam. Khách nước ngòai và trong nước khi chấp nhận chi phí cao có nghĩa là họ hiểu về gía trị “tiềm ẩn” của khách sạn, thể hiện một “đẳng cấp cao” vì họ không chỉ quan tâm, đòi hỏi tiện nghi sang trọng mà còn có sự hiểu biết trân trọng lịch sử - văn hóa của khách sạn đó nói riêng và Việt Nam nói chung. Ai mà không muốn trở thành người giàu có về tiền bạc và sang trọng về văn hóa?
Có thể người VN chưa quen với cách tính phí cao từ giá trị “vô hình” như vậy, nhưng vì sao không tạo ra một thói quen mới rất văn minh? Cũng như các tour du lịch VN ra nước ngòai đều có việc đưa du khách tham quan bảo tàng của nước sở tại, dù trong nước hầu như người VN chưa có thói quen đến bảo tang tham quan và giải trí.
Nói đến đường Đồng Khởi nhiều người sẽ nghĩ ngay đến tiệm cà phê Givral nổi tiếng trên con đường này. Cà phê Givral đã từng (và sẽ mãi) nổi tiếng vì giá trị vô hình của nó. Nhưng hiện giờ nó nổi tiếng hơn bởi ca khúc “Vĩnh biệt Givral” – C’est fini Givral. Ca khúc này làm ta nhớ đến bộ phim lãng mạn làm rung động bao nhiêu con tim “Mùa hè cuối cùng ở Capri”, còn bây giờ nó làm nhiều người rưng rưng nước mắt. Một phần quá khứ của mình, một phần quá khứ của Sài Gòn đã không còn nữa. May ra chỉ còn trong ký ức của thế hệ U 50, U 60 trở lên mà nay nhiều người không còn ở Sài Gòn…
Một vùng đất đánh mất ký ức, một thành phố không còn ký ức, những thế hệ con người không có ký ức… chẳng ai muốn điều đó xảy ra. Mong sao sẽ không có những “Givral khác”, sẽ không phải nghe “C’est fini…” đối với những di sản văn hóa ít ỏi còn lại của Sài Gòn./.
Nguyễn thị Hậu
Nằm ở quận 1 đường Đồng Khởi có chiều dài gần 1km, bắt đầu từ ngã tư với Nguyễn Du ngay trước mặt Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn và kết thúc là đường Tôn Đức Thắng nhìn ra sông Sài Gòn.Trên con đường này tập trung nhiều khách sạn sang trọng, cửa hàng, tiệm cà phê, hiệu sách… đã trở thành địa chỉ văn hóa quen thuộc và in đậm dấu ấn trong tâm trí nhiều thế hệ người Sài Gòn và những người từng đến, từng ở Sài Gòn. Hình ảnh những khách sạn, cửa hàng như thế đã trở thành biểu tượng văn hóa của con đường.
Tại đây khách sạn Continental trong việc trùng tu để có một khách sạn hiện đại đã rất khôn ngoan khi giữ lại kiến trúc cũ, chắc chắn không phải vì nhà đầu tư không đủ nguồn lực xây dựng tòa nhà lên hàng chục tầng để khai thác lợi nhuận từ số diện tích tăng lên rất nhiều.. Nhưng, chắc hẳn chủ đầu tư đã tính đến việc sẽ khai thác nguồn lợi từ “thương hiệu văn hóa” bao gồm vị trí cảnh quan, gíá trị lịch sử - tuổi đời, ký ức của những người từng đến, từng ở khách sạn, giá trị những sự kiện đã diễn ra ở đây, những nhân vật nổi tiếng đã từng lưu trú tại đây. Việc khai thác “lợi nhuận” này ngòai việc tăng kinh phí đóng góp cho thành phố (qua thuế, các dịch vụ khác…) còn mang một ý nghĩa to lớn là đã bảo tồn và khai thác một cách phù hợp và có hiệu quả gía trị di sản văn hóa của thành phố. Đóng góp này tuy “vô hình” nhưng lâu bền vì nó tác động vào tình cảm con người, làm chiếc cầu tiếp nối ký ức của nhiều thế hệ.
Tôi chưa từng lưu trú một ngày nào trong khách sạn Continental nhưng đã có lần dự tiệc, họp hành tại đây. Tất nhiên tôi biết rằng giá cả chi phí dịch vụ ở đây không như nơi khác vì là khách sạn 4*. Không rõ việc xếp lọai khách sạn có tiêu chí nào về giá trị “phi vật thể” của khách sạn đó không? Nếu không thì thật đáng tiếc! Vì giá trị “phi vật thể” có thể “quy đổi” thành “vật thể”: chi phí tại đây cao hơn vì ngòai chi phí cho tiện nghi dịch vụ còn có “phí” từ giá trị lịch sử của khách sạn. Đừng bỏ lỡ những cơ hội vàng như thế để giới thiệu và nâng tầm giá trị văn hóa Việt Nam. Khách nước ngòai và trong nước khi chấp nhận chi phí cao có nghĩa là họ hiểu về gía trị “tiềm ẩn” của khách sạn, thể hiện một “đẳng cấp cao” vì họ không chỉ quan tâm, đòi hỏi tiện nghi sang trọng mà còn có sự hiểu biết trân trọng lịch sử - văn hóa của khách sạn đó nói riêng và Việt Nam nói chung. Ai mà không muốn trở thành người giàu có về tiền bạc và sang trọng về văn hóa?
Có thể người VN chưa quen với cách tính phí cao từ giá trị “vô hình” như vậy, nhưng vì sao không tạo ra một thói quen mới rất văn minh? Cũng như các tour du lịch VN ra nước ngòai đều có việc đưa du khách tham quan bảo tàng của nước sở tại, dù trong nước hầu như người VN chưa có thói quen đến bảo tang tham quan và giải trí.
Nói đến đường Đồng Khởi nhiều người sẽ nghĩ ngay đến tiệm cà phê Givral nổi tiếng trên con đường này. Cà phê Givral đã từng (và sẽ mãi) nổi tiếng vì giá trị vô hình của nó. Nhưng hiện giờ nó nổi tiếng hơn bởi ca khúc “Vĩnh biệt Givral” – C’est fini Givral. Ca khúc này làm ta nhớ đến bộ phim lãng mạn làm rung động bao nhiêu con tim “Mùa hè cuối cùng ở Capri”, còn bây giờ nó làm nhiều người rưng rưng nước mắt. Một phần quá khứ của mình, một phần quá khứ của Sài Gòn đã không còn nữa. May ra chỉ còn trong ký ức của thế hệ U 50, U 60 trở lên mà nay nhiều người không còn ở Sài Gòn…
Một vùng đất đánh mất ký ức, một thành phố không còn ký ức, những thế hệ con người không có ký ức… chẳng ai muốn điều đó xảy ra. Mong sao sẽ không có những “Givral khác”, sẽ không phải nghe “C’est fini…” đối với những di sản văn hóa ít ỏi còn lại của Sài Gòn./.
Nguyễn thị Hậu
Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010
Rất Huế - Thơ Huỳnh Văn Dung

Giữ chút gì rất Huế đi em
Nét duyên là trời đất giao hòa
Dẫu xa, một mai anh gặp lại
Vẫn được nhìn em say lá hoa
Giữ chút gì rất Huế hiền ngoan
Xin em chớ cắt mái tóc thề
Để cho gió thổi bay suối tóc
Và mùa đông ấm đôi vai gầy
Giữ chút gì rất Huế trang đài
Nón nghiêng, bóng nắng dáng thơ ngây
Gặp anh nón hỡi đừng nghiêng xuống
Cho anh trông mắt ngọc mày ngài
Giữ chút gì rất Huế mặn mà
Dạ thưa, ngọt lịm ai mê say
Em đi gót nhẹ xanh hồn cỏ
Và hơi thở mềm sương khói bay
Giữ chút gì rất Huế đi em
Cánh thơ, áo trắng chấp hai tà
Để vạt lụa bay trên đường chiều
Ngỡ mình lạc chân trong cõi mơ
Dẫu em rất Huế tự bao giờ
Đừng để lòng em như cung điện
Đừng cho anh suốt đời đứng đợi
Trước cấm thành, gọi mãi chẳng ai thưa
HUỲNH VĂN DUNG
Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010
Đọc thơ Bùi Giáng

Chào nguyên xuân
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
Tóc xanh dù có phai màu
Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng
Xin chào nhau giữa lúc này
Có ngàn năm đứng ngó cây cối và
Có trời mây xuống lân la
Bên bờ nước có bóng ta bên người
Xin chào nhau giữa bàn tay
Có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con
Thưa rằng những ngón thon thon
Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau
Xin chào nhau giữa làn môi
Có hồng tàn lệ không đời chưa cam
Thưa rằng bạc mệnh xin kham
Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây
Xin chào nhau giữa bụi đầy
Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu
Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng: từ bước chân ra
Vì sao thấy gió đàng xa dặm dài
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngầu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân
BÙI GIÁNG
1926 - 1998
Thứ Hai, 23 tháng 8, 2010
Thanh Tâm Tuyền, người đi tìm tiếng nói

Đỗ Lai Thuý
Tôi đi tìm tiếng nói
Cho cổ họng của tôi
Thanh Tâm Tuyền
Tôi đi tìm tiếng nói
Cho cổ họng của tôi
Thanh Tâm Tuyền
Thơ, sau 20 năm Đổi mới và Mở cửa, không chỉ có sự đổi mới của chính bản thân thơ, mà còn có cả sự đổi mới của cái nhìn về thơ, tức lý luận phê bình thơ. Trong đó, đáng kể là sự nhìn nhận lại một số hiện tượng cách tân thơ trong quá khứ không xa, mà Thanh Tâm Tuyền là một trường hợp khá tiêu biểu. Từ đỉnh cao Đổi mới, đọc lại Thanh Tâm Tuyền, đặt thơ ông vào nguồn mạch đổi mới thi ca dân tộc, có thể rút ra những kinh nghiệm không chỉ là lịch sử, mà đôi khi rất thời sự, có ích cho việc đánh giá “thơ 20 năm đổi mới” hôm nay.
*
* *
Sinh năm 1936, Thanh Tâm Tuyền thuộc một thế hệ nhà thơ khác với các nhà Thơ Mới về tuổi đời. Và, do đó, quan trọng hơn, khác về học vấn và trải nghiệm. Nếu các nhà Thơ Mới tiếp xúc với văn học châu Âu chủ yếu qua “bộ lọc” nhà trường Pháp thuộc và dừng lại ở cuối thế kỷ XIX, còn ai đó có trèo sang thế kỷ XX thì cũng đã hụt hơi, đọc mà không hiểu, hiểu mà không thấm, thì Thanh Tâm Tuyền tiếp nhận nghệ thuật phương Tây một cách trực tiếp và đồng thời, nên, nhờ thế, tự do và sáng tạo (ý của Đặng Tiến). Nếu các nhà Thơ Mới trải nghiệm cuộc sống một cách thơ ca trên bình yên các trang sách, thì Thanh Tâm Tuyền sống một cuộc sống văn xuôi của cuộc chiến tranh, của chia cắt đất nước, của tranh giành quyền lực. Giữa họ, quả thực, là một đứt đoạn lớn. Trước, ở nhận thức thực tại. Sau, ở nghệ thuật.
Năm 1956, ở tuổi hai mươi, Thanh Tâm Tuyền in tác phẩm thơ đầu tiên của mình có nhan đề như một tuyên ngôn: Tôi không còn cô độc. Có lẽ, cô độc là một đặc sản của cái tôi nguyên tử luận của Thơ Mới. Một cái tôi luôn đối diện, đúng hơn đối đầu, với thực tại. Cái tôi Thơ Mới này, sau khi đã lên tới thiên đỉnh, Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất, với Xuân Diệu, đã không chịu đựng nổi cô độc, nên đã tìm về với cái bọc trăm trứng cộng đồng, hoặc một thời tiền sử hòa đồng nguyên thủy, hoặc những thiên đường nhân tạo liên/ xuyên – cá – nhân, để đến 1945 thì hòa mình vào cái ta xã hội, cái ta dân tộc. Nhưng tôi lại là sự chống lại chủ nghĩa tập thể núp danh cộng đồng, dân tộc, xã hội, đề cao cái cá nhân đích thực. Thanh Tâm Tuyền của Tôi không còn cô độc không còn là sự đối lập giữa tôi và thực tại, tôi đối diện với thế giới, mà lơ lửng giữa tôi và thực tại, tôi hiện diện trong thực tại, tôi là thực tại.
Xóa bỏ khoảng cách giữa tôi và thực tại, cái hố thẳm tư tưởng ấy, là nâng cái nhìn thực tại lên một bình diện mới, một chiều kích mới. Điều này tạo ra một ý thức mới trong văn nghệ. Bởi thế, việc làm đầu tiên là thanh toán ý thức văn nghệ cũ một cách công khai, quyết liệt. Bốn cuộc trao đổi giữa Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Thái Tuấn… trên tạp chí Sáng tạo hoàn toàn phủ nhận văn nghệ tiến chiến, từ Thơ Mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, tiểu thuyết tả chân Tân dân, kịch nói, đến hội họa ấn tượng và tả thực. Dĩ nhiên, nhát dao chặt đứt tính liên tục lịch sử để tạo ra sự đứt đoạn, ở bình diện cụ thể, bao giờ cũng có những cực đoan, những bất công của nó, nhưng trên bình diện nguyên lý là hợp lẽ. Bởi, đây là sự phủ nhận một quan niệm thực tại như một cái gì đó tự thân, đặc cứng và nhất phiến, nên đứng trước nó văn nghệ hình như chỉ còn mỗi việc mô phỏng, phản ánh, ảnh xạ. Chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn, thậm chí cả chủ nghĩa tượng trưng nữa, ít nhiều đều là con đẻ của cái nhìn thế giới này.
Sự phát triển của khoa học (vật lý thiên văn và vật lý hạ nguyên tử) và triết học đầu thế kỷ XX đã làm thay đổi quan niệm về thực tại. Không còn nữa một quan niệm về thế giới khách quan, tự thân, độc lập với ý thức của con người, mà chỉ có một thế giới do con người (sinh ra) và vì con người (phục vụ) theo nguyên lý vị nhân. Sự khủng hoảng thực tại này khiến người ta phải đi tìm những phương thức biểu đạt thực tại mới, trước hết trong lĩnh vực hội họa. Các trường phái lập thể, biểu hiện, trừu tượng, siêu thực… thi nhau ra đời để đáp ứng nhu cầu này. Văn chương cũng lao vào một kiếm tìm tương tự. Nhà thơ và họa sĩ giờ đây không phải chỉ chơi thân với nhau như những láng giềng tốt, mà vì họ cùng chung một cái nhìn thực tại, cùng chung việc tìm kiếm ngôn ngữ mới để biểu đạt thực tại mới. Tình thơ – họa của nhóm Sáng Tạo, do vậy, khác về chất với tình của các nhà thơ, học sĩ của Tự lực văn đoàn thời tiền chiến.
Cái mới ở thơ Thanh Tâm Tuyền, trước hết, là sự chủ thể hóa thực tại. Bởi thế, thơ ông trình hiện một cái tôi đa ngã. Không phải cái tôi nhất nguyên rã ra thành những bộ phận độc lập. Hay một kiểu sinh sản bằng cách tự sao lại bản mình. Càng không phải sự phân thân. Đa ngã là do đa thể. Bởi, con người vốn đa nguyên. Không chỉ ngoài con người có con người, mà, quan trọng hơn, trong con người có con người. Tôi là người là một người khác (Đừng bắt tôi từ biệt). Cái người khác ấy nhiều khi xa lạ với chính tôi, với chính sự hiểu biết của tôi. Nó đến từ những cơ tầng khác.
Hồn là khởi nguyên tinh thần, xác là khởi nguyên sinh học. Hồn, xác hòa hợp thì con người trùng khít với bản thân, có sự khỏe mạnh của cái cây, tảng đá. Ở Thanh Tâm Tuyền thường thì hồn và xác lìa nhau, tạo ra những cái tôi khác nhau. Tôi luôn nhìn, và nhìn thấy, thể xác tôi bị đau đớn, chảy máu, bị đâm chém với một thái độ dửng dưng.
Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá
(Bao giờ)
Nhưng, có lẽ, đặc sắc hơn cả, ở Thanh Tâm Tuyền, là tên và tôi. Cái tên và cái tôi, tự nguồn, vốn là một. Tư duy nguyên thủy cho rằng cái tôi nào thì phải mang cái tên ấy. Tên và tôi, do vậy, vận vào nhau. Nhưng dần dần, với sự phát triển của xã hội, cái tên tách biệt khỏi cái tôi, trở thành một thực thể tự thân, độc lập. Cái tên tôi giữa phố, phố vắng và cái/ tên âm lên sự thù hằn (Đêm). Tên trở thành một ký hiệu, một căn cước rỗng, chỉ thuận tiện cho việc giao thông xã hội. Ở Thanh Tâm Tuyền, cái tên, thậm chí, chỉ còn là cái xã hội bám đầy rong rêu của các quy tắc, định chế, luôn tra xét, đe dọa cái tôi bản năng, tự do, sáng tạo:
Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
Thanh Tâm Tuyền
Buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường
Tôi xin một chỗ quỳ thầm kín
Cho đứa nhỏ linh hồn
Sợ chó dữ
Con chó đói không màu
(…)
Tôi gào tên tôi cho nguôi giận
Thanh Tâm Tuyền
Đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi
Cô bé quàng khăn đỏ ơi
Này một con chó sói
Thứ chó sói lang thang
(…)
Tôi gào tên tôi thảm thiết
Thanh Tâm Tuyền
Bóp cổ tôi chết gục
Để tôi được phục sinh
(Phục sinh)
Như vậy, những cái tôi thơ Thanh Tâm Tuyền, với một vài đơn cử trên, là những thực thể tồn tại tự thân, luôn tranh đấu, giằng xé, thậm chí chém giết nhau trong cuộc đối thoại/ đối đầu miên tục. Con người hiện đại, vì thế, luôn tự mâu thuẫn. Và, cũng vì thế, mà luôn tự thay đổi cái tôi với tư cách là một nhân tố kiến tạo thế giới.
Nếu ở bình diện nhận thức, thơ Thanh Tâm Tuyền là sự chủ thể hóa thực tại, thì ở bình diện diễn ra, thơ ông lại kéo ngôn ngữ về với sự vật. Tức thay đổi quan niệm về ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ nghệ thuật. Với Ferdinand de Sanssure, ngôn ngữ như một công cụ có khả năng phản ánh trung thành sự vật đã trở thành huyền thoại. Nhưng cũng từ đây, ngôn ngữ, với bản chất tự trị của nó, ngày càng xa rời sự vật, thậm chí quy định lối nhìn sự vật. Bởi thế, từ và vật ngày càng đối lập với nhau. Thanh Tâm Tuyền đã kéo ngôn ngữ về với sự vật, nhưng không phải để phản ánh sự vật, mà để đồng nhất với sự vật: ngôn ngữ là thực tại.
Ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền, bởi thế, đầy những vật liệu của công nghiệp và thành phố. Thơ Mới, mặc dù là con đẻ của văn hóa đô thị, nhưng chưa thực sự sống thành phố bởi còn bị ám ảnh những hoài niệm thôn quê. Thanh Tâm Tuyền đã bắt được nhịp sống đô thị, cũng là nhịp sống của hôm nay, đương đại. Thành phố trong thơ ông như một công trường xây dựng. Đầy những vật liệu nhân tạo. Tất cả đều dang dở, ngổn ngang, thậm chí hỗn độn. Cái nhìn này về thực tại ảnh xạ vào thơ Thanh Tâm Tuyền. Ngôn từ thơ bị lột vỏ quy ước trần trụi trở về với sự vật thô nhám. Các từ đứng cạnh nhau một cách tình cờ, ngẫu nhiên, làm trật nghĩa nhau. Câu thơ thì bị cắt dòng đột ngột, đôi khi mang tính bạo hành. Bài thơ mang tính thể nghiệm, tồn tại như những khả năng, khả thể. Tập thơ như một hợp tuyển tình cờ, các bài thơ như ngẫu nhiên được đưa vào, ngẫu nhiên đứng cạnh nhau và, vì thế, phát ra những diễn ngôn riêng biệt, như chẳng ăn nhập gì với nhau. Bởi thế, đọc thơ Thanh Tâm Tuyền người ta cảm thấy khó chịu, bứt rứt, bất an, thậm chí phẫn nộ, bởi vì nó không cho ta ngủ yên trên những thói quen sống và thói quen thẩm mỹ, nó bắt ta phải chấp nhận những trạng huống nhân sinh mới mà ta không muốn chấp nhận, để, cuối cùng, giúp ta vượt qua cái thực tại giả tạm, bề ngoài, tìm đến cái thực tại đích thực ở bề sau, bề sâu, bề xa, cái tổng thể mới có khả năng hợp nhất lại cái bề ngoài vỡ vụn.
Con người là một động vật khát thèm cái toàn vẹn, cái đồng nhất. Cho rằng vỡ nát, hỗn độn chỉ là của cái thực tại bên ngoài, người ta đi tìm sự thống nhất ở bên trong, ở chiều sâu: vô thức của phân tâm học, của chủ nghĩa siêu thực, cấu trúc của ngữ học và dân tộc học, siêu tuyệt hay cao cả trong mỹ học… Thanh Tâm Tuyền đi tìm một nghệ thuật khác chứa đựng tất cả những điều trên: đó là nghệ thuật Dionysos hay nghệ thuật đen. “Chúng tôi trả lại nàng thơ, trả lại nghệ thuật cho các người, cho những thi sĩ thuộc dòng đầu bù tóc rối có nghệ thuật rạng ngời vững vàng như thần Apollon. Chúng tôi theo cơn cuồng nộ bi thảm của Dionysos, của cuộc đời hôm nay. Chúng tôi cho các người vĩnh viễn, của cuộc đời hôm nay. Chúng tôi cho các người vĩnh viễn, hãy nhường lại cho chúng tôi hiện tại” (Nỗi buồn trong thơ hôm nay, 1955). Cuồng nộ bi thảm là tính chất của Dionysos, là sự khẳng định cuộc đời hôm nay. Bởi, “sự khai sinh ra bi kịch là một cuộc hoán đảo mọi giá trị” (Nietzsche, Buổi hoàng hôn của những thần tượng).
Sự thống nhất của thơ Thanh Tâm Tuyền còn ở mỗi tập thơ của ông, tôi không còn cô độc và Liên – Đêm – Mặt Trời tìm thấy, cũng như toàn bộ sáng tác thơ của thi nhân trước 1975, có cấu trúc. Khác với phần đông nhà thơ, thi phẩm của họ thường chỉ có bố cục mà không có cấu trúc, thi phẩm Thanh Tâm Tuyền ngược lại, không có bố cục nào cả nhưng lại có cấu trúc. Chính cấu trúc đã tạo ra một lực hướng tâm thu hút, sắp xếp những yếu tố tản mạn, đối nghịch nhau thành một chỉnh thể. Nhưng cấu trúc thơ Thanh Tâm Tuyền là một cấu trúc mở (Prigozhin), hay cấu trúc động. Nghĩa là, nó còn có một lực ly tâm, cũng mạnh mẽ không kém gì lực hướng tâm, khiến nhiều khi cấu trúc trở nên xộc xệch, để cho các từ vượt thoát khỏi hấp lực của trường ngữ nghĩa nguyên thủy đi lang thang ra ngoài tìm những trò chơi mới. Thơ Thanh Tâm Tuyền, vì thế, đi ra ngoài ngữ học cấu trúc của Saussure để đến với ngữ dụng học của Wittgenstein. Tính chất hậu hiện đại, theo kiểu Lyotar, thấp thoáng trong thơ ông là vậy.
Những cách tân theo hướng hiện đại bắt đầu với thơ của Nguyễn Xuân Sanh trong Xuân Thu Nhã Tập (1942). Thơ ông, mặc dù đã phát động một tư duy đứt đoạn, nhưng ngôn ngữ vẫn còn xưa cũ, sách vở, đặc biệt câu thơ vẫn bảy chữ chằn chặn xếp thành từng khổ bốn câu. Rồi thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi (1946 – 1949) với ngôn ngữ súc tích, giàu hình ảnh tươi nguyên từ thực tế đời thường. So với hai đàn anh trên, thơ Thanh Tâm Tuyền đi xa và sâu sắc hơn. Nhưng cách tân thơ của ông cũng chỉ kéo dài được trên dưới 5 năm, người khác không theo đã đành, mà chính thi nhân cũng không tiếp tục. Sau đó là thơ Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng thời hậu – Nhân văn, một số nhà thơ chống Mỹ và thơ “trẻ” ngày nay. Tuy là những đứt đoạn, nhưng đổi mới thơ vẫn thành một chuỗi liên tục, tạo ra kinh nghiệm lịch sử quý giá cho sự đổi mới thơ hôm nay đang được sự đồng thuận của cả Nhà nước và Xã hội.
Tháng 5 năm 2010
Đỗ Lai Thúy
Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2010
Trần Đình Sơn - Người nối quá khứ với hiện tại

Trần Đình Sơn là một nhà cổ học, nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là các triều hậu Lê, Trịnh- Nguyễn, ông còn là nhà nghiên cứu Phật học và là một cư sĩ đạo tâm.
Tình bạn vong niên và niềm đam mê chung với cổ vật
Trần Đình Sơn từ tuổi niên thiếu ông say mê cổ vật, và khi trưởng thành, niềm say mê ấy đã đưa ông đến với thế giới của "người xưa" như một tri âm, tri kỷ.
Năm 1968, khi vào Sài Gòn học lúc 18 tuổi, Trần Đình Sơn gặp và mau chóng được lòng cụ Vương Hồng Sển, trở thành người bạn vong niên "ruột" của cụ. Tình bạn thâm giao này được xem là hy hữu này trong giới cổ ngoạn Sài Gòn thuở ấy.
Lúc mới chuyển từ Huế vào Sài Gòn, theo học Đại Học Luật, lần đầu tiên Trần Đình Sơn tìm đến Vân Đường Phủ , mang theo hai cổ vật gia bảo để ra mắt cụ Vương Hồng Sển. Ông kể lúc đầu mới gặp, cụ tưởng ông mang đồ cổ đến gạ bán nên chỉ hỏi giá cả để mua chứ không trao đổi giải thích nhiều. Thất vọng và cảm thấy bị xem thường, trước khi từ giã, ông thưa với cụ: "Cháu nghĩ cụ có đôi mắt ngọc để phân biệt đồ xưa vật quý nhưng rất tiếc cụ không xem được người". Tưởng nói cho đã rồi một đi không quay lại, ai ngờ chính câu nói của đứa học trò xứ Huế lúc đó đã làm cho vị học giả cao niên ngạc nhiên rồi thay đổi thái độ và giữ ông lại để tâm tình.
Từ đó về sau, ông thường lui tới thăm viếng để cụ hướng dẫn cho kinh nghiệm thực tế về đồ cổ, bổ sung kiến thức về phong tục tập quán của người dân miền Nam... Ngược lại, Trần Đình Sơn thỉnh thoảng giải thích cho cụ phong tục tập quán ở Huế, lễ nghi triều đình, nếp sống của những gia đình quyền quý xưa hoặc đọc giúp một vài niên hiệu, câu thơ trên đồ sứ cổ.
Giao tình một trẻ một già cách nhau gần 40 năm, nay ông nghiệm lại thấy nhân duyên ấy lâu dài cũng nhờ cụ Vương có mắt nhìn người, có tấm lòng muốn truyền trao cho lớp hậu sinh những điều tâm đắc về cổ ngoạn, đặc biệt là đồ sứ thời Lê Nguyễn.
Cổ vật thuộc về thế giới của "người xưa", ẩn chứa nhiều thông điệp vượt thời gian, không phải ai cũng có thể cảm nhận và hiểu, nhưng ở Trần Đình Sơn dường như có mối giao cảm đặc biệt. Dưới lớp men sứ hay hình vẽ trên cổ vật, ông "đọc" hay giải mã được nhiều điều kỳ thú.
Cổ vật nói chung bao gồm nhiều thể loại, thời đại, xuất xứ... khác nhau, ông phân tích. Rất khó có người am hiểu sâu sắc được nhiều lãnh vực. Ông tự nhận mình chỉ có duyên với loại đồ sứ ký kiểu thời Lê Nguyễn, đơn giản vì được sinh trưởng tại cố đô Huế, được nuôi dưỡng trong môi trường đậm đặc chất liệu cổ điển, tuổi thiếu niên thường rong chơi trong cố cung, lăng tẩm, chùa chiền... Thời đó triều Nguyễn mới cáo chung nên trong các di tích, vẫn còn rất nhiều cổ vật trang trí.
Nếp sống của người Huế còn giữ gìn kiểu cách xưa của ông bà. Chính những con người "tiền triều" đó đã chỉ dạy giải thích cho Trần Đình Sơn nhiều điều về Huế thưở vàng son. Nay nghiệm lại ông thấy chính những bài học truyền khẩu đã giúp cho mình giao cảm được với người muôn năm cũ, nhập tâm để có thể giải mã được những điều kỳ thú ẩn chứa trong cổ vật.
Năm 1968, khi vào Sài Gòn học lúc 18 tuổi, Trần Đình Sơn gặp và mau chóng được lòng cụ Vương Hồng Sển, trở thành người bạn vong niên "ruột" của cụ. Tình bạn thâm giao này được xem là hy hữu này trong giới cổ ngoạn Sài Gòn thuở ấy.
Lúc mới chuyển từ Huế vào Sài Gòn, theo học Đại Học Luật, lần đầu tiên Trần Đình Sơn tìm đến Vân Đường Phủ , mang theo hai cổ vật gia bảo để ra mắt cụ Vương Hồng Sển. Ông kể lúc đầu mới gặp, cụ tưởng ông mang đồ cổ đến gạ bán nên chỉ hỏi giá cả để mua chứ không trao đổi giải thích nhiều. Thất vọng và cảm thấy bị xem thường, trước khi từ giã, ông thưa với cụ: "Cháu nghĩ cụ có đôi mắt ngọc để phân biệt đồ xưa vật quý nhưng rất tiếc cụ không xem được người". Tưởng nói cho đã rồi một đi không quay lại, ai ngờ chính câu nói của đứa học trò xứ Huế lúc đó đã làm cho vị học giả cao niên ngạc nhiên rồi thay đổi thái độ và giữ ông lại để tâm tình.
Từ đó về sau, ông thường lui tới thăm viếng để cụ hướng dẫn cho kinh nghiệm thực tế về đồ cổ, bổ sung kiến thức về phong tục tập quán của người dân miền Nam... Ngược lại, Trần Đình Sơn thỉnh thoảng giải thích cho cụ phong tục tập quán ở Huế, lễ nghi triều đình, nếp sống của những gia đình quyền quý xưa hoặc đọc giúp một vài niên hiệu, câu thơ trên đồ sứ cổ.
Giao tình một trẻ một già cách nhau gần 40 năm, nay ông nghiệm lại thấy nhân duyên ấy lâu dài cũng nhờ cụ Vương có mắt nhìn người, có tấm lòng muốn truyền trao cho lớp hậu sinh những điều tâm đắc về cổ ngoạn, đặc biệt là đồ sứ thời Lê Nguyễn.
Cổ vật thuộc về thế giới của "người xưa", ẩn chứa nhiều thông điệp vượt thời gian, không phải ai cũng có thể cảm nhận và hiểu, nhưng ở Trần Đình Sơn dường như có mối giao cảm đặc biệt. Dưới lớp men sứ hay hình vẽ trên cổ vật, ông "đọc" hay giải mã được nhiều điều kỳ thú.
Cổ vật nói chung bao gồm nhiều thể loại, thời đại, xuất xứ... khác nhau, ông phân tích. Rất khó có người am hiểu sâu sắc được nhiều lãnh vực. Ông tự nhận mình chỉ có duyên với loại đồ sứ ký kiểu thời Lê Nguyễn, đơn giản vì được sinh trưởng tại cố đô Huế, được nuôi dưỡng trong môi trường đậm đặc chất liệu cổ điển, tuổi thiếu niên thường rong chơi trong cố cung, lăng tẩm, chùa chiền... Thời đó triều Nguyễn mới cáo chung nên trong các di tích, vẫn còn rất nhiều cổ vật trang trí.
Nếp sống của người Huế còn giữ gìn kiểu cách xưa của ông bà. Chính những con người "tiền triều" đó đã chỉ dạy giải thích cho Trần Đình Sơn nhiều điều về Huế thưở vàng son. Nay nghiệm lại ông thấy chính những bài học truyền khẩu đã giúp cho mình giao cảm được với người muôn năm cũ, nhập tâm để có thể giải mã được những điều kỳ thú ẩn chứa trong cổ vật.
Đi tìm những nét đẹp trong phong tục của người xưa
Chọn "Những nét đan thanh" làm đề tài cho cuốn sách đầu tay về cổ vật, cũng như một triển lãm chuyên về đồ uống trà của người Việt nhiều thế kỷ trước, ông muốn giới thiệu đến những người ham thích cổ ngoạn những điển tích, thơ văn thường gặp trên các loại hình đồ cổ. Điều đó giúp cho họ có căn bản, hứng thú để tiến xa hơn.
Bản thân ông bước đầu sưu tầm đồ cổ cũng được cụ Vương Hồng Sển hướng dẫn và khích lệ nhiều về thú chơi chén dĩa trà ký kiểu. Ông góp nhặt thành một bộ sưu tập tương đối phong phú, mang một không khí "trà đạo" Việt thanh thoát, tinh tế thấm đẫm chất thiền của những nho sĩ, ẩn sĩ đạt tới cảnh giới của sự thanh bình.
Tự nhận "biết mình không có tài hoa để sáng tác thơ văn", nhưng tập tản mạn "Cao Sơn lưu thủy ngộ tri âm" của ông lại nặng lòng cố sự, có nhiều cảm xúc trước cảnh "vật đổi sao dời", phác họa những thú vui tao nhã, những nét văn hóa phong tục xưa... với chất "văn" rất đẹp trong câu chữ. Ngoài những tác phẩm chuyên đề về cổ ngoạn, ông cũng cộng tác với một số tạp chí để công bố những bài nghiên cứu về lịch sử, mỹ thuật, tín ngưỡng hay những tạp văn ngẫu hứng. Cứ một, hai năm gom lại in thành một tuyển tập.
Năm 2009, Trần Đình Sơn lại cho ra mắt cuốn sách gây chú ý và ấn tượng trong giới nghiên cứu cổ vật văn hóa nghệ thuật VN - "Thưởng ngoạn đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn 1802-1945". Cả một triều đại thịnh - suy, văn hóa ẩm thực cung đình, phong cách trang trí nội thất, thư phòng trong cung vua, phủ chúa và cả giới bình dân qua hình ảnh những đồ sứ cổ được ông giải mã.
Điều ông tâm đắc nhất là công bố việc phát hiện những bài thơ Nôm độc đáo của vua Gia Long. Những món đồ sứ sản xuất tại Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Đức thông qua con đường truyền giáo và thương mại đã đi vào cung đình Huế. Điều đó giúp cho chúng ta hiểu thêm về tâm tình của vị vua khai sáng triều Nguyễn, chứng minh sự giao lưu văn hóa mỹ thuật của nước ta với các nước phương Tây. Triều đình không chỉ gửi kiểu đặt làm đồ sứ bên Trung Quốc mà còn đặt làm đồ sứ ở các nước châu Âu.
Bản thân ông bước đầu sưu tầm đồ cổ cũng được cụ Vương Hồng Sển hướng dẫn và khích lệ nhiều về thú chơi chén dĩa trà ký kiểu. Ông góp nhặt thành một bộ sưu tập tương đối phong phú, mang một không khí "trà đạo" Việt thanh thoát, tinh tế thấm đẫm chất thiền của những nho sĩ, ẩn sĩ đạt tới cảnh giới của sự thanh bình.
Tự nhận "biết mình không có tài hoa để sáng tác thơ văn", nhưng tập tản mạn "Cao Sơn lưu thủy ngộ tri âm" của ông lại nặng lòng cố sự, có nhiều cảm xúc trước cảnh "vật đổi sao dời", phác họa những thú vui tao nhã, những nét văn hóa phong tục xưa... với chất "văn" rất đẹp trong câu chữ. Ngoài những tác phẩm chuyên đề về cổ ngoạn, ông cũng cộng tác với một số tạp chí để công bố những bài nghiên cứu về lịch sử, mỹ thuật, tín ngưỡng hay những tạp văn ngẫu hứng. Cứ một, hai năm gom lại in thành một tuyển tập.
Năm 2009, Trần Đình Sơn lại cho ra mắt cuốn sách gây chú ý và ấn tượng trong giới nghiên cứu cổ vật văn hóa nghệ thuật VN - "Thưởng ngoạn đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn 1802-1945". Cả một triều đại thịnh - suy, văn hóa ẩm thực cung đình, phong cách trang trí nội thất, thư phòng trong cung vua, phủ chúa và cả giới bình dân qua hình ảnh những đồ sứ cổ được ông giải mã.
Điều ông tâm đắc nhất là công bố việc phát hiện những bài thơ Nôm độc đáo của vua Gia Long. Những món đồ sứ sản xuất tại Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Đức thông qua con đường truyền giáo và thương mại đã đi vào cung đình Huế. Điều đó giúp cho chúng ta hiểu thêm về tâm tình của vị vua khai sáng triều Nguyễn, chứng minh sự giao lưu văn hóa mỹ thuật của nước ta với các nước phương Tây. Triều đình không chỉ gửi kiểu đặt làm đồ sứ bên Trung Quốc mà còn đặt làm đồ sứ ở các nước châu Âu.
Nặng lòng với Thăng Long
Là Phó Ban Văn hóa Trung ương giáo hội Phật giáo VN, đặc trách nghiên cứu về văn hóa - lịch sử, kiến trúc Phật giáo, trong buổi nói chuyện tại Viện Goethe ở Paris tháng 4/2004 do Hội thân hữu Pháp - Việt mời, ông đã nêu lên những "nghi vấn" về cổ vật phát lộ trong khu di tích Hòang thành Thăng Long liên quan tới "cổ tự" - chùa trong hoàng cung. Ông cho biết Lý Công Uẩn được nhà chùa nuôi dưỡng từ thưở thơ ấu, khôn lớn lại may mắn được các bậc cao tăng đương thời rèn luyện, dạy dỗ, đặc biệt là thiền sư Vạn Hạnh. Do đó khi khai sáng triều Lý, ông xác lập một triều đại quân chủ Phật giáo để định hướng xây dựng, phát triển đất nước theo tư tưởng Phật giáo.
Đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa xã hội, nhà vua cho xây dựng nhiều chùa tháp to lớn tại kinh đô Thăng Long và khắp các địa phương. Nhờ đó dần dần hình thành nếp sống, tình cảm tốt đẹp trong quần chúng mang đậm sắc thái văn hóa Việt khác với văn hóa Trung Quốc bị chi phối nặng nề bởi tư tưởng Tống Nho. Rất tiếc việc làm theo lý tưởng vì hạnh phúc của số đông, lấy nguyện vọng của quần chúng làm nguyện vọng của mình của vị quân vương về sau bị các Nho sỹ đứng trên lập trường Nho giáo thiển cận phê phán.
Sử quan Lê Văn Hưu viết trong "Đại Việt sử ký toàn thư" rằng: "Ngay sau khi lên ngôi, và dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long vua Lý Thái Tổ đã hạ chiếu xây dựng tám cảnh chùa ở phủ Thiên Đức. Trong Hoàng Thành lập chùa Hưng Thiên, ngoài thành lập chùa Thắng Nghiêm". Như vậy kinh đô Thăng Long từ thời đầu đã có nhiều chùa chiền to lớn". Nếu đối chiều các cổ vật bằng đá, đất nung... được khai quật, phát hiện trước đây tại các di tích Phật giáo thời Lý Trần với các hiện vật được khai quật khảo cổ trong phạm vi hoàng thành Thăng Long năm 2002-2003 thì thấy chúng rất giống nhau về chất liệu, biểu tượng, hoa văn trang trí chứng tỏ thời Lý Trần cung điện và chùa chiền được triều đình chủ trương xây dựng quy mô lớn như nhau.
Điều này khiến cho sứ thần Lê Văn Hưu từng nhận xét: "Lý Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng sỹ hơn một ngàn người ở Kinh Đô... Thái Tổ làm gương như thế chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa bằng đá, điện thờ Phật lộng lẫy hơn cung vua".
Nhờ cuộc khai quật khảo cổ học năm 2002-2003, chúng ta may mắn tiếp cận được nhiều loại hình cổ vật qua các triều đại. Nhìn ngắm di sản của tiền nhân truyền lại, ông không khỏi trăn trở:
* Làm sao khôi phục được An Nam tứ đại khí, từng là niềm hãnh diện của dân tộc, biểu tượng của văn hóa mỹ thuật Đại Việt đã bị giặc phương Bắc, phương Tây xâm lăng phá hoại: tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh.
* Làm sao giải mã được ý nghĩa chính xác các biểu tượng, hoa văn, văn tự... trên các loại hình cổ vật đã được khai quật để chúng ta hiểu được định hướng của tổ tiên trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt .
* Tại sao những thành tựu về kiến trúc, mỹ thuật trang trí trải qua các triều đại độc lập tự chủ Lý, Trần, Lê càng ngày càng bị mai một. Hoặc nếu gần đây được trùng tu tôn tạo cũng dần dần lai tạp trở thành "nửa ta nửa Tàu" hoặc "nửa Tây nửa ta", nếu không kịp thời chấn chỉnh, có thể đất nước chúng ta đang bị xâm lăng văn hóa mặc dù nhiều người vẫn hô hào trở về với truyền thống dân tộc!
Đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa xã hội, nhà vua cho xây dựng nhiều chùa tháp to lớn tại kinh đô Thăng Long và khắp các địa phương. Nhờ đó dần dần hình thành nếp sống, tình cảm tốt đẹp trong quần chúng mang đậm sắc thái văn hóa Việt khác với văn hóa Trung Quốc bị chi phối nặng nề bởi tư tưởng Tống Nho. Rất tiếc việc làm theo lý tưởng vì hạnh phúc của số đông, lấy nguyện vọng của quần chúng làm nguyện vọng của mình của vị quân vương về sau bị các Nho sỹ đứng trên lập trường Nho giáo thiển cận phê phán.
Sử quan Lê Văn Hưu viết trong "Đại Việt sử ký toàn thư" rằng: "Ngay sau khi lên ngôi, và dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long vua Lý Thái Tổ đã hạ chiếu xây dựng tám cảnh chùa ở phủ Thiên Đức. Trong Hoàng Thành lập chùa Hưng Thiên, ngoài thành lập chùa Thắng Nghiêm". Như vậy kinh đô Thăng Long từ thời đầu đã có nhiều chùa chiền to lớn". Nếu đối chiều các cổ vật bằng đá, đất nung... được khai quật, phát hiện trước đây tại các di tích Phật giáo thời Lý Trần với các hiện vật được khai quật khảo cổ trong phạm vi hoàng thành Thăng Long năm 2002-2003 thì thấy chúng rất giống nhau về chất liệu, biểu tượng, hoa văn trang trí chứng tỏ thời Lý Trần cung điện và chùa chiền được triều đình chủ trương xây dựng quy mô lớn như nhau.
Điều này khiến cho sứ thần Lê Văn Hưu từng nhận xét: "Lý Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng sỹ hơn một ngàn người ở Kinh Đô... Thái Tổ làm gương như thế chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa bằng đá, điện thờ Phật lộng lẫy hơn cung vua".
Nhờ cuộc khai quật khảo cổ học năm 2002-2003, chúng ta may mắn tiếp cận được nhiều loại hình cổ vật qua các triều đại. Nhìn ngắm di sản của tiền nhân truyền lại, ông không khỏi trăn trở:
* Làm sao khôi phục được An Nam tứ đại khí, từng là niềm hãnh diện của dân tộc, biểu tượng của văn hóa mỹ thuật Đại Việt đã bị giặc phương Bắc, phương Tây xâm lăng phá hoại: tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh.
* Làm sao giải mã được ý nghĩa chính xác các biểu tượng, hoa văn, văn tự... trên các loại hình cổ vật đã được khai quật để chúng ta hiểu được định hướng của tổ tiên trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt .
* Tại sao những thành tựu về kiến trúc, mỹ thuật trang trí trải qua các triều đại độc lập tự chủ Lý, Trần, Lê càng ngày càng bị mai một. Hoặc nếu gần đây được trùng tu tôn tạo cũng dần dần lai tạp trở thành "nửa ta nửa Tàu" hoặc "nửa Tây nửa ta", nếu không kịp thời chấn chỉnh, có thể đất nước chúng ta đang bị xâm lăng văn hóa mặc dù nhiều người vẫn hô hào trở về với truyền thống dân tộc!
Vật sẽ tìm đến với người ưa thích
Trần Đình Sơn sinh ra trong một gia đình "danh gia vọng tộc" ở Huế, ông cố là Trần Đình Bá, Phó Bảng, Tổng đốc Nghệ An, Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn, rất ham mê sách nên đã để lại gia tài cho người cháu nội đời thứ 3 là tủ sách Phước Trang nổi tiếng thời bấy giờ. Kho sách tại gia nổi tiếng ở TP.HCM hiện thời với những cuốn sách Hán Nôm và sách quốc ngữ, ngọai ngữ .
"Kho sách" tại gia của ông với hơn 7000 cuốn toàn sách quý hiếm rất nổi tiếng ở TP. HCM, song ông cho rằng ở thành phố này còn nhiều tủ sách gia đình quý hiếm, phong phú hơn nữa, nhưng có thể vì nhiều lý do mà chủ nhân chưa chịu trình làng khiến ít người biết. Riêng tủ sách của gia đình ông có nhiều tài liệu lịch sử, văn học, tôn giáo bằng chữ Hán Nôm của tiền nhân để lại. Cụ Vương Hồng Sển cũng tặng ông thêm một số sách quý hiếm thời Đông Dương.
Trần Đình Sơn không được đào tạo chuyên ngành Hán Nôm, mà chỉ theo truyền thống gia đình học hỏi và ham mê từ thưở nhỏ. Sau này ông học thêm qua thơ văn trên đồ sứ cổ hoặc một các bản kinh sách Phật giáo. Ngày nay ngôn ngữ đó cũng là một thứ "cổ vật" - phi vật thể, rất ít người còn ham mê theo đuổi, do đó ông ước mong di sản Hán Nôm của tiền nhân để lại được phiên dịch càng nhiều càng tốt, giúp cho các thế hệ trẻ tìm hiểu lịch sử, văn hóa truyền thống đầy đủ, chính xác hơn.
Là người có tín ngưỡng Phật giáo, ông tin tưởng điều gì đủ nhân, duyên thì sẽ được thành tựu. Ông thường nói với các bạn trẻ rằng: người xưa có dạy "vật thường tìm đến với người ưa thích nó", thế nên ai chú ý sưu tầm các loại cổ vật Việt Nam, tìm hiểu đến nơi đến chốn sẽ phát hiện được những thông điệp của người xưa gửi gắm qua thơ văn, điển tích thể hiện trên các vật dụng sinh hoạt, bổ sung cho việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa nước nhà.
HÀ HƯƠNG
http://www.tuanvietnam.net/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
