Kỳ 74 – 13.6.2011 (Trích đăng từ 1.1.2010)
741 - Vũ Thanh Hải
ĐẤU TRANH “TRÁNH ĐÂU”
Nông dân sinh tại Vĩnh Phúc. Sống ở Vĩnh Phúc (2010).
Năm 1971 nhập ngũ vào binh chủng tăng – thiết giáp chiến đấu ở miền Nam. Được kết nạp Đảng, được tặng thưởng 3 huân huy chương vì chiến công đánh Mỹ.
Năm 1994 xuất ngũ thương binh hạng 2.
Về quê Vĩnh Phúc được bầu làm trưởng thôn thuộc xã Tiền Phong, huyện Mê Linh.
Đầu năm 1999 đứng ra đấu tranh với một số cán bộ chủ chốt cấp xã có hành vị tiêu cực sai trái lạm dụng chức quyền gây hại cho người dân. Đấu tranh từ xã lên tới cấp huyện, kết quả được cấp trên ủng hộ đưa các ông quan xã bậy bạ đó ra tòa lãnh án
Nhưng bù lại ở địa phương, bản thân bắt đầu bị nội bộ tay chân quan chức cũ còn lại tìm cách o ép, hãm hại vu cho tội gây mất đoàn kết nội bộ để… khai trừ Đảng!
Lại phải bắt đầu một cuộc chiến đấu mới đòi lại đảng tịch hết sức gian nan mệt mỏi vẫn chưa biết bao giờ có có đoạn kết.
742 - Vũ Thành
BEETHOVEN VIỆT NAM
Nhạc sĩ Việt kiều Mỹ sinh 1926 tại Hà Nội – Mất 1987 ở Mỹ (62 tuổi).
Là nhạc sĩ trong thế hệ tiên phong làng nhạc VN từng nổi tiếng từ thời Tiền chiến, chuyên về hòa âm và chơi nhạc phòng trà hiếm hoi thời đó, có lúc làm nhạc trưởng ở Đài Hà Nội thời Pháp.
Năm 1954 di cư vào Nam gia nhập quân đội VNCH làm tới chức trung tá trưởng đoàn quân nhạc, trưởng ban văn nghệ đài phát thanh, 3 năm liền nhận giải thưởng âm nhạc của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Chuyên về nhạc thính phòng, đại hòa tấu, chỉ huy dàn nhạc từng tổ chức hòa âm cho 200 ca khúc xuất sắc để phổ biến công chúng miền Nam. Sáng tác không nhiều khoảng 20 bài đều theo khuynh hướng nhạc thính phòng cao cấp trong đó nhiều bài không lời. Nhạc có lời chỉ khoảng 5 bản song đều đạt chất lượng trình độ cao gồm”Giấc mơ hồi hương”, “Nhặt cánh sao rơi”, Gửi áng mây hàng”…
Biến cố 30.4.75 di tản qua Mỹ rút vào đời sống ẩn dật.
Về già mắc một số chứng bệnh ảnh hưởng từ môi trường nhạc giao hưởng, đại hòa tấu gần giống như thiên tài Đức Beethoven: Tai bị điếc, hư thanh quản nói không ra tiếng, đã vậy mắt mờ phải bịt giải băng đen chéo ngang mặt. Nhưng gặp bạn tri âm vẫn nói thều thào nghe tiếng được tiếng không vẫn xoay quanh chủ đề… âm nhạc muôn đời!
743 - Vũ Thành An
TỪ NHỮNG “BÀI KHÔNG TÊN” ĐẾN NHỮNG “BÀI NHÂN BẢN”
Nhạc sĩ Việt kiều Mỹ sinh 1943 tại Nam Định. Sống ở Mỹ (2011).
Tác giả của loạt ca khúc những “Bài không tên” nổi tiếng thập niên 60-70 ở Miền Nam, một số bài chủ lực bắt đầu viết từ 1963 xuất phát từ hoài niệm các cuộc tình tan vỡ của mình.
Làm phóng viên Đài Phát thanh Sài Gòn rồi bị gọi đi lính sĩ quan trường Thủ Đức năm 1967. Ra trường về lại đài phụ trách chương trình văn nghệ cùng một số chức vụ khá quá trọng ở đài. Lập gia đình 1969.
Sau 75 do làm quan chức đài phát thanh nên phải trải qua 10 năm cải tạo. Chính trong thời gian cải tạo đã mở ra cho mình một con đường hoàn toàn mới: Tìm đến với đạo Thiên Chúa, rửa tội trong tù sau khi nhờ một linh mục chỉ cách đọc kinh để quên đời mới dứt được căn bệnh kinh niên mất ngủ. Từ đó năm 1981 bắt đầu viết thánh ca từ trong tù.
Năm 1985 trở về thì vợ đã chia tay phải một mình “gà trống nuôi con.” Năm 1987 lấy vợ mới.
Đến 1991 mới qua Mỹ.
Sau khi qua Mỹ có bị tố cáo là trong trại cải tạo đã tỏ thái độ “đầu hàng cộng sản” được cho làm tổ trưởng khiến phải lên tiếng “xin lỗi”!
Ở Mỹ có làm thêm vài tình khúc sở trường -- “Bài không tên cuối cùng tiếp nối”, “Đời đá vàng”… -- và in tập “Vũ Thành An tình khúc toàn tập” gồm 40 bài không tên, 13 tình khúc “có tên”, 40 nhạc khúc phổ thơ.
Đến năm 2000 chính thức nói lời từ giã với thể loại tình ca bằng một đêm trình diễn tình ca cuối cùng để bước vào hành trình tu tập (học cao học thần học) để làm Trợ tế đạo Thiên Chúa, một chức mục vụ dành cho tín đồ phụ việc linh mục giống như cư sĩ bên đạo Phật. Đồng thời cũng từ đó chuyển sáng tác của mình qua một hướng khác là viết nhạc đạo là những “bài nhân bản” của thế giới tâm linh đưa tinh thần Phúc âm vào đó: “Năm 1966 tôi đã hứa rằng sẽ không viết nhạc tình nữa để dành thời gian và tâm sức vào con đường tâm linh đã chọn.” Thay nhạc tình bằng những tuyên ngôn mới như:
“Từ đầu trời cuối đất ta đã là người nhà
Về đầu trời cuối đất ta vẫn một mẹ cha
Hãy xích lại đây chắp tay nguyện cầu…”
(Bài “Nhân bản 1” năm 1983).
Những tuyên ngôn mới về niềm tin tôn giáo được “nhạc hóa” có vẻ không thành công lắm bằng các tình khúc xưa, bù lại năm 2001 được phong chức Phó tế Đạo Thiên Chúa ở tổng giáo phận Portland. Song song vẫn làm đài phát thanh hải ngoại và ngoài ra còn tham gia lập Quỹ cứu trợ Teresa năm 2003 nhằm giúp đỡ cứu trợ người già neo đơn ở VN.
744 - Vũ Thị Lưu
CÒN HƠN NHIỀU “EM HIỀN NHƯ MA SOEUR”
Nông dân sinh khoảng 1945 tại miền Bắc. Sống ở Đồng Nai (2011).
Trước 75 từ Vũng Tàu cả 3 chị em đều đi tu dòng Thiên Chúa, riêng mình tu học ở Cần Thơ.
Trong một dịp về vùng quê quen một thương phế binh chế độ Sài Gòn tín đồ cùng đạo bị mù và què phải đi đánh đàn bến xe độ nhật.
Sinh lòng thương cảm mới tình nguyện lấy làm chồng dù gặp sự phản đối của cả gia đình lẫn đồng đạo, thậm chí còn cho là mình bị “bỏ bùa”! Nhưng vẫn dũng cảm chấp nhận cởi áo nữ tu đi theo tiếng gọi của niềm tin tôn giáo chân chính, xem như đây là một cách làm theo lời Chúa dạy đi tu không chỉ là sống trong tháp ngà lý thuyết mà cần hướng ra cuộc đời bên ngoài trải lòng hy sinh phục vụ con người.
Đưa chồng về quê chồng ở Long Xuyên làm thợ may và làm mắm đem bán chợ nuôi chồng (chồng chưa kịp hoàn tất hồ sơ thương binh lãnh tiền phụ cấp chế độ cũ thì giải phóng).
Sau 1975, gia đình chồng vượt biên bỏ 2 vợ chồng ở lại nên phải đưa chồng về Vũng Tàu nhờ mẹ thương tình cho một mảnh đất ở xa làm nhà tạm mà ở (không dám cho ở gần sợ bị hàng xóm dị nghị), buôn bán vặt sống lây lất qua ngày.
Một thời gian sau, gia đình chồng gửi tiền về trợ giúp mua được mảnh đất ở Long Thành (Đồng Nai) dời về sinh sống tránh xa những ai quen biết thường tiếng ra tiếng vào chê bai dân “bỏ đạo”. Nhưng vẫn tạo dựng được mái ấm gia đình hạnh phúc đầm ấm, sinh được 3 trai ngoan khôi ngô đĩnh đạc.
Mẹ chồng còn làm giấy bảo lãnh qua Mỹ song tuy đã làm xong hồ sơ, cuối cùng người chồng thương phế binh lại quyết định không đi nữa như một cách cảm tạ ơn Thiên Chúa đã cho mình được hưởng phước lành nơi đây rồi mà nếu đi nơi khác chưa chắc gì đã được như vậy!
Năm 2006 chồng qua đời. Bây giờ con cái đã trưởng thành ra đời làm ăn đàng hoàng lấy vợ sinh cháu cho mình ẵm bồng, lòng càng thanh thản với niềm tin sống đạo giữa lòng nhân gian dù gian khó nhưng mới cao quý biết dường nào.
745 - Vũ Thị Minh Nghĩa
CHỊ “NĂM KHÙNG”
Bộ đội về hưu sinh 1952 tại Thái Bình. Sống ở Bình Dương (2011).
Gia đình nông dân, học chỉ mới tới lớp 7. Năm 1930 vào bộ đội chiến đấu trên chiến trường miền đông Nam bộ từ Long An đến Sông Bé, Tây Ninh. Làm y tá nên từng nhiều lần tự tay đào hố chôn xác đồng đội.
Sau 1975 về Hải Hưng sống, lấy chồng từng là lính lái xe Trường Sơn, sinh được 2 trai 2 gái. Năm 1978 được cho đi học Đại học Y ở Thái Bình
Năm 1992 được cho nghỉ mất sức hàm thượng úy.
Sau khi về hưu, gia đình ổn định con cái đã khôn lớn bỗng nhiên nằm ngủ thường gặp ác mộng mơ thấy cảnh đồng đội hy sinh thịt nát xương tan thê thảm mà nay không tìm thấy được, không biết lưu lạc về đâu. Tiếp đó mắc chứng đau đầu kinh niên không sao chữa khỏi dẫn đến một cơn bệnh nặng tới mức chết lâm sàng 12 tiếng đồng hồ rồi đột nhiên tỉnh dậy sống lại!
Từ đó phát sinh ra khả năng ngoại cảm có thể tiếp xúc với ngườøi “thế giới bên kia” chủ yếu là liệt sĩ đồng đội cũ về báo tin hài cốt mình hiện ở đâu. Nhiều người không tin mới gọi là mụ “Nghĩa điên”!
Bất chấp tất cả, năm 1985 một mình lên đường làm một cuộc “hành quân” mới quay lại chiến trường cũ Tây Ninh (và qua cả huyện Campuchia giáp ranh) để truy tìm hài cốt đồng đội.
Với bộ quân phục bạc màu đầu đội khăn rằn kiểu bà má Nam bộ mình từng quen trong chiến khu thời chiến tranh, mang theo ba lô đựng hành lý gạo, mì sợi, mắm muối và một cột vải ny lông tự lặn lội vào những cánh rừng xưa tìm bốc mộ đồng đội. Ở lại đó hàng tháng trời ròng rã, tìm được mộ thì cuốc lên nhưng đến phần hài cốt thì bỏ cuốc “sợ làm đau xương cốt bạn” mà phải dùng tay bới lên, xong dùng vải ny lông gói lại và đem về quy tập tạm trong một hang đá để lại tiếp tục tìm mộ khác. Hết gạo, mì sợi để ăn thì đào củ mài, hái lá tàu bay, trái cây lót dạ như bộ đội thời gian khổ trước kia, “tranh ăn” với cả… khỉ trong rừng!
Khi đã gom được kha khá bộ hài cốt – có ngày đào được 15-20 bộ hài cốt, có tuần khai quật được 54 bộ hài cốt tập thể thuộc một đại đội tử trận năm 1964 -- thì bỏ vào ba lô đeo sau lưng và trước ngực (hoặc bó lại từng bó gánh đi) đưa ra thị trấn ra khỏi rừng, lội quá suối thì phải đội tất cả lên đầu để tránh làm ướt hài cốt dù bản thân người gầy gò như con mắm. Đưa tất cả về chứa trong một căn nhà ở Bình Dương do một gia đình liệt sĩ cho mượn ở nhờ. Sau đó mới tìm truy ra tông tích gửi thư cho gia đình đến nhận (cả kỷ vật tìm thấy kèm theo) hoặc xin quy tập vào nghĩa trang liệt sĩ tỉnh.
Hoàn toàn làm không công, không ai tài trợ, không nhận tiền của ai kể cả tư nhân lẫn chính quyền.
Hài cốt chồng chất cả nhà, sống chung với hài cốt tự nhiên như không, có lúc hài cốt nhiều quá bày ra chật cả nhà khiến mình phải mắc võng mà ngủ! Nhiều người nhìn thấy sợ quá không dám héo lánh tới, mới đặt tên cho là bà “Năm khùng” (vì là con út thứ năm).
Đến năm 1999 một nhà hảo tâm khác thấy hài cốt bề bộn quá nhà gần hết chỗ chứa mới giúp tiền và đất cho lập một “nghĩa trang tình thương” ỏ Vũng Tàu để tạm thời chôn hài cốt nào chưa có người nhận gồm khoảng 600 mộ có dựng bia đàng hoàng (tính đến năm 2000).
Nơi đây vừa là nghĩa trang vừa là nhà ở cũng là địa chỉ để thân nhân liệt sĩ liên hệ nhận hài cốt hoặc nhờ mình tiếp tục tìm mộ người thân bộ đội mất tích. Cho nên ở nhà mỗi tháng chỉ vài ngày rồi lại lên đường vào rừng góp nhặt hài cốt còn sót lại, công việc nghĩa trang giao cho con cái trông nom.
Bây giờ thì bà “Năm khùng” trở thành chị “Năm Nghĩa”: “Nghĩa” là tên tục mà cũng là ý nghĩa việc làm của người đàn bà lạ lùng với tâm nguyện: “Mong làm sao các đồng chí được trở về quê hương, đoàn tụ với gia đình, có một nấm mồ để cho người thân thắp nén hương tỏ lòng thành trong những ngày lễ tết ấm lòng người nơi chín suối. Nhiều đồng chí trên 30 năm, 40 năm, thậm chí 50 năm mới được trở về gia đình, đó là niềm vui nhất của tôi.”
746 - Vũ Trọng Nhượng
“NGƯỜI NHÁI” LÊN BỜ BÓ TAY
Nông dân sinh 1944 tại Hải Phòng. Sống ở Nha Trang (2002).
Nhập ngũ năm 1964 vào thẳng binh chủng hải quân ngay do thể hình tự nhiên có sẵn tứ chi to dài khác thường rất phù hợp nghề bơi lặn. Sau đó nhanh chóng được đào tạo làm trinh sát đặc công biển, một đơn vị mới tương tự “người nhái” của hải quân VNCH (theo huấn luyện kiểu Mỹ).
Năm 1967 được chuyển vào chiến trường Nha Trang chuyên đặt mìn phá nổ tàu Mỹ lập nhiều chiến công vang dội trong đó có trận đánh chìm tàu Mỹ chứa vũ khí và chất độc hóa học năm 1969. Năm 1973 bị thương nặng đồng đội tưởng đã hy sinh rồi.
Sau chiến tranh, năm 1976 lấy vợ là một cô giáo thôn nữ Khánh Hòa .
Năm 1979 đang làm nhiệm vụ ở Gia Lai thì lên cơn động kinh nguy hiểm do hậu quả bị nhiễm chất độc hóa học (có thể cả CĐDC) trên tàu địch năm xưa. Sau đó sức khỏe suy kiệt nên đành làm đơn về hưu non hàm đại úy.
Từ đó ở lại luôn quê vợ Diên Khánh làm ruộng, sinh đến 7 con trong đó đứa con trai út còn bị di chứng từ cha khiến mới sinh ra đã bị lệch 2 mắt mà thị lực lại kém. Cuộc sống thời hậu chiến ngày càng khó khăn nên vợ phải nghỉ dạy ở nhà lo nuôi chồng con nheo nhóc.
Bản thân mình bệnh hoạn – bệnh mất ngủ triền miên -- chẳng đỡ đần gì cho vợ được bao nhiêu, tiền hưu phải chu cấp cho bố mẹ ở xa trong khi thẻ thương binh chưa làm được do… không có tiền đi làm thủ tục nhiêu khê.
Đồng đội có biết chuyện lúc đó cũng chỉ còn biết thở dài cám cảnh “Anh hùng nhất mà cũng là người thua thiệt nhất”!
747 - Vũ Văn Tỵ
VỢ CHỒNG XE LĂN
Lao động nghèo sinh tại Bình Dương. Sống ở TPHCM (2010).
Năm 1974 trong một lần chạy nạn chiến tranh bị trúng mảnh bom cụt chân trái.
Sau khi hòa bình lập lại, lấy vợ nhưng bản thân bị tàn tật lại gặp cảnh đời sống khó khăn thời hậu chiến nên không bao lâu gia đình lục đục. Nhân lúc mình lên Sài Gòn tìm việc làm, vợ đã lén bán nhà ôm tiền đi mất!
Thế là trở thành người vô gia cư chống gậy khập khiễng đi bán vé số mưu sinh trên đường phố TPHCM.
Trên con đường lầm lũi kiếm sống đó tình cờ lại gặp được một nữ đồng nghiệp gốc Nghệ An cũng gặp cảnh đời còn không may hơn cả mình mới 7 tháng tuổi đã bị sốt bại liệt nửa người nay ngồi xe lăn giong ruỗi trên dặm đường vé số. Hai mảnh đời bất hạnh gặp nhau tình nguyện chắp nối mong tìm kiếm được chút hạnh phúc nhỏ nhoi.
Đó là hạnh phúc quá giản đơn mỗi sáng ông dìu bà xuống gác rồi 2 người 2 xe lăn lên đường đi bán vé số, tối mịt mới về ông cõng bà lên gác, căn gác chỉ rộng 8m2 trong hẻm nhỏ: “Trải qua bao nhiêu mất mát giờ đây thật sự tôi mới càng trân trọng hạnh phúc mình đang có.”
Cả 2 đã tàn tật một người phải lết đi một người còn một chân đi không vững lên xuống gác cực quá sao không ở tầng trệt cho khỏe hơn? Trả lời cũng quá đơn giản là ở dưới không đủ tiền thuê nhưng “Ở thế này là tốt lắm rồi, không còn mong gì hơn nữa.”
748 - Vũ Văn Xoan
THƯƠNG BINH “NÁT NGƯỜI” VẪN VÔ ĐỊCH BÓNG BÀN
Thương binh sinh tại Hải Dương. Sống ở Hải Dương (2007).
Năm 1972 trên chiến trường Quảng Trị đã bị thương gần như “nát người” với 47 vết thương tất cả: Cụt cánh tay phải, nát hết chân phải, gãy chân trái, cụt cánh tay trái, xương lưng và cột sống bị tổn thương, lủng ngực xuyên đến bả vai, vỡ xương vai trái… Qua vô số lần giải phẫu vẫn còn sót lại trong người 6 mảnh đạn nằm chỗ hiểm không thể lấùy ra được.
Vậy nhưng từ khi còn nằm viện đã tự tập để chống nạng đi lại được, về nhà tự tập đi xe đạp. Và tìm thấy ở thể thao một cách rèn luyện phục hồi để mình có thể sinh hoạt như người bình thường. Chủ yếu tập trung vào môn bóng bàn.
Bắt đầu dự từ Đại hội Thể thao Người khuyết tật lần thứ nhất 1997 tổ chức ngay tại vùng đất máu lửa Quảng Trị năm xưa, đến Đại hội 1998 đã vượt lên giành chức vô địch đơn nam bóng bàn. Thừa thắng xông lên chiếm thêm 14 HCV khác trong đó có 1 HCV Đông Nam Á, 4 HCV quốc gia… Nhờ đó - tự khoe – 10 năm qua chưa hề tốn một đồng tiền thuốc chữa bệnh!
749 - Vương Kiều
“KẺ HÀNH HƯƠNG” BẤT ĐẮC DĨ
Nhà thơ tên thật Trần Vĩnh Tựu sinh 1950 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở TPHCM (2011).
Khi còn là học sinh cấp 2 ở Huế đã tham gia hoạt động cộng sản chống chế độ Ngô Đình Diệm.
Trong trận chiến Mậu Thân 1968 trở thành du kích có mặt trong đoàn quân chiếm đóng Huế. Được sau khi Việt Cộng rút đi đã bị bắt giam nhà tù chế độ cũ.
Một thời gian sau được thả ra nhưng do không bắt được liên lạc với cơ sở cũ và sợ tiếp tục bị mật vụ chế độ Sài Gòn truy lùng nên tìm đường lánh nạn… đi tu thành sư khất thực trốn lên Đà Lạt nương nhờ cửa chùa.
Sau 75 xem như được thoát nạn đã xuất hiện trở lại tham gia chính quyền mới được phân công phụ trách một bến xe. Nhưng được thời gian ngắn thì bỗng nhiên bị bắt lần nữa bởi chính quyền cộng sản đưa về thụ án ở Huế!
Ở tù một thời gian rồi được thả ra làm nghề lao động không sống nổi mới tìm đường vào Sài Gòn làm vài nghề tiểu thủ công nghiệp với bạn bè đắp đổi qua ngày vẫn không khá.
May sao rồi sau cùng cũng thấy được ánh sáng cuối đường hầm nhờ lấy vợ cùng quê có anh em vượt biên qua Đức gửi tiền về giúp đỡ. Thế là có vốn để lập nên một dạng đại lý du lịch phục vụ khách nước ngoài vào hàng đầu tiên ở VN làm ăn khấm khá giữa những năm 90. Từ đó nhanh chóng trở thành là một “đại gia” kiểu mới, một trong số ít người đầu tiên xài máy nhắn tin đeo nịt ngang hông kêu “tít tít”! Còn bỏ tiền in 2 tập thơ hoành tráng nữa.
Nhưng bỗng nhiên tất cả cơ ngơi, sự nghiệp đổ sập xuống tan tành như lâu đài xây trên cát vì tội… đèo bòng vợ bé khiến vợ lớn nổi giận hạ lệnh “cắt” toàn bộ! Đành chấp nhận thương đau vì nỗi cần con nối dõi mà vợ lớn không sinh được.
Thế là từ đó lại trở về với con số 0 to tướng sau bao lần lên voi xuống chó. Bấy giờ phải nai thân ra chạy chọt làm đủ thứ nghề – kể cả làm chuyện không hay bất đắc dĩ – để cáng đáng chuyện vợ con (may quá sinh được con đúng là con trai!). Có lúc định mang cả gia đình về quê Huế mở tiệm in lụa làm kế sinh nhai nhưng mới thấy công an xã hỏi thăm sức khoẻ sơ sơ – chỉ vô tình thôi - đã chột dạ lập tức bỏ của chạy lấy người!
Lại quay về TPHCM bôn ba đủ thứ việc song nay không còn cơ sở vật chất để gầy dựng lại cơ đồ khiến lâm vào cảnh đời sống khó khăn đưa tới năm 2010 vợ – vợ sau – bỏ đi để lại cho mình cảnh gà trống nuôi con càng lao đao vất vả cay đắng mùi đời một người từng lên cao tột đỉnh vật chất đột nhiên bị kéo tuột xuống gần đáy xã hội.
Chỉ còn niềm an ủi tự ru mình vào những giấc mơ khát vọng ở gần biên giới hoang tưởng chắc không bao giờ thành sự thật tìm lại được:
“Như kẻ hành hương đi qua sa mạc
Tôi uống nỗi buồn cho cơn khát dịu tan
Tội nghiệp cho tôi
Kẻ hành hương đi qua sa mạc
Tìm niềm vui trong cơn khát đời mình
……..
Tôi gom hết nỗi buồn này
Nhìn về trăm năm và hỏi vọng trời xanh
Trời xanh cao con người bé nhỏ
Con người đi trong cơn khát đời mình.”
(Kẻ hành hương).
750 - Vương Tấn Thơm
LIỆT SĨ SỐNG LẠI 32
Nông dân còn tên Nguyễn Hữu Nghị sinh 1945 tại Quảng Ngãi. Sống ở Quảng Ngãi (2002).
Mồ côi cha mẹ từ nhỏ sống với ông bác. Sống khổ quá nên theo cộng sản lên núi, đến năm 1964 được đưa ra Bắc đào tạo.
Đầu năm 1973 mang lon thiếu úy bộ đội quay lại chiến trường quê hương Quảng Ngãi. Không được bao lâu thì trong một trận đánh bị địch phục kích trúng đạn vào đầu ngất trên trận địa đồng đội tưởng đã mất tích hoặc chết rồi.
Không ngờ sau đó được đồng bào dân tộc Cor cứu mang về giao cho một bà mẹ dân tộc nuôi rồi gã con gái vừa đi thanh niên xung phong đường Trường Sơn về. Nhưng trí nhớ không hồi phục đầy đủ, quên cả gốc gác tên tuổi nên sau đó được đặt tên khác Nguyễn Hữu Nghị.
Vì vậy ở quê nhà cuối năm 1973 được chính thức phong liệt sĩ.
Năm 1977 dần nhớ lại được lai lịch mình bèn tìm về quê mới biết lâu nay gia dình ông bác đã lãnh tiền trợ cấp liệt sĩ của mình nên thấy không nỡ công khai sự thật rằng mình… chưa chế! Đành buồn tủi lủi thủi quay về quê vợ sống đời người dân tộc trên núi rừng vùng cao không quay về quê cũ nữa. Mà muốn về lại cũng không làm nổi bởi đẻ đến 9 đứa con, cả 2 vợ chồng làm cật lực vừa làm ruộng khô vừa đốt rẩy làm than cũng chưa đủ cái ăn.
Mãi đến năm 1998 sự thật mới tình cờ được phát hiện khi mình gặp một đoàn cán bộ huyện lên vùng núi này đi tìm hài cốt liệt sĩ mới hỏi thăm tin tức gia đình ông bác (đã mất 3 năm rồi). Khi đó người ta đi tìm liệt sĩ “thật” đâu không thấy mà lại thấy sờ sờ đó một liệt sĩ “giả”!
Nhưng từ đó đến việc làm hồ sơ thương binh là cả một chặng đường gian nan chưa biết bao giờ mới xong vì thời gian trôi qua lâu rồi mà giấy tờ, hồ sơ rơi rớt thất lạc hết rồi. Chỉ được cấp cho một nhà tình thương nhanh chóng xuống cấp tứ bề tơi tả cần 3 triệu đồng để sửa mái cho mưa khỏi dột mà chẳng biết lấy đâu ra, xin ai bây giờ…
(Còn tiếp)
http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hshc-ki-74
Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011
Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011
Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011
NGUYỄN CƯƠNG : Một nữ tu đất cố đô
Trong giới tu hành và phật tử ở miền Nam từ trước đến nay không mấy ai không biết đến thiện danh và công lao đóng góp cho đạo, cho đời của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không.Sư Bà Thích Nữ Diệu Không (tục danh Hồ Thị Hạnh) sinh năm 1905, viên tịch năm 1997, hưởng thọ 93 tuổi đời với 53 hạ lạp, bảo tháp ở tại phường Thủy Xuân - TP Huế, trong khu đồi thông thuộc lăng mộ gia tộc Hồ Đắc, gần ni tự Hồng Ân là ngôi chùa do Sư Bà sáng lập từ năm 1949 và trú trì tại đó cho đến khi rời trần thế về nơi cõi Phật. Sư Bà Diệu Không sinh ra trong một gia đình trí thức lớn vào hàng danh gia vọng tộc thời bấy giờ ở kinh đô triều Nguyễn tại Huế.
Sư Bà quê ở làng An Truyền, Phú Vang, thân sinh là cụ Hồ Đắc Trung (1861- 1941), tước Quận công, Thượng thư Bộ Học kiêm Bộ Hộ, rồi Bộ Lễ kiêm Bộ Công. Thân mẫu của Quận công Hồ Đắc Trung là Quận chúa Công Nữ Thức Huấn (con gái của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm - Hoàng tử thứ 10 của vua Minh Mạng). Bà Thức Huấn đã bị quân Pháp giết vào ngày Thất thủ Kinh đô Huế 23/5 Ất Dậu (1885). Cụ Hồ Đắc Trung có tước phong là Quận công cho nên Sư Bà là Quận chúa Hồ Thị Hạnh (khi chưa xuất gia tu hành), thuộc vào loại “cành vàng lá ngọc” của đất cố đô, được cho là một “kỳ nữ”.Sư Bà Diệu Không có tất cả 10 anh chị em (6 nam, 4 nữ). Sư Bà là con út, trong số các anh chị em của sư Bà có một số vị giàu lòng yêu nước, tâm huyết đi theo cách mạng từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp và đã có nhiều đóng góp. Ông Hồ Đắc Điềm (1899- 1986) là tiến sĩ luật khoa Paris vào những năm 20 của thế kỷ trước. Nghe theo lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ, với tấm lòng yêu nước của một trí thức thuộc hàng quan phẩm (Tổng đốc Hà Đông), ông Hồ Đắc Điềm từ bỏ tất cả để tham gia cách mạng sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946. Hoà bình lập lại, trở về tiếp quản Thủ đô (10/10/1954), ông đã giữ nhiều cương vị trọng trách: Phó Chủ tịch UBHC TP Hà Nội, Chánh án Toà án TP Hà Nội… Một người anh khác là Giáo sư, Bác Sĩ Hồ Đắc Di (1900-1984) tốt nghiệp Y khoa Paris từ những năm 20 của thế kỷ trước, là Hiệu trưởng trường Đại học y khoa đầu tiên của nước ta cho mãi đến những năm 80 của thế kỷ XX. Ông Hồ Đắc Liên (1904-1958) tốt nghiệp ngành địa chất mỏ Paris, là Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất đầu tiên của nước ta. Ông Hồ Đắc Ân (1950-1984) tiến sĩ tốt nghiệp Dược khoa Paris, đã có nhiều đóng góp trong bào chế thuốc phục vụ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ… Còn 4 chị em của Sư Bà mỗi người có một nét riêng của con gái xứ Huế. Bà Hồ Thị Huyên (1896-1965), mẹ của nhà bác học Bửu Hội là một phật tử đã tình nguyện tự thiêu nhưng không thành để phản đối chính quyền Mỹ - Diệm đàn áp phong trào Phật giáo miền Nam vào những năm 60 của thế kỷ trước. Bà Hồ Thị Phương (1897-1980) là con dâu của Thượng thư Lê Trinh (1850-1909) - người đã tôn vua Duy Tân và cứu Phan Chu Trinh thoát khỏi án chém(1). Bà Hồ Thị Chỉ (1902-1985) là Ân phi của vua Khải Định, xung quanh việc này cũng đã có nhiều giai thoại để lại. Bà Hồ Thị Chỉ trước đó đã được vua Duy Tân định chọn để trở thành hoàng hậu, nhưng sau một thời gian đã bất thành để tránh liên lụy cho gia đình cụ Hồ Đắc Trung (do cụ bị Pháp nghi ngờ đã tìm cách cứu Trần Cao Vân và Thái Phiên thoát tội chết)(2). Cho nên về sau, bà Hồ Thị Chỉ lại trở thành ân phi của vua Khải Định. Khi Bảo Đại lên ngôi, phong cho mẹ tức bà Từ Cung làm Hoàng thái hậu, thì bà Hồ Thị Chỉ sau đó bị bệnh thần kinh, đi theo công giáo ở Dòng Chúa Cứu Thế tự sinh sống bằng đi bán bánh bèo, nậm, lọc ở chợ An Cựu và qua đời vào năm 1985 tại nhà riêng của một người cháu ở đường Phan Chu Trinh - TP Huế. Đám tang của bà theo cả nghi thức Phật giáo và Công giáo. Lúc sinh thời, bà Hồ Thị Hạnh rất quan tâm chăm sóc bà Hồ Thị Chỉ vì cảm thương số phận không may mắn trong cuộc đời của chị mình và cả 4 chị em gái đều rất gắn bó với nhau trong việc đạo, việc đời. Sư Bà Diệu Không (Hồ Thị Hạnh) sinh trưởng trong một gia đình như vậy. Một tiểu thư quận chúa, một kỳ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời cũng lắm trắc ẩn gian truân trước khi xuất gia thành đạo. Về chuyện tình duyên, thời còn con gái đã có nhiều công tử con nhà gia thế, môn đăng hộ đối mong muốn được kết tóc xe duyên. Lúc ở độ tuổi trăng tròn, tiểu thư quận chúa được theo hầu thân phụ sang Cao Miên (Campuchia), đã được hoàng tử Cao Miên để ý. Trải qua bao thăng trầm duyên số, cuối cùng Hồ Thị Hạnh đã quyết định nghe lời thân phụ làm vợ kế người con trai của cụ Cao Xuân Dục (Thượng thư Bộ Học) đang nuôi sáu con nhỏ mồ côi mẹ là ông Cao Xuân Xang và hai người chỉ sinh hạ được một người con trai (sau này định cư ở Pháp cho đến lúc qua đời). Ông Cao Xuân Xang bị bệnh phổi nặng, giã từ bà khi người con mới sinh chỉ mấy tháng tuổi. Bà để lại bài thơ “Đám cưới” như sau: “Đám cưới hay là một đám tang?/ Cả nhà, lớn, nhỏ, thảy đều than/ Chồng chung, bệnh hoạn tình phai nhạt/ Vợ kế, kề vai gánh đoạn tràng/ Kẻ nói là ngu, người nói dại/ Người cho là dở kẻ cho gan/ Biết chăng chỉ có người trong cuộc/ Gậy mái thuyền từ phải quyết sang”. Duyên phận của một tiểu thư, quận chúa, một kỳ nữ là như vậy!
Trở lại thời kỳ từ năm 1920 - 1935 là giai đoạn Hồ Thị Hạnh tham gia hoạt động xã hội, xác lập chí hướng “hành đạo cứu đời”. Chuẩn bị hành trang để bước vào đời, Hồ Thị Hạnh cùng với người chị là Hồ Thị Chỉ đã chăm chỉ miệt mài học hành. Hai bà đều thành thạo chữ Hán, chữ Pháp. Mới 15 tuổi, Hồ Thị Hạnh đã thôi học trường nữ sinh Đồng Khánh, ở nhà tiếp tục tự học, giúp việc nhà, bắt đầu tìm hiểu và tham gia công tác xã hội, mặc dù thân phụ Hồ Đắc Trung muốn cho bà đi du học Pháp theo sau các anh Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Ân, Hồ Đắc Liên. Qua đọc sách báo tìm hiểu về cách mạng một số nước, nhất là tài liệu sách báo của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu và hết sức ngưỡng mộ ý chí việc làm của hai cụ, bà sớm có ý thức góp phần duy trì, nêu cao thuần phong mỹ tục, đấu tranh cho nữ quyền để nâng cao vị thế người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ. Hồ Thị Hạnh đã tham gia Hội từ thiện do bà Nữ sử Đạm Phương (thân mẫu của nhà văn Hải Triều Nguyễn Khoa Văn) làm Hội chủ và làm thủ quỹ tài chính của Hội. Năm 1926, với sự đồng ý và giúp đỡ của bà Đạm Phương, bà Trần Như Mân, bà Hồ Thị Hạnh đứng ra thành lập Hội Nữ công, lúc đầu ở tỉnh Thừa Thiên sau đó lan ra nhiều tỉnh khác ở Miền Trung. Hội Nữ công với uy tín của bà đã quyên góp được rất nhiều tiền trong các tầng lớp dân cư kể cả tầng lớp quan lại và phu nhân quan chức Pháp. Hội Nữ công còn có nhiều hoạt động ích lợi khác do đó mật thám Pháp đã để ý. Để tránh mật thám Pháp theo dõi quấy rầy, bà đã thành lập Hội Cứu tế lấy tên là Lạc Thiện. Hội Lạc Thiện không ngừng làm việc nhân đạo mà còn giúp đỡ cả các nạn nhân trong các cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 bị Pháp đàn áp. Bà và những thành viên của Hội đã ra tận Nghệ An cứu trợ.Xuất thân trong gia đình quan lại phong kiến theo đạo Phật, lại chịu ảnh hưởng của bà cô ruột là Sư Bà Diên Trường (thế danh Hồ Thị Nhàn), bà Hồ Thị Hạnh đã phát tâm tu hành. Bà đã gửi con cho bà chị ruột Hồ Thị Huyên (bà Ưng Úy), giải quyết ổn thỏa cho sáu người con riêng của ông Cao Xuân Xang để làm phật sự và từ thiện. Năm 1932 bà được hòa thượng Giác Tiên trú trì tổ đình Trúc Lâm thu nhận làm Sadini với pháp danh Diệu Không. Không lâu sau đó bà cùng hòa thượng Giác Tiên đứng ra tổ chức An Nam Phật học hội ở Huế và phát triển ra các tỉnh miền Trung và miền Nam. Bà tự bỏ tiền và vận động quyên tiền để xây cất các ni viện ở Huế cho các nữ tu tu học như ni viện Diệu Đức, Diệu Viên, Hồng Ân (sau này Sư Bà đã trú trì), Đông Thuyền, Khải Ân (đã có thời gian bà Hồ Thị Chỉ tu ở các chùa này)… cùng các ni viện ở một số địa phương khác ở miền Nam. Bà cùng với các hòa thượng Thích Trí Thủ, Minh Châu, Nhất Hạnh… góp công sức xây dựng Viện Đại học đầu tiên của Phật giáo Việt Nam là Đại học Vạn Hạnh. Bà còn đắc lực khai sáng nhiều cô nhi viện, ký nhi viện trên khắp các tỉnh, thành miền Trung, góp phần đắc lực trong việc sáng lập nhà in Liên Hoa do hòa thượng Thích Đôn Hậu làm chủ nhiệm để in kinh sách Phật và nguyệt san Liên Hoa là tờ báo tồn tại khá lâu ở miền Trung và một số tỉnh khác ở miền Nam thời bấy giờ. Ngoài việc sử dụng thành thạo chữ Hán, tiếng Pháp, bà còn giỏi tiếng Pali và đã biên dịch nhiều bộ kinh Phật. Riêng có bộ Đại Trì Độ Luận gồm 100 cuốn, bà dịch trong những năm ở tuổi đã trên tám mươi tuổi và hoàn thành tập cuối vào thời gian trước khi viên tịch (1997) tại ni tự Hồng Ân (Huế).Trong những năm 60 của thế kỷ trước, dưới chính quyền độc tài gia đình trị họ Ngô do Mỹ dựng lên, Phật giáo miền Nam bị phân biệt đối xử, bị đàn áp khốc liệt. Phật tử nhiều nơi đứng lên đấu tranh nhưng đều bị chính quyền Mỹ - Diệm đàn áp dã man. Giáo hội Phật giáo miền Nam chủ trương kêu gọi phật tử “Vị pháp vong thân” dưới hình thức tự thiêu để đánh động lương tri nhân dân và đạo hữu trong nước và quốc tế. Để hưởng ứng, Sư Bà Diệu Không cùng người chị ruột là Sư Bà Diệu Huệ (Hồ Thị Huyên) đã viết đơn tình nguyện tự thiêu. Hai Sư Bà đã cùng đại diện Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên vào Sài Gòn nộp đơn xin tự thiêu, song lúc này, Giáo hội Phật giáo Miền Nam đã chọn Hoà Thượng Thích Quảng Đức được tự thiêu đầu tiên. Nhiều nhân chứng, nhiều bài báo đã kể lại chi tiết sự việc này và hết lời thán phục ngợi ca. Sau khi chứng kiến lễ tự thiêu, Sư Bà Diệu Không đã làm bài thơ “Khóc ngài Quảng Đức” hết sức cảm động: “Lửa dậy lưng trời thân chẳng động/ Dầu loang khắp đất ý không lay/ Tiêu diêu cõi Tịnh, Thầy theo Phật/ Lận đận trần lao, con nhớ Thầy”.Những năm tiếp theo, Sư Bà vẫn có nhiều đóng góp cho đạo, cho đời đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. Sau năm 1975, với cương vị đứng đầu giới nữ tu miền Nam, Sư Bà Diệu Không đã góp phần tích cực vào quá trình thống nhất tổ chức Phật giáo toàn quốc trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, gắn với sự phát triển của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới. Sư Bà được tín nhiệm bầu làm Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam và là Ủy viên thường trực Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế. Vào năm 1977, có một cuộc hội ngộ thật cảm động, bốn anh em ruột Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di (Hà Nội), Hồ Đắc Ân (TPHCM), Sư Bà Diệu Không (Huế) đã vinh dự là đại biểu dự Đại hội MTTQVN đầu tiên của đất nước thống nhất. Đúng là một cuộc trùng phùng đẹp đẽ, có ý nghĩa lịch sử!
Trở lại thời kỳ từ năm 1920 - 1935 là giai đoạn Hồ Thị Hạnh tham gia hoạt động xã hội, xác lập chí hướng “hành đạo cứu đời”. Chuẩn bị hành trang để bước vào đời, Hồ Thị Hạnh cùng với người chị là Hồ Thị Chỉ đã chăm chỉ miệt mài học hành. Hai bà đều thành thạo chữ Hán, chữ Pháp. Mới 15 tuổi, Hồ Thị Hạnh đã thôi học trường nữ sinh Đồng Khánh, ở nhà tiếp tục tự học, giúp việc nhà, bắt đầu tìm hiểu và tham gia công tác xã hội, mặc dù thân phụ Hồ Đắc Trung muốn cho bà đi du học Pháp theo sau các anh Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Ân, Hồ Đắc Liên. Qua đọc sách báo tìm hiểu về cách mạng một số nước, nhất là tài liệu sách báo của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu và hết sức ngưỡng mộ ý chí việc làm của hai cụ, bà sớm có ý thức góp phần duy trì, nêu cao thuần phong mỹ tục, đấu tranh cho nữ quyền để nâng cao vị thế người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ. Hồ Thị Hạnh đã tham gia Hội từ thiện do bà Nữ sử Đạm Phương (thân mẫu của nhà văn Hải Triều Nguyễn Khoa Văn) làm Hội chủ và làm thủ quỹ tài chính của Hội. Năm 1926, với sự đồng ý và giúp đỡ của bà Đạm Phương, bà Trần Như Mân, bà Hồ Thị Hạnh đứng ra thành lập Hội Nữ công, lúc đầu ở tỉnh Thừa Thiên sau đó lan ra nhiều tỉnh khác ở Miền Trung. Hội Nữ công với uy tín của bà đã quyên góp được rất nhiều tiền trong các tầng lớp dân cư kể cả tầng lớp quan lại và phu nhân quan chức Pháp. Hội Nữ công còn có nhiều hoạt động ích lợi khác do đó mật thám Pháp đã để ý. Để tránh mật thám Pháp theo dõi quấy rầy, bà đã thành lập Hội Cứu tế lấy tên là Lạc Thiện. Hội Lạc Thiện không ngừng làm việc nhân đạo mà còn giúp đỡ cả các nạn nhân trong các cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 bị Pháp đàn áp. Bà và những thành viên của Hội đã ra tận Nghệ An cứu trợ.Xuất thân trong gia đình quan lại phong kiến theo đạo Phật, lại chịu ảnh hưởng của bà cô ruột là Sư Bà Diên Trường (thế danh Hồ Thị Nhàn), bà Hồ Thị Hạnh đã phát tâm tu hành. Bà đã gửi con cho bà chị ruột Hồ Thị Huyên (bà Ưng Úy), giải quyết ổn thỏa cho sáu người con riêng của ông Cao Xuân Xang để làm phật sự và từ thiện. Năm 1932 bà được hòa thượng Giác Tiên trú trì tổ đình Trúc Lâm thu nhận làm Sadini với pháp danh Diệu Không. Không lâu sau đó bà cùng hòa thượng Giác Tiên đứng ra tổ chức An Nam Phật học hội ở Huế và phát triển ra các tỉnh miền Trung và miền Nam. Bà tự bỏ tiền và vận động quyên tiền để xây cất các ni viện ở Huế cho các nữ tu tu học như ni viện Diệu Đức, Diệu Viên, Hồng Ân (sau này Sư Bà đã trú trì), Đông Thuyền, Khải Ân (đã có thời gian bà Hồ Thị Chỉ tu ở các chùa này)… cùng các ni viện ở một số địa phương khác ở miền Nam. Bà cùng với các hòa thượng Thích Trí Thủ, Minh Châu, Nhất Hạnh… góp công sức xây dựng Viện Đại học đầu tiên của Phật giáo Việt Nam là Đại học Vạn Hạnh. Bà còn đắc lực khai sáng nhiều cô nhi viện, ký nhi viện trên khắp các tỉnh, thành miền Trung, góp phần đắc lực trong việc sáng lập nhà in Liên Hoa do hòa thượng Thích Đôn Hậu làm chủ nhiệm để in kinh sách Phật và nguyệt san Liên Hoa là tờ báo tồn tại khá lâu ở miền Trung và một số tỉnh khác ở miền Nam thời bấy giờ. Ngoài việc sử dụng thành thạo chữ Hán, tiếng Pháp, bà còn giỏi tiếng Pali và đã biên dịch nhiều bộ kinh Phật. Riêng có bộ Đại Trì Độ Luận gồm 100 cuốn, bà dịch trong những năm ở tuổi đã trên tám mươi tuổi và hoàn thành tập cuối vào thời gian trước khi viên tịch (1997) tại ni tự Hồng Ân (Huế).Trong những năm 60 của thế kỷ trước, dưới chính quyền độc tài gia đình trị họ Ngô do Mỹ dựng lên, Phật giáo miền Nam bị phân biệt đối xử, bị đàn áp khốc liệt. Phật tử nhiều nơi đứng lên đấu tranh nhưng đều bị chính quyền Mỹ - Diệm đàn áp dã man. Giáo hội Phật giáo miền Nam chủ trương kêu gọi phật tử “Vị pháp vong thân” dưới hình thức tự thiêu để đánh động lương tri nhân dân và đạo hữu trong nước và quốc tế. Để hưởng ứng, Sư Bà Diệu Không cùng người chị ruột là Sư Bà Diệu Huệ (Hồ Thị Huyên) đã viết đơn tình nguyện tự thiêu. Hai Sư Bà đã cùng đại diện Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên vào Sài Gòn nộp đơn xin tự thiêu, song lúc này, Giáo hội Phật giáo Miền Nam đã chọn Hoà Thượng Thích Quảng Đức được tự thiêu đầu tiên. Nhiều nhân chứng, nhiều bài báo đã kể lại chi tiết sự việc này và hết lời thán phục ngợi ca. Sau khi chứng kiến lễ tự thiêu, Sư Bà Diệu Không đã làm bài thơ “Khóc ngài Quảng Đức” hết sức cảm động: “Lửa dậy lưng trời thân chẳng động/ Dầu loang khắp đất ý không lay/ Tiêu diêu cõi Tịnh, Thầy theo Phật/ Lận đận trần lao, con nhớ Thầy”.Những năm tiếp theo, Sư Bà vẫn có nhiều đóng góp cho đạo, cho đời đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. Sau năm 1975, với cương vị đứng đầu giới nữ tu miền Nam, Sư Bà Diệu Không đã góp phần tích cực vào quá trình thống nhất tổ chức Phật giáo toàn quốc trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, gắn với sự phát triển của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới. Sư Bà được tín nhiệm bầu làm Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam và là Ủy viên thường trực Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế. Vào năm 1977, có một cuộc hội ngộ thật cảm động, bốn anh em ruột Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di (Hà Nội), Hồ Đắc Ân (TPHCM), Sư Bà Diệu Không (Huế) đã vinh dự là đại biểu dự Đại hội MTTQVN đầu tiên của đất nước thống nhất. Đúng là một cuộc trùng phùng đẹp đẽ, có ý nghĩa lịch sử!
Là một người tu hành và hoạt động từ thiện xã hội, Sư Bà Diệu Không còn để lại khoảng trên 110 bài thơ (phần sưu tập được) sáng tác từ thập niên 20 cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Năm 2007, Nhà xuất bản Thuận Hoá (Huế) đã xuất bản quyển “Diệu Không thi tập”. Nhà nghiên cứu văn hoá, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân (Huế) đã tiếp cận vấn an Sư Bà tại chùa Hồng Ân và sưu tập được một số bài thơ qua bài viết “Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong tâm trí Sư Bà Thích nữ Diệu Không”. Đặc biệt có bài “Thăm Lăng Hồ Chủ Tịch” vào cuối năm 1976.Dù Người còn mất chẳng hề chi.Thống nhất non sông mới lạ kỳ.Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ.Những lời di chúc lúc ra đi.Có thể nói Sư Bà là bậc chân tu hàng đầu của giới nữ tu Việt Nam, danh và đức của Sư Bà gắn liền với phong trào Phật giáo miền Nam từ những năm 1930 đến 1975, và cả khi đất nước hoàn toàn thống nhất đi lên CNXH. Từ trước đến nay, đã có khá nhiều bài viết của nhiều tác giả tên tuổi viết về Sư Bà phản ánh các khía cạnh khác nhau. Trong đó đáng lưu ý quyển “Đường thiền sen nở” do Nhà xuất bản Lao Động, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây ấn hành tháng 6/2009 do hai tác giả Lê Ngân - Hồ Đắc Hoài biên soạn để giới thiệu cuốn hồi ký của Sư Bà do bà Cao Nữ Xuân Oanh chép lại chân thực lời của Sư Bà từ tháng 3/1992. Tác giả đã giữ nguyên, tôn trọng lời kể của người trong cuộc, chỉ thêm một số tư liệu lịch sử có liên quan đến gia tộc Hồ Đắc. Phần thi lục do giới nữ tu của Chùa Hồng Ân biên tập. Sư bà Diệu Không là một tượng đài của nữ tu đất cố đô.
Huế, Xuân Tân Mão 2011
----------
(1) Phan Chu Trinh qua những tài liệu mới - Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2001.
(2) Bích Phong Di Thảo - Nhà xuất bản Thuận Hoá - 2006.
Thứ Hai, 6 tháng 6, 2011
Cao Thoại Châu : Những tên đường trong thành phố tôi
Khi đất nước còn vua Quang Trung
Mười tám vạn quân Thanh đứa nào sống sót
Không mất hồn cũng thành què cụt
Bỏ xác quê người chung nấm mồ hoang
Khi đất nước còn Lý tướng quân
Chân cứng đá mềm đứng trong lịch sử
Nhiều lá cờ nhưng chỉ lá cờ chính nghĩa
Chiều bay thơm lúa mạ trên đồng
Vẳng đâu đây mười năm rừng núi Lam Sơn
Sang sảng tiếng Bình Ngô đại cáo
Hào kiệt đất nước có khi nào thiếu
Gươm thiêng loáng nước ánh trăng rừng
Thần vì người cho mượn thanh gươm
Sòng phẳng trả khi rửa xong hận nước
Hào khí ngời lên như ánh thép
Hận nước trong lòng của mỗi người dân!
Thành phố tôi có đường Hai Bà Trưng
Có trường học mang tên hai vị ấy
Thì cột đồng kẻ thù để lại
Kim loại nào chống được với thời gian?
Thành phố nào không có đường Trần Hưng Đạo
Bến Bạch Đằng làm nhớ Bạch Đằng Giang
Bao thế hệ lớn lên từ trường học Ngô Quyền
Kiêu hãnh trước một bầy Nam Hán
Tôi từng là học sinh trường Chu Văn An
Thất trảm sớ một thời lừng lẫy
Trái tim của nhà danh sĩ ấy
Là bản sao rõ nét đến bây giờ
Chiều đi qua công trường Diên Hồng
Không đa cảm mà tự nhiên nhoà lệ
Bài học này thuộc từ thời còn bé
Không biết bây giờ còn trong sách giáo khoa?
Tôi đang đi giữa những con đường
Mà sao giống như trong thôn hẻo lánh
Chạnh thấy hồn vô cùng xao xuyến
Loang lổ bảng tên đường sơn tróc từ lâu!
Rất phân minh giữa bạn và thù
Khẳng khái không chịu làm nô lệ
Đường phố này mang tên các cụ
Có thể nào như những phố vô danh!?
Mỗi bảng tên đường thấm máu cha ông
Làm bằng sắt hay bằng xương thịt
Tên núi tên sông tên từng tấc đất
Vẽ nên phố phường ngang dọc trong tim.
6-6-2011
http://caothoaichau.blogspot.com/
Mười tám vạn quân Thanh đứa nào sống sót
Không mất hồn cũng thành què cụt
Bỏ xác quê người chung nấm mồ hoang
Khi đất nước còn Lý tướng quân
Chân cứng đá mềm đứng trong lịch sử
Nhiều lá cờ nhưng chỉ lá cờ chính nghĩa
Chiều bay thơm lúa mạ trên đồng
Vẳng đâu đây mười năm rừng núi Lam Sơn
Sang sảng tiếng Bình Ngô đại cáo
Hào kiệt đất nước có khi nào thiếu
Gươm thiêng loáng nước ánh trăng rừng
Thần vì người cho mượn thanh gươm
Sòng phẳng trả khi rửa xong hận nước
Hào khí ngời lên như ánh thép
Hận nước trong lòng của mỗi người dân!
Thành phố tôi có đường Hai Bà Trưng
Có trường học mang tên hai vị ấy
Thì cột đồng kẻ thù để lại
Kim loại nào chống được với thời gian?
Thành phố nào không có đường Trần Hưng Đạo
Bến Bạch Đằng làm nhớ Bạch Đằng Giang
Bao thế hệ lớn lên từ trường học Ngô Quyền
Kiêu hãnh trước một bầy Nam Hán
Tôi từng là học sinh trường Chu Văn An
Thất trảm sớ một thời lừng lẫy
Trái tim của nhà danh sĩ ấy
Là bản sao rõ nét đến bây giờ
Chiều đi qua công trường Diên Hồng
Không đa cảm mà tự nhiên nhoà lệ
Bài học này thuộc từ thời còn bé
Không biết bây giờ còn trong sách giáo khoa?
Tôi đang đi giữa những con đường
Mà sao giống như trong thôn hẻo lánh
Chạnh thấy hồn vô cùng xao xuyến
Loang lổ bảng tên đường sơn tróc từ lâu!
Rất phân minh giữa bạn và thù
Khẳng khái không chịu làm nô lệ
Đường phố này mang tên các cụ
Có thể nào như những phố vô danh!?
Mỗi bảng tên đường thấm máu cha ông
Làm bằng sắt hay bằng xương thịt
Tên núi tên sông tên từng tấc đất
Vẽ nên phố phường ngang dọc trong tim.
6-6-2011
http://caothoaichau.blogspot.com/
Cao Huy Khanh - VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011:NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ
Kỳ 73 – 6.6.2011 (Trích đăng từ 1.1.2010)
731 - Vũ Đình Lưu
“BẢO TÀNG KỶ VẬT CHIẾN TRANH”
Cán bộ về hưu sinh 1945 tại Nam Định. Sống ở Nam Định (2010).
Năm 1969 vào bộ đội đi Nam chiến đấu làm chiến sĩ rồi đại đội trưởng trinh sát.
Năm 1974 bị thương nặng nên được cho xuất ngũ.
Sau 1975 làm cán bộ ngành xăng dầu ở Đà Nẵng. Năm 1991 xin về quê hương Nam Định làm ngành xuất nhập khẩu.
Năm 2004 về hưu mới làm một chuyến vào Nam tìm về thăm lại chiến trường xưa. Trong một lần như thế tình cờ đào được mấy kỷ vật cũ của mình và đồng đội thời chiến đấu máu lửa ngày xưa, từ đó nảy sinh ý định sưu tầm các kỷ vật chiến tranh một thời đã qua.
Để làm việc đó đã không ngại vất vả, hao tốn tiền bạc để đi khắp các chiến trường, tỉnh thành từ miền Trung vào Nam bộ rồi lên Tây nguyên, qua cả đất Lào để truy tìm đủ mọi loại hiện vật chứng tích chiến tranh thời đánh Mỹ. Từ những viên đạn, khẩu súng, lựu đạn, võng bộ đội, áo trấn thủ, nhật ký chiến trường, sổ ghi chép hành quân, thư bộ đội đếùn các loại dao găm, mã tấu, cung nõ của đồng bào dân tộc….
Năm 2007 khi đã gom được kha khá kỷ vật liền tập trung “Bảo tàng kỷ vật chiến tranh” trưng bày tại nhà.
Từ đó, bảo tàng tư nhân đầu tiên trong tỉnh này được nhiều đồng đội, bạn bè và cả học sinh sinh viên tìm đến tham quan. Sau đó được mọi người hưởng ứng đem tặng thêm vô số kỷ vật tương tự, đến nay con số kỷ vật tại bảo tàng đã lên đến khoảng 1.000 món. Tất cả đều được chú thích kỹ càng phía dưới về nguồn gốc xuất xứ, quá trình tồn tại kèm hồ sơ chi tiết mỗi món.
Bản thân kiêm luôn vai trò hướng dẫn viên giới thiệu với khách tham quan: “Mỗi kỷ vật như vậy đều mang một ý nghĩa riêng, gắn liền với mỗi con người cụ thể, mỗi số phận trải qua trong chiến tranh mà đa số chủ nhân chúng đã không còn, rất đáng được nâng niu, trân trọng…”
732 - Vũ Đức Sao Biển
NHẠC SĨ “KIM DUNG HỌC”
Nhạc sĩ, nhà báo tên thật Võ Hợi sinh 1948 tại Quảng Nam. Sống ở TPHCM (2011).
Lớn lên vào Sài Gòn học ĐH Sư phạm tốt nghiệp ngành văn ra trường về Bạc Liêu dạy học.
Năm 1970 bị gọi đi lính trường sĩ quan Thủ Đức nhưng ra trường được cho về dạy học lại gọi là “giáo viên biệt phái”.
Từ năm 1968 đã bắt đầu viết nhạc nhưng chỉ là nghề tay trái chưa có tiếng tăm bao nhiêu.
Sau 75 bị bắt đi cải tạo thời gian ngắn ở Bạc Liêu vì dính mác “sĩ quan biệt phái” và phần khác do có tham gia dạy hát cho tổ chức xây dựng nông thôn của chế độ cũ.
Sau khi được trả tự do quay về TPHCM xin đi dạy học lại ở Nhà Bè. Rồi nhờ người quen đồng hương đưa vào làm báo Công an TPHCM. Từ đây có điều kiện thuận lợi phát huy hết mọi khả năng trở thành một nghệ sĩ đa năng.
Về báo chí là một phóng viên viết phóng sự cứng tay có nghề (sau đó qua báo Thanh Niên, Pháp luật Thành phố), ngoài ra còn tham gia viết loại tiểu phẩm cho báo Cười Tuổi Trẻ (bút danh Đồ Bì, đã in nhiều tập).
Về âm nhạc, ca khúc “Thu hát cho người” sáng tác trước 75 theo phong cách âm hưởng nhạc trữ tình lãng mạn cũ nay được dựng lại đạt thành công gây tiếng vang cùng với một số bài hát mang chất dân ca Nam bộ như “Điệu buồn phương Nam”, “Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang”…
Về thể loại sách biên khảo, tập trung nghiên cứu về tác giả tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung của Hong Kong rất thịnh hành tại miền Nam trước 75, in tất cả 6 cuốn về chủ đề này với tham vọng trở thành nhà “Kim Dung học” VN đầu tiên.
733 - Vũ Đức Tảo
“ĐẦU ĐƯỜNG ĐẠI TÁ VÁ XE”
Sĩ quan bộ đội về hưu sinh 1928. Sống ở TPHCM (2008).
“Đại tá vá xe” đầu đường đã là may bởi đây là trung tá rơi vào cảnh cả gia đình không hộ khẩu, không có đất cắm dùi phải sống lang thang rày đây mai đó lây lất tạm bợ qua ngày!
Thuộc gia đình cách mạng cốt cán có 2 anh và 1 em trai liệt sĩ, mẹ từng được đề nghị phong Bà mẹ VN anh hùng, bản thân tham gia 2 cuộc kháng chiến.
Năm 1977 ra quân hàm trung tá thương binh 2/4. Liền tình nguyện đưa gia đình lên vùng kinh tế mới của tỉnh Đồng Nai.
Nhưng năm 1981 vùng kinh tế mới này không đạt hiệu quả kinh tế nên bị giải thể khiến cả gia đình lâm vào cảnh… không biết về đâu vì nhà cửa chỗ cũ đã bán đứt rồi!
Đành tìm đến TPHCM ở nhờ nhà một đồng đội cũ. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn thì chủ nhà bán nhà đi tỉnh khác nên lại phải dắt vợ con đi sống đời vô định kiểu gần như dân bụi đời trên vỉa hè, dưới gầm cầu, nơi bến xe, bến cảng. Tình cảnh không hộ khẩu còn khiến cơ quan thẩm quyền không giải quyết cho chế độ bộ đội hưu trí.
Năm 1989 bạn bè, đồng đội góp tiền giúp cho dựng một máu lều tôn vách ván trên một mảnh đất hoang dọc bờ kênh thuộc quận Bình Thạnh làm nơi cho cả nhà ta túc và thờ cúng mẹ cùng 3 anh em liệt sĩ. Còn về cuộc sống thì cả nhà sống nhờ vào tiền đứa con trai làm nghề thợ rèn và bà vợ đi bán vé số. Bản thân mình klhông làm gì được vì tuổi già và thêm bệnh hoạn liên miên do nhiều vết thương chiến tranh để lại.
Vậy mà cũng chưa được yên thân khi năm 2001 chính quyền địa phương ra lệnh thu hồi mảnh đất hoang kia (để… bán cho người khác!) rồi chuyển cả gia đình vào sống ở một khu tạm cư nhếch nhác gọi là “chờ giải quyết”.
Đã nhiều lần làm đơn gửi đủ các cấp từ địa phương đến Trung ương để xin nhập hộ khẩu và giải quyết chế độ gia đình liệt sĩ lẫn thương binh song chờ mãi không thấy ai đoái hoài tới, cứ kiểu trên đổ dưới, dưới đổ xuống cấp dưới hơn! Dù cả Quốc hội cũng đã gửi công văn cho Uûy ban Nhân dân TPHCM rồi Ủy ban lệnh xuống Sở Lao động – Thương binh xã hội, sở lại đẩy qua cho quận cũng như không.
Chẳng những quận không quan tâm mà thậm chí còn muốn… cắt cầu dứt điểm gọn nữa khi vào giữa năm 2008 thông báo thu hồi căn hộ cho gia đình tạm trú trong khu tạm cư với lý do nó nằm… dưới đường dây điện cao thế dù trước đó chính quận đã chọn địa điểm này!
Không biết cuộc phiêu lưu của “trung tá vô hộ khẩu” này hạ hồi phân giải thế nào.
734 - Vũ Hoàng Chương
TÀN ĐỜI THUỐC PHIỆN
Nhà thơ sinh 1916 tại Hưng Yên – Mất 1976 ở TPHCM (61 tuổi).
Đã sớm nổi tiếng tiên phong trong làng văn nghệ thời Tiền chiến về thơ (“Thơ say”)và kịch thơ (vở “Trương Chi”, “Vân muội”). Từng lập ban kịch diễn vở kịch cổ vũ kháng chiến chống Pháp “Lên đường” của Hoàng Cầm.
Nhưng không theo cộng sản mà di cư vào Nam năm 1954.Tâm tư đó thể hiện phần nào trong tập thơ “Tâm sự kẻ sang Tần” in năm 1960.
Ở miền Nam không mặn mà lắm với chế độ Ngô Đình Diệm nên không tham gia cộng tác chỉ đi dạy học, đến năm 1963 tỏ rõ lập trườøng theo phong trào Phật giáo chống Diệm qua tập thơ “Lửa từ bi” ca ngợi tấm gương cố hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu chống Diệm – Nhu.
Qua đến chế độ Thiệu – Kỳ lại quay qua ủng hộ, nhận lời giữ các cương vị lãnh đạo trong tổ chức văn học nghệ thuật do chế độ nuôi dưỡng dựng lên (làm Chủ tịch Hội Văn bút VN), làm giám khảo và nhận giải thưởng văn học của chế độ… Song song đó chỉ làm thơ không viết kịch nữa, thơ vẫn với nguồn cảm hứng cũ “Ta đợi em từ 30 năm” 1970, “Đời vắng em rồi say với ai” 1971.
Sau 1975 dưới chế độ mới cộng sản dù sao cũng từng có quá trình gần gũi cách mạng chống Pháp (còn nhiều bạn bè nay làm lớn ngoài Bắc) nên chưa bị bắt bớ gì. Tuy nhiên gia cảnh sa sút tàn tệ, có khi phải dắt vợ con đi ở nhờ nhà bạn bè đồng điệu thơ ca.
Đến năm 1976 bị bắt vào nhà giam Chí Hòa ở TPHCM với lý do vì tội… nghiện ngập thuốc phiện! Đây là thói quen của lớp văn nghệ sĩ miền Bắc thời Tiền chiến cũng là nguồn cảm hứng – rượu kèm thuốc phiện! – cho nhiều sáng tác văn thơ như truyện ma của Tchya, thơ “Mê hồn ca” của Đinh Hùng (1920-1960, em vợ VH Chương cùng di cư vào Sài Gòn). Và cả bản thân nhà thơ nữa với những câu thơ bấùt hủ như “Em ơi lửa tắt bình khô rượu/ Đời vắng em rồi say với ai?”.
Bên cạnh đó lý do vào tù cũng có thể vì bị nghi ngờ đã “sáng tác miệng” một số câu “đồng dao hiện đại” mỉa mai chế độ mới như tương truyền 2 câu nói về việc đổi tên 2 con đường lớn Công Lý và Tự Do ở Sài Gòn cũ thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Đồng Khởi: “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”!
Vào tù trong tình cảnh tuổi già ốm yếu bệnh hoạn lại thiếu “thuốc” nên sức khỏe nhanh chóng suy sụp khiến quản giáo phải thả cho về nhà. Được 5 ngày thì mất.
735 - Vũ Hối
NHÀ THƯ PHÁP TIÊN PHONG QUỐC TẾ
Họa sĩ sinh 1932 tại Quảng Nam. Sống ở Mỹ (2011).
Tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định, ra trường đi dạy vẽ song song hoạt động văn nghệ thể hiện tài năng đa dạng qua nhiều lĩnh vực khác nhau, ngoài hội họa còn sáng tác thơ văn và cả âm nhạc nữa.
Đặc biệt từ thập niên 60 đã khởi xướng trường phái “thư họa” chủ trương đưa hội họa vào nghệ thuật viết chữ quốc ngữ mà ngày nay gọi là thư pháp. Không chỉ viết thư họa trên giấy, lụa mà còn cả trên đồ sứ và tranh sơn mài. Trước đó đã có cố thi sĩ Đông Hồ và nhà thơ Trụ Vũ thực hiện ý tưởng này song đến ông mới trở thành lý thuyết bài bản mở rộng ra quần chúng.
Dù cả gia đình đều theo Quốc dân đảng nhưng không thấy dính líu nhiều đến hoạt động chính trị. Dù vậy sau 75 vẫn bị bắt giam và chính từ trong tù ngục mới biểu tỏ thái độ chống đối kịch liệt. Vì vậy phải lãnh nhiều cực hình nặng nề.
Mãi tới năm 1989 nhờ được các tổ chức quốc tế can thiệp mới được trả tự do với thương tích một mắt bị hư và một chân bị liệt. Đến năm 1992 được bảo lãnh qua Mỹ.
Bấy giờ mới có điều kiện phát huy mọi khả năng sáng tạo văn nghệ từ trước mà lâu nay đã bị mai một. Liên tiếp in thơ, ra đĩa CD thơ nhạc, thực hiện công trình thư họa truyện Kiều. Đặc biệt đã tìm cách phổ biến nghệ thuật thư họa ra nhiều nước trên thế giới, là nhà thư pháp VN duy nhất được đưa vào bộ sách “Tuyển tập thư họa bậc thầy phương Đông” in ở Nhật Bản năm 2006.
Năm 2007 còn được Quốc hội Mỹ trao tặng huy chương “Chiến sĩ văn hóa, chiến sĩ nhân quyền”.
736 - Vũ Hữu Định
CHẾT…SAY!
Nhà thơ tên thật Lê Quang Trung sinh 1942 tại Huế – Mất 1981 ở Đà Nẵng (40 tuổi).
Sinh ở Huế nhưng lớn lên tại Đà Nẵng.
Trốn lính nên sống đời văn nghệ lang thang đây đó, một thời gắn bó với Tây Nguyên gợi cảm hứng làm nên bài thơ “Còn chút gì để nhớ” được Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng “Em Pleiku má đỏ môi hồng… Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”.
Sau thời gian đi giang hồ tứ xứ, vào cả Sài Gòn tham gia viết báo văn nghệ, làm thơ rồi bị truy bắt quân dịch nên cuối cùng anh hùng thấm mệt quay về Đà Nẵng định cư lấy vợ. Chấp nhận làm nhân viên xây dựng nông thôn chế độ cũ có tiền nuôi vợ con vừa xem như một cách trốn lính, thời gian rảnh còn tham gia một tổ chức chăm lo cho trẻ bụi đời đường phố.
Vì thế sau 75 phải đi cải tạo ngắn hạn, thậm chí còn bị nghi ngờ là… CIA do tổ chức trẻ bụi đời mình tham gia trước đây do Mỹ thành lập!
Cải tạo trở về làm công nhân ngành điện mê… cá độ bóng đá bên cạnh vẫn mê rượu cùng bạn bè túm tụm như xưa.
Thế rồi năm 1981 như ma xui khiến quỷ đưa đường khi tròn 40 tuổi trước khi mất bỗng dưng tự tổng kết đời mình:
“Bốn mươi tuổi rồi đây
Vợ năm con không no không đói
……………………….
Bốn mươi tuổi rồi
Hai lăm năm uống đắng
(Giỏi nghề rượu từ thủa mười lăm)
………..
Thần thánh chẳng phục ông nào
Ông nào cũng tốt
Ông nào cũng tào lao
Có lắm thánh nhân thì đời chỉ rối mù
Nhiều triết học thêm tối mù đa sựï
……………………………………
Bốn mươi năm khoảng dăm lần tù…”
Xong rồi thì xảy ra sự cố bi thảm chết sau một cuộc nhậu trở về nhà bước hụt chân trên sàn gác không có lan can bao bọc cao 4m rơi xuống gần như tắt thở tại chỗ vô phương cứu vãn. Bây giờ mới thực sự là “Ở đây buổi chiều quanh năm mù sương”… u
Năm 1996 bạn bè in cho tập thơ đầu tiên và duy nhất “Còn một chút gì để nhớ” gồm 45 bài.
737 - Vũ Khánh Thành
NỮ HOÀNG ANH TẶNG BẢO QUỐC HUÂN CHƯƠNG
Doanh nhân Việt kiều sống ở Anh (2006).
Để lại gia đình trong nuớc, một mình vượt biên lần thứ năm mới đến được Anh năm 1979.
Tại đây tập trung vào công việc giúp đỡ các thuyền nhân như mình nhập cư vào Anh trong khi bản thân thì gia đình vẫn chưa qua được. Mãi đến năm 1983 phải vào viện giải phẫu bệnh nặng mới vận động được chính phủ Anh cho bảo lãnh vợ con qua.
Ra viện tiếp tục hoạt động xã hội lập các tổ chức giúp giới thuyền nhân từ Hong Kong, đồng bào mới nhập cư Anh ổn định cuộc sống như tìm kiếm việc làm, xây nhà cho thuê giá rẻ, lập Hội Gia cư An Việt, Làng VN ở London, lập Viện Nghiên cứu Việt Nho và Đông Nam Á…
Trong những hoạt động trên vẫn không quên quê hương nên còn vận động xin tài trợ cho dự án phát triển nghề làm đồ gốm ở Hải Dương.
Từ những hoạt động đó, được bầu làm nghị viên hạt Kackney thuộc London và năm 2006 theo đề nghị của Thủ tướng Tony Blair, được Nữõ hoàng Elizabeth II tặng Bảo quốc huân chương MBE vì công lao cống hiến cho hoạt động xã hội giúp đỡ nguời Việt nhập cư trong 25 năm qua.
738 - Vũ Khắc Khoan
THÀNH CÁT TƯ HÃN MƠ THÀNH PHẬT
Nhà viết kịch sinh 1917 tại Hà Nội – Mất 1986 ở Mỹ (70 tuổi).
Di cư 1954 vào Nam trở thành tác giả kịch nói trình độ nổi tiếng nhất với một loạt vở diễn đầy chất triết lý và kịch tính cao độ pha chất hiện đại như “Thành Cát Tư Hãn”, “Thằng Cuội ngồi gốc cây đa”, “Ngộ nhận”, Những người không chịu chết”, “Lộng ngôn”, “Giao thừa”… Ngoài ra còn tập truyện ngắn kiểu huyền truyện “Thần tháp rùa”.
Tất cả sáng tác đều được vận dụng tư tưởng triết học Đông Tây kết hợp nhằm tìm ra một lý thuyết, con đường tư tưởng chống lại chủ nghĩa cộng sản, ấy là hệ ý thức tiểu tư sản. Như vở “Thành Cát Tư Hãn” nêu bật hình tượng bạo chúa đối nghịch với triết lý “nhân nghĩa thắng hung tàn” trong cuộc xung đột dữ dội quyết liệt với thực tiễn.
Tham gia thành lập nhóm Quan điểm rồi tạp chí Vấn đề nhằm thực hiện ý đồ đó sẵn sàng ra tham chính nhưng nhanh chóng rút ra kết quả kinh nghiệm không đi đến đâu trước thực tế xã hội chính trị khác biệt tới mức nghịch chiều nhau từ chế độ Diệm đến chế độ Thiệu – Kỳ. Từ đó chỉ còn cách rút về dạy học (đại học, trường âm nhạc kịch nghệ Sài Gòn) và sáng tác.
Trong biến cố 30.4.75 di tản qua Mỹ, ban đầu dạy tiếng Pháp ở trường đại học. Viết “Tìm hiểu sân khấu chèo”.
Chỉ một thời gian sau bỗng nhiên từ bỏ tất cả kể cả việc dạy học lẫn viết kịch, lánh xa lánh bạn bè để chuyên tâm đi vào nghiên cứu Phật học. Lập cả một Hội PGVN tại bang Minnesota do mình là chủ tịch hội.
Năm 1984 viết đoản văn “Đọc kinh” dày 30 trang được ca ngợi là một “bài kệ hiện đại” vừa có tính chất tổng kết cuộc đời, sự nghiệp mình soi rọi dưới ánh sáng triết lý Phật học sâu sắc phóng khoáng.
“… Nghiệp chướng bời bời
Rồi từ thủa đó
Chập chờn ma trơi
Khắp nẻo cuộc đời.
Ai trụ ở đó
Ta hay là Ngươi?
Ai trụ ở đó
Ngả ba cuộc đời.
Tầm xuân vẫn biếc
Mây vẫn rong chơi
Ta vẫn rong chơi
Ngả ba cuộc đời.
………….
Tà huy lay lắt
Lay lắt hoa rơi
Bước về đơn chiếc
Những bước mồ côi.
Bước lên hốt hoảng
Những bước vào đời
Ta thường lại đó
Ngả ba cuộc đời….”
“Đọc kinh” còn kết thúc bằng những dòng tâm tư nhớ quê hương như từng giãi bày trong “Đoản văn xa nước”: “Bài kệ vần vũ biến dạng có chỗ nó là tâm nhưng tâm làm sao thấy? Có chỗ nó là quê hương nhưng quê hương đã rời bỏ, dẫu có lặp lại nghìn lần rằng quê hương không nơi nào đẹp bằng chốn ấy… Nhưng Khoan tôi làm sao về được?”
739 - Vũ Minh Châu
CUỘC TÌNH “MẤT LẬP TRƯỜNG”
Bộ đội về hưu sinh 1937 tại Thái Bình. Sống ở Thái Bình (2008).
Vào bộ đội từ năm 1960 làm lính pháo binh, khi ra đi đã có vợ ở quê. Năm 1964 vào chiến trường miền Nam mà không biết vợ đã có thai.
Vào Nam lăn lộn trên nhiều chiến trường trong đó có cuộc chiến Mậu Thân 1968 xâm nhập tận nội thành Sài Gòn. Đến năm 1972 từ Tây Ninh được bố trí xuống đóng quân ở Kiên Giang.
Tại đây làm quen rồi sống chung với một góa phụ đi du kích mới có chồng liệt sĩ hy sinh một năm trước để lại 2 con. Cuộc tình nảy sinh như vậy là vừa vi phạm đạo đức bản thân (đã có vợ) lẫn kỷ luật quân đội “mất lập trường” nhưng bởi hoàn cảnh chiến tranh quá khắc nghiệt chưa biết chết sống lúc nào khiến bản thân con người dễ mềm yếu không vượt qua được tình cảm nam nữ thông thường : “Đã vào Nam là ra đi không hẹn ngày về. Trước khi đi tôi đã bảo vợ xem có ai thì lấy người ta đi chứ tôi ra đi không biết có ngày về. Chiến đấu ác liệt không còn thời gian mà ngoái lại. Nhiều khi cũng có nghĩ về nhà (ngoài Bắc) nhưng thấy xa xôi quá không thể nào với tới được…”
Nhưng cả người vợ liệt sĩ cũng nhận lỗi về phần mình: “Tại mình thương quá mình mất lập trường chứ không trách gì người ta”!
Năm 1975 sau khi chiến tranh kết thúc đúng lúc cô vợ miền Nam có thai thì mình được lệnh điều xuống Cà Mau nhận nhiệm vụ khác. Đến cuối năm vợ sau sinh con trai báo tin, chồng gửi thư về hẹn sẽ quay lại Kiên Giang đưa cả 2 mẹ con về Bắc.
Nhưng năm 1976 người chồng có dịp về Bắc mới hay vợ cũ vẫn ở vậy chờ mình và mình đã có đứa con trai đầu lòng nay đã 13 tuổi! Quay về miền Nam lòng dạ ngổn ngang rối bời chưa biết tính sao với 2 người vợ cùng 2 đứa con Bắc – Nam thì được lệnh lên đường qua chiến trường Campuchia đánh Khmer Đỏ. Bởi vậy khi người vợ sau đợi con lớn hơn một chút mới bế con xuống Cà Mau thăm thì mới hay chồng đã đi rồi!
Và người chồng như thế đi luôn một mạch 32 năm như trước kia cũng từng rời quê miền Bắc để lại người vợ đầu mà đi biệt suốt 13 năm ròng rã. Đôi bên bặt tin nhau từ đó.
Người chồng sau thời gian chiến đấu ở Campuchia được chuyển ra Bắc rồi cho phục viên về quê sum họp với vợ con. Sinh được thêm 2 con nữa, cả nhà trần thân ra làm ruộng.
Thời đó đương nhiên cuộc sống ở nông thôn rất khó khăn khiến đôi lúc có muốn, có nghĩ có nhớ về người vợ miền Nam cũng không sao tìm cách về Nam lại được. Đừng sá xa xôi, tàu xe nhiêu khê, tiền bạc hoàn toàn không, thư từ liên hệ càng khó nữa vì phương tiện liên lạc nghèo nàn lạc hậu mà mình lại ở vùng quê xa hẻo lánh. Trong thâm tâm chỉ mong sao “cô ấy” lấy chồng khác đỡ đần mà lãng quên đi chuyện cũ một thời khói lửa đã qua.
Nhưng người vợ miền Nam không hề bước đi bước nữa mà cứ ở một mình nuôi con khôn lớn. Để đến khi con trai khôn lớn đến năm 2008 quyết tâm theo lời mẹ đi tìm cha cho được. Cuối cùng nhờ chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của VTV 1 tìm thông tin giúp mới gặp được người cha chưa hề thấy mặt bao giờ.
Còn người cha không chỉ gặp con mà còn được ôm vào lòng đứa cháu nội nữa và người cựu chiến binh ấy bây giờ mới được con trai dẫn về thăm quê cũ “cố nhân” cùng bao kỷ niệm chiến trường xưa. Riêng người vợ đầu chân quê lại… mừng “không đẻ không nuôi mà có thêm con”!
740 - Vũ Sơn
ANH HÙNG… CHĂN VỊT
Nông dân sinh tại Bến Tre. Sống ở Bến Tre (2008).
Trải qua 12 năm trận mạc trong chiến tranh chống Mỹ, là đội trưởng đội săn tàu Mỹ trên sông ở Bến Tre, đơn vị duy nhất làm nhiệm vụ này trên chiến trường Nam bộ. Thành lập năm 1967 đã bắn cháy, bắn chìm hơn 200 tàu địch, được phong Anh hùng Lực lựợng vũ trang nhân dân năm 1970.
Năm 1981 xin ra quân trước thời hạn nên không được hưởng chế độ hưu trí chỉ có tiền hỗ trợ thương binh. Lấy vợ cũng là đồng đội cũ sinh tới 7 đứa con trong đó con gái đầu tiên sinh năm 1977 mắc di chứng CĐDC bị bại não khiến cha mẹ phải lo từng li từng tí suốt đời.
Không sống nổi với tiền trợ cấp nên năm 1981 dắt theo 3 đứa con xuống Cà Mau làm nghề chăn vịt chạy đồng – cả hơn 10.000 con – cho người ta lấy tiền nuôi con ăn học mong sau này có nghề sống được hơn đời mình thất học.
Nhưng chăn vịt cả 10 năm rốt cuộc chẳng được gì, không dành dụm được mấy sản do vịt gặp đại dịch chết tràn đìa trắng sông, cả chủ lẫn người làm công đều méo mặt vì người lỗ vốn dẫn đến kẻ mất tiền lương. Thế là cha con đành khăn gói tìm về quê cũ Bến Tre kiếm kế sinh nhai khác.
Lần này trở lại với những dòng sông cũ Giồng Trôm, Hàm Luông quen thuộc một thời lập chiến công đánh giặc trên sông nước, tuy nhiên bây giờ là nhờ sông nước nuôi mình đóng đáy, đơm cá. Ngoài ra còn làm thêm mảnh ruộng, có ai kêu việc gì làm việc nấy bất kể nặng nhọc vất vả đến đâu.
May mắn 6 đứa con còn lại vẫn bình thường, cố gắng học hành nên người, 4 em vào đại học, một vào cao đẳng, một sắp tốt nghiệp phổ thông dần dần cũng giúp đỡ đần được cha mẹ.
Nhưng bây giờ con cái lớn rồi ra đời đi làm tứ xứ nên rốt cuộc nhà chỉ còn 3 người trong đó bản thân mình cùng lúc phải chăm nom cho 2 người kia là cô con gái hơn 30 tuổi đầu trí óc không phát triển và người vợ do trước kia từng bị địch giam cầm tra tấn rồi sau này lại phải chịu đựng cuộc sống quá khốn khó kiến có dấu hiệu rơi vào trầm cảm. Thêm một lần nữa làm anh hùng nuôi người bệnh.
(Còn tiếp)
http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hshc-ki-73
731 - Vũ Đình Lưu
“BẢO TÀNG KỶ VẬT CHIẾN TRANH”
Cán bộ về hưu sinh 1945 tại Nam Định. Sống ở Nam Định (2010).
Năm 1969 vào bộ đội đi Nam chiến đấu làm chiến sĩ rồi đại đội trưởng trinh sát.
Năm 1974 bị thương nặng nên được cho xuất ngũ.
Sau 1975 làm cán bộ ngành xăng dầu ở Đà Nẵng. Năm 1991 xin về quê hương Nam Định làm ngành xuất nhập khẩu.
Năm 2004 về hưu mới làm một chuyến vào Nam tìm về thăm lại chiến trường xưa. Trong một lần như thế tình cờ đào được mấy kỷ vật cũ của mình và đồng đội thời chiến đấu máu lửa ngày xưa, từ đó nảy sinh ý định sưu tầm các kỷ vật chiến tranh một thời đã qua.
Để làm việc đó đã không ngại vất vả, hao tốn tiền bạc để đi khắp các chiến trường, tỉnh thành từ miền Trung vào Nam bộ rồi lên Tây nguyên, qua cả đất Lào để truy tìm đủ mọi loại hiện vật chứng tích chiến tranh thời đánh Mỹ. Từ những viên đạn, khẩu súng, lựu đạn, võng bộ đội, áo trấn thủ, nhật ký chiến trường, sổ ghi chép hành quân, thư bộ đội đếùn các loại dao găm, mã tấu, cung nõ của đồng bào dân tộc….
Năm 2007 khi đã gom được kha khá kỷ vật liền tập trung “Bảo tàng kỷ vật chiến tranh” trưng bày tại nhà.
Từ đó, bảo tàng tư nhân đầu tiên trong tỉnh này được nhiều đồng đội, bạn bè và cả học sinh sinh viên tìm đến tham quan. Sau đó được mọi người hưởng ứng đem tặng thêm vô số kỷ vật tương tự, đến nay con số kỷ vật tại bảo tàng đã lên đến khoảng 1.000 món. Tất cả đều được chú thích kỹ càng phía dưới về nguồn gốc xuất xứ, quá trình tồn tại kèm hồ sơ chi tiết mỗi món.
Bản thân kiêm luôn vai trò hướng dẫn viên giới thiệu với khách tham quan: “Mỗi kỷ vật như vậy đều mang một ý nghĩa riêng, gắn liền với mỗi con người cụ thể, mỗi số phận trải qua trong chiến tranh mà đa số chủ nhân chúng đã không còn, rất đáng được nâng niu, trân trọng…”
732 - Vũ Đức Sao Biển
NHẠC SĨ “KIM DUNG HỌC”
Nhạc sĩ, nhà báo tên thật Võ Hợi sinh 1948 tại Quảng Nam. Sống ở TPHCM (2011).
Lớn lên vào Sài Gòn học ĐH Sư phạm tốt nghiệp ngành văn ra trường về Bạc Liêu dạy học.
Năm 1970 bị gọi đi lính trường sĩ quan Thủ Đức nhưng ra trường được cho về dạy học lại gọi là “giáo viên biệt phái”.
Từ năm 1968 đã bắt đầu viết nhạc nhưng chỉ là nghề tay trái chưa có tiếng tăm bao nhiêu.
Sau 75 bị bắt đi cải tạo thời gian ngắn ở Bạc Liêu vì dính mác “sĩ quan biệt phái” và phần khác do có tham gia dạy hát cho tổ chức xây dựng nông thôn của chế độ cũ.
Sau khi được trả tự do quay về TPHCM xin đi dạy học lại ở Nhà Bè. Rồi nhờ người quen đồng hương đưa vào làm báo Công an TPHCM. Từ đây có điều kiện thuận lợi phát huy hết mọi khả năng trở thành một nghệ sĩ đa năng.
Về báo chí là một phóng viên viết phóng sự cứng tay có nghề (sau đó qua báo Thanh Niên, Pháp luật Thành phố), ngoài ra còn tham gia viết loại tiểu phẩm cho báo Cười Tuổi Trẻ (bút danh Đồ Bì, đã in nhiều tập).
Về âm nhạc, ca khúc “Thu hát cho người” sáng tác trước 75 theo phong cách âm hưởng nhạc trữ tình lãng mạn cũ nay được dựng lại đạt thành công gây tiếng vang cùng với một số bài hát mang chất dân ca Nam bộ như “Điệu buồn phương Nam”, “Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang”…
Về thể loại sách biên khảo, tập trung nghiên cứu về tác giả tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung của Hong Kong rất thịnh hành tại miền Nam trước 75, in tất cả 6 cuốn về chủ đề này với tham vọng trở thành nhà “Kim Dung học” VN đầu tiên.
733 - Vũ Đức Tảo
“ĐẦU ĐƯỜNG ĐẠI TÁ VÁ XE”
Sĩ quan bộ đội về hưu sinh 1928. Sống ở TPHCM (2008).
“Đại tá vá xe” đầu đường đã là may bởi đây là trung tá rơi vào cảnh cả gia đình không hộ khẩu, không có đất cắm dùi phải sống lang thang rày đây mai đó lây lất tạm bợ qua ngày!
Thuộc gia đình cách mạng cốt cán có 2 anh và 1 em trai liệt sĩ, mẹ từng được đề nghị phong Bà mẹ VN anh hùng, bản thân tham gia 2 cuộc kháng chiến.
Năm 1977 ra quân hàm trung tá thương binh 2/4. Liền tình nguyện đưa gia đình lên vùng kinh tế mới của tỉnh Đồng Nai.
Nhưng năm 1981 vùng kinh tế mới này không đạt hiệu quả kinh tế nên bị giải thể khiến cả gia đình lâm vào cảnh… không biết về đâu vì nhà cửa chỗ cũ đã bán đứt rồi!
Đành tìm đến TPHCM ở nhờ nhà một đồng đội cũ. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn thì chủ nhà bán nhà đi tỉnh khác nên lại phải dắt vợ con đi sống đời vô định kiểu gần như dân bụi đời trên vỉa hè, dưới gầm cầu, nơi bến xe, bến cảng. Tình cảnh không hộ khẩu còn khiến cơ quan thẩm quyền không giải quyết cho chế độ bộ đội hưu trí.
Năm 1989 bạn bè, đồng đội góp tiền giúp cho dựng một máu lều tôn vách ván trên một mảnh đất hoang dọc bờ kênh thuộc quận Bình Thạnh làm nơi cho cả nhà ta túc và thờ cúng mẹ cùng 3 anh em liệt sĩ. Còn về cuộc sống thì cả nhà sống nhờ vào tiền đứa con trai làm nghề thợ rèn và bà vợ đi bán vé số. Bản thân mình klhông làm gì được vì tuổi già và thêm bệnh hoạn liên miên do nhiều vết thương chiến tranh để lại.
Vậy mà cũng chưa được yên thân khi năm 2001 chính quyền địa phương ra lệnh thu hồi mảnh đất hoang kia (để… bán cho người khác!) rồi chuyển cả gia đình vào sống ở một khu tạm cư nhếch nhác gọi là “chờ giải quyết”.
Đã nhiều lần làm đơn gửi đủ các cấp từ địa phương đến Trung ương để xin nhập hộ khẩu và giải quyết chế độ gia đình liệt sĩ lẫn thương binh song chờ mãi không thấy ai đoái hoài tới, cứ kiểu trên đổ dưới, dưới đổ xuống cấp dưới hơn! Dù cả Quốc hội cũng đã gửi công văn cho Uûy ban Nhân dân TPHCM rồi Ủy ban lệnh xuống Sở Lao động – Thương binh xã hội, sở lại đẩy qua cho quận cũng như không.
Chẳng những quận không quan tâm mà thậm chí còn muốn… cắt cầu dứt điểm gọn nữa khi vào giữa năm 2008 thông báo thu hồi căn hộ cho gia đình tạm trú trong khu tạm cư với lý do nó nằm… dưới đường dây điện cao thế dù trước đó chính quận đã chọn địa điểm này!
Không biết cuộc phiêu lưu của “trung tá vô hộ khẩu” này hạ hồi phân giải thế nào.
734 - Vũ Hoàng Chương
TÀN ĐỜI THUỐC PHIỆN
Nhà thơ sinh 1916 tại Hưng Yên – Mất 1976 ở TPHCM (61 tuổi).
Đã sớm nổi tiếng tiên phong trong làng văn nghệ thời Tiền chiến về thơ (“Thơ say”)và kịch thơ (vở “Trương Chi”, “Vân muội”). Từng lập ban kịch diễn vở kịch cổ vũ kháng chiến chống Pháp “Lên đường” của Hoàng Cầm.
Nhưng không theo cộng sản mà di cư vào Nam năm 1954.Tâm tư đó thể hiện phần nào trong tập thơ “Tâm sự kẻ sang Tần” in năm 1960.
Ở miền Nam không mặn mà lắm với chế độ Ngô Đình Diệm nên không tham gia cộng tác chỉ đi dạy học, đến năm 1963 tỏ rõ lập trườøng theo phong trào Phật giáo chống Diệm qua tập thơ “Lửa từ bi” ca ngợi tấm gương cố hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu chống Diệm – Nhu.
Qua đến chế độ Thiệu – Kỳ lại quay qua ủng hộ, nhận lời giữ các cương vị lãnh đạo trong tổ chức văn học nghệ thuật do chế độ nuôi dưỡng dựng lên (làm Chủ tịch Hội Văn bút VN), làm giám khảo và nhận giải thưởng văn học của chế độ… Song song đó chỉ làm thơ không viết kịch nữa, thơ vẫn với nguồn cảm hứng cũ “Ta đợi em từ 30 năm” 1970, “Đời vắng em rồi say với ai” 1971.
Sau 1975 dưới chế độ mới cộng sản dù sao cũng từng có quá trình gần gũi cách mạng chống Pháp (còn nhiều bạn bè nay làm lớn ngoài Bắc) nên chưa bị bắt bớ gì. Tuy nhiên gia cảnh sa sút tàn tệ, có khi phải dắt vợ con đi ở nhờ nhà bạn bè đồng điệu thơ ca.
Đến năm 1976 bị bắt vào nhà giam Chí Hòa ở TPHCM với lý do vì tội… nghiện ngập thuốc phiện! Đây là thói quen của lớp văn nghệ sĩ miền Bắc thời Tiền chiến cũng là nguồn cảm hứng – rượu kèm thuốc phiện! – cho nhiều sáng tác văn thơ như truyện ma của Tchya, thơ “Mê hồn ca” của Đinh Hùng (1920-1960, em vợ VH Chương cùng di cư vào Sài Gòn). Và cả bản thân nhà thơ nữa với những câu thơ bấùt hủ như “Em ơi lửa tắt bình khô rượu/ Đời vắng em rồi say với ai?”.
Bên cạnh đó lý do vào tù cũng có thể vì bị nghi ngờ đã “sáng tác miệng” một số câu “đồng dao hiện đại” mỉa mai chế độ mới như tương truyền 2 câu nói về việc đổi tên 2 con đường lớn Công Lý và Tự Do ở Sài Gòn cũ thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Đồng Khởi: “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”!
Vào tù trong tình cảnh tuổi già ốm yếu bệnh hoạn lại thiếu “thuốc” nên sức khỏe nhanh chóng suy sụp khiến quản giáo phải thả cho về nhà. Được 5 ngày thì mất.
735 - Vũ Hối
NHÀ THƯ PHÁP TIÊN PHONG QUỐC TẾ
Họa sĩ sinh 1932 tại Quảng Nam. Sống ở Mỹ (2011).
Tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định, ra trường đi dạy vẽ song song hoạt động văn nghệ thể hiện tài năng đa dạng qua nhiều lĩnh vực khác nhau, ngoài hội họa còn sáng tác thơ văn và cả âm nhạc nữa.
Đặc biệt từ thập niên 60 đã khởi xướng trường phái “thư họa” chủ trương đưa hội họa vào nghệ thuật viết chữ quốc ngữ mà ngày nay gọi là thư pháp. Không chỉ viết thư họa trên giấy, lụa mà còn cả trên đồ sứ và tranh sơn mài. Trước đó đã có cố thi sĩ Đông Hồ và nhà thơ Trụ Vũ thực hiện ý tưởng này song đến ông mới trở thành lý thuyết bài bản mở rộng ra quần chúng.
Dù cả gia đình đều theo Quốc dân đảng nhưng không thấy dính líu nhiều đến hoạt động chính trị. Dù vậy sau 75 vẫn bị bắt giam và chính từ trong tù ngục mới biểu tỏ thái độ chống đối kịch liệt. Vì vậy phải lãnh nhiều cực hình nặng nề.
Mãi tới năm 1989 nhờ được các tổ chức quốc tế can thiệp mới được trả tự do với thương tích một mắt bị hư và một chân bị liệt. Đến năm 1992 được bảo lãnh qua Mỹ.
Bấy giờ mới có điều kiện phát huy mọi khả năng sáng tạo văn nghệ từ trước mà lâu nay đã bị mai một. Liên tiếp in thơ, ra đĩa CD thơ nhạc, thực hiện công trình thư họa truyện Kiều. Đặc biệt đã tìm cách phổ biến nghệ thuật thư họa ra nhiều nước trên thế giới, là nhà thư pháp VN duy nhất được đưa vào bộ sách “Tuyển tập thư họa bậc thầy phương Đông” in ở Nhật Bản năm 2006.
Năm 2007 còn được Quốc hội Mỹ trao tặng huy chương “Chiến sĩ văn hóa, chiến sĩ nhân quyền”.
736 - Vũ Hữu Định
CHẾT…SAY!
Nhà thơ tên thật Lê Quang Trung sinh 1942 tại Huế – Mất 1981 ở Đà Nẵng (40 tuổi).
Sinh ở Huế nhưng lớn lên tại Đà Nẵng.
Trốn lính nên sống đời văn nghệ lang thang đây đó, một thời gắn bó với Tây Nguyên gợi cảm hứng làm nên bài thơ “Còn chút gì để nhớ” được Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng “Em Pleiku má đỏ môi hồng… Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”.
Sau thời gian đi giang hồ tứ xứ, vào cả Sài Gòn tham gia viết báo văn nghệ, làm thơ rồi bị truy bắt quân dịch nên cuối cùng anh hùng thấm mệt quay về Đà Nẵng định cư lấy vợ. Chấp nhận làm nhân viên xây dựng nông thôn chế độ cũ có tiền nuôi vợ con vừa xem như một cách trốn lính, thời gian rảnh còn tham gia một tổ chức chăm lo cho trẻ bụi đời đường phố.
Vì thế sau 75 phải đi cải tạo ngắn hạn, thậm chí còn bị nghi ngờ là… CIA do tổ chức trẻ bụi đời mình tham gia trước đây do Mỹ thành lập!
Cải tạo trở về làm công nhân ngành điện mê… cá độ bóng đá bên cạnh vẫn mê rượu cùng bạn bè túm tụm như xưa.
Thế rồi năm 1981 như ma xui khiến quỷ đưa đường khi tròn 40 tuổi trước khi mất bỗng dưng tự tổng kết đời mình:
“Bốn mươi tuổi rồi đây
Vợ năm con không no không đói
……………………….
Bốn mươi tuổi rồi
Hai lăm năm uống đắng
(Giỏi nghề rượu từ thủa mười lăm)
………..
Thần thánh chẳng phục ông nào
Ông nào cũng tốt
Ông nào cũng tào lao
Có lắm thánh nhân thì đời chỉ rối mù
Nhiều triết học thêm tối mù đa sựï
……………………………………
Bốn mươi năm khoảng dăm lần tù…”
Xong rồi thì xảy ra sự cố bi thảm chết sau một cuộc nhậu trở về nhà bước hụt chân trên sàn gác không có lan can bao bọc cao 4m rơi xuống gần như tắt thở tại chỗ vô phương cứu vãn. Bây giờ mới thực sự là “Ở đây buổi chiều quanh năm mù sương”… u
Năm 1996 bạn bè in cho tập thơ đầu tiên và duy nhất “Còn một chút gì để nhớ” gồm 45 bài.
737 - Vũ Khánh Thành
NỮ HOÀNG ANH TẶNG BẢO QUỐC HUÂN CHƯƠNG
Doanh nhân Việt kiều sống ở Anh (2006).
Để lại gia đình trong nuớc, một mình vượt biên lần thứ năm mới đến được Anh năm 1979.
Tại đây tập trung vào công việc giúp đỡ các thuyền nhân như mình nhập cư vào Anh trong khi bản thân thì gia đình vẫn chưa qua được. Mãi đến năm 1983 phải vào viện giải phẫu bệnh nặng mới vận động được chính phủ Anh cho bảo lãnh vợ con qua.
Ra viện tiếp tục hoạt động xã hội lập các tổ chức giúp giới thuyền nhân từ Hong Kong, đồng bào mới nhập cư Anh ổn định cuộc sống như tìm kiếm việc làm, xây nhà cho thuê giá rẻ, lập Hội Gia cư An Việt, Làng VN ở London, lập Viện Nghiên cứu Việt Nho và Đông Nam Á…
Trong những hoạt động trên vẫn không quên quê hương nên còn vận động xin tài trợ cho dự án phát triển nghề làm đồ gốm ở Hải Dương.
Từ những hoạt động đó, được bầu làm nghị viên hạt Kackney thuộc London và năm 2006 theo đề nghị của Thủ tướng Tony Blair, được Nữõ hoàng Elizabeth II tặng Bảo quốc huân chương MBE vì công lao cống hiến cho hoạt động xã hội giúp đỡ nguời Việt nhập cư trong 25 năm qua.
738 - Vũ Khắc Khoan
THÀNH CÁT TƯ HÃN MƠ THÀNH PHẬT
Nhà viết kịch sinh 1917 tại Hà Nội – Mất 1986 ở Mỹ (70 tuổi).
Di cư 1954 vào Nam trở thành tác giả kịch nói trình độ nổi tiếng nhất với một loạt vở diễn đầy chất triết lý và kịch tính cao độ pha chất hiện đại như “Thành Cát Tư Hãn”, “Thằng Cuội ngồi gốc cây đa”, “Ngộ nhận”, Những người không chịu chết”, “Lộng ngôn”, “Giao thừa”… Ngoài ra còn tập truyện ngắn kiểu huyền truyện “Thần tháp rùa”.
Tất cả sáng tác đều được vận dụng tư tưởng triết học Đông Tây kết hợp nhằm tìm ra một lý thuyết, con đường tư tưởng chống lại chủ nghĩa cộng sản, ấy là hệ ý thức tiểu tư sản. Như vở “Thành Cát Tư Hãn” nêu bật hình tượng bạo chúa đối nghịch với triết lý “nhân nghĩa thắng hung tàn” trong cuộc xung đột dữ dội quyết liệt với thực tiễn.
Tham gia thành lập nhóm Quan điểm rồi tạp chí Vấn đề nhằm thực hiện ý đồ đó sẵn sàng ra tham chính nhưng nhanh chóng rút ra kết quả kinh nghiệm không đi đến đâu trước thực tế xã hội chính trị khác biệt tới mức nghịch chiều nhau từ chế độ Diệm đến chế độ Thiệu – Kỳ. Từ đó chỉ còn cách rút về dạy học (đại học, trường âm nhạc kịch nghệ Sài Gòn) và sáng tác.
Trong biến cố 30.4.75 di tản qua Mỹ, ban đầu dạy tiếng Pháp ở trường đại học. Viết “Tìm hiểu sân khấu chèo”.
Chỉ một thời gian sau bỗng nhiên từ bỏ tất cả kể cả việc dạy học lẫn viết kịch, lánh xa lánh bạn bè để chuyên tâm đi vào nghiên cứu Phật học. Lập cả một Hội PGVN tại bang Minnesota do mình là chủ tịch hội.
Năm 1984 viết đoản văn “Đọc kinh” dày 30 trang được ca ngợi là một “bài kệ hiện đại” vừa có tính chất tổng kết cuộc đời, sự nghiệp mình soi rọi dưới ánh sáng triết lý Phật học sâu sắc phóng khoáng.
“… Nghiệp chướng bời bời
Rồi từ thủa đó
Chập chờn ma trơi
Khắp nẻo cuộc đời.
Ai trụ ở đó
Ta hay là Ngươi?
Ai trụ ở đó
Ngả ba cuộc đời.
Tầm xuân vẫn biếc
Mây vẫn rong chơi
Ta vẫn rong chơi
Ngả ba cuộc đời.
………….
Tà huy lay lắt
Lay lắt hoa rơi
Bước về đơn chiếc
Những bước mồ côi.
Bước lên hốt hoảng
Những bước vào đời
Ta thường lại đó
Ngả ba cuộc đời….”
“Đọc kinh” còn kết thúc bằng những dòng tâm tư nhớ quê hương như từng giãi bày trong “Đoản văn xa nước”: “Bài kệ vần vũ biến dạng có chỗ nó là tâm nhưng tâm làm sao thấy? Có chỗ nó là quê hương nhưng quê hương đã rời bỏ, dẫu có lặp lại nghìn lần rằng quê hương không nơi nào đẹp bằng chốn ấy… Nhưng Khoan tôi làm sao về được?”
739 - Vũ Minh Châu
CUỘC TÌNH “MẤT LẬP TRƯỜNG”
Bộ đội về hưu sinh 1937 tại Thái Bình. Sống ở Thái Bình (2008).
Vào bộ đội từ năm 1960 làm lính pháo binh, khi ra đi đã có vợ ở quê. Năm 1964 vào chiến trường miền Nam mà không biết vợ đã có thai.
Vào Nam lăn lộn trên nhiều chiến trường trong đó có cuộc chiến Mậu Thân 1968 xâm nhập tận nội thành Sài Gòn. Đến năm 1972 từ Tây Ninh được bố trí xuống đóng quân ở Kiên Giang.
Tại đây làm quen rồi sống chung với một góa phụ đi du kích mới có chồng liệt sĩ hy sinh một năm trước để lại 2 con. Cuộc tình nảy sinh như vậy là vừa vi phạm đạo đức bản thân (đã có vợ) lẫn kỷ luật quân đội “mất lập trường” nhưng bởi hoàn cảnh chiến tranh quá khắc nghiệt chưa biết chết sống lúc nào khiến bản thân con người dễ mềm yếu không vượt qua được tình cảm nam nữ thông thường : “Đã vào Nam là ra đi không hẹn ngày về. Trước khi đi tôi đã bảo vợ xem có ai thì lấy người ta đi chứ tôi ra đi không biết có ngày về. Chiến đấu ác liệt không còn thời gian mà ngoái lại. Nhiều khi cũng có nghĩ về nhà (ngoài Bắc) nhưng thấy xa xôi quá không thể nào với tới được…”
Nhưng cả người vợ liệt sĩ cũng nhận lỗi về phần mình: “Tại mình thương quá mình mất lập trường chứ không trách gì người ta”!
Năm 1975 sau khi chiến tranh kết thúc đúng lúc cô vợ miền Nam có thai thì mình được lệnh điều xuống Cà Mau nhận nhiệm vụ khác. Đến cuối năm vợ sau sinh con trai báo tin, chồng gửi thư về hẹn sẽ quay lại Kiên Giang đưa cả 2 mẹ con về Bắc.
Nhưng năm 1976 người chồng có dịp về Bắc mới hay vợ cũ vẫn ở vậy chờ mình và mình đã có đứa con trai đầu lòng nay đã 13 tuổi! Quay về miền Nam lòng dạ ngổn ngang rối bời chưa biết tính sao với 2 người vợ cùng 2 đứa con Bắc – Nam thì được lệnh lên đường qua chiến trường Campuchia đánh Khmer Đỏ. Bởi vậy khi người vợ sau đợi con lớn hơn một chút mới bế con xuống Cà Mau thăm thì mới hay chồng đã đi rồi!
Và người chồng như thế đi luôn một mạch 32 năm như trước kia cũng từng rời quê miền Bắc để lại người vợ đầu mà đi biệt suốt 13 năm ròng rã. Đôi bên bặt tin nhau từ đó.
Người chồng sau thời gian chiến đấu ở Campuchia được chuyển ra Bắc rồi cho phục viên về quê sum họp với vợ con. Sinh được thêm 2 con nữa, cả nhà trần thân ra làm ruộng.
Thời đó đương nhiên cuộc sống ở nông thôn rất khó khăn khiến đôi lúc có muốn, có nghĩ có nhớ về người vợ miền Nam cũng không sao tìm cách về Nam lại được. Đừng sá xa xôi, tàu xe nhiêu khê, tiền bạc hoàn toàn không, thư từ liên hệ càng khó nữa vì phương tiện liên lạc nghèo nàn lạc hậu mà mình lại ở vùng quê xa hẻo lánh. Trong thâm tâm chỉ mong sao “cô ấy” lấy chồng khác đỡ đần mà lãng quên đi chuyện cũ một thời khói lửa đã qua.
Nhưng người vợ miền Nam không hề bước đi bước nữa mà cứ ở một mình nuôi con khôn lớn. Để đến khi con trai khôn lớn đến năm 2008 quyết tâm theo lời mẹ đi tìm cha cho được. Cuối cùng nhờ chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của VTV 1 tìm thông tin giúp mới gặp được người cha chưa hề thấy mặt bao giờ.
Còn người cha không chỉ gặp con mà còn được ôm vào lòng đứa cháu nội nữa và người cựu chiến binh ấy bây giờ mới được con trai dẫn về thăm quê cũ “cố nhân” cùng bao kỷ niệm chiến trường xưa. Riêng người vợ đầu chân quê lại… mừng “không đẻ không nuôi mà có thêm con”!
740 - Vũ Sơn
ANH HÙNG… CHĂN VỊT
Nông dân sinh tại Bến Tre. Sống ở Bến Tre (2008).
Trải qua 12 năm trận mạc trong chiến tranh chống Mỹ, là đội trưởng đội săn tàu Mỹ trên sông ở Bến Tre, đơn vị duy nhất làm nhiệm vụ này trên chiến trường Nam bộ. Thành lập năm 1967 đã bắn cháy, bắn chìm hơn 200 tàu địch, được phong Anh hùng Lực lựợng vũ trang nhân dân năm 1970.
Năm 1981 xin ra quân trước thời hạn nên không được hưởng chế độ hưu trí chỉ có tiền hỗ trợ thương binh. Lấy vợ cũng là đồng đội cũ sinh tới 7 đứa con trong đó con gái đầu tiên sinh năm 1977 mắc di chứng CĐDC bị bại não khiến cha mẹ phải lo từng li từng tí suốt đời.
Không sống nổi với tiền trợ cấp nên năm 1981 dắt theo 3 đứa con xuống Cà Mau làm nghề chăn vịt chạy đồng – cả hơn 10.000 con – cho người ta lấy tiền nuôi con ăn học mong sau này có nghề sống được hơn đời mình thất học.
Nhưng chăn vịt cả 10 năm rốt cuộc chẳng được gì, không dành dụm được mấy sản do vịt gặp đại dịch chết tràn đìa trắng sông, cả chủ lẫn người làm công đều méo mặt vì người lỗ vốn dẫn đến kẻ mất tiền lương. Thế là cha con đành khăn gói tìm về quê cũ Bến Tre kiếm kế sinh nhai khác.
Lần này trở lại với những dòng sông cũ Giồng Trôm, Hàm Luông quen thuộc một thời lập chiến công đánh giặc trên sông nước, tuy nhiên bây giờ là nhờ sông nước nuôi mình đóng đáy, đơm cá. Ngoài ra còn làm thêm mảnh ruộng, có ai kêu việc gì làm việc nấy bất kể nặng nhọc vất vả đến đâu.
May mắn 6 đứa con còn lại vẫn bình thường, cố gắng học hành nên người, 4 em vào đại học, một vào cao đẳng, một sắp tốt nghiệp phổ thông dần dần cũng giúp đỡ đần được cha mẹ.
Nhưng bây giờ con cái lớn rồi ra đời đi làm tứ xứ nên rốt cuộc nhà chỉ còn 3 người trong đó bản thân mình cùng lúc phải chăm nom cho 2 người kia là cô con gái hơn 30 tuổi đầu trí óc không phát triển và người vợ do trước kia từng bị địch giam cầm tra tấn rồi sau này lại phải chịu đựng cuộc sống quá khốn khó kiến có dấu hiệu rơi vào trầm cảm. Thêm một lần nữa làm anh hùng nuôi người bệnh.
(Còn tiếp)
http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hshc-ki-73
Tết Mồng Năm ở Huế
Người Huế ăn Tết Mồng Năm không thể thiếu thịt vịt, bánh tráng, chè kê.Ngày Tết Mồng Năm hay Tết Đoan Ngọ là một ngày tết cổ truyền của dân tộc Việt. Trong văn hoá Việt thì ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Trong dân gian lưu truyền câu ca dao: Tháng Năm ngày tết Đoan dương/Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang.
Sách “Phong thổ ký” cho rằng, Tết Đoan Ngọ được gọi là Tết Đoan dương. Đoan Ngọ là bắt đầu giữa trưa, dương là mặt trời, là khí dương, Đoan dương có nghĩa bắt đầu lúc khí dương đang thịnh. Vì tháng 5 là lúc bắt đầu trời nắng to, khí dương đang thịnh như mặt trời chính ngọ, mà phương Nam là chính ngọ, là ngôi dương cho nên tết này gọi là Tết Đoan dương.
Ngày 5-5 Âm lịch quan trọng như thế nên một số nước Á Đông đều ăn Tết Đoan Ngọ và tùy theo mỗi nước mỗi dân tộc sẽ chọn cho ngày tết này một ý nghĩa nào đó.
Thịt vịt cùng với bánh tráng, chè kê là những món ăn không thể thiếu vào dịp Tết Mùng Năm ở Huế
Ở nước ta, tương truyền, ngày tết này các loài sâu bọ, côn trùng, thằn lằn, gián… đều ẩn núp. Phải chăng, trong dịp này, người xưa đặt lệ giết sâu bọ để bảo vệ môi trường, mùa màng, sức khỏe nên bọn sâu bọ, chuột. thằn lằn phải trốn?
Ngày xưa, cứ dịp Tết Mồng Năm, đúng ngọ người lớn gọi con cháu ra giữa sân, ngẩng mặt nhìn bầu trời để người lớn nhỏ dịch chanh vào mắt với niềm tin rằng cả năm không bị đỏ mắt (?)…
Riêng ở Huế thì người ta ăn Tết Mồng Năm không thể thiếu thịt vịt, bánh tráng chè kê.
Một nét đẹp của ngày Tết Mồng Năm của người Việt là đi lễ nhà gái: Nếu nhà trai đã dạm hỏi nhà gái, chưa đến ngày cưới mà gặp dịp Tết Mồng Năm thì tối thiểu mang một cặp vịt (một trống một mái), vài cân nếp, kê… đến thăm nhà gái. Nếu không đi tết như thế thì nhà gái sẽ cười chê nhà trai không biết điều.
Có người cho rằng, Tết Đoan Ngọ là ảnh hưởng Trung Quốc nên không thuần túy Việt. Chưa chắc nhận định ấy đã chính xác. Thật vậy, bà Âu Cơ là con vua Hồ Động Đình, mà vùng Hồ Động Đình là nơi quần tụ của các tộc Việt trong Bách Việt xưa. Vậy Tết Mồng Năm là Tết của người Việt cổ, xin đừng lo và cứ tổ chức Tết này, trước là tưởng nhớ Quốc Mẫu Âu Cơ sau là giữ một ngày Tết đậm đà văn hóa vật thể và phi vật thể vậy.
Theo Hà My (Thừa Thiên Huế Online)
Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011
Saigon Quán Cà Phê Và Tuổi Lang Thang
Bài viết của Nguyễn Mạnh An DânAnh em nào có ở Đại Học Xá Minh Mạng những năm 1966-67, đã từng lê la ngồi ngắm đất trời ở Ngã Sáu Chợ Lớn, chỗ quán cóc ngay góc đường Minh Mạng và Nguyễn Tri Phương, từng ít nhiều là thân chủ có ký sổ dài hạn với chú Tàu con phì lũ, xin nhận một lời nhắn,
“hồi đổi đời mấy anh tứ tán muôn phương hết, ba bốn cuốn sổ đầy những con số em không lấy được đồng nào nhưng em không buồn. Nhớ lại những ngày vui cũ mà rầu thúi ruột. Ước gì có được không khí hồi đó, con người hồi đó. Mấy anh đi ra đi vào, hớn hở kể chuyện tán đào, rầu rĩ ôm gối thất tình, nồng nhiệt tính chuyện lấp biển dời sông, bàn tán tính đường trốn lính, cái gì cũng ồn ào bộc trực, thoải mái tự nhiên, không màu mè rào đón, không kiểu cách đóng trò gì cả, sống đã thiệt. Vui kiểu đó em bán cà phê cho mấy anh ký sổ hoài cũng được.”
Đầu năm 1980, giữa rừng già Bình Long tôi đã tình cờ gặp lại người chủ, người bạn nhỏ này. Tôi là tù cải tạo, bạn khổ sai kinh tế mới, cả hai đều thảm như nhau nhưng đều có chút rộn ràng nhịp thở khi nhắc lại những chuyện mới đó nhưng như đã lâu lắm rồi. Người bạn nhỏ đã nói với tôi những lời ấm áp, không nguyên văn thì cũng đúng ý như đã ghi ở trên và tôi muốn gởi những lời này đến các bạn như một kỷ niệm chung và tôi cũng muốn mượn dịp này để nói về cà phê Sài Gòn, ngày đó.
Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết mà, muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó: cà phê sẽ loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê Mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi. Muốn kẹo thêm nữa hả? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưởi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị Rhum, thì Rhum. Bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút Bretel vào.
Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà. Đậm làm sao? Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm lấy. Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc. Bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan mới đã đời, thú vị phải không? Thì đó, bạn đã có đủ hết những gì bạn cần sao không tự pha ra mà uống, lại cứ đòi đi uống cà phê tiệm, dị hợm không?
Nói vậy chứ tôi biết, tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người cà phê. “Uống” không khí và cảnh sắc cà phê. “Uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn đi với tôi, quanh quanh Sài Gòn làm vài ly chơi. Dĩ nhiên là tưởng tượng, cả bạn và tôi đều biết, đã xa rồi, biền biệt lắm rồi, ngày đó. Tôi xin bắt đầu từ giữa thập niên 60, những năm đầu tôi sống ở Sài Gòn và cũng là giai đoạn đất nước thực sự có những trở mình to tát. Những cơn lốc kinh hồn. Những bùng vỡ vượt mọi giới hạn. Những xô đẩy, mời gọi đầy lôi cuốn và cũng nhiều cạm bẩy.
Niềm vui và nỗi hy vọng về một vận hội mới sau biến cố năm 1963 qua nhanh theo với sự yểu tử tất yếu của những người đã nhân danh một cuộc cách mạng, nhưng là thứ cách mạng nửa vời, có khả năng đả phá nhưng lại thiếu bản lãnh và tâm lực để xây dựng, kiến tạo; rồi chỉnh lý, tái chỉnh lý. Chính quyền quân nhân. Chính quyền dân sự. Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Huế và các tỉnh miền Trung. Phong Trào Nhân Dân Tự Quyết ở Đà Nẵng. Phật Giáo đưa bàn thờ xuống đường. Thiên Chúa Giáo biểu dương lực lượng ở chỗ này chỗ khác.
Người Mỹ đổ bộ càng lúc càng đông, theo với nó là các Snack Bars, gái làm tiền và sự phá sản nghiêm trọng của nhiều giá trị luân lý và đạo đức. Chiến trường càng lúc càng khốc liệt, càng áp gần và đã trở thành một nỗi ám ảnh dai dẳng; một cơn ác mộng thường trực. Đủ thứ chiêu bài, đủ thứ lý thuyết mới mẻ và lôi cuốn được nhân danh, được nhắc đến…
Như vậy đó, miền Nam Việt Nam những năm giữa thập niên 60. Như vậy đó, tuổi trẻ Việt Nam lột xác: phải biết lớn ra, phải tự già đi trước tuổi của mình. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại. Những mơ mộng hoa bướm tự nó đã thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên. Khuôn mặt, dáng vẻ dường như tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không còn, cũng không thể vô tư nhởn nhơ được nữa.
Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên. Những ly cà phê đắng đầu tiên trong đời được nhấp vào và dù muốn hay không, tuổi trẻ đã thực sự bị chi phối, và phải thường xuyên đối diện với những bất hạnh của dân tộc mình. Những thảm kịch của thân phận mình và quán cà phê trở thành cái nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng. Có một chút làm dáng, thời thượng. Thông cảm giùm đi, tập làm người lớn mà.
Những ngày mới vào thủ đô, tôi ở Đại Học Xá Minh Mạng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Trong suốt nhiều tuần lễ đầu tiên tôi đã dè dặt khi đi lại và lúc nào cũng lẩm nhẩm câu “thần chú” bạn bè mớm cho: Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên và mườn tượng ra một “lá bùa” như một thứ kim chỉ nam khả dụng. Hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Dĩ nhiên nếu tính từ đại học xá, Phan Thanh Gian được hiểu như bao gồm cả khúc Minh Mạng nối từ Ngã Bảy đến Ngã Sáu Chợ Lớn và Phan Đình Phùng phải cộng thêm khúc Lý Thái Tổ rẽ phải đến Ngã Bảy hay rẽ trái đến Trần Hoàng Quân để về Ngã Sáu.
Về sau, khi đã khá quen quen, lá bùa được vẽ lớn thêm ra: Từ Phan Thanh Giản , rẽ phải theo Lê Văn Duyệt sẽ đến phố chính Lê Lợi, nhà sách Khai Trí, chợ Bến Thành, rẽ trái lên Hòa Hưng, Bảy Hiền. Từ Phan Thanh Giản rẽ phải ở Hai Bà Trưng sẽ đến bến Bạch Đằng, rẽ trái sẽ qua cầu Kiệu, Ngã Tư Phú Nhận. Cũng từ Phan Thanh Giản rẽ trái ở Đinh Tiên Hoàng sẽ đến rạp Casino Dakao, Lăng Ông Bà Chiểu và hướng ngược lại là trường Văn Khoa. Cứ như thế, cái xe Gobel hai số cọc cạch, nổ bành bạch như máy xay lúa, trung thành như một người bạn thân thiết tha tôi đi khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.
Những ngày này tôi là khách thường trực của quán cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia. Nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặc quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong. Cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.
Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó, việc của bạn là uống vậy thì đừng táy máy đụng vào làm hư cà phê của tôi. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và chờ. Yên tâm đi, đừng nôn nóng gì cả, bạn sẽ có cà phê ngon để uống mà. Ông chủ sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường cho bạn, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương. Đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Nhiều người mới đến lần đầu không biết, cà phê bưng tới là tự lo liệu cho mình đều bị chỉnh ngay: Ông nôn nóng mở phin lỏng như vậy nước chảy ào ào còn gì là Thu Hương! Ông bỏ đường ngọt như ăn chè vậy còn gì là Thu Hương! Ông khuấy cốp cốp kiểu đó cà phê sẽ chua lét là ông giết Thu Hương rồi! “Thằng cha” này rắc rối thật nhưng là sự rắc rối có thể hiểu được, thông cảm được miễn là cà phê ngon. Mà cà phê Thu Hương ngon thiệt, ngon lắm.
Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh. Có người dùng ánh sáng và trang trí. Có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên. Có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công.Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, có thể họ từ bên trường Luật qua, từ dưới Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc lên. Từ Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Hội Việt Mỹ lại. Từ Huỳnh Thị Ngà, Nguyễn Công Trứ, Vương Gia Cần, Võ Trường Toản, Thư Viện Quốc Gia tới, quanh quanh khu Tân Định, Dakao cả mà. Cũng có người từ xa hẹn nhau đến nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa”lắm, “ông” nào “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng với nào là “Hố Thẳm Tư Tưởng” của Phạm Công Thiện, "Cho Cây Rừng Còn Xanh Lâu" của Nguyễn Ngọc Lan, "Nói Với Tuổi 20" của Nhất Hạnh, v.v
Ở Thu Hương dĩ nhiên là có thể “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” hay nhiều thứ giải khát khác. Tuy nhiên, phần lớn là nhâm nhi ly cà phê. Thu Hương nổi tiếng như vậy. Ông chủ điệu như vậy, dù rành hay không cũng phải ráng tỏ ra sành điệu với người ta chứ! Lại còn phải cố bậm môi kéo Basto xanh cho có vẻ phong trần. Cứ như thế mà trầm ngâm suy tư, rì rào tâm sự; đốt bao tử, đốt phổi và đốt thời gian. Nghĩ lại thật phí phạm và đáng tiếc nhưng hồi đó thì không thấy như thế. Phải như vậy chứ sao! Thời chiến mà, buổi nhiễu nhương mà!
Ngày đó tôi thường ngồi Thu Hương với VCT, một người bạn đang học năm cuối ở trường Y Khoa, anh là người rất mê giáo sư Trần Ngọc Ninh, coi ông là một nghệ sĩ tài hoa, một tay dao bậc thầy trong ngành giải phẩu và vẫn thường say sưa kể việc thầy Ninh có thể cầm lưỡi dao lam khẻ vào tập giấy quấn thuốc và cho biết trước là sẽ rạch đúng mấy tờ. Bạn tôi đúng là người trời sinh ra để làm thầy thuốc, anh muốn xoa dịu mọi khổ đau và không chịu được những điều tàn nhẫn, thô bạo.
Hồi sinh viên LKSN té lầu chết ở trường Y Khoa, báo đăng nói là tai nạn nhưng không biết từ đâu bạn tôi khẳng định đây là một vụ ám sát, thanh toán lẫn nhau và anh đau đớn, tức giận lắm. Người với người, chả lẽ không còn cách nào để có thể đối với nhau phải chăng hơn hay sao? Câu hỏi này theo anh rất lâu. Anh ra trường, làm y sĩ tiền tuyến, ở lại với thương bệnh binh ngày thành phố di tản và vào tù. Đến lúc này anh đã có câu trả lời cho điều ám ảnh nhiều năm trước: Không phải không có cách mà là dường như người ta không cần và cũng không muốn phải chăng với nhau. Đau thật, nỗi đau quặn thắt tim gan.
Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur. Bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may Thiết Lập, vậy bạn có biết Cà Phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó chéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung Tâm Thực Nghiệm Y Khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng không biết do ai đặt, gọi riết thành quen chứ thực sự dường như quán không có bản hiệu, và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại.Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá, một bình hoa tươi, một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.
Cà Phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi. Tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn, đặc biệt là loại nhạc “mệt mỏi” cỡ như “Đại Bác Đêm Đêm…” hay “Đàn Bò Vào Thành Phố…” đã trở thành một cái “mốt,” một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà Phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán, những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút, đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.
Đến Hồng không chỉ có nghe nhạc về quê hương, chiến tranh và thân phận. Ở đây còn có thể đọc về những điều đó. Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà Phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ.
Hồi Nguyễn Đăng Trừng chuẩn bị ứng cử vào Tổng Hội Sinh Viên, ban tham mưu của anh ta thường gặp nhau ở Cà Phê Hồng và khi Trừng thành chủ tịch, Đặng Tấn Tới phụ trách tờ Nội San Sinh Viên, mặc dù lúc đó đã có trụ sở ở số 4 Duy Tân, rất nhiều anh em cũng vẫn thường kéo nhau đến Cà Phê Hồng. Những ai hồi đó nhỉ? Đông lắm và vui lắm, vui và có ý nghĩa vì dường như tất cả đều muốn làm một điều gì. Tôi nói dường như bởi vì, nhiều năm sau thực tế đã chứng minh là không phải chỉ có những người đến với phong trào sinh viên vì nhiệt huyết và lý tưởng, muốn một miền Nam tốt hơn, muốn bảo vệ hữu hiệu và xây dựng đất nước hoàn hảo hơn mà còn một số khác, dù không nhiều, đến với chủ tâm lợi dụng, coi phong trào như một cơ hội để phục vụ cho những ý đồ đen tối mà họ đang theo đuổi. Sau này, khi đã đắc thời, người Cộng Sản vẫn thường hãnh diện nhắc đến phong trào sinh viên, coi đó như là sản phẩm của họ. Ai cũng biết là không phải như vậy. Thật tội nghiệp cho những người cứ phải giả vờ như không biết. Cứ phải ra rả như cái máy lặp đi lặp lại những điều mà chính họ cũng biết là không có thật.
Tôi đã đi quá xa rồi phải không? Xin lỗi, cho tôi được mượn cơ hội này để nói về tuổi trẻ của chúng ta một chút, tôi đang trở lại với Cà Phê Hồng đây. Hồng là ai? Tôi không biết, quán có ba cô chủ, ba chị em. Người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và đều ít nói, ít cười. Cái kiểu ít nói ít cười làm chết người ta. Còn cái dáng đi nữa, bạn còn nhớ không? Làm ơn nhắc giùm để tôi tả cho chính xác đi, khó quá. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có những lời hát khó giải thích nhưng dễ cảm nhận như “vết lăn, vết lăn trầm” hay “vết chim di” gì đó có lẽ có thể mượn để hình dung ra dáng đi của mấy cô chủ Cà Phê Hồng. Nó nhẹ lắm, êm ái thướt tha lắm và cũng lặng lờ khép kín lắm. Chính cái vẻ lặng lờ vừa như nhu lệ thẹn thùng, vừa như kênh kiệu kiêu sa, vừa lãng đãng liêu trai đó đã làm khổ nhiều trái tim trai trẻ lắm, rất nhiều.
Giữa những năm 80, sau nhiều năm bầm dập ở nhiều trại giam khác nhau, tôi về lại Sài Gòn và có nhiều lần đi qua đi lại ở đường Pasteur. Cà Phê Hồng không còn, dãy phố nhỏ buồn thiu, im lìm và trống vắng như nét ảm đạm chung của toàn thành phố một thời rộn rã của chúng ta. Đối diện nơi quán cũ, gần cuối bờ thành viện Pasteur là một bãi rác khổng lồ, ruồi nhặng đen gật và mùi hôi thối nồng nặc, trùm tỏa. Ở đó, hàng trăm ông lão bà cụ. Hàng trăm trẻ em trai gái tranh nhau giành giật, đào móc từng chút sắt vụn, từng mảnh nhỏ nylon.
Tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn cảnh não lòng này và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Anh em ta có bao giờ tự thấy là dường như mình đã đắc tội, đã phụ lòng, đã không làm hết, đã không cố gắng đủ để bảo vệ cho những gì cần bảo vệ, giữ gìn hay không? Và những người bên kia, có bao giờ nghĩ lại và tự hỏi họ đã nổ lực để đạt đến điều gì? có xứng đáng và cần thiết không? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào? Ai có thể trả lời được về số phận của những con người nhỏ nhoi trong nỗi tan tác chung của cả một dân tộc!
Viện Đại Học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý: Hào quang của phong trào Phật giáo đấu tranh từ nhiều năm dồn lại, cùng với những tên tuổi chính trị Trí Quang, Thiện Minh, Huyền Quang, Hộ Giác… những cổ thụ văn hóa Minh Châu, Mãn Giác, Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tôn Thất Thiện… đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân nhất.
Ở Sài Gòn, ngoài viện Đại Học Vạn Hạnh và các trường Bồ Đề, Tổng Vụ Giáo Dục và Thanh Niên thuộc Giáo Hội Phật Giáo còn nhiều cơ sở trực thuộc khác như cư xá Quảng Đức ở đường Công Lý, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở chùa Ấn Quang.
Nói chung là dân Vạn Hạnh có nhiều chỗ để lui tới, để “dụng võ” lắm. Tuy nhiên, dường như “tổng đàn” của Vạn Hạnh không nằm ở những nơi chốn “thâm nghiêm” này, nó đặt tại một tiện cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó chéo về phía chợ Trương Minh Giảng.
Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Chừng đó là quá đủ, quá đạt để phe ta tụ lại: Các anh chị em thuộc khối Văn Thể Mỹ của thầy Phạm Thế Mỹ tấp vào nói chuyện văn nghệ. Nhóm làm thơ trẻ Nguyễn Lương Vỵ, Võ Chân Cửu lúc đó đang lên và đang chiếm đều đặng nhiều cột thơ trên báo Khởi Hành, ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ.
Những “chuyên viên xuống đường trong sáng” chụm đầu lại để bàn kế hoạch. Những “chuyên viên lợi dụng xuống đường” cũng chụm đầu lại để bàn quỷ kế và đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau ở Nắng Mới. Đại Học Vạn Hạnh có một phân khoa mà bên Văn khoa không có: Phân khoa báo chí. Vạn Hạnh còn có một lợi thế như là một sự ưu đãi đặc biệt vì nhu cầu giáo dục là phân khoa sư phạm thi tuyển và được tăng một tuổi theo luật động viên. Vì lẽ đó anh em đến với Vạn Hạnh đông lắm. Không khí ở Vạn Hạnh hào hứng và sôi nổi lắm. Mỗi lần có đợt tranh đấu, xuống đường, ngày Vạn Hạnh chạo rạo, đêm Quảng Đức không ngủ, sáng Nắng Mới không có chỗ ngồi. Vạn Hạnh như một lò lửa, một điểm nóng, một trung tâm. Tiếc thay đàng sau những nhiệt tình trong sáng, những lý tưởng vô cầu là những bóng đen rình rập, những nanh vuốt hờm sẵn.
Hình như Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh, sống theo Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nó chứng kiến cảnh Nguyễn Tổng cởi áo thầy tu, đi tiếp thu một trường Trung học. Nguyễn Lương Vỵ bỏ bộ mặt hiền thi sĩ đóng vai mặt lạnh ở phòng giáo dục Phú Nhận. Võ Như Lanh xông xáo từ Thành Đoàn qua báo Tuổi Trẻ. Trần Bá Phương làm chúa một trại giam, gọi đẹp đẽ là hiệu trưởng trường giáo dục lao động và còn nhiều lắm, kẻ thù mai phục và bạn bè bạc bẽo trở cờ. Tất cả thành một bầy kên kên nhởn nhơ trên nỗi khổ của anh em, nỗi đau của cả dân tộc.
Ngày tôi về lại Sài Gòn sau nhiều năm phải xa, cà phê Nắng Mới không còn. Đại học Vạn Hạnh biến thành một cư xá sinh viên, áo thun quần lót treo la liệt từ trên xuống dưới, quang cảnh vừa đìu hiu vừa bát nháo nhìn thấy mà đứt ruột. Nghe nói núi sách của thư viện bị lấy hết, đốt sạch. Thầy Minh Châu dời lên một Phật học viện nhỏ trên đường Võ Di Nguy gần Trung Tâm Tiếp Huyết. Thầy Quảng Độ bị quản thúc đâu đó tuốt ngoài Bắc. Thi sĩ, thầy Bùi Giáng lang thang ngạo đời ở đầu phố cuối chợ. Không lâu sau đó Đại Đức Tuệ Sĩ, Trí Siêu lần lượt bị bắt. Vạn Hạnh không còn gì, thật sự không còn gì. Những con người cũ tứ tán muôn phương. Cái nơi chốn đầy sức sống và niềm tin ngày nào giờ tiêu điều buồn bã như giòng kinh nước đen uể oải dưới chân cầu Trương Minh Giảng.
Mấy năm trước đây tôi có được đọc một bài báo, nội dung của nó cũng thường thường không có gì đặc biệt lắm. Tuy nhiên bài báo có nhắc đến một chi tiết làm tôi ngẩn ngơ nhiều ngày. Tác giả đã nói về một quán cà phê thân quen: Quán chị Chi ở Dakao. Thật ra đây không phải là quán cà phê mà là quán trà, mà thật ra có lẽ cũng không thể gọi là quán trà mà chỉ có thể nói là chỗ uống trà ở nhà chị Chi mới hoàn toàn đúng.
Bạn hãy tưởng tượng giùm tôi cái khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp hát Văn Hoa Dakao, ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè. Ở đó không có cái ồn ào náo nhiệt như ngoài Trần Quang Khải, khúc đổ về Tân Định, cũng không có cái tấp nập mắc cửi của đoạn Lê Văn Duyệt hướng về Lăng Ông. Nó trầm lắng cô liêu và im ả tách bit lắm. Nhà nào cũng nhỏ, cất cao hơn mặt đường mấy bực tam cấp xi măng, mở cữa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường.
Quán chị Chi ở một trong những ngôi nhà này. Làm sao để nhận ra? Không biết, tôi đã nói là không phải quán xá gì cả mà, chỉ là tới nhà bà chị uống trà chơi vậy thôi và đã là nhà bà chị thì phải tự biết chớ, cần gì hỏi. Phòng khách, được gọi là quán, của nhà chị Chi nhỏ lắm, chắc độ chín mười thước vuông gì đó, chỉ đủ chỗ để đặc ba bốn chiếc bàn nhỏ. Nhà không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà.”
Giang sơn của chị Chi chỉ có vậy và chị mở “tiệm.” Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo trên đài địa phương hay đọc giới thiệu trên báo chợ báo bán gì cả, mà hoàn toàn do thân hữu chuyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà. Loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho vài hốp nước nhỏ. Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bư. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh, loại bánh đặc biệt của chị Chi, nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm vô cùng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Đến với chị Chi có cái thú vị là được hưởng một không khí thân mật, thoải mái như đang ngồi trong nhà của mình, điều thích nữa là không bao giờ phải bận tâm đến chuyện tiền bạc gì cả, muốn đến lúc nào cứ việc đến, không có tiền thì chỉ cần ngồi cười cười, chị Chi sẽ nói giùm cho bạn điều bạn khó nói, “Cuối tháng chưa lãnh măng đa phải không? Uống gì nói chị lấy.” Chưa hết đâu, khi đã thân, đã thành “bạn của chị Chi,” hai lần mỗi năm vào khoảng trước Giáng Sinh và hăm ba ông táo về trời bạn sẽ được chị Chi kêu “đến chị chơi.” Đến chị chơi có nghĩa là đến uống trà mà không phải trả tiền và nếu gặp lúc chị Chi vui và khoẻ, “chơi” còn có nghĩa là có bánh bèo tôm chấy hay bánh hỏi thịt nướng kèm thêm nữa. Khách của chị Chi không đông, giá nước ở chị Chi không đắt vì vậy chắc chắn chị Chi không sống bằng “cửa tiệm,” chị bán cho vui, bán mà như kêu anh em góp chút tiền cho chị để chị nấu giùm chút nước uống cho vui. Mà quả tình ở chỗ chị Chi vui thật, vui vì những đậm đà tình nghĩa. Hồi đó chị Chi đã khá lớn tuổi, bây giờ sợ chị đã lìa xa chúng ta hoặc nếu không thì cũng không còn đủ sức để nấu nước giùm cho ai được nữa. Quán chị Chi chắc không còn nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị Chi bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ. Tôi nghĩ anh chị em cũng không hẹp lòng gì mà không cho tôi nói lời đại diện này.
Cuộc đời chúng ta đẹp vì những niềm vui nho nhỏ không tên. Sài Gòn của chúng ta đáng nhớ vì những dễ thương nho nhỏ không tên. Chị Chi, chị đã cho chúng tôi những niềm vui ấy. Chị đã góp cho Sài Gòn một phần của cái dễ thương ấy. Cảm ơn chị.
Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, những quán sau này thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà Phê Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ, hình như là Đào Duy Từ, gần Sân Vận Động Cộng Hòa có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, Hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra.
Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả. Tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướng của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, những giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những bi cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất… Đa La.
Ngày khai trương, Đa La đã mời được Linh Mục Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt đến dự và đã chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hữu Hà… Chừng đó là đủ chết người ta rồi. Dân Đại Học Xá kéo qua, dưới Sư Phạm, Khoa Học lên, Y Khoa. Phú Thọ xuống. Cả Petrus Ký, Chu Văn An nữa là đủ bộ, quanh quanh khu Ngã Sáu chấm Đa La và dồn tới. Những ngày đó Đa La đông vui lắm, nó trở thành một chốn tụ tập hết sức văn nghệ. Nó đã chứng kiến sự nở hoa của nhiều mối tình và cũng chia xẻ sự héo tàn của nhiều mối tình khác. Nó có thể tiếp tục buồn vui với những người bạn trẻ như thế nếu như đất nước không có những đột biến to tát: Biến cố Tết Mậu Thân với cảnh nhà cháy người chết ngay tại thủ đô Sài Gòn. Rồi tổng công kích đợt hai. Rồi tổng động viên lần thứ nhất năm 1968. Quân sự học đường. Tổng động viên lần thứ hai năm 1972. Tất cả những điều đó đã làm thay đổi rất nhiều nhịp sống chung và tác động sâu xa đến suy nghĩ và hành động của từng con người.
Đa La vắng dần những người khách cũ, lưa thưa có thêm những người mới với dáng vẻ ủ dột trầm ngâm hơn, lác đác những bộ đồ vàng quân sự học đường, những bộ đồ phép Thủ Đức, những bộ đồ lính thứ thiệt của nhiều quân binh chủng vội đến, vội đi. Đa La lần lượt nhận được tin tức về nhiều người bạn cũ không bao giờ còn trở về. Đa La tiếp tục có thêm nhiều buổi cà phê cuối cùng để tiễn những người đến lượt ra đi. Đa La không vui và những người bạn của Đa La cũng không vui bởi vì cả đất nước không vui, cả dân tộc đang muộn phiền. Đa La còn đến lúc nào? Đóng cữa bao giờ tôi không biết, có điều là đã có thời Đa La giống như một tri kỷ của nhiều người, nó cũng buồn, cũng vui, cũng hy vọng, cũng rã rời, cũng phấn chấn, cũng mệt mỏi, cũng khóc, cũng cười, cũng muốn ngoan ngoãn xây dựng, cũng thích tung trời phá phách, cũng tỉnh, cũng điên, nói chung là nó chung chịu với bạn bè những tháng ngày nhiều chuyện, dễ thương lắm và đáng nhớ lắm, một chút Sài Gòn.
Hồi đã vào Thủ Đức tôi còn rất nhiều dịp để ngồi cà phê Hân, đường Đinh Tiên Hoàng. Thật ra phải nói tôi bị bắt buộc phải ngồi ở đó vì thời gian trong quân trường tôi thuộc loại con bà phước, gia đình ở xa, người yêu thì mặc dù đã quen từ thời còn ở tỉnh nhỏ quê nghèo nhưng cũng vẫn chưa qua được giai đoạn “mặt ngoài còn e,” cuối cùng tôi chỉ còn bạn bè. Hồi đó mỗi lần đi phép, xe quân trường sẽ thả xuống và đón về ở khu Mạc Đỉnh Chi, gần Hội Việt Mỹ. Tuy nhiên dạo đó tình hình sôi động lắm, quân trường lúc cấm trại, lúc xả phép, không chắc lúc nào có thể về được vì vậy tôi chỉ có thể nhắn chung chung là “đón tao ở Hân,” phòng hờ có trục trặc gì thì bạn bè kể như đi uống cà phê chơi với nhau, đỡ sốt ruột. Tôi thật sự vui mừng và cảm động, chưa bao giờ tôi đến Hân mà không có người chờ, cũng chưa bao giờ tôi chờ ở Hân mà không có người đến. Bạn bè! Biết nói sao cho đủ cái nghĩa đặc biệt của hai chữ ấy.
Hân là quán cà phê thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm. Nhìn cái cách người ta ăn mặc. Trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì. Có lẽ cả thời sự chính trị, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy tốt lắm, đáng trân trọng lắm chứ. Tuy nhiên, dường như có một chút gì rất xa, rất lạ với một người lính.
Thật tình tôi chỉ là một người lính bất đắc dĩ, lệnh tổng động viên giới hạn tuổi ở đại học, ông tướng Đạm không ký giấy hoãn dịch nữa thì trình diện. Tôi rời Sài Gòn cũng chưa được bao lâu, ở Thủ Đức thì cũng chỉ mới là lính tập sự, lính sữa. Đã có tối nào nhìn toán tiền đồn lầm lũi đi vào đất địch để phục kích, để lấy tin đâu mà hiểu được nỗi cô đơn. Đã có đêm nào trùm poncho ghìm súng ngồi dưới mưa giữa vòng vây quân địch đâu mà biết được cái cảm giác trống vắng, khiếp hải. Đã bao giờ ôm thân thể thủng nát của một đồng đội rạp người dưới làn đạn thù, nhìn máu chảy cho đến hết đâu mà hiểu được nỗi bi uất, tuyệt vọng. Vậy mà tôi đã tự nhân danh là một người lính để cảm thấy xa lạ, lạc lõng với Hân, với Sài Gon. Kỳ cục không?
Cảm giác của tôi lúc ấy lạ lắm, khó nói lắm. Nhưng tôi không có thì giờ để suy nghĩ, để phân tích điều gì, tôi đang đi phép mà, cho tôi nghỉ một chút, chơi một chút dù cả lúc chơi, lúc nghỉ tôi đều bị cái cảm giác lạ lạ, khó nói kia ám ảnh. Sau này, Nhà văn Thế Uyên có viết một quyển tạp bút tựa là “Mười Ngày Phép Của Một Người Lính.” Tôi đọc và thấy nhẹ nhàng thơ thới lắm. Đại khái tác giả đã nhân danh một người lính mà đặt vấn đề với những con người, những cách sống, nói chung là với một hậu phương mà ông cho là bất xứng. Tôi nhẹ nhõm vì ông Thế Uyên đã nói giùm tôi cái mà tôi gọi là cảm giác khó nói ở trên.
(Đoạn sau đây lẽ ra không có trong bài viết này, nhưng tôi vừa nhắc đến nhà văn Thế Uyên với một cách nói được hiểu như là một sự mến mộ vì vậy nên tôi xin phép nói thêm vài điều trong cái ngoặc đóng này. Đúng, có một thời gian rất dài tôi mến mộ ông Thế Uyên. Tôi mê Thế Uyên từ truyện ngắn “Những Kẻ Thuộc Bài.” Đại khái chuyện muốn nói là mỗi chúng ta đều học được từ sách vở, học đường, tôn giáo và nhiều nguồn giáo dục khác những điều tốt đẹp. Thật đáng buồn, thực tế không giống như những gì ta được dạy. Trong cuộc đời có quá nhiều những kẻ không thuộc bài, có quá nhiều những ngụy quân tử, nói rất đúng bài vở nhưng chính họ lại làm khác và Thế Uyên nhân danh một người thuộc bài, phê phán về điều đó. Tôi đã từng có lúc bạo gan nghĩ là mình cũng thuộc loại thuộc bài nên hết sức thông cảm và chia xẻ nỗi buồi của Thế Uyên, ủng hộ Thế Uyên. Về sau Thế Uyên lập nhà xuất bản Thái Độ, lại đúng nữa, xã hội của chúng ta quả là có nhiều vấn đề cần tỏ thái độ và tôi lại tiếp tục ủng hộ Thế Uyên dù tôi chưa bao giờ gặp gỡ hay quen biết gì với ông. Tôi giữ một tình cảm rất đặc biệt về Thế Uyên cho đến năm 1979. Hồi đó các trại tù đã được thăm nuôi và tôi được bạn bè lén lút gởi cho tờ báo Đứng Dậy hay Đối Diện gì đó của nhóm Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan. Trong tờ báo này có một bài viết của Thế Uyên, anh ta kể về một cái Tết ở trại giam Kà Tum. Nhà văn lớn có khác, tả tết thì đúng là tết, có thịt cá bánh trái ê hề, có cà phê thuốc lá vui vẻ, có giọng nói tiếng cười “hồ hởi phấn khởi,” có những khuôn mặt rạng rỡ tin yêu, có các cán bộ khoan hòa nhân ái như những nhà tu, đặc biệt là cảm tưởng sung sướng xúc động của tác giả khi được đứng nghiêm chào lá cờ máu trong ngày đầu năm. Tôi đọc bài báo mà buồn lắm, buồn ghê gớm lắm. Tôi biết là trong hàng ngũ những kẻ không thuộc bài đã có thêm một người và tôi tự buộc mình phải quên hai chữ Thế Uyên đi, thật đau lòng nhưng phải quên, nhất định).
Tôi xin trở lại với cà phê Hân và xin làm ơn bỏ qua một bên cái cảm giác xa lạ của riêng tôi. Hân vốn tự nó là một nơi chốn hết sức đáng yêu và chắc chắn là một nơi chốn rất đáng nhớ của nhiều người. Về sau, ở đối diện với Hân người ta mở thêm quán cà phê Duyên Anh (không biết nơi này có liên quan gì với nhà văn Duyên Anh hay chỉ là tên đặt bỡi một người chủ ái mộ nhà văn này). Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, cả hai đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Thống Nhất - Cường Để và các anh em bên khu Đài Phát Thanh, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị hướng Phan Đình Phùng, Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ mỉm cuời và sẽ thấy rất gần gũi, rất thân thiết.
Tôi vừa mời các bạn đi thăm một vòng mấy quán cà phê mà chắc nhiều anh em trong chúng ta từng quen biết, từng có những gắn bó thế này hay thế khác. Tôi xin ngừng ở đây nhưng anh em có thể tiếp tục đến những nơi chốn kỷ niệm khác của riêng mình. Tôi biết anh em đều là những người nặng tình cho nên tôi tin là mỗi hẻm nhỏ, mỗi góc phố, mỗi hàng cây, mỗi cổng trường đều thấp thoáng bóng hình của tuổi nhỏ, của quê xưa. Tôi xin nhắc là anh em nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kiến cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió. Anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối với nhau cũng rất đẹp.
“hồi đổi đời mấy anh tứ tán muôn phương hết, ba bốn cuốn sổ đầy những con số em không lấy được đồng nào nhưng em không buồn. Nhớ lại những ngày vui cũ mà rầu thúi ruột. Ước gì có được không khí hồi đó, con người hồi đó. Mấy anh đi ra đi vào, hớn hở kể chuyện tán đào, rầu rĩ ôm gối thất tình, nồng nhiệt tính chuyện lấp biển dời sông, bàn tán tính đường trốn lính, cái gì cũng ồn ào bộc trực, thoải mái tự nhiên, không màu mè rào đón, không kiểu cách đóng trò gì cả, sống đã thiệt. Vui kiểu đó em bán cà phê cho mấy anh ký sổ hoài cũng được.”
Đầu năm 1980, giữa rừng già Bình Long tôi đã tình cờ gặp lại người chủ, người bạn nhỏ này. Tôi là tù cải tạo, bạn khổ sai kinh tế mới, cả hai đều thảm như nhau nhưng đều có chút rộn ràng nhịp thở khi nhắc lại những chuyện mới đó nhưng như đã lâu lắm rồi. Người bạn nhỏ đã nói với tôi những lời ấm áp, không nguyên văn thì cũng đúng ý như đã ghi ở trên và tôi muốn gởi những lời này đến các bạn như một kỷ niệm chung và tôi cũng muốn mượn dịp này để nói về cà phê Sài Gòn, ngày đó.
Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết mà, muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó: cà phê sẽ loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê Mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi. Muốn kẹo thêm nữa hả? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưởi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị Rhum, thì Rhum. Bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút Bretel vào.
Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà. Đậm làm sao? Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm lấy. Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc. Bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan mới đã đời, thú vị phải không? Thì đó, bạn đã có đủ hết những gì bạn cần sao không tự pha ra mà uống, lại cứ đòi đi uống cà phê tiệm, dị hợm không?
Nói vậy chứ tôi biết, tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người cà phê. “Uống” không khí và cảnh sắc cà phê. “Uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn đi với tôi, quanh quanh Sài Gòn làm vài ly chơi. Dĩ nhiên là tưởng tượng, cả bạn và tôi đều biết, đã xa rồi, biền biệt lắm rồi, ngày đó. Tôi xin bắt đầu từ giữa thập niên 60, những năm đầu tôi sống ở Sài Gòn và cũng là giai đoạn đất nước thực sự có những trở mình to tát. Những cơn lốc kinh hồn. Những bùng vỡ vượt mọi giới hạn. Những xô đẩy, mời gọi đầy lôi cuốn và cũng nhiều cạm bẩy.
Niềm vui và nỗi hy vọng về một vận hội mới sau biến cố năm 1963 qua nhanh theo với sự yểu tử tất yếu của những người đã nhân danh một cuộc cách mạng, nhưng là thứ cách mạng nửa vời, có khả năng đả phá nhưng lại thiếu bản lãnh và tâm lực để xây dựng, kiến tạo; rồi chỉnh lý, tái chỉnh lý. Chính quyền quân nhân. Chính quyền dân sự. Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Huế và các tỉnh miền Trung. Phong Trào Nhân Dân Tự Quyết ở Đà Nẵng. Phật Giáo đưa bàn thờ xuống đường. Thiên Chúa Giáo biểu dương lực lượng ở chỗ này chỗ khác.
Người Mỹ đổ bộ càng lúc càng đông, theo với nó là các Snack Bars, gái làm tiền và sự phá sản nghiêm trọng của nhiều giá trị luân lý và đạo đức. Chiến trường càng lúc càng khốc liệt, càng áp gần và đã trở thành một nỗi ám ảnh dai dẳng; một cơn ác mộng thường trực. Đủ thứ chiêu bài, đủ thứ lý thuyết mới mẻ và lôi cuốn được nhân danh, được nhắc đến…
Như vậy đó, miền Nam Việt Nam những năm giữa thập niên 60. Như vậy đó, tuổi trẻ Việt Nam lột xác: phải biết lớn ra, phải tự già đi trước tuổi của mình. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại. Những mơ mộng hoa bướm tự nó đã thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên. Khuôn mặt, dáng vẻ dường như tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không còn, cũng không thể vô tư nhởn nhơ được nữa.
Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên. Những ly cà phê đắng đầu tiên trong đời được nhấp vào và dù muốn hay không, tuổi trẻ đã thực sự bị chi phối, và phải thường xuyên đối diện với những bất hạnh của dân tộc mình. Những thảm kịch của thân phận mình và quán cà phê trở thành cái nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng. Có một chút làm dáng, thời thượng. Thông cảm giùm đi, tập làm người lớn mà.
Những ngày mới vào thủ đô, tôi ở Đại Học Xá Minh Mạng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Trong suốt nhiều tuần lễ đầu tiên tôi đã dè dặt khi đi lại và lúc nào cũng lẩm nhẩm câu “thần chú” bạn bè mớm cho: Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên và mườn tượng ra một “lá bùa” như một thứ kim chỉ nam khả dụng. Hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Dĩ nhiên nếu tính từ đại học xá, Phan Thanh Gian được hiểu như bao gồm cả khúc Minh Mạng nối từ Ngã Bảy đến Ngã Sáu Chợ Lớn và Phan Đình Phùng phải cộng thêm khúc Lý Thái Tổ rẽ phải đến Ngã Bảy hay rẽ trái đến Trần Hoàng Quân để về Ngã Sáu.
Về sau, khi đã khá quen quen, lá bùa được vẽ lớn thêm ra: Từ Phan Thanh Giản , rẽ phải theo Lê Văn Duyệt sẽ đến phố chính Lê Lợi, nhà sách Khai Trí, chợ Bến Thành, rẽ trái lên Hòa Hưng, Bảy Hiền. Từ Phan Thanh Giản rẽ phải ở Hai Bà Trưng sẽ đến bến Bạch Đằng, rẽ trái sẽ qua cầu Kiệu, Ngã Tư Phú Nhận. Cũng từ Phan Thanh Giản rẽ trái ở Đinh Tiên Hoàng sẽ đến rạp Casino Dakao, Lăng Ông Bà Chiểu và hướng ngược lại là trường Văn Khoa. Cứ như thế, cái xe Gobel hai số cọc cạch, nổ bành bạch như máy xay lúa, trung thành như một người bạn thân thiết tha tôi đi khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.
Những ngày này tôi là khách thường trực của quán cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia. Nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặc quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong. Cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.
Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó, việc của bạn là uống vậy thì đừng táy máy đụng vào làm hư cà phê của tôi. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và chờ. Yên tâm đi, đừng nôn nóng gì cả, bạn sẽ có cà phê ngon để uống mà. Ông chủ sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường cho bạn, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương. Đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Nhiều người mới đến lần đầu không biết, cà phê bưng tới là tự lo liệu cho mình đều bị chỉnh ngay: Ông nôn nóng mở phin lỏng như vậy nước chảy ào ào còn gì là Thu Hương! Ông bỏ đường ngọt như ăn chè vậy còn gì là Thu Hương! Ông khuấy cốp cốp kiểu đó cà phê sẽ chua lét là ông giết Thu Hương rồi! “Thằng cha” này rắc rối thật nhưng là sự rắc rối có thể hiểu được, thông cảm được miễn là cà phê ngon. Mà cà phê Thu Hương ngon thiệt, ngon lắm.
Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh. Có người dùng ánh sáng và trang trí. Có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên. Có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công.Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, có thể họ từ bên trường Luật qua, từ dưới Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc lên. Từ Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Hội Việt Mỹ lại. Từ Huỳnh Thị Ngà, Nguyễn Công Trứ, Vương Gia Cần, Võ Trường Toản, Thư Viện Quốc Gia tới, quanh quanh khu Tân Định, Dakao cả mà. Cũng có người từ xa hẹn nhau đến nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa”lắm, “ông” nào “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng với nào là “Hố Thẳm Tư Tưởng” của Phạm Công Thiện, "Cho Cây Rừng Còn Xanh Lâu" của Nguyễn Ngọc Lan, "Nói Với Tuổi 20" của Nhất Hạnh, v.v
Ở Thu Hương dĩ nhiên là có thể “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” hay nhiều thứ giải khát khác. Tuy nhiên, phần lớn là nhâm nhi ly cà phê. Thu Hương nổi tiếng như vậy. Ông chủ điệu như vậy, dù rành hay không cũng phải ráng tỏ ra sành điệu với người ta chứ! Lại còn phải cố bậm môi kéo Basto xanh cho có vẻ phong trần. Cứ như thế mà trầm ngâm suy tư, rì rào tâm sự; đốt bao tử, đốt phổi và đốt thời gian. Nghĩ lại thật phí phạm và đáng tiếc nhưng hồi đó thì không thấy như thế. Phải như vậy chứ sao! Thời chiến mà, buổi nhiễu nhương mà!
Ngày đó tôi thường ngồi Thu Hương với VCT, một người bạn đang học năm cuối ở trường Y Khoa, anh là người rất mê giáo sư Trần Ngọc Ninh, coi ông là một nghệ sĩ tài hoa, một tay dao bậc thầy trong ngành giải phẩu và vẫn thường say sưa kể việc thầy Ninh có thể cầm lưỡi dao lam khẻ vào tập giấy quấn thuốc và cho biết trước là sẽ rạch đúng mấy tờ. Bạn tôi đúng là người trời sinh ra để làm thầy thuốc, anh muốn xoa dịu mọi khổ đau và không chịu được những điều tàn nhẫn, thô bạo.
Hồi sinh viên LKSN té lầu chết ở trường Y Khoa, báo đăng nói là tai nạn nhưng không biết từ đâu bạn tôi khẳng định đây là một vụ ám sát, thanh toán lẫn nhau và anh đau đớn, tức giận lắm. Người với người, chả lẽ không còn cách nào để có thể đối với nhau phải chăng hơn hay sao? Câu hỏi này theo anh rất lâu. Anh ra trường, làm y sĩ tiền tuyến, ở lại với thương bệnh binh ngày thành phố di tản và vào tù. Đến lúc này anh đã có câu trả lời cho điều ám ảnh nhiều năm trước: Không phải không có cách mà là dường như người ta không cần và cũng không muốn phải chăng với nhau. Đau thật, nỗi đau quặn thắt tim gan.
Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur. Bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may Thiết Lập, vậy bạn có biết Cà Phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó chéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung Tâm Thực Nghiệm Y Khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng không biết do ai đặt, gọi riết thành quen chứ thực sự dường như quán không có bản hiệu, và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại.Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá, một bình hoa tươi, một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.
Cà Phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi. Tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn, đặc biệt là loại nhạc “mệt mỏi” cỡ như “Đại Bác Đêm Đêm…” hay “Đàn Bò Vào Thành Phố…” đã trở thành một cái “mốt,” một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà Phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán, những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút, đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.
Đến Hồng không chỉ có nghe nhạc về quê hương, chiến tranh và thân phận. Ở đây còn có thể đọc về những điều đó. Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà Phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ.
Hồi Nguyễn Đăng Trừng chuẩn bị ứng cử vào Tổng Hội Sinh Viên, ban tham mưu của anh ta thường gặp nhau ở Cà Phê Hồng và khi Trừng thành chủ tịch, Đặng Tấn Tới phụ trách tờ Nội San Sinh Viên, mặc dù lúc đó đã có trụ sở ở số 4 Duy Tân, rất nhiều anh em cũng vẫn thường kéo nhau đến Cà Phê Hồng. Những ai hồi đó nhỉ? Đông lắm và vui lắm, vui và có ý nghĩa vì dường như tất cả đều muốn làm một điều gì. Tôi nói dường như bởi vì, nhiều năm sau thực tế đã chứng minh là không phải chỉ có những người đến với phong trào sinh viên vì nhiệt huyết và lý tưởng, muốn một miền Nam tốt hơn, muốn bảo vệ hữu hiệu và xây dựng đất nước hoàn hảo hơn mà còn một số khác, dù không nhiều, đến với chủ tâm lợi dụng, coi phong trào như một cơ hội để phục vụ cho những ý đồ đen tối mà họ đang theo đuổi. Sau này, khi đã đắc thời, người Cộng Sản vẫn thường hãnh diện nhắc đến phong trào sinh viên, coi đó như là sản phẩm của họ. Ai cũng biết là không phải như vậy. Thật tội nghiệp cho những người cứ phải giả vờ như không biết. Cứ phải ra rả như cái máy lặp đi lặp lại những điều mà chính họ cũng biết là không có thật.
Tôi đã đi quá xa rồi phải không? Xin lỗi, cho tôi được mượn cơ hội này để nói về tuổi trẻ của chúng ta một chút, tôi đang trở lại với Cà Phê Hồng đây. Hồng là ai? Tôi không biết, quán có ba cô chủ, ba chị em. Người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và đều ít nói, ít cười. Cái kiểu ít nói ít cười làm chết người ta. Còn cái dáng đi nữa, bạn còn nhớ không? Làm ơn nhắc giùm để tôi tả cho chính xác đi, khó quá. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có những lời hát khó giải thích nhưng dễ cảm nhận như “vết lăn, vết lăn trầm” hay “vết chim di” gì đó có lẽ có thể mượn để hình dung ra dáng đi của mấy cô chủ Cà Phê Hồng. Nó nhẹ lắm, êm ái thướt tha lắm và cũng lặng lờ khép kín lắm. Chính cái vẻ lặng lờ vừa như nhu lệ thẹn thùng, vừa như kênh kiệu kiêu sa, vừa lãng đãng liêu trai đó đã làm khổ nhiều trái tim trai trẻ lắm, rất nhiều.
Giữa những năm 80, sau nhiều năm bầm dập ở nhiều trại giam khác nhau, tôi về lại Sài Gòn và có nhiều lần đi qua đi lại ở đường Pasteur. Cà Phê Hồng không còn, dãy phố nhỏ buồn thiu, im lìm và trống vắng như nét ảm đạm chung của toàn thành phố một thời rộn rã của chúng ta. Đối diện nơi quán cũ, gần cuối bờ thành viện Pasteur là một bãi rác khổng lồ, ruồi nhặng đen gật và mùi hôi thối nồng nặc, trùm tỏa. Ở đó, hàng trăm ông lão bà cụ. Hàng trăm trẻ em trai gái tranh nhau giành giật, đào móc từng chút sắt vụn, từng mảnh nhỏ nylon.
Tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn cảnh não lòng này và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Anh em ta có bao giờ tự thấy là dường như mình đã đắc tội, đã phụ lòng, đã không làm hết, đã không cố gắng đủ để bảo vệ cho những gì cần bảo vệ, giữ gìn hay không? Và những người bên kia, có bao giờ nghĩ lại và tự hỏi họ đã nổ lực để đạt đến điều gì? có xứng đáng và cần thiết không? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào? Ai có thể trả lời được về số phận của những con người nhỏ nhoi trong nỗi tan tác chung của cả một dân tộc!
Viện Đại Học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý: Hào quang của phong trào Phật giáo đấu tranh từ nhiều năm dồn lại, cùng với những tên tuổi chính trị Trí Quang, Thiện Minh, Huyền Quang, Hộ Giác… những cổ thụ văn hóa Minh Châu, Mãn Giác, Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tôn Thất Thiện… đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân nhất.
Ở Sài Gòn, ngoài viện Đại Học Vạn Hạnh và các trường Bồ Đề, Tổng Vụ Giáo Dục và Thanh Niên thuộc Giáo Hội Phật Giáo còn nhiều cơ sở trực thuộc khác như cư xá Quảng Đức ở đường Công Lý, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở chùa Ấn Quang.
Nói chung là dân Vạn Hạnh có nhiều chỗ để lui tới, để “dụng võ” lắm. Tuy nhiên, dường như “tổng đàn” của Vạn Hạnh không nằm ở những nơi chốn “thâm nghiêm” này, nó đặt tại một tiện cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó chéo về phía chợ Trương Minh Giảng.
Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Chừng đó là quá đủ, quá đạt để phe ta tụ lại: Các anh chị em thuộc khối Văn Thể Mỹ của thầy Phạm Thế Mỹ tấp vào nói chuyện văn nghệ. Nhóm làm thơ trẻ Nguyễn Lương Vỵ, Võ Chân Cửu lúc đó đang lên và đang chiếm đều đặng nhiều cột thơ trên báo Khởi Hành, ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ.
Những “chuyên viên xuống đường trong sáng” chụm đầu lại để bàn kế hoạch. Những “chuyên viên lợi dụng xuống đường” cũng chụm đầu lại để bàn quỷ kế và đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau ở Nắng Mới. Đại Học Vạn Hạnh có một phân khoa mà bên Văn khoa không có: Phân khoa báo chí. Vạn Hạnh còn có một lợi thế như là một sự ưu đãi đặc biệt vì nhu cầu giáo dục là phân khoa sư phạm thi tuyển và được tăng một tuổi theo luật động viên. Vì lẽ đó anh em đến với Vạn Hạnh đông lắm. Không khí ở Vạn Hạnh hào hứng và sôi nổi lắm. Mỗi lần có đợt tranh đấu, xuống đường, ngày Vạn Hạnh chạo rạo, đêm Quảng Đức không ngủ, sáng Nắng Mới không có chỗ ngồi. Vạn Hạnh như một lò lửa, một điểm nóng, một trung tâm. Tiếc thay đàng sau những nhiệt tình trong sáng, những lý tưởng vô cầu là những bóng đen rình rập, những nanh vuốt hờm sẵn.
Hình như Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh, sống theo Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nó chứng kiến cảnh Nguyễn Tổng cởi áo thầy tu, đi tiếp thu một trường Trung học. Nguyễn Lương Vỵ bỏ bộ mặt hiền thi sĩ đóng vai mặt lạnh ở phòng giáo dục Phú Nhận. Võ Như Lanh xông xáo từ Thành Đoàn qua báo Tuổi Trẻ. Trần Bá Phương làm chúa một trại giam, gọi đẹp đẽ là hiệu trưởng trường giáo dục lao động và còn nhiều lắm, kẻ thù mai phục và bạn bè bạc bẽo trở cờ. Tất cả thành một bầy kên kên nhởn nhơ trên nỗi khổ của anh em, nỗi đau của cả dân tộc.
Ngày tôi về lại Sài Gòn sau nhiều năm phải xa, cà phê Nắng Mới không còn. Đại học Vạn Hạnh biến thành một cư xá sinh viên, áo thun quần lót treo la liệt từ trên xuống dưới, quang cảnh vừa đìu hiu vừa bát nháo nhìn thấy mà đứt ruột. Nghe nói núi sách của thư viện bị lấy hết, đốt sạch. Thầy Minh Châu dời lên một Phật học viện nhỏ trên đường Võ Di Nguy gần Trung Tâm Tiếp Huyết. Thầy Quảng Độ bị quản thúc đâu đó tuốt ngoài Bắc. Thi sĩ, thầy Bùi Giáng lang thang ngạo đời ở đầu phố cuối chợ. Không lâu sau đó Đại Đức Tuệ Sĩ, Trí Siêu lần lượt bị bắt. Vạn Hạnh không còn gì, thật sự không còn gì. Những con người cũ tứ tán muôn phương. Cái nơi chốn đầy sức sống và niềm tin ngày nào giờ tiêu điều buồn bã như giòng kinh nước đen uể oải dưới chân cầu Trương Minh Giảng.
Mấy năm trước đây tôi có được đọc một bài báo, nội dung của nó cũng thường thường không có gì đặc biệt lắm. Tuy nhiên bài báo có nhắc đến một chi tiết làm tôi ngẩn ngơ nhiều ngày. Tác giả đã nói về một quán cà phê thân quen: Quán chị Chi ở Dakao. Thật ra đây không phải là quán cà phê mà là quán trà, mà thật ra có lẽ cũng không thể gọi là quán trà mà chỉ có thể nói là chỗ uống trà ở nhà chị Chi mới hoàn toàn đúng.
Bạn hãy tưởng tượng giùm tôi cái khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp hát Văn Hoa Dakao, ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè. Ở đó không có cái ồn ào náo nhiệt như ngoài Trần Quang Khải, khúc đổ về Tân Định, cũng không có cái tấp nập mắc cửi của đoạn Lê Văn Duyệt hướng về Lăng Ông. Nó trầm lắng cô liêu và im ả tách bit lắm. Nhà nào cũng nhỏ, cất cao hơn mặt đường mấy bực tam cấp xi măng, mở cữa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường.
Quán chị Chi ở một trong những ngôi nhà này. Làm sao để nhận ra? Không biết, tôi đã nói là không phải quán xá gì cả mà, chỉ là tới nhà bà chị uống trà chơi vậy thôi và đã là nhà bà chị thì phải tự biết chớ, cần gì hỏi. Phòng khách, được gọi là quán, của nhà chị Chi nhỏ lắm, chắc độ chín mười thước vuông gì đó, chỉ đủ chỗ để đặc ba bốn chiếc bàn nhỏ. Nhà không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà.”
Giang sơn của chị Chi chỉ có vậy và chị mở “tiệm.” Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo trên đài địa phương hay đọc giới thiệu trên báo chợ báo bán gì cả, mà hoàn toàn do thân hữu chuyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà. Loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho vài hốp nước nhỏ. Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bư. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh, loại bánh đặc biệt của chị Chi, nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm vô cùng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Đến với chị Chi có cái thú vị là được hưởng một không khí thân mật, thoải mái như đang ngồi trong nhà của mình, điều thích nữa là không bao giờ phải bận tâm đến chuyện tiền bạc gì cả, muốn đến lúc nào cứ việc đến, không có tiền thì chỉ cần ngồi cười cười, chị Chi sẽ nói giùm cho bạn điều bạn khó nói, “Cuối tháng chưa lãnh măng đa phải không? Uống gì nói chị lấy.” Chưa hết đâu, khi đã thân, đã thành “bạn của chị Chi,” hai lần mỗi năm vào khoảng trước Giáng Sinh và hăm ba ông táo về trời bạn sẽ được chị Chi kêu “đến chị chơi.” Đến chị chơi có nghĩa là đến uống trà mà không phải trả tiền và nếu gặp lúc chị Chi vui và khoẻ, “chơi” còn có nghĩa là có bánh bèo tôm chấy hay bánh hỏi thịt nướng kèm thêm nữa. Khách của chị Chi không đông, giá nước ở chị Chi không đắt vì vậy chắc chắn chị Chi không sống bằng “cửa tiệm,” chị bán cho vui, bán mà như kêu anh em góp chút tiền cho chị để chị nấu giùm chút nước uống cho vui. Mà quả tình ở chỗ chị Chi vui thật, vui vì những đậm đà tình nghĩa. Hồi đó chị Chi đã khá lớn tuổi, bây giờ sợ chị đã lìa xa chúng ta hoặc nếu không thì cũng không còn đủ sức để nấu nước giùm cho ai được nữa. Quán chị Chi chắc không còn nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị Chi bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ. Tôi nghĩ anh chị em cũng không hẹp lòng gì mà không cho tôi nói lời đại diện này.
Cuộc đời chúng ta đẹp vì những niềm vui nho nhỏ không tên. Sài Gòn của chúng ta đáng nhớ vì những dễ thương nho nhỏ không tên. Chị Chi, chị đã cho chúng tôi những niềm vui ấy. Chị đã góp cho Sài Gòn một phần của cái dễ thương ấy. Cảm ơn chị.
Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, những quán sau này thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà Phê Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ, hình như là Đào Duy Từ, gần Sân Vận Động Cộng Hòa có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, Hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra.
Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả. Tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướng của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, những giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những bi cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất… Đa La.
Ngày khai trương, Đa La đã mời được Linh Mục Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt đến dự và đã chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hữu Hà… Chừng đó là đủ chết người ta rồi. Dân Đại Học Xá kéo qua, dưới Sư Phạm, Khoa Học lên, Y Khoa. Phú Thọ xuống. Cả Petrus Ký, Chu Văn An nữa là đủ bộ, quanh quanh khu Ngã Sáu chấm Đa La và dồn tới. Những ngày đó Đa La đông vui lắm, nó trở thành một chốn tụ tập hết sức văn nghệ. Nó đã chứng kiến sự nở hoa của nhiều mối tình và cũng chia xẻ sự héo tàn của nhiều mối tình khác. Nó có thể tiếp tục buồn vui với những người bạn trẻ như thế nếu như đất nước không có những đột biến to tát: Biến cố Tết Mậu Thân với cảnh nhà cháy người chết ngay tại thủ đô Sài Gòn. Rồi tổng công kích đợt hai. Rồi tổng động viên lần thứ nhất năm 1968. Quân sự học đường. Tổng động viên lần thứ hai năm 1972. Tất cả những điều đó đã làm thay đổi rất nhiều nhịp sống chung và tác động sâu xa đến suy nghĩ và hành động của từng con người.
Đa La vắng dần những người khách cũ, lưa thưa có thêm những người mới với dáng vẻ ủ dột trầm ngâm hơn, lác đác những bộ đồ vàng quân sự học đường, những bộ đồ phép Thủ Đức, những bộ đồ lính thứ thiệt của nhiều quân binh chủng vội đến, vội đi. Đa La lần lượt nhận được tin tức về nhiều người bạn cũ không bao giờ còn trở về. Đa La tiếp tục có thêm nhiều buổi cà phê cuối cùng để tiễn những người đến lượt ra đi. Đa La không vui và những người bạn của Đa La cũng không vui bởi vì cả đất nước không vui, cả dân tộc đang muộn phiền. Đa La còn đến lúc nào? Đóng cữa bao giờ tôi không biết, có điều là đã có thời Đa La giống như một tri kỷ của nhiều người, nó cũng buồn, cũng vui, cũng hy vọng, cũng rã rời, cũng phấn chấn, cũng mệt mỏi, cũng khóc, cũng cười, cũng muốn ngoan ngoãn xây dựng, cũng thích tung trời phá phách, cũng tỉnh, cũng điên, nói chung là nó chung chịu với bạn bè những tháng ngày nhiều chuyện, dễ thương lắm và đáng nhớ lắm, một chút Sài Gòn.
Hồi đã vào Thủ Đức tôi còn rất nhiều dịp để ngồi cà phê Hân, đường Đinh Tiên Hoàng. Thật ra phải nói tôi bị bắt buộc phải ngồi ở đó vì thời gian trong quân trường tôi thuộc loại con bà phước, gia đình ở xa, người yêu thì mặc dù đã quen từ thời còn ở tỉnh nhỏ quê nghèo nhưng cũng vẫn chưa qua được giai đoạn “mặt ngoài còn e,” cuối cùng tôi chỉ còn bạn bè. Hồi đó mỗi lần đi phép, xe quân trường sẽ thả xuống và đón về ở khu Mạc Đỉnh Chi, gần Hội Việt Mỹ. Tuy nhiên dạo đó tình hình sôi động lắm, quân trường lúc cấm trại, lúc xả phép, không chắc lúc nào có thể về được vì vậy tôi chỉ có thể nhắn chung chung là “đón tao ở Hân,” phòng hờ có trục trặc gì thì bạn bè kể như đi uống cà phê chơi với nhau, đỡ sốt ruột. Tôi thật sự vui mừng và cảm động, chưa bao giờ tôi đến Hân mà không có người chờ, cũng chưa bao giờ tôi chờ ở Hân mà không có người đến. Bạn bè! Biết nói sao cho đủ cái nghĩa đặc biệt của hai chữ ấy.
Hân là quán cà phê thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm. Nhìn cái cách người ta ăn mặc. Trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì. Có lẽ cả thời sự chính trị, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy tốt lắm, đáng trân trọng lắm chứ. Tuy nhiên, dường như có một chút gì rất xa, rất lạ với một người lính.
Thật tình tôi chỉ là một người lính bất đắc dĩ, lệnh tổng động viên giới hạn tuổi ở đại học, ông tướng Đạm không ký giấy hoãn dịch nữa thì trình diện. Tôi rời Sài Gòn cũng chưa được bao lâu, ở Thủ Đức thì cũng chỉ mới là lính tập sự, lính sữa. Đã có tối nào nhìn toán tiền đồn lầm lũi đi vào đất địch để phục kích, để lấy tin đâu mà hiểu được nỗi cô đơn. Đã có đêm nào trùm poncho ghìm súng ngồi dưới mưa giữa vòng vây quân địch đâu mà biết được cái cảm giác trống vắng, khiếp hải. Đã bao giờ ôm thân thể thủng nát của một đồng đội rạp người dưới làn đạn thù, nhìn máu chảy cho đến hết đâu mà hiểu được nỗi bi uất, tuyệt vọng. Vậy mà tôi đã tự nhân danh là một người lính để cảm thấy xa lạ, lạc lõng với Hân, với Sài Gon. Kỳ cục không?
Cảm giác của tôi lúc ấy lạ lắm, khó nói lắm. Nhưng tôi không có thì giờ để suy nghĩ, để phân tích điều gì, tôi đang đi phép mà, cho tôi nghỉ một chút, chơi một chút dù cả lúc chơi, lúc nghỉ tôi đều bị cái cảm giác lạ lạ, khó nói kia ám ảnh. Sau này, Nhà văn Thế Uyên có viết một quyển tạp bút tựa là “Mười Ngày Phép Của Một Người Lính.” Tôi đọc và thấy nhẹ nhàng thơ thới lắm. Đại khái tác giả đã nhân danh một người lính mà đặt vấn đề với những con người, những cách sống, nói chung là với một hậu phương mà ông cho là bất xứng. Tôi nhẹ nhõm vì ông Thế Uyên đã nói giùm tôi cái mà tôi gọi là cảm giác khó nói ở trên.
(Đoạn sau đây lẽ ra không có trong bài viết này, nhưng tôi vừa nhắc đến nhà văn Thế Uyên với một cách nói được hiểu như là một sự mến mộ vì vậy nên tôi xin phép nói thêm vài điều trong cái ngoặc đóng này. Đúng, có một thời gian rất dài tôi mến mộ ông Thế Uyên. Tôi mê Thế Uyên từ truyện ngắn “Những Kẻ Thuộc Bài.” Đại khái chuyện muốn nói là mỗi chúng ta đều học được từ sách vở, học đường, tôn giáo và nhiều nguồn giáo dục khác những điều tốt đẹp. Thật đáng buồn, thực tế không giống như những gì ta được dạy. Trong cuộc đời có quá nhiều những kẻ không thuộc bài, có quá nhiều những ngụy quân tử, nói rất đúng bài vở nhưng chính họ lại làm khác và Thế Uyên nhân danh một người thuộc bài, phê phán về điều đó. Tôi đã từng có lúc bạo gan nghĩ là mình cũng thuộc loại thuộc bài nên hết sức thông cảm và chia xẻ nỗi buồi của Thế Uyên, ủng hộ Thế Uyên. Về sau Thế Uyên lập nhà xuất bản Thái Độ, lại đúng nữa, xã hội của chúng ta quả là có nhiều vấn đề cần tỏ thái độ và tôi lại tiếp tục ủng hộ Thế Uyên dù tôi chưa bao giờ gặp gỡ hay quen biết gì với ông. Tôi giữ một tình cảm rất đặc biệt về Thế Uyên cho đến năm 1979. Hồi đó các trại tù đã được thăm nuôi và tôi được bạn bè lén lút gởi cho tờ báo Đứng Dậy hay Đối Diện gì đó của nhóm Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan. Trong tờ báo này có một bài viết của Thế Uyên, anh ta kể về một cái Tết ở trại giam Kà Tum. Nhà văn lớn có khác, tả tết thì đúng là tết, có thịt cá bánh trái ê hề, có cà phê thuốc lá vui vẻ, có giọng nói tiếng cười “hồ hởi phấn khởi,” có những khuôn mặt rạng rỡ tin yêu, có các cán bộ khoan hòa nhân ái như những nhà tu, đặc biệt là cảm tưởng sung sướng xúc động của tác giả khi được đứng nghiêm chào lá cờ máu trong ngày đầu năm. Tôi đọc bài báo mà buồn lắm, buồn ghê gớm lắm. Tôi biết là trong hàng ngũ những kẻ không thuộc bài đã có thêm một người và tôi tự buộc mình phải quên hai chữ Thế Uyên đi, thật đau lòng nhưng phải quên, nhất định).
Tôi xin trở lại với cà phê Hân và xin làm ơn bỏ qua một bên cái cảm giác xa lạ của riêng tôi. Hân vốn tự nó là một nơi chốn hết sức đáng yêu và chắc chắn là một nơi chốn rất đáng nhớ của nhiều người. Về sau, ở đối diện với Hân người ta mở thêm quán cà phê Duyên Anh (không biết nơi này có liên quan gì với nhà văn Duyên Anh hay chỉ là tên đặt bỡi một người chủ ái mộ nhà văn này). Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, cả hai đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Thống Nhất - Cường Để và các anh em bên khu Đài Phát Thanh, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị hướng Phan Đình Phùng, Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ mỉm cuời và sẽ thấy rất gần gũi, rất thân thiết.
Tôi vừa mời các bạn đi thăm một vòng mấy quán cà phê mà chắc nhiều anh em trong chúng ta từng quen biết, từng có những gắn bó thế này hay thế khác. Tôi xin ngừng ở đây nhưng anh em có thể tiếp tục đến những nơi chốn kỷ niệm khác của riêng mình. Tôi biết anh em đều là những người nặng tình cho nên tôi tin là mỗi hẻm nhỏ, mỗi góc phố, mỗi hàng cây, mỗi cổng trường đều thấp thoáng bóng hình của tuổi nhỏ, của quê xưa. Tôi xin nhắc là anh em nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kiến cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió. Anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối với nhau cũng rất đẹp.
Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, tặng tất cả những ai còn có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở đâu đó, nơi quê nhà.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)