Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

Thơ Lữ Thượng Thọ

TIỄN KINH KHA

Đưa người bầu rượu rung trong gió
Lạnh một dòng sông, lạnh Kiếm Thần
Ba nghìn tân khách bên sông Dịch
Một chiếc đò qua, mấy kẻ buồn?

Gươm vỗ không kêu nên không chém được
Thép lạnh đưa hồn đến cõi xa
Rượu uống chưa say, bầu dốc ngược
Ướt nhèm Thân thế dưới trăng tà.

Trăng ngà đẹp như bàn tay mỹ nữ
Ai vô tình mà cất một lời khen
Vợ của bạn đẹp qua từng giọt rượu
Tráng sĩ mà không dằn được cơn thèm

Ai đưa người ta không đưa người
Còn rượu đây ta uống một mình thôi
Không đưa đón, bởi không cần đưa đón
Mà tháng năm vẫn cứ lạnh lùng trôi

Đò ra giữa dòng, biết mình là dại
Ai thay ai? Mà ai mượn tay ai.
Kẻ chống kiếm nhìn lối về thăm thẳm
Trong túi chiến bào, khô một bàn tay.

12 / 1990

Lữ Thượng Thọ
http://art2all.net



Thứ Năm, 7 tháng 10, 2010

Thơ Lê Ngọc Quang

Một bạn đọc, Lê Ngọc Quang ở Hà Nội gởi bài thơ. Xin chép lại để cùng thưởng thức.

VẪN CÒN THƯƠNG MÃI HUẾ ƠI

Nhớ một chiều trở lại Huế thương
Bóng hàng cây nghiêng nghiêng giọt nắng.
Góc phố xưa quen quen đường nhỏ
Hẹn hò em mưa chợt ùa về.
Lao xao tiếng rơi mềm trên áo
Nép mình ao ước mãi bên nhau.
Từng chiều cùng em ngược Kim Long
Ngắm khói lam dưới chân Thiên Mụ.
Chuông ngân nao lòng người xa xứ
Một cõi thinh không ngập trĩu lòng.
Mái chèo khua sông hương lấp lánh
Hàng Phượng khoe sắc tuổi học trò.
Tan lớp áo dài ơi, tím Huế
Đong đầy nỗi nhớ Huế thương ơi.

( Hà Nội- Lê Ngọc Quang )

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2010

Thơ Từ Hoài Tấn

Niềm cô quạnh khôn nguôi

Những con đường ôi những con đường không gặp một con đường nào cả
Sụ im lặng của ngọn lá nằm bên lề
Thinh không nghe gì tiếng hát âm âm u u
Bóng mây tan vào buổi xế

Em bước đi trên con đường này không gặp một con đường nào cả
Không gặp một ai
Không nghe một lời vang mù mù xiêu xiêu
Đội chiếc mũ trắng ra đi vào chặp tối

Ta ở trên con đường này không gặp một con đường nào cả
Ngày mùa thu ngai ngái mùi rơm xưa chốn nội đồng
Năm mười chin tuổi băng qua cơn lũ màu xanh ở phía đồng bằng ấy đã trở thành nỗi ám ảnh
Như một mũi tên lao vào hư vọng
Con đường dài không gặp một con đường nào cả



Công chức

Buổi sáng ngọ nguậy dậy
Vươn vai một lát
Rửa mặc súc miệng
Chải đầu
Ra ngồi ghế
Mang chiếc vớ
Mặc áo quần
Thắp hương bàn thờ ông địa
Lại nằm võng đu đưa một lát
Nghe tiếng rao xôi cúc ngoài hẻm
Bảy giờ sáng
Chuẩn bị đi làm
Đi làm đi làm
Không đi làm thì làm gì

TỪ HOÀI TẤN

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010

Ra mắt sách về đồ sứ ký kiểu thời Lê - Trịnh


Ông Trần Đình Sơn giới thiệu tập sách - Ảnh: L.Điền

TT - Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn vừa ra mắt tập sách Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê - Trịnh (1533-1788) khảo tả các loại cổ vật dùng trong cung vua phủ chúa như tô, bình, chén, đĩa, nai rượu, ấm trà, chậu rửa... một thời gắn liền với kinh đô Thăng Long.
Tập sách ảnh khổ lớn (26x30cm) giới thiệu chi tiết các hiện vật và hoa văn họa tiết những cổ vật thời Lê - Trịnh, giai đoạn xuất hiện các loại đồ ký kiểu ở Thăng Long.
Tại buổi giới thiệu sách sáng 2-10, ông Trần Đình Sơn phân tích hoàn cảnh lịch sử Việt Nam dẫn đến sự ra đời triều đại Lê - Trịnh, và chính bối cảnh chiến tranh kéo dài giữa họ Trịnh phù Lê đánh nhau với nhà Mạc khiến các vùng gốm sứ truyền thống của Việt Nam bị điêu tàn, thất tán nghệ nhân và dần dần bị mai một.
Đồ sứ ký kiểu là hình thức các đồ ngự dụng Việt Nam đặt nghệ nhân Trung Quốc (về sau có cả các nước phương Tây) làm theo kiểu của vua quan nước ta. Bằng công trình này, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn không những giới thiệu các cổ vật quan trọng quý hiếm ít người sưu tầm được, mà còn nghiên cứu giải thích rõ các thuật ngữ gắn liền với cổ vật ấy mang thông tin và giá trị lịch sử như thế nào.
LAM ĐIỀN

Trần Duy Phiên : Ý Thức và Tôi


Khác với các anh ấy - thành phần chủ đạo và rường cột, tôi là khách của Ý Thức. Bây giờ nhớ lại khó mà xác định thời điểm nào nhưng không thể sau 1960, lần đầu tiên tôi được mời đến sinh hoạt với Gió Mai - tên gọi ban đầu của Ý Thức. Cũng không nhớ nỗi nơi đến và hôm ấy có những ai, chỉ biết đó là một địa điểm tại Huế và người ân cần tiếp tôi là Trần Hữu Ngũ (bút hiệu Thuỳ Linh - Ngy Hữu). Hình thức sinh hoạt như hội nghị bàn tròn văn nghệ. Hôm ấy, Ngũ đặt vấn đề viết cho ai? viết thế nào? Tôi hăng say phát biểu.

Thời ấy ở Huế, lớp trẻ chúng tôi thường thành lập những nhóm sinh hoạt văn nghệ nhỏ (Có phải do ảnh hưởng của Tự Lực Văn Đoàn?). Trước khi đến với Gió Mai, tôi đã có dịp đọc một số sáng tác của nhóm ấy đăng ở báo Công Dân và ở một tạp chí viết tay - truyện ngắn của Lữ Quỳnh, kịch thính phòng của Lữ Kiều... và thầm mến phục.

Lúc ấy tôi cũng có nhóm riêng - nhóm Văn Nghệ Mới, và học chưa qua bậc trung học. Văn Nghệ Mới là nguyệt san chép tay, ra tới 28 số thì tan đàn rẻ nghé. Tôi vào đại hoc. Rồi sau đó, chiến tranh leo thang, những biến động chính trị dồn dập, những cuộc xuống đường của phong trào học sinh ở Huế, ở Sài Gòn lan dần đến các đô thị miền Nam. Năm 1964, tôi cùng Bảo Cự và Trần Đình Vỹ thành lập nhóm Hồng Sơn thu hút những sinh viên của năm trường đại học ở Huế (Sư Phạm - Văn Khoa - Luật Khoa - Khoa Học và Y khoa) đáp ứng ba sinh hoạt của nhóm: Văn hoá - Xã Hội - Kinh tế. Phong trào đấu tranh năm 1966, nghiền nát những ước mơ của chúng tôi từ trong trứng nước. Bốn năm tôi ngồi ghế đại học là bốn năm sôi sục đấu tranh. Ai chiến thắng còn tôi thì chiến bại - ra trường bị đẩy lên dạy học tít tận Kontum - một tỉnh biên cương cận kề trận địa. Nhưng không thể dập tắt trong tôi ham muốn viết lách.

Tết Mậu Thân tôi từ Kontum về Huế. Nói là về quê ăn Tết nghỉ Tết nhưng có ăn nghỉ được gì! Khuya mồng một Tết, chiến trận ập vào thành phố. Sáng mồng hai, tôi từ nhà ở đường Chu Văn An đưa chị và các cháu chạy lánh bom đạn ở Tiểu Khu. Đất hẹp người đông, người ta đục thủng tường rào và chuyển dân qua khu trường Đại Học Sư Phạm. Trong lây lất đói khát, tình cờ tôi gặp Trần Hữu Lục từ Vân Dương băng qua Đập Đá chạy lên. Rồi sau đó, Nguỵ Ngữ, Từ Hoài Tấn, Thân Trọng Minh(bút hiệu Lữ Kiều - Nàng Lai)...Người ta phát chẩn gạo theo sổ gia đình, tôi thành lập một tờ khai và đứng tên chủ gia đình. Gia đình gì mà toàn cả văn thi sỹ! - Khi kiểm tra, người phụ trách thắc mắc nhưng rồi cũng phát!

Mùa hè năm 1969, tôi lại từ Kontum về Huế cùng với Tần Hoài Dạ Vũ làm tờ Việt - báo bất hợp pháp, in rô-nê-ô. Chính quyền thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh và khe khắc với mọi sinh hoạt của giới trẻ. Báo Việt chỉ tồn tại chừng một năm. Sau đó di cư vào Sài Gòn xin đất của Đối Diện để sinh hoạt, gánh nặng bây giờ ở trên vai của Trần Hữu Lục và Trần Minh Thảo. Cũng trong khoảng thời gian ấy, tôi được biết Gió Mai cũng tha phương, nghe đâu tạm cư ở Phan Rang và cho ra tờ Ý Thức, bất hợp pháp, in rô-nê-ô. Từ Kontum, tôi sửng sốt và hân hoan đón nhận Ý Thức. Tiếp đó, tôi gởi tác phẩm của mình về tham gia.

Một hôm, đang trong giờ dạy, tôi được văn phòng báo có khách. Huỳnh Ngọc Sơn - đồng nghiệp và cũng là thành viên của Việt - cùng với một người lạ đang chờ tôi ở hành lang. Gặp nhau mới biết anh ta là Nguyên Minh - thành viên cốt cán của Ý Thức. Tôi xin nghỉ hai giờ sau, chúng tôi đưa Nguyên Minh đến Câu Lạc Bộ Thanh Niên đầu cầu Dakbla. Minh cho hay anh từ Sài Gòn bay lên đây với mục đích thương lượng để xuất bản truyện dài ĐỐT LỬA SAU MÂY của tôi đã đăng mấy kỳ trong tờ Việt. Chúng tôi nhâm nhi và nói chuyện văn nghệ cho đến ba giờ chiều, tôi đưa Nguyên Minh lên phi trường và anh về lại Sài Gòn trong ngày.

Chiến cuộc năm 1972, Kontum bị bao vây, chỉ thoát ra bằng máy bay. Gia đình tôi phải xé lẻ để di tản. Tôi là người thoát sau cùng. Chạy qua bốn tỉnh về tới Phan Rang tôi mới gặp lại vợ con và các em. Những ngày hè vô công rỗi nghề, tôi ngồi viết trong nắng nóng. Rồi tôi đi tìm Trần Hữu Ngũ. Vợ chồng Ngũ vừa lấy nhau và đang tá túc ở một căn phòng nhỏ của hội quán Hướng Đạo(?). Thiếu cơm thiếu áo thiếu nhà, gặp nhau chúng tôi lại say sưa nói chuyện văn nghệ. Tôi sống ở Phan Rang chừng bốn tháng. Sau đó về lại Kontum, tiếp tục dạy học. Tôi vẫn lai rai gởi bài cho Ý Thức. Và tôi có dịp đọc thêm sáng tác của Trần Hữu Ngũ, Đỗ Nghê, Nguyên Minh, Lê Ký Thương, Châu Văn Thuận, Hồ Thanh Ngạn...

Chiến cuộc năm 1975 - mùa xuân đại thắng, hoà bình lập lại, cuộc sống cơ cực tối mắt tắt đèn. Đâu không rõ, lúc bấy giờ ở địa phương tôi đi ra khỏi tỉnh phải xin giấy phép. Rắc rối như thế nhưng năm 1978, tôi có việc phải về Phan Rang. Và tôi lại tìm thăm Trần Hữu Ngũ. Chúng tôi gặp nhau mà lòng đứa nào cũng nặng trĩu gánh cơm áo và thế sự. Tôi cho Ngũ hay mình đã xin thôi dạy, hiện đang miễn cưỡng làm cán bộ phường với trợ cấp 12 đồng mỗi tháng. Ngũ cho tôi hay anh không đến nỗi bức bách cỡ ấy. Với cái máy quay Rô-nê-ô tao hái ra tiền lẻ dài dài - Ngũ tâm sự - Tao cũng không muốn đi dạy nhưng vợ tao không đồng ý, khuyên tao cố bám công nhân viên nhà nước để khỏi phải đi kinh tế mới. Gần ba ngày chuyện vãn với nhau, chúng tôi không bao giờ nghĩ tới và nói tới văn nghệ! Cũng không đứa nào nhắc tới bạn bè trong nhóm. Tôi về lại Kontum, mỗi khi nhớ Ngũ vẫn cảm thấy thiếu vắng một cái gì trong cuộc tao ngộ.

Sau năm 1985, nhân đọc Nghị Quyết 5 của Trung Ương nói về Văn Hóa Văn Nghệ, tôi thực sự phấn khởi, mày mò cầm bút trở lại và sinh hoạt trong một câu lạc bộ nhỏ ở thị xã Kontum.

Năm 1989, trên đường trở về từ Sài Gòn, tôi ghé lại Nha Trang thăm bạn bè. Tôi đi với Ngô Văn Ban, Thế Vũ đến chơi nhà Lê Ký Thương. Trong cuộc vui, Thương cho hay anh giã từ cầm bút chuyển sang cầm cọ. Rồi anh trưng ra một số tư liệu hội họa và mấy bức tranh anh vừa hoàn tất. Tôi là người viết văn làm thơ, gặp một bạn viết văn làm thơ lại đem chuyện hội họa ra kháo nhau! Ý Thức chết rồi ư? Tôi thương mình ế độ. Tôi thương Ý Thức mệnh yểu. Đã thế, khi chia tay, Lê Ký Thương giao cho tôi bản thảo TIẾNG VẠC KÊU SƯƠNG - một bộ tiểu thuyết ba tập, viết rất công phu - mà không một ký thác nào! Tháo bỏ cái cục nợ bằng cách này? Rõ ràng Ý Thức chết rồi! Thôi đừng nói nữa mà nghe đau.

Mãi cho đến đầu hè năm 2000, tình cờ tôi tiếp một cú điện thoại mà tưởng mình mơ. Phiên đấy ư? Minh đây. Thân Trọng Minh, Phiên còn nhớ không? - Giọng Huế, rất gần gũi. Minh ư? Nhớ chứ - Tôi thật sự xúc động. Mình đang ở Pleiku, sẽ qua Kontum ngay bây giờ. Mình đi cùng vợ và Lê Ký Thương - Minh nói. Vậy nhớ ghé và ở lại nhà mình - Tôi nói - Nhà mình chẳng là gì nhưng được cái rộng rãi. Tôi cúp máy và báo ngay tin vui cho nhà tôi hay. Cả hai vợ chồng gấp rút sửa soạn. Hơn một giờ sau, các bạn đã có mặt. Ba mươi hai năm dâu bể, một cái bắt tay! Vợ Minh là Hằng - một phụ nữ xinh đẹp khả ái, dám gởi con cho mẹ theo chồng điền dã cao nguyên để tìm đề tài hội họa. Lê Ký Thương tôi biết cầm cọ từ lâu, còn Thân Trọng Minh cũng không muốn cầm bút viết văn nữa sao? Không hẳn thế. Ngay sau đó, vợ chồng Minh tặng tôi một số bức ảnh chụp các hoạ phẩm của mình, kèm theo hai tác phẩm vừa mới xuất bản : KẺ PHÁ CẦU - tập kịch của Lữ Kiều. Và CUỘC ĐI DẠO TÌNH CẢM - tập truyện của nhiều tác giả. Lê Ký Thương cũng tặng tôi hai tập do anh dịch đã xuất bản: MỘT NỖI ĐAU RIÊNG - tiểu thuyết của KENZABURO OE. Và PHÙ THUỶ XỨ OZ - tiểu thuyết của L. FRANKBAUM

Khoảng cuối năm 2001, tình cờ tôi lại nhận một cú điện thoại của Thân Trọng Minh nữa. Vợ chồng mình vừa đi du lịch ở Mỹ về - Minh nói. Vui quá phải không? - Tôi cười và thầm nghĩ cái số anh ta sướng có khác - ngày xưa qua Pháp tu nghiệp nay lại qua Mỹ rong chơi. Phiên có biết ai lo liệu in tác phẩm KIẾN VÀ NGƯỜI của ông ở Mỹ không? - Minh đố. Không - Tôi nói. Hoàng Khởi Phong đấy! - Minh nói to, rõ từng tiếng nhưng tôi không tin tai mình. Hoàng Khởi Phong là bạn văn chương của tôi cách nay 28 năm. Thuở ấy anh là sỹ quan, làm thơ. Anh từ Pleiku đổi sang Đà Lạt, sau biến cố 75, thì tít mù chẳng biết sống chết nơi đâu. Chúng tôi tìm nhau mà chơi vì duyên nợ văn chương. Người xưa tương kính vì tài đức. Chúng tôi không dám sánh, chỉ biết chúng tôi ăn ở với nhau vì tình nghĩa như đạm thủy. Cái giọt nước trong không gợn chút cặn bã lợi danh vinh hoa quyền thế ấy gắn kết chúng tôi nghìn trùng xa cách.

Hôm qua mở hộp thư điện tử. You have 01 unread message. Tôi vọi check mail. Thư của Nguyên Minh hối thúc tôi viết một hồi ký về Ý Thức và gởi ngay. Báo cho Phiên hay trước năm 1975 Hoàng Khởi Phong là một trong số anh em chủ trương tạp chí Ý Thức - Cuối thư Nguyên Minh cước chú. Thế ư? - Tôi ngẩn cả người! Bao nhiêu năm chơi với nhau có nghe anh ấy nói đâu! Nhưng tôi tin Nguyên Minh.

Thì ra, trước sau xa gần, tôi không thể không là bạn của anh em Ý Thức. Tiền định ư?./.
Trần Duy Phiên

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2010

Nguyên Minh : Một Thời Ý Thức 1970 - 1975


Bìa Ý Thức số 1- ngày 01.10.1970
Tưởng rằng văn chương chỉ là một đam mê nhất thời của tuổi trẻ. Cuộc sống ê chề, nặng đè làm còng lưng với những lo toan về cơm áo... Cơn lốc biến động lịch sử đã cuốn mất hút những dấu tích của một thời làm văn học nghệ thuật mà chúng tôi đã gầy dựng qua tạp chí và nhà xuất bản Ý Thức tại miền Nam trong thập niên 70. Kể từ năm 1975, bao nhiêu năm sau đó, những khó khăn về kinh tế của đời sống áo cơm cùng những khổ đau về tinh thần, nhiều người trong chúng tôi đã im lặng, xếp bút. Anh em sống tản mác, trong nước có, hải ngoại có. Bây giờ tuổi đã xế chiều, tóc bạc phơ và lòng cũng chùng xuống. Văn chương chữ nghĩa của một thời trai trẻ giờ lại thôi thúc mình như cái nghiệp trọn đời phải trả.

TẠP CHÍ Ý THỨC: NHÓM CHỦ TRƯƠNG:

Đầu tiên, tại Huế vào năm 1957, vào thời ấy ở Huế thường có những nhóm văn thơ tập trung chín mười anh em, tuổi chưa tới hai mươi, thường là những học sinh, sinh viên, như nhóm Thiên Thanh, Hai Mươi, v.v… Nhóm chúng tôi được mang tên Gió Mai. Gồm có Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Hoài Linh, Thùy Linh (Ngy Hữu Trần Hữu Ngũ), Hồ Thủy Giũ, Nguyên Thạnh (Nguyễn Mậu Hưng), Thiên Nhất Phương (Châu văn Thuận), Nguyên Minh. Hồ Thanh Ngạn… Hàng tháng ra một số báo, bài vở tác giả tự viết tay, tập trung lại đóng thành một tập duy nhất, rồi truyền tay nhau mà đọc. Thỉnh thoảng ra một vài tập thơ của từng tác giả như U Hoài thơ của Lữ Kiều, Thác Loạn của Lữ Quỳnh, Những Người Cùng Đi tuyển tập thơ của nhiều tác giả. Tuyển tập thơ văn Gió Mai, in ronéo. Hết bậc trung học ở trường Quốc Học, anh em bắt đầu tản mác. Lữ Kiều, Nguyên Thạnh vào Sài Gòn học Y Khoa, Thùy Linh, Hồ Thủy Giũ, Nguyên Minh vào Sư Phạm Qui Nhơn, Lữ Quỳnh, Hồ Thanh Ngạn nhập ngũ, ở Huế chỉ còn Châu văn Thuận vào Đại học Sư phạm. Từ đó Gió Mai không ra báo thường xuyên. Tại Qui Nhơn, Thùy Linh, Nguyên Minh, Hồ Thủy Giũ, cùng bài vở của anh em trong nhóm từ xa gởi về làm một số Gió Mai tha hương, Chủ biên: Thùy Linh (Trần Hữu Ngũ).

Năm 1967, tại Phan Rang, khi Ngy Hữu và Nguyên Minh về dạy học tại đó, tập họp bài vở anh em trong nhóm ở xa làm một số Xuân Gió Mai, in roneo, khô 21x30. Đến năm 1969, Gió Mai mở rộng và đổi tên là Ý Thức, hai tháng ra một số báo, in ronéo. Lúc này, nhóm chủ trương có thêm Trần Hữu Lục, Lê Ký Thương, Võ Tấn Khanh, Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Tòa soạn : Theo chân người viết. Thực ra là 11 Nguyễn Thái Học. Phan Rang.

Báo ra được 6 số thì dọn vào Sài Gòn, ra chính thức Bán nguyệt san văn học nghệ thuật, in Typô rồi đến Offset, phát hành rộng rãi toàn quốc. Tòa soạn đặt tại 666 Phan Thanh Giản, Sài Gòn. Chủ nhiệm trên pháp lý là Dược Sĩ Nguyễn thị Yến, một người bạn gái của Nguyên Minh, không biết gì về văn chương, trên thực tế là Nguyên Minh với chức danh trên giấy phép do Bộ Thông Tin cấp là Tổng Thư Ký. Tại tòa soạn, những số báo đầu tiên có Thái Ngọc San, Nguyễn Mai phụ tá, sau đó có Võ Tấn Khanh, Lê Ký Thương vào giúp sức với Nguyên Minh. Báo ra 24 số thì tạm đình bản. Đầu năm 1975, Ý Thức ra bộ mới do Lữ Kiều chủ biên. Báo vừa in xong số 2 tháng 3 năm 1975 xảy ra, chưa kịp phát hành.

CỘNG TÁC VIÊN:

Kể từ Ý Thức thời quay ronéo đã có thường xuyên các truyện ngắn, thơ của Tần Hoài Dạ Vũ, Mường Mán, Đông Trình, Doản Dân, Nguyễn Kim Phượng, Hồ Minh Dũng, Từ Hoài Tấn, Luân Hoán, Chu Trầm Nguyên Minh, Thế Vũ, Nguyễn Lệ Tuân, Thái Ngọc San…

Ý Thức thời in Typô và offset có thêm Trần Nhựt Tân, Huỳnh Hữu Ủy, Nguyễn Ước, Huỳnh Ngọc Sơn, Bảo Cự, Trần Duy Phiên, Nguyễn Lệ Uyên, Mang Viên Long, Bùi Giáng, Huy Tưởng, Từ Kế Tường, Nguyễn Tôn Nhan, Lê Văn Thiện, Phạm Ngọc Lư, Phan Việt Thủy, Trịnh Công Sơn, Kinh Dương Vương, Nguyễn Xuân Thiệp, Huỳnh Phan Anh, Cao Hữu Huấn, Phan Tấn Uẩn, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Phan Thịnh…

Hình Thức: Chữ Ý Thức thời ronéo do Lê Ký Thương kẻ. Khổ báo là 21x30. Đánh máy trên stencil là Chị Hồ Thị Kim Phương, một người bạn gái của Nguyên Minh, rất sính văn chương, tẳn mẳn đếm từng chữ để canh hai bên lề ngay ngắn, không khác gì sắp chữ chì in typô.

Khi Ý Thức chính thức có giấy phép của Bộ Thông tin, khổ báo được đổi thành 14x2O. Số 1 bìa do Lê Ký Thương trình bày. Số 2 do Đỗ Quang Em. Số 3 do Vị Ý. Số 4 đến số 7 trở lại Lê Ký Thương. Số 8 tranh bìa Hoàng Ngọc Biên.

Bắt đầu số 9, Ý Thức lại thay đổi khổ báo, hình vuông 19x19. Bìa và ruột do Nguyễn Bom trình bày, rất mới lạ. Số 12, tranh bìa của Bửu Chỉ: Quê hương ta ngày trùng tu. Số 18, tranh bìa của Hồ Đắc Ngọc. Số 21 Ý Thức chuyển qua in offset. Lê Ký Thương trình bày và kỹ thuật in do Nguyên Minh chăm nom.

NHÀ IN:
Rô-nê-ô Nguyễn, 11 nguyễn Thái Học, Phan Rang.

Khi báo còn mang tên Gió Mai, số Xuân 67, bài vở của anh em Ngy Hữu đánh máy chữ trên tờ stencil bằng máy đánh chữ xách tay của nhà trường mà Ngy Hữu làm hiệu trưởng, và tôi nghĩ ra cách in rô-nê-ô không cần máy quay, chỉ cần một quai guốc nylon kẹp giữa hai miếng gỗ, đổ mực đen lên thẳng tờ stencil, phía dưới là tờ giấy trắng, rồi kéo mực xuống, thế là có một trang in. Bằng cách thủ công đó chúng tôi đã in xong một tập san văn nghệ dày cả 100 trang, số lượng 100 cuốn. Chữ nghĩa rõ ràng không lem nhem như một số báo thời đó in rônêô, phổ biến hạn chế thỉnh thoảng xuất hiện trong vài nhà sách.

Sẵn dịp tôi đến chơi với anh Mạch Chí Quang, chủ nhà in Nghệ Thương, Phan Rang, thấy có một máy quay Rônêô bỏ không trong một xó phòng. Anh Mạch gợi ý tôi đem về mà dùng, tiền bạc chẳng bao nhiêu, đưa làm hai lần, mỗi lần là một tháng lương của tôi, 5000 đồng. Trị giá một lượng vàng. Tôi mừng quá, đồng ý ngay và khiêng máy ngay về nhà. Để khỏi phiền phức, nguy hiểm cho tôi, người chị kế của tôi lo giấy phép của Tỉnh được quyền mở cơ sở in ấn mang tên Rônêô Nguyễn. Tôi phải mua thêm hai máy đánh chữ đặc biệt có corp Roman để giống như chữ chì in sách. Chị Hồ Kim Phương, ngồi gõ từng chữ, thật chậm và mạnh tay để làm thủng đều màn sáp trên tờ stencil. Tôi làm vệ sinh và trang bị lại những phần hư hỏng của máy quay. Tôi phải nhờ Lữ Kiều, lúc bấy giờ còn là sinh viên Y khoa tìm mua hộ tôi một máy xén giấy rồi gởi qua chành về cho tôi. Thế là tôi có đủ phương tiện để in báo, làm đẹp tờ Ý Thức. Trong thời điểm này Ý Thức đã xuất bản tập truyện “Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang” của Trần Hoài Thư. Bìa do Lê Ký Thương trình bày. Số lượng 1000 cuốn. Độc giả và bạn hữu không thể nghĩ tập truyện đó in bằng phương pháp rônêô, cứ nghĩ là in Typô tại nhà in lớn ở Sài Gòn.
Nhà in Đăng Quang 734A Phan Thanh Giản, Sài Gòn.

Khi chị Mai, người chị đầu của tôi, từ Nha Trang về thăm nhà, thấy tôi hì hục quay tài liệu sách giáo khoa cho các trường học, anh em bạn bè có Lê Ký Thương, Võ Tấn Khanh, Trần Hữu Ngũ, chị Hồ Thị Kim Phương và các em tôi cùng nhau làm việc, người xén giấy, kẻ đánh máy, tôi quay máy in, các em tôi cùng phụ nhau bắt cuốn, đóng thành tập. Chị gợi ý tôi vào Sài Gòn cùng chị, mua nhà cũ ở mặt tiền, cất lại thành nhà cao tầng và mở nhà in. Tôi phải giải thích cho chị, vào Thủ đô muốn mở nhà in phải trang bị máy móc tối tân hiện đại. In Typô tôi chưa rành nói chi đến offset. Chị khuyên tôi: Không biết thì học. Đúng. Thế là tôi nhờ các bạn trông coi tạm thời Cơ sở Rônêô để theo chị Mai vào Sài Gòn. Tôi phải vào tập sự ở nhà in riêng của Nhà xuất bản Thương Yêu của Nhã Ca, Trần Dạ Từ. Ở đây tôi nắm rõ về sắp chữ chì và máy in Typô khổ lớn.
Trong khi chờ đợi ngôi nhà bốn tầng cất xong của chị Mai và chờ đợi máy in offset tự động chị Mai đặt mua ở Ý chuyển về Việt Nam, tôi tạm thời tìm một nhà in ở gần nhà để in Tạp chí Ý Thức mà tôi đã được cấp giấy phép chính thức. Đó là Nhà In Đăng Quang, cách nhà chị tôi 100 mét. Chủ nhà in là một bà già gốc người Huế. Quản lý nhà in là anh Trần Quang Huề. Sau này giữa tôi và anh Trần Quang Huề gắn bó với nhau trong hệ thống phát hành Hàm Thụ.
Nhà in Thanh Bình, 666 Phan Thanh Giản, Sài Gòn.
Sau khi máy in offset tự động cùng các máy móc khác đã ráp xong hoàn chỉnh, tôi bắt đầu tổ chức
từ tổ xếp chữ chì, máy Typo, máy offset tự động, thư ký văn phòng, kế toán… Và tờ báo Ý Thức được in ofset. Lúc bấy giờ có Võ Tấn Khanh nhân dịp nghĩ hè, và Lê Ký Thương vào phụ giúp cho tôi từ kỹ thuật cũng như viết bài phỏng vấn… Từ căn phòng ấm cúng làm tòa soạn báo Ý Thức, nhà xuất bản Tiếng Việt, Hoa Niên, một phòng khác dùng để làm văn phòng nhà phát hành Hàm Thụ, đến việc in ấn báo Ý Thức và sách đều không tốn tiền, tất cả đều trừ vào lương bổng của tôi như đã thỏa thuận ngay từ lúc lập nhà in Thanh Bình. Vào thời này, năm 1971, tại Sài Gòn những nhà in trang bị máy offset chỉ đếm trên đầu ngón tay. Một nhà in tối tân như thế, mà từ chủ đến giám đốc và nhân viên đều mới tập tễnh bước vào nghề. Bây giờ nghĩ lại mà giật mình. Ngoài cơ sở Ý Thức in ấn tại đây, tôi cũng yểm trợ tiếp tay với Cha Nguyễn Ngọc Lan in mấy sách của nhà xuất bản Đối Diện như Cho Cây Rừng Còn Xanh Lá của Nguyễn Ngọc Lan, Cách Một Giòng Sông của Trần Hữu Lục, Phía Sau Mặt Trời Mọc của Trần Duy Phiên.

Nhà in Tiếng Việt 11 Nguyễn Thái Học, Phan Rang.

Năm 1974 tôi thành lập một nhà in riêng cho cơ sở Y Thức, không đặt tại Sài Gòn mà lại tại Phanrang, cũng 11 Nguyễn Thái Học, trước đó vài năm đã thành nhà sách Tiếng Việt. Tất cả máy móc rất gọn nhẹ và tối tân. Một máy offset tự động in khổ giấy A3. Hai máy đánh chữ điện IBM quả cầu. Cũng nhờ chị Hồ Thị Kim Phương và một cô em gái của người bạn tên Đỗ thị Hương Lan xử dụng. Phơi bản kẻm tôi tự làm lấy. Đứng máy in tôi và các bạn như Lê Ký Thương, Võ tấn Khanh thay phiên nhau. Tôi vẫn thường xuyên vào Sài Gòn trông nom cơ sở chính và trở về Phanrang bắt tay in báo Y Thức bộ mới và các tác phẩm của anh em trong nhóm.

NHÀ XUẤT BẢN.

Song song với nhà xuất bản mang tên Ý Thức còn có Tiếng Việt, Hoa Niên, Thời Xanh. Từ lúc còn mang tên Gió Mai, in ronéo, phát hành hạn chế, chúng tôi đã xuất bản: -Nội chiến, tập truyện của Ngy Hữu, Miền Hoang Vu, tập truyện của Nguyên Minh.

Khai trương nhà xuất bản Ý Thức thời ronéo là tập truyện Nỗi bơ vơ của bày ngựa hoang của Trần Hoài Thư.

Khi cơ sở Ý Thức dời về Sàigòn, tập truyện Cát Vàng của Lữ Quỳnh được xuất bản, bìa in offset do Đinh Cường trình bày, phát hành rộng rãi trên toàn quốc. Tuần tự, cũng mang tên Ý Thức, đã xuất bản: Những vì sao vĩnh biệt, tập truyện thứ hai của Trần Hoài Thư. Sau đó là Thời mù sương, tập truyện thứ hai của Lữ Quỳnh. Sách được in tại nhà in Thanh Bình.

In tại nhà in riêng offset đặt tại Phan Rang: Bếp lửa thơm mùi bả mía, tập thơ của Lê Ký Thương, Tình người, tập thơ của Đỗ Nghê (một bút hiệu khác của Đỗ Hồng Ngọc), Kẻ phá cầu, tập kịch của Lữ Kiều

Ý Thức, tủ sách Hoa Niên, dành cho thiếu niên, đã xuất bản: Đám tang đa đa, truyện dài của Nguyên Minh. Mưa qua thành phố, tập truyện của Nàng Lai (một bút hiệu khác của Lữ Kiều). Em bé bất hạnh, Anh hùng tí hon, của Trần Quang Huề. Tranh bìa bốn cuốn sách trên của họa sĩ Nguyễn Trung. Chim bay về đâu, truyện dài dành cho lứa tuổi 16, của Võ Tấn Khanh. Sách dịch có Cậu bé gỗ của Châu Lang (một bút hiệu khác của Châu văn Thuận), Trên ngọn hải đăng của Lê Ký Thương…

Mang tên nhà xuất bản Tiếng Việt, có Ngọn cỏ ngậm ngùi, tập truyện thứ ba của Trần Hoài Thư, Sông sương mù, tập truyện của Nguyễn Mai. Sách dịch có Mười hai năm bên cạnh Hitler của Nguyên Thạnh (bút hiệu của Nguyễn Mậu Hưng).

NHÀ PHÁT HÀNH SÁCH.

Do sự giới thiệu của anh Trần Quang Huề, cựu giám đốc Nhà Phát hành sách báo Thống Nhất, nhà Đồng Nai nhận độc quyền phát hành báo Ý Thức. Nhưng chỉ được 4 số thì họ trả về số lượng hơn một nửa, và các độc giả cho biết là các nhà sách tại tỉnh họ đều thiếu vắng khuôn mặt tờ báo. Muốn báo và sách do Y Thức xuất bản được có mặt mọi nơi, cũng nhờ anh Trần Quang Huề gợi ý là chúng tôi phải lập một hệ thống phát hành riêng. Sau khi tôi và anh Trần Quang Huề đi một chuyến từ Sài Gòn đến tận Quảng Trị, giao thiệp với các nhà sách có uy tín và sẳn sàng cung cấp sách mà họ yêu cầu. Về lại Sài Gòn, chúng tôi thành lập Nhà Phát hành sách mang tên NHÀ SÁCH HÀM THỤ do anh Trần Quang Huề làm giám đốc. Văn phòng cũng đặt tại 666 Phan Thanh Giảng. Được sự ủng hộ nhiệt tình của các nhà xuất bản có uy tín thời bấy giờ như An Tiêm, Lá Bối, Ca Dao, Cảo Thơm, Trí Đăng, Thương Yêu…, tạo điều kiện cho cơ sở phát hành chúng tôi vững mạnh. Ngoài sách ra chỉ có độc nhất có tạp chí Ý Thức kèm theo.

Để dể dàng chuyển sách đi miền trung và cao nguyên, tôi lập một nhà sách tại 11 Nguyễn Thái Học Phan Rang. Còn các tỉnh miền Nam thì kho sách tại Sài Gòn phụ trách. Hàng tuần chúng tôi đều chở sách bằng xe Toyota riêng đến các tỉnh.

Như chiếc ghế bốn chân, vững vàng không ngã. Dây chuyền đã khép kín. Trong tay đã có nhà in, nhà xuất bản, tạp chí Ý Thức và nhà phát hành, chúng tôi mới yên tâm, chuẩn bị cho ra tờ tạp chí Ý Thức bộ mới, và in các tác phẩm của anh em trong và ngoài nhóm.

Nhưng người tính không bằng trời tính. Mọi việc đều tan tành theo mây khói…/.
Nguyên Minh
nguồn : vanchuongviet.org