Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 80 – 8.8.2011 (Trích đăng từ 1.1.2010, xem MỤC LỤC DANH SÁCH ở Kỳ 75)

801 - Đỗ Hữu Vinh

THA THỨ CHO VỢ LẤY MỸ

Cán bộ về hưu sinh 1940 tại Đà Nẵng. Sống ở Đà Nẵng (2002).

Làm thợ may ở Đà Nẵng nhưng bên trong có hoạt động ngầm cho cộng sản. Lấy vợ bán gạo ở chợ sinh được 1 trai 2 gái.

Năm 1965 hoạt động bị lộ nên bỏ trốn vào mật khu để lại vợ con ngoài thành phố.

Vợ bị bắt giam tra hỏi, nhà chồng chẳng những không giúp đỡ gì còn tìm cách xa lánh sợ liên lụy. Vợ khai báo hoàn toàn không biết gì về chồng là Việt Cộng, cảnh sát mật vụ không khai thác được gì nên phải thả ra.

Từ đó để một mình nuôi 3 con, vợ phải xin đi làm tiệm giặt ủi cho lính Mỹ. Tại đây gặp gỡ và sống chung với một trung sĩ Mỹ sinh được một bé gái thì chồng Mỹ về nước không đoái hoài gì. Thế là bây giờ một mình phải nuôi cả 4 con.

Trước ngày giải phóng Đà Nẵng tháng 3.1975 vợ sợ mình có con lai Mỹ sẽ bị cộng sản truy bức nên đem bé gái con lai cho cô nhi viện sau đó được đưa qua Mỹ.

Bấy giờ người chồng đi kháng chiến trở về gặp lại vợ con tuy biết vợ từng lấy Mỹ có con song vẫn rộng lòng bao dung bỏ qua, cho rằng vợ làm vậy cũng là vạn bất đắc dĩ để nuôi con mà thôi dù bên gia đình mình rẻ rúng con dâu là “con đĩ”!

Không chỉ thế, sau này người chồng còn khuyến khích vợ tìm cách liên lạc tìm lại đứa con lai nay đã lưu lạc trên đất Mỹ. Kết quả may mắn năm 1996 nhờ sự giúp đỡ của tổ chức Việt kiều ở Mỹ đã bắt được liên lạc được với con gái nay làm con nuôi ở Mỹ và năm 1997 em đã trở về gặp lại mẹ ruột ở Đà Nẵng.

802 – Đỗ Kế Giai


“LÀM TRÒN TRÁCH NHIỆM MỘT TƯỚNG LÃNH”

Việt kiều Mỹ nguyên Thiếu tướng VNCH sinh khoảng 1933 tại VN. Sống ở Mỹ (2011).

Là Tư lệnh lực lượng Biệt động quân VNCH vào thời điểm trướùc 30.4.1975.

Trong những ngày cuối cùng của chiến cuộc, được phía Mỹ đề nghị đưa đi di tản song đã từ chối với lý do “không thể bỏ đi lúc này vì còn trách nhiệm một tướng lãnh với binh sĩ, với đồng bào”. Từ đó tuân hành lệnh “buông vũ khí” của Tổng thống Dương Văn Minh, đã bàn giao biệt động quân cho cộng sản để… đi cải tạo 17 năm lâu nhất.

Là một trong 4 vị tướng cuối cùng được trả tự do năm 1992 (cùng thiếu tướng Trần Bá Di, Lê Văn Thân, chuẩn tướng Lê Minh Đảo nay đều ở Mỹ, riêng tướng LV Thân đã qua đời). Ra tù với tư thế ngẩng cao đầu: “Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ được tác phong, danh dự. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”

Năm 1993 cùng vợ và 6 con qua Mỹ định cư.

Từ chối viết hồi ký vì “e làm mất lòng nhiều người” bởi quan điểm bộc trực thẳng thắn của mình từng bày tỏ qua việc nhắc lại 2 câu thơ của cổ nhân thay cho lời bình luận về biến cố “mất nước: “Bại binh chi tướng bất khả ngôn dũng/ Vong quốc chi đại phu bất khả ngô trí” (Tướng bại trận không thể nói mình mạnh/ Quan mất nước không thể nói mình hay.”).

803 - Đỗ Văn Du

“VŨ KHÍ” CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Doanh nhân Việt kiều Mỹ sinh 1952 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Mỹ (2009).

Năm 14 tuổi bị mảnh bom cắt đứt một tay và một chân.

Rơi vào khủng hoảng niềm tin cuộc sống: “Trước mắt tôi chỉ có 3 lựa chọn cho tương lai hoặc là tự tử, đi ăn xin hoặc là phải sống đàng hoàng. Dù không còn lành lặn, tôi vẫn yêu cuộc sống. Chiến tranh với biết bao cái chết đã diễn ra vô nghĩa thì được sống là may mắn lắm rồi. Vậy thì phải sống và phải sống đàng hoàng.”

Từ đó chọn con đường duy nhất vươn lên để sống còn là lao vào học hành quyết “Học để thay đổi cuộc đời”. Kết quả năm 1971 giành được một học bổng qua Mỹ học ngành kiến trúc ngay tại Thủ đô Washington.

Ra trường sau một thời gian hành nghề kiến trúc thì được Hãng Boeing cấp học bổng học ngành công nghệ thông tin mới ra đời. Tốt nghiệp đi làm cho trên 10 công ty CNTT hàng đầu của Mỹ, từng làm giám đốc dự án phần mềm cho một tập đoàn lớn ở Mỹ. Từ đó nghiệm thấy CNTT quả là một phương tiện cực kỳ phù hợp giúp người khuyết tật làm việc, phát huy hết khả năng tiềm tàng.

Năm 1990 lần đầu quay về quê hương chứng kiến đất nước có quá nhiều người khuyết tất hậu quả chiến tranh khiến không thể không nghĩ đến việc giúp đỡ nhưng người đồng cảnh ngộ với mình song thiếu may mắn trong cuộc sống. Vì thế khi quay về Mỹ cùng lúc thực hiện hai công việc theo hướng giúp đỡ NKT trong nước.

Trước hết vận động hỗ trợ VN về mặt y tế, quyên góp các trang thiết bị y tế lẫn thuốc men và đưa các đoàn bác sĩ về thăm và chữa bệnh. Đặc biệt chú trọng giúp đỡ trẻ em bị di chứng CĐDC mắc bệnh hiểm nghèo não úng thủy.

Bên cạnh đó ấp ủ ý định thành lập một công ty chuyên về công nghệ thông tin chỉ dành cho người khuyết tật: “Tôi là người khuyết tật nên tôi hiểu người khuyết tật cần gì. Chỉ có CNTT mới rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa họ với người bình thường. Đây là công cụ tuyệt vời để cho NKT có công ăn việc làm ổn định, có vị thế trong xã hội, được xã hội nể trọng.”

Năm 2003 xin nghỉ việc ở Mỹ để về VN làm việc nhằm thực hiện giấc mơ đem CNTT đến với NKT.

Cuối năm 2006 được sự hỗ trợ của một tổ chức phi chính phủ đã chính thức thành lập công ty mơ ước đó, một công ty CNTT đầu tiên dành cho NKT ở VN - Cty PWD Soft, công ty phần mềm dành cho NKT đến học nghề rồi làm việc đặt trụ sở tại Hà Nội – với mục tiêu nêu rõ “Đây không phải làm từ thiện mà chỉ nhắm hỗ trợ cho NKT để họ làm việc và hưởng lương bằng chính sức lao động của mình. Hãy thương NKT đúng cách…”

Dự kiến mỗi năm công ty đào tạo miễn phí cho khoảng 50 NKT thành lập trình viên, sẽ mở chi nhánh ở TPHCM…

804 - Đỗ Văn Yên

“VUA SĂN BẮT CƯỚP” GIÀ NHẤT

Nhân viên bảo vệ sinh 1943 tại miền Bắc. Sống ở Hà Nội (2010).

Bộ đội pháo binh chiến đấu trên chiến trường miền Nam, sau 75 còn chuyển qua đánh giặc tiếp ở Campuchia.

Năm 1995 giải ngũ trở về Hà Nội làm bảo vệ trong Ban Bảo vệ phường Kim Liên, quận Đống Đa. Từ đó nổi tiếng là một khắc tinh của bọn trộm cướp, ăn cắp trong phường qua 15 năm làm nhiệm vụ với thành tích đáng nể hơn 150 lần tóm gọn bọn này từ bọn giật túi xách, dây chuyền, ăn cắp vặt, móc túi đến kẻ có tiền án tiền sự vào tù ra rồi lại tái phạm.

Có lần bị chúng dùng dao đâm trúng bụng đổ máu phải nằm viện nửa tháng nhưng vẫn không nản lòng trước công việc “vác tù và hàng tổng” này vì “Mình vốn là lính có ngán gì mấùy tên này”! Đến 67 tuổi vẫn tiếp tục nhiệm vụ trở thành “lão hiệp sĩ đường phố” duy nhất cả nước.

Làm việc nghĩa dứt khoát không nhận quà cáp đền ơn dù lương thương binh không bao nhiêu. Bù lại, Trời cũng ngó xuống thương tình cho hưởng lộc… trúng vé số độc đắc 2 lần năm 2000 và 2003!

Năm 2000 mua 5 vé số miền Bắc… trúng độc đắc 250 triệu đồng. Nhờ đó mới thực hiện được giấc mơ của người lính già quay lại miền Nam tìm cảnh cũ người xưa một thời lửa đạn rồi ngược ra miền Bắc thăm bao người bạn chiến đấu cùng vào sinh ra tử ngày nào.

Năm 2003 lại… trúng độc đắc 7 vé nữa lãnh 350 triệu đồng! Dùng tiền làm thêm một số “việc công” khác là giúp đỡ các bà vợ liệt sĩ và những đứa con nạn nhân CĐDC với tâm nguyện đơn giản thôi: “Trúng số là mình được ban chút lộc của trời thì phải chia sẻ một tí với người khác chứ!”

805 - Hà Quý Phiến

KIỆN TƯỚNG MỘT CHÂN “ĐÁNH GỘC”

Nông dân sinh 1940 tại Bắc Ninh. Sống ở Bắc Ninh (2010).

Năm 1965 đi bộ đội đưa lên Tây Nguyên gia nhập đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ đường Trường Sơn.

Bị thương hơn chục lần, lần cuối năm 1972 trúng mảnh bom phải cưa một chân trái nên được chuyển ra Bắc điều trị rồi xuất ngũ.

Về quê lấy vợ cô giáo làng năm 1973.

Sau chiến tranh vết thương cũ nơi mõm xương cụt chân trái tái phát lòi ra gây đau nhức phải cưa đi cưa lại đến 5 lần mới lành hẳn.

Bấy giờ còn phải lo nuôi con (5 con) trong hoàn cảnh gia đình thời hậu chiến ở quê nghèo quá khó khăn. Phải chống nạng đi làm đủ các nghề tay chân vẫn không đủ sống.

Bèn ngồi nghĩ tìm ra một nghề “độc chiêu” không ai làm mới mong kiếm sống nổi, đó là “đánh gộc” tức là đốn hay bứng gốc cây cổ thụ rồi chặt ra thồ xe đạp về làng bán làm củi hoặc đổi lấy gạch ngói xây nhà. Làm việc đó không dễ bởi gốc rễ cây cổ thụ ăn sâu dưới lòng đất phải có sức khỏe cực kỳ và búa rìu nhà nghề mới “trục” nó lên được. Vậy mà anh thương binh một chân với dụng cụ thô sơ cuốc xẻng làm được, mà còn làm… gấp 2-3 lần người khác!

Đến khi bao gốc cây cả làng… hết rồi mới xoay qua đạp xe – một chân – đi xa qua cả các tỉnh bạn mua khoai sắn giá rẻ chở về bán lại kiếm lời lấy tiền nuôi con.

Đến khi con cái học hành ra đời trưởng thành rồi, bắt đầu được hưởng nhàn thì quay qua… tập chơi bóng bàn kiên trì luyện ngón độc như “đánh gộc” ngày xưa để tham dự Đại hội Thể thao người khuyết tật toàn quốc từ năm 2003, cả Para Games Đông Nam Á nữa giành hơn 10 huy chương có cả HCV, HCB.

806 - Hải Linh

GIẤC MƠ CA ĐOÀN KHÔNG TRỌN VẸN

Nhạc sĩ Thiên Chúa giáo Việt kiều Mỹ tên thật Trần Văn Linh sinh 1920 tại Ninh Bình – Mất 1988 ở Mỹ (69 tuổi).

Vào dòng tu Thiên Chúa giáo từ năm 11 tuổi. Năm 25 tuổi đã viết ca khúc “Hang Bê Lem” – còn tên “Đêm đông” -- rất nổi tiếng.

Di cư vào Nam 1954 hoạt động âm nhạc Thiên Chúa giáo sôi nổi, phong phú. Vừa sáng tác khoảng 120 ca khúc lẫn trường ca quy mô chia đều cả nhạc đạo lẫn nhạc đời nhằm “tôn vinh Thiên Chúa” và “tán tụng quê hương”.

Nhạc đạo có “Trường ca Ave Maria”, “Nữ vương Hòa bình”… Nhạc đời gồm ca khúc “Đà Lạt trăng mờ”, “Hương quê”, “Tình nước non”, “Tiếng thu”… Và đặc biệt một số trường ca và nhạc kịch phổ thơ tác phẩm cổ điển VN như “Đại tấu khúc Chinh phụ ngâm”, Trường ca Kiều “Cung đàn bạc mệnh”, “Duyên kỳ ngộ” thơ Hàn Mạc Tử…

Ngoài ra còn đi dạy nhạc đại học, viết nhiều sách về nhạc giao hưởng và hợp xướng, dạy 40 lớp ca trưởng đồng thời thành lập và chỉ huy ca đoàn Hồn nước năm 1967 được đánh giá rất cao trong giới nhạc hàn lâm.

Năm 1960 xin ra khỏi dòng tu lập gia đình rồi năm 1961 cả gia đình được qua Mỹ du học. Năm 1970 trở về nước một mình (gia đình vẫn ở lại Mỹ) tiếp tục hoạt động sáng tác và biểu diễn gây nhiều tiếng vang.

Trước 30.4.75 đã định di tản qua Mỹ ở với gia đình nhưng phút chót quyết định ở lại vì lý do “Thiên Chúa kêu gọi”: “Ngày xưa Giáo hội đã đưa tôi đi du học để tôi có được kiến thức như ngày nay, tôi có bổn phận phải trao lại cho người khác. Món nợ này tôi phải trả…”

Nhưng thực tế không dễ gì trả được món nợ đó sau 1975 dưới chế độ mới, tuy bản thân không dính líu hoạt động chính trị nên không bị bắt bớ song tất nhiên bị cấm các hoạt động âm nhạc rút vào ở ẩn dạy nhạc, tập hát ở nhà với tâm sự u uẩn “Tôi tuổi thân cùng tuổi Đức Giáo hoàng. Tuổi thân bạc bẽo lắm, tôi chỉ còn nấp bóng Đức Giáo hoàng để sống được qua ngày nào hay ngày đó thôi.”

Khi tình hình chính trị cởi mở hơn mới được lập nhóm nhạc Quê hương trình diễn trong nội bộ nhà thờ.

Đến 1986 được phép đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Tại đây được giao nhiệm vụ huấn luyện ca trưởng và lập các ca đoàn Việt kiều phục vụ cộng đồng hải ngoại đúng sở trường sở nguyện. Như người gặp cơn khô hạn khát nước lâu nay được hưởng cơn mưa rào ban ân phước, lao vào làm việc với bao tâm huyết với bao dự án ước mơ trong khi bản thân mang sẵn bệnh tim.

Hậu quả bị quá tải suy nhược dẫn đến đột quỵ qua đời chỉ 2 năm sau, khi tâm nguyện chưa thành như mong ước suốt đời dùng âm nhạc phục vụ cả đạo lẫn đời.

807 – Hoàng Thị Hải Lý

NỮ KIỆN TƯỚNG RÀ PHÁ BOM MÌN

Nhân viên phá bom mìn sinh tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2006).

Thủa nhỏ từng nhiều lần chứng kiến người thân, hàng xóm, bạn bè chết và bị thương vì giẫm phải bom mìn còn lại sau chiến tranh kích nổ. Bản thân mình cũng mấy lần suýt chết khi đi khai hoang cuốc đất trồng trọt trên vùng đất “hỏa tuyến” nổi tiếng nhiều bom đạn nhất nước.

Từ đó từ năm 1997 tự mày mò, hỏi han người khác để tìm cách phát hiện nơi nào tình nghi có bom mìn, lựu đạn còn nằm lẩn dưới bờ cỏ hay dưới lòng đất, đánh dấu ghi lại để báo cho người khác biết mà tránh xa.

Năm 2001 tổ chức MAG rà phá bom mìn chiến tranh hợp tác Việt – Mỹ đến vùng này tiến hành công tác “làm sạch” bom mìn trận địa cũ gặp được người nữ hướng dẫn này quá tốt liền nhận ngay vào làm nhân viên sau khi cho học một khóa tập huấn chuyên môn.

Có bài bản rồi càng nhanh chóng trở thành một chuyên gia ngày ngày ngược xuôi giong ruỗi khắp tỉnh Quảng Trị làm nhiệm vụ “cứu” đất cứu người trả lại ruộng đồng cho cây lúa nẩy mầm đơm bông. Kể cả lúc bụng mang dạ chửa gần 9 tháng vẫn mang vác trên người trang thiết bị rà soát bom mìn nặng 7kg bước từng bước chậm trên nền đất sỏi đá dò la dấu vết… tử thần!

808 - Hoàng Thị Ty

DUYÊN MUỘN ĐỜI GÁI THANH NIÊN XUNG PHONG

Nông dân sinh 1953 tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2008).

Vào thanh niên xung phong chống Mỹ làm nhiệm vụ mở đường và canh giữ các chốt tiền tiêu trên đường chuyển quân vào Nam ngang qua Nghệ An.

Trong thời điểm máy bay Mỹ bắn phá khốc liệt tuyến đường này, đã may mắn sống sót trong khi 12 nữ đồng đội thuộc “Tiểu đội Truông Bốn” bám trụ tại địa điểm này (thuộc huyện Đô Lương) đã bỏ mình dưới trận mưa bom từ máy bay Mỹ tháng 10.1968. Nhưng phải mang di chứng bị sức ép của bom làm chân tê liệt đi khập khiễng.

Sau chiến tranh trở về quê (cách Truông Bốn 10km) đã 29 tuổi lỡ thời con gái rồi mà nhà lại nghèo khó nên cuối cùng đành chấp nhận lấy chồng tuổi đã gần… 60! Cũng còn hơn bao chị em đồng đội phải chịu cảnh đơn thân gái già suốt đời.

Dù vậy cũng ráng sinh… 6 con, con út ra đời khi bố đã 70! Nên đã nghèo càng khó hơn nuôi con cực nhọc trăm bề bởi vào thời này chưa hề được hưởng chế độ nào dành cho thanh niên xung phong chống Mỹ, lực lượng – khoảng 300.000 người - đã nhanh chóng giải thể sau 1975.

Đến khi có tin sẽ xem xét cho trợ cấp thì giấy tờ mất hết, muốn làm lại phải tốn vài chục ngàn đồng không lấy đâu ra nên đành chịu!

809 - Hoàng Trung Tiếu


NHÀ TƯ VẤN PHÁP LUẬT LỚN TUỔI NHẤT

Cán bộ về hưu tên thật Hoàng Tiêu sinh 1922 tại Lạng Sơn. Sống ở TPHCM (2011).

Tham gia hoạt động chống Pháp ở miền Bắc từ năm mới 17 tuổi.

Bị quân Pháp truy lùng nên phải tìm cách trốn vào Sài Gòn, ban đầu làm công nhân rồi xoay qua sản xuất phấn rôm bán rất chạy.

Khi bùng nổ kháng chiến chống Pháp đã bỏ công việc làm ăn đang phát đạt để tham gia cướp chính quyền ở Gò Vấp. Rồi theo cộng sản rút vào bưng biền Nam bộ tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chiến đấu bị thương 4 lần nên được cho đi học một khóa quân pháp để chuyển qua ngành tư pháp.

Năm 1954 tập kết ra Bắc được phân công qua làm tòa án.

Năm 1967 được đưa trở lại miền Nam hoạt động được một thời gian thì bị bắt. Đến năm 1973 được trao trả tù binh về chiến khu Lộc Ninh.

Sau 1975 làm việc ở tòa án nhân dân TPHCM. Mãi đến 1988 mới chính thức về hưu.

Trong thời gian trên tận dụng thì giờ rảnh đã soạn khoảng 100 cuốn sách hướng dẫn pháp luật phổ thông cho quảng đại quần chúng tuy chưa hề học trường luật ngày nào (ngoài khóa quân pháp sơ cấp ở chiến khu) song vận dụng kiến thức tự học và nhiều năm làm việc trong ngành tòa án. Sách ký bút danh Hoàng Trung Tiếu ghép họ mình với điển tích tướng Hoàng Trung của Lưu Bị thời Tam quốc già mà hay cười lạc quan yêu đời như bản thân mình!

Về hưu rồi tiếp tục tục phát triển niềm say mê “tư pháp đại chúng” kể trên cộng thêm khai sinh ra nghề “tư vấn pháp luật” miễn phí cho mọi người dân bất cứ ai cần đều có thể đến nhờ giúp đỡ. Đến 88 tuổi vẫn còn làm, trở thành nhà tiên phong tư vấn pháp luật quần chúng lớn tuổi nhất!

810 – Hoàng Văn Húc

LIỆT SĨ SỐNG LẠI 33

Cán bộ về hưu sinh 1944 tại Quảng Bình. Sống ở Quảng Bình (2007).

Bộ đội chiến đấu miền Nam.

Trước 1975 được báo tử về quê, bố mẹ đã nhận tiền tuất. Nhưng đến giữa năm 1975 lại lù lù dẫn xác về, thì ra do nhầm lẫn mất tích rồi kịp tìm về với đơn vị!

Sau đó dòng đời đưa đẩy như thể để trả ơn số phận may mắn đã chuyển ngành qua làm quản trang ở Nghĩa trang Trường Sơn tại Quảng Trị - nghĩa trang liệt sĩ lớn nhất nước rộng 106 hécta gồm 10.263 mộ thành lập sớm nhất năm 1979 – để làm việc đền ơn đáp nghĩa với các đồng đội kém may mắn thua mình.

Rồi như được người chết đền đáp lại xe duyên cho nên vợ nên chồng với một nữ quản trang tại đây, cả 2 trở thành đôi vợ chồng quản trang vào hàng thâm niên nhất nơi đây.

Về hưu năm 2004 để lại vợ trẻ hơn tiếp tục nhiệm vụ “trả ơn đời”.

(Còn tiếp)

http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/hshc-ki-80

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Trang thơ "Vọng ra biển"

PHẠM TẤN HẦU


Khúc ru Hoàng Sa


Ta tự Hoàng Sa mới thổi về
Mấy hồn lính thú thác xa quê
Không đảo không nhà không mộ chí
Theo sóng làm ma để thét gào

Người ở phương Nam ta phương Bắc
Tìm nhau qua tiếng hịch thiêng liêng
Gọi mỏm đá kia là tổ quốc
Biết bao lần đem máu tưới lên

Người xé thân ra cho bọt sóng
Thành hoa rải trắng cả Hoàng Sa
Ta hoá rong rêu về âu yếm
Mấy hòn đảo nhỏ sống bơ vơ

Không có hương sen mùa khai hạ
Không còn hương cốm ngón tay thơm
Ta dân Hoàng Sa đời lính thú
Chết vì vắng bặt lời ru.
23-09-2009



PHẠM XUÂN DŨNG


Mỗi người dân Việt Nam -

một cọc nhọn Bạch Đằng


Biển Đông của chúng ta thấm đầy mồ hôi và cả máu …
Của người Việt Nam qua muôn nỗi đoạn trường
Dân biển chỉ muốn yên ổn làm ăn kiếm con tôm con cá
Lương thiện đến tận cùng lấy sóng gió làm cơm.

Nhưng nào được yên thân dẫu nhọc nhằn khuya sớm
Tàu lạ kia trên biển cứ hung hăng
Chúng muốn biến biển ta thành ao nhà của chúng
Đã vội quên sao những cọc nhọn Bạch Đằng?

Ta yêu chuộng hòa bình và căm ghét trò gây hấn
Muốn yên thân mà chẳng được yên thân
Giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Sóng biển kia dìm xác giặc bao lần.

Giấc mộng thiên triều ngàn đời không đổi sắc
Ai tin chi chuyện kẻ cướp la làng
Cướp biển, cướp rừng, cướp từng tấc đất
Chuyện cũ rồi chuyện mới đã ngàn năm.

Đêm ta ngủ hồn thức cùng biên cương Tổ quốc
Mơ thấy Chi Lăng, nhớ đến Bạch Đằng…
Và thấy xôn xao đất rừng Bản Giốc
Thấy biển Đông nổi sóng chỗ ta nằm.

Nghe Trường Sa, Hoàng Sa nóng dần trong huyết quản
Thịt xương đồng bào dựng biết mấy hải đăng
Hễ bất kỳ ai còn rắp tâm cướp biển
Mỗi người dân Việt Nam - một cọc nhọn Bạch Đằng!



NGUYÊN QUÂN


Đêm ở đảo Nhơn Châu


người đàn ông bó gối nhìn ra biển
thèm cơn gió nồm chở loài cá Thu trở về quẫy đuôi đớp bóng
cái nóng hâm hấp chảy thành dòng
trên bờ lưng trần bám đầy muối mặn

đảo lô nhô đá tảng trọc đầu
như đoàn quân tàu ô nhô lên từ sóng
đồng diễn sự bất động đêm đen
người đàn ông bó gối nhìn ra biển
cốc rượu trắng sủi tăm phẫn uất
đêm thèm cơn gió nồm

đêm đã dài hơn vệt đèn ám trắng
trên ngọn hải đăng
bầy cá chuồn đập cánh ngất ngưỡng bay
những chiếc ghe bầu hết thời khơi lộng
úp sấp trên cát theo một trật tự nhất định
đai lưng mọc đầy dây muống biển
chờ mục rã

đêm ở đảo ú ớ bốn bề đứng gió
gã đàn ông câu đêm vo tròn miếng mồi
chiếc phao phát sáng mắt mèo
ném mình xuống biển lặng
cơn gió nồm vẫn ở đâu xa tít...

(269/07-11)

http://tapchisonghuong.com.vn

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

Những bài thơ ngắn

Giấc ngủ cay

Ánh sáng từ phía góc tường

Quay

Ngày không im ắng - tiếng hò reo cây lá

Ngồi nhìn

Một cánh hoa bay lưng lửng

Thèm một giấc ngủ

Cay


Tường chật

Những bức tường ôi những bức tường

Chật những lời

Xưng tụng và báng bổ

Biểu tượng buồn

Ngăn trở và phân cách

Sáng tháng tám mùa thu thấy về

Ngồi cạnh bức tường

Và hát

Khúc hát không lời

Đám đông vui đứng ngồi ngổn ngang

Tường chật


Buổi sáng trong một ngày

Leo lên cây điều trong khoảnh sân trước ngôi biệt thự cổ gần trăm năm

Có chú sóc nhỏ thường ngày lên xuống đùa giỡn

Vẫy cánh tay áo chào mọi người

Như con chim nhỏ bé hôm nay mới bước ra ràng

Ôi buổi sáng bỗng yêu đời quá


Thành phố mưa

Chiếc dù che góc quán nhỏ vệ đường ngồi hai người

Những ly không đầy nước

Ngày mưa qua

Đôi mắt ẩm ướt em nhìn ngắm giọt đều không tạnh

Cuối đường có ai đó chờ taxi

Con lộ hoang vắng trễ rồi chiều tàn không còn chuyến xe nào qua sao

Hãy về đi em nhé


Từ Hoài Tấn

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Thơ Hoàng Lộc

thuở chợ Bà Hoa

alt

chợ Bà Hoa ở Bảy Hiền
ai theo buôn bán cùng em một thời ?
một thời ta cũng lơi bơi
ghé vô ăn chén bánh bèo Quảng Nam

chợ chào liếng giọng đồng hương
xa quê nghe cũng bớt buồn nhớ quê
bánh bèo với cái dao tre
xẻ tư chén bánh cùng chia phận người

không than mang tiếng chịu lời
chỉ than không thể trọn đời với nhau
vậy mà em đã đi đâu
bỏ hoang cái chợ ngõ tư Bảy Hiền ?

8-2011

Nhà thơ Trần Hữu Dũng: “Hình ảnh ông Hai Lúa bàng bạc khắp thơ tôi”

Nhà thơ Trần Hữu Dũng vừa ấn hành tập thơ song ngữ Việt - Anh Lúc 0 giờ (NXB Hội Nhà văn). Đây là tập thơ thứ 7 trong hơn 30 năm cầm bút của anh. Tập thơ Lúc 0 giờ được đánh giá là có nhiều ý tưởng mang tính bứt phá và nhiều ý thơ táo bạo. Nhân dịp vừa ấn hành tập thơ, TT&VH trò chuyện với Trần Hữu Dũng về quãng thời gian khá dài mà anh đã gắn bó với Hai Lúa Võ Văn Chung, một điển hình nhân vật luôn bàng bạc trong thơ anh.

Cơ duyên giữa Trần Hữu Dũng và ông Hai Lúa Võ Văn Chung bắt đầu từ thời cậu sinh viên Trần Hữu Đức (tức nhà thơ Trần Hữu Dũng sau này) học ngành nông nghiệp và đi thực tập, ăn ở tại nhà ông Hai Lúa ở tỉnh Tiền Giang.

Con rể hụt của ông Hai Lúa


Nhà thơ Trần Hữu Dũng

* Thời trai trẻ, anh được ông Hai Lúa chọn làm con rể nhưng bất thành. Anh có thấy tiếc vì điều này?

- Không phải ông Hai Chung (tên thật Võ Văn Chung, nhân dân gọi là Hai Lúa) chọn riêng tôi, mà cả tổ sinh viên thực tập tại Tiền Giang gồm 5 chàng trai trẻ đều được ông yêu quý ngang nhau. Khi đó, tôi là tổ trưởng chuyên môn nên được ông tin cậy nhiều hơn. Lúc ông Võ Văn Kiệt làm Bí thư Thành ủy TP.HCM, có mời ông Võ Văn Chung đi truyền đạt kinh nghiệm về giống lúa chống rầy nâu ở các huyện ngoại thành năm 1978, tôi và 5 cô nông dân cấy giỏi có tháp tùng. Đây là chuyến đi lý thú và đáng nhớ!

* Tại sao ông Hai Chung lại được nhân dân gọi thành ông Hai Lúa? Và tại sao anh không thành con rể của ông?

- Ông chuyên trồng lúa giống để bán cho bà con nông dân, là con đầu lòng (Nam bộ gọi là anh hai) trong gia đình nên nhân dân gọi thành Hai Lúa. Ông Hai Chung là một nông dân tiến bộ, làm ăn giỏi, chứ không phải Hai Lúa dùng để gọi những người quê mùa, ấu trĩ như bây giờ.

Thật sự trong nhóm sinh viên thực tập có một anh bạn rất mê người con gái lớn của ông, người đó làm cô giáo tại xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Nhưng đó chỉ là chuyện tình thời sinh viên thôi, vì tôi tin chuyện trăm năm, nghĩa vợ chồng còn phải do duyên trời đất gắn kết nữa, không phải muốn là được.

* Vậy với riêng nhân vật Hai Lúa mà anh kính phục, anh có bài thơ nào tặng ông không?

- Sau này viết về nông thôn, hình ảnh ông Hai Lúa bàng bạc khắp trong thơ tôi. Quả tình tôi không có bài thơ nào tặng riêng ông. Ông là một người nông dân tiên tiến, mạnh dạn áp dụng kỹ thuật canh tác khoa học, chọn giống lúa mới có năng suất cao. Những năm đầu thập niên 1980 khắp cả vùng đồng bằng sông Cửu Long, chỉ có khoảng mười người như thế. Ông cùng giáo sư Võ Tòng Xuân qua Philippines, Ấn Độ... báo cáo kinh nghiệm về canh tác loại giống cao sản chống rầy nâu rất có uy tín và nhận được nhiều bằng khen của tỉnh nhà, của Bộ Nông nghiệp và Viện Nghiên cứu lúa nước ngoài. Tôi được bổ nhiệm về làm ở Sở Nông nghiệp TP.HCM một phần cũng nhờ uy tín từ ông.

Bưng chén cơm ăn, nhớ đến người tay lấm chân bùn

Tập thơ Lúc 0 giờ của Trần Hữu Dũng được Hội Nhà văn TP.HCM hỗ trợ xuất bản với kinh phí “khủng” đến 8 triệu đồng, trong khi một tập thơ của hội viên được hội này chi cao nhất cũng chỉ 5 triệu. Khi Lúc 0 giờ vừa rời nhà in, nhà thơ Lâm Xuân Thi đã xuất Quỹ tình thơ mua liền 200 tập trị giá 10 triệu đồng. Nhà thơ Trần Hữu Dũng cho biết kinh phí phát hành Lúc 0 giờ đủ để anh mời bạn bè uống “chén rượu gạo” mà không phải đắn đo giữa thời bão giá này.

* Anh là kỹ sư nông nghiệp, nhưng đến nay người đời chỉ biết đến anh qua thơ. Tại sao anh không gắn bó với nghề nông nữa?

- Năm 1979 tốt nghiệp khoa Trồng trọt, ĐH Cần Thơ, tôi được phân công về Công ty Giống cây trồng thuộc Sở Nông nghiệp TP.HCM. Còn việc gắn bó với thơ có lẽ là duyên số. Năm 1974, nhóm văn nghệ Con Đuông ở Cần Thơ có in cho tôi một tập thơ riêng mang tên Thơ Trần Hữu Dũng do họa sĩ Lê Triều Điển vẽ bìa. Lúc đó tôi vẫn vừa làm thơ vừa làm nông. Cho đến năm 2001 chuyển hẳn sang báo Văn nghệ TP.HCM để dành trọn thời gian cho thơ. Nếu hỏi vì sao có sự chuyển đổi như thế, tôi chỉ có thể nói vui là cái nghiệp văn chương nó “vận” vào mình hồi nào không hay.

* Bạn văn nghệ thường nói đùa rằng: Kỹ sư nông nghiệp Trần Hữu Dũng học về cây lúa rất giỏi, nhưng ông chỉ rành nhất về cây lúa ở các giai đoạn cuối khi lúa thành cơm và thành rượu. Anh có bình luận gì về lời nói đùa này?

- Bạn văn nghệ ít người biết tôi chuyên chọn giống lúa và làm nhiều năm ở Công ty Giống TP.HCM. Đây là công việc khoa học thầm lặng đem giống cây mới, kỹ thuật canh tác tiên tiến huấn luyện cho người nông dân, không phải trong nghề thì khó mà giải thích cho họ biết cặn kẽ để hiểu và chia sẻ. Câu đùa vui thôi, nhưng nên hiểu khi bưng chén cơm ăn hay uống ly rượu gạo, mình cũng nên nhớ đến công khó nhọc của người tay lấm chân bùn ở đồng sâu, nhờ họ mà mình mới được ăn no và có dịp vui vầy tiệc tùng bên nhau.

Trần Hoàng Nhân (thực hiện)

http://www.thethaovanhoa.vn

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 79 – 1.8.2011 (Trích đăng từ 1.1.2010, xem MỤC LỤC DANH SÁCH ở Kỳ 75)

791 - Đằng Giao

“TRUYỀN NHÂN” CỦA NGUYỄN GIA TRÍ

Họa sĩ sinh tại miền Bắc. Sống ở TPHCM (2011).

Di cư vào Nam tự học vẽ ban đầu chuyên vẽ minh họa trên báo, sau theo nghiệp làm báo luôn. Lấy con gái nhà báo kiêm nhà văn di cư Chu Tử nên được cử giữ chức tổng thư ký toà soạn tờ nhật báo “Sống” nổi tiếng do Chu Tử làm chủ nhiệm, tờ báo có lập trường chống Cộng (Chu Tử từng bị ám sát thoát chết năm 1966).

Sau 30.4.75 bị đi cải tạo 8 năm do liên quan đến Chu Tử, một chủ soái chống Cộng trong làng báo làng văn (riêng ông cùng vợ chồng con trai đầu lên tàu di tản đến khu vực Cần Giờ trưa 30.4 thì không may trúng đạn pháo chết trên tàu, được thủy táng trên biển Đông).

Được thả về mới quyết chí theo đuổi nghiệp hội họa một cách chính quy, bài bản nhờ nhà đại danh họa sơn mài Nguyễn Gia Trí (1908-1993) chỉ vẽ, hướng dẫn vẽ sơn mài tuy bậc thầy này cả đời không nhận ai là đệ tử của mình.

Theo hướng đó, bản thân đã tự mày mò chịu khó kiên trì tìm ra phong cách vẽ tranh sơn mài độc đáo riêng của mình, tự tạo màu khác hẳn và đưa tính dân tộc vào tác phẩm. Sáng tạo như vậy trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn thời bao cấp hậu chiến vợ phải làm dưa muối bày bán trước cửa nhà!

Trong 3 năm vẽ đến 120 bức. Nhanh chóng thành công, bán được nhiều tranh cho cả khách nước ngoài. Hai lần đưa tranh qua Mỹ triển lãm và bán năm 2003, 2007.

792 – Đặng Thị Yến

NGƯỜI “MÊ” NGÃ BA ĐỒNG LỘC

Cán bộ sinh 1957 tại Nghệ An. Sống ở Hà Tĩnh (2008).

Bố bộ đội hy sinh trên chiến trường miền Nam năm 1965 để lại vợ và 4 con gái.

Lớn lên theo học ngành bảo tàng Nghệ Tĩnh (lúc chưa chia tỉnh). Năm 1976 được cử đi thực tập tại khu di tích ngã ba Đồng Lộc ở Hà Tĩnh nơi tiểu đội 10 cô gái thanh niên xung phong bị trúng bom Mỹ hy sinh năm 1968, tại đây bắt đầu manh nha ý tưởng đi truy tìm những kỷ vậy của 10 nữ liệt sĩ – tất cả đều chưa chồng – xem như một cách nhớ ơn những người chị đi trước.

Ấp ủ dự định cháy bỏng đó nên sau 3 tháng thực tập trở về ra trường đã tình nguyện bỏ quê về làm luôn ở di tích ngã ba Đồng Lộc bất chấp mẹ già phản đối muốn con ở lại quê lo việc nhà.

Từ đó vừa làm việc trong ban quản lý di tích vừa dành thì giờ đi khắp nơi trong tỉnh tìm lại bao kỷ vật 10 cô gái Đồng Lộc để đưa vào nhà lưu niệm trưng bày cho mọi người cùng chiêm ngưỡng.

Năm 1978 lấy chồng giáo viên người địa phương, sinh được 3 con. Thế là thêm việc nuôi dạy con cái song vẫn không quên tiếp tục hành trình sưu tầm kỷ vật ngã ba Đồng Lộc.

Công việc bề bộn như thế khiến sinh nội bộ gia đình lục đục, chồng trách cứ chỉ làm “chuyện bao đồng” mà không lo đủ nhiệm vụ làm vợ làm mẹ nên yêu cầu bỏ bớt việc công – nhất là vụ tìm kỷ vật rất tốn thời gian – để lo cho chồng con nhiều hơn. Một lần nữa quyết định như trước kia từng rời nhà mẹ ra đi, bây giờ chấp nhận chia tay chồng năm 1993 để giữ được trọn vẹn ước nguyện của mình gắn liền với hương hồn “các o” Đồng Lộc!

Một mình mang 3 con đi ở riêng nuôi con khôn lớn vào đại học đàng hoàng đồng thời vẫn tiếp tục miệt mài với nhiệm vụ “trả nợ’ Đồng Lộc: “Tôi sẽ bỏ công suốt đời đi góp nhặt những kỷ vật thiêng liêng đó… Với tôi, hạnh phúc lớn nhất là muốn góp nhặt được chút gì đó để tri ân người đã khuất. Đó là gia tài của tôi…”

793 - - Đặng Thông Phong

ĐẠI VÕ SƯ VƯỢT BIÊN 18 LẦN

Võ sư Việt kiều Mỹ sinh 1935 tại VN. Sống ở Mỹ (2011).

Trước 1975 là một võ sĩ nội công thâm hậu nắm vững nhiều môn võ thuật nên được mời dạy võ cho sĩ quan quân đội VNCH. Là võ sư taekwondo 6 đẳng, judo 5 đẳng, thiếu lâm VN (Hàn Bái đường) 8 đẳng. Và đặc biệt chuyên tâm vào võ aikido (6 đẳng) còn gọi là hiệp khí đạo môn võ gốc Nhật Bản do anh ruột mình Đặng Thông Trị học ở Pháp du nhập vào Sài Gòn từ năm 1958.

Sau 30.4.75 đương nhiên phải đi cải tạo. Đã hai lần tìm cách trốn trại song đều bị bắt lại, đành chấp nhận ở tù 7 năm rưỡi mới được trả tự do.

Về nhà bắùt đầu mở cuộc trường chinh vượt biên có lẽ đạt kỷ lục 18 lần. Trong đó 2 lần bị bắt, một lần đi đường biển bị bắt vào tù 8 tháng, một lần đi đường bộ đến được Campuchia rồi cũng bị bắt! Đến năm 1985 vượt biên lần thứ 18 mới thoát được đến trại tỵ nạn, qua năm 1986 được Mỹ mở rộng vòng tay chào đón một nhân tài võ học hiếm có.

Tại Mỹ đã phục hồi lại hệ phái aikido VN ở Quận Cam - California, đến năm 1991 được Aikido Thế giới (trụ sở tại Nhật) tái công nhận. Năm 1997 tiếp tục phục hồi hệ phái Hàn Bái đường VN trên đất Mỹ. Thường xuyên đi các nước Aâu – Mỹ huấn luyện, biểu diễn, tổ chức hội thảo, thuyết giảng võ học.

Năm 1995 lần đầu tiên quay về quê hương theo lời mời của đệ tử trong nuớc.

Năm 1997 về lần thứ hai góp công phát triển lại aikido tập trung ở TPHCM. Đặc biệt năm 2008 kỷ niệm 50 năm aikido VN còn trở về và ra biểu diễn aikido ngay tại Thủ đô Hà Nội lúc đã 74 tuổi.

794 - Đậu Nữ Vệ

NHÀ VĂN HỌC LỚP “BA RƯỠI”

Nhà văn sinh 1956 tại Quảng Bình. Sống ở Quảng Bình (2011).

Ở quê mới 10 tuổi vào lớp 4 được vài tháng – sau này tự nhận là trình độ… “nửa lớp 4”! - đã phải bỏ học phụ cha chở bộ đội qua sông vào Nam đánh Mỹ.

Sau 7 năm làm giao liên cho bộ đội như vậy, năm 1972 được cho đi học y tá về làm bệnh viện ở Quảng Trị. Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng ba.

Ở bệnh viện bị “lừa tình” khiến năm 1980 phải nhắm mắt lấy một người chồng không mong muốn nhưng rồi cũng sinh được một trai một gái.

Năm 1989 chồng mất vì bệnh ảnh hưởng CĐDC.

Một mình nuôi 2 con dại không sống nổi với đồng lương thời bao cấp nên xin nghỉ hưu non ra ngoài buôn bán lặt vặt cũng ở Quảng Trị với hy vọng đỡ hơn. Nhưng rơi vào nghề bán cá cực nhọc mà cũng chẳng khá bao nhiêu.

Thế rồi bắt đầu năm 1992 không biết ma xui quỷ khiến thế nào hay cũng có thể do có sẵn tư chất tiềm năng văn chương mà mỗi tối khi bán cá xong về nhà đã tìm an ủi bằng cách ngồi vào bàn… sáng tác! Say mê viết truyện kể lại cuộc đời mình gian khổ từ nhỏ lớn lên lại lận đận điêu đứng bao phen bấy lâu.

Viết xong tự động đem đến Hội Văn nghệ Quảng Trị nhờ… in! Không ngờ gặp may đúng lúc thời Đổi mới tiến hành xóa bao cấp cả trong lĩnh vực xuất bản in ấn nên được chấp nhận cho in (sau khi đã sửa chữa nhiều) với điều kiện tác giả phải… lo tiền in. Chạy đôn chạy đáo khắp nơi vay mượn đủ kiểu cả 6 triệu bạc để góp tiền in năm 1993 tác phẩm đầu tay, tiểu thuyết mang chất tự truyện “Thuyền tình ngược bến”.

Cũng may cuốn truyện sau khi được biên tập lại kể chuyện cuộc đời có thật xem cũng được nên bán thu được ít tiền mới đưa 2 con về lại quê Quảng Bình, chọn mua một mảnh đất nhỏ dưới chân đèo Ngang làm căn nhà nhỏ ngày bán cá đêm lại thắp đèn tiếp tục sự nghiệp văn chương.

Ông thần May mắn phù trợ lần nữa giúp cho cơ hội được đi dự một vài trại sáng tác của các hội đoàn, nhờ đó học hỏi thêm kinh nghiệm nghề nghiệp từ các bạn văn mà trình độ học vấn, kiến thức cách mình một trời một vực. Từ đó quay về rèn tay nghề viết văn ngày càng khá hơn, viết đủ thứ từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến cả thơ, kịch bản phim lẫn… truyện cười! Ráng viết vì tính ra tiền nhuận bút có cũng đỡ hơn tiền cực nhọc lăn lưng… bán cá!

Năm 2003 được Quảng Bình kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật. Năm 2005 có kịch bản phim truyền hình 18 tập được VTV thực hiện đưa lên sóng.

Nhưng tiếp liền đó qua năm 2006 bị chẩn đoán mắc bệnh u nang buồng trứng phải mổ ở bệnh viện Quảng Bình song mổ xong vẫn cứ bị đau hoài đi khám hàng loạt bệnh viện mới phát hiện trong ca mổ trên bác sĩ đã… bỏ quên cái gạc trong bụng mình! Lại phải mổ lấy ra, tất cả tốn biết bao nhiêu tiền mà nhuận bút viết lách chẳng bõ bèn gì, phải vay mượn tứ tung mới tạm đủ qua phà.

Lành bệnh rồi về nhà nai lưng viết lách trả nợ. Dù sao đến nay cũng đã in được 8 cuốn tất cả gồm 2 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn, 2 truyện phim, 1 tập thơ…

795 – Đinh Thành Châu

“NGƯỜI DI CƯ NHỨC ĐẦU VỪA PHẢI”

Doanh nhân Việt kiều Mỹ sinh khoảng 1928 tại Nam Định. Sống ở Mỹ (2008).

Trước 1954 đi tu đạo Thiên Chúa ở miền Bắc.

Năm 1954 di cư vào Nam bỏ tu ra ngoài theo học ĐH Luật ở Sài Gòn. Tốt nghiệp ra làm luật sư nhưng bị bắt đi lính trường sĩ quan Thủ Đức năm 1963. Ra trường đeo lon chuẩn úy thì gặp đảo chính chế độ Ngô Đình Diệm nên sau đó được biệt phái trở về hành nghề luật sư.

Bắt đầu nhảy vào chính trường qua con đường vận động của giới Công giáo, đắc cử dân biểu Hạ viện.

Từ đó con đường hoạn lộ lên như diều: Được bầu là Chủ tịch Ủy ban soạn thảo hiến pháp mới VNCH thay hiến pháp cũ thời NĐ Diệm, được cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lẫn Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ chiêu dụ hợp tác khiến có lúc bị cả giới Phật giáo đối nghịch lẫn giới Công giáo “hậu phương” phê phán, chống đối!

Từng nhận chức phụ tá tướng Nguyễn Ngọc Loan trùm công an mật vụ VNCH nên đếùn 30.4 đương nhiên phải theo tàu biển chạy qua Hong Kong rồi vào Mỹ.

Trên đất Mỹ một thân một mình (đã ly dị vợ ở VN, các con di tản trước rồi) lao động chân tay cật lực để kiếm sống từ chân quét tước dọn dẹp vệ sinh đến bán lẻ bánh mì thịt. Đồng thời học lại nghề cũ để thi luật sư.

Nhưng học mãi vẫn thi… không đậu! Chán quá bèn bỏ, quyết tâm chuyển qua làm ăn kinh doanh theo gương tiền nhân đã dạy “phi thương bất phú”.

Bắt đầu vào thương xá ở San Jose (California) mở cửa hàng buôn bán đủ loại mặt hàng, cả tuần đứng bán đến cuối tuần lái xe đi mua hàng khắp nơi mang về bán tăng giá lấy lời. Vừa khấm khá được đôi chút thì thương xá… cháy rụi! Bèn xoay qua mở nhà hàng món ăn Tàu tại San Francisco song làm sao cạnh tranh nổi với dân Tàu “China Town” chính hiệu nên cuối cùng đành sang tay cho người khác.

Không nản chí, biến thế qua làm nhà hàng… Nhật Bản lúc đó ở đây chưa phát triển mấy. Qua tận Tokyo tham quan học nghề rồi về Santa Clara lập nhà hàng Nhật Bản “giả” với mình đóng vai ông chủ Nhật đến từ TP Kobe – vì thế có biệt danh “Ông già Kobe” – và các đầu bếp bồi bàn mang mác Kobe gốc… Mexico! Nhờ vậy mà cũng tạm sống được.

Thôi, vậy là cuộc đời về già đến đây cũng tạm ổn rồi, bấy giờ mới làm… nhà văn cho in một tập văn thơ mang tựa đề “Người di cư nhức đầu vừa phải” năm 2006. Có lẽ muốn gợi ý rằng đã mang phận di tản lưu vong thì cũng đừng quá nghĩ suy, hoàn niệm nhiều về quá khứ đã qua càng thêm đau lòng chẳng ích gì thay vì phải dồn hết sức lực trí tuệ vào việc làm lại cuộc đời mới tồn tại nổi trong cõi nhân sinh phong ba gió bụi lắm cảnh lên voi xuống chó như mình.

796 - Đinh Xuân Oai

KHO THÓC CỨU ĐÓI

Nông dân sinh 1947 tại Quảng Nam. Sống ở Quảng Nam (2008).

Cả 2 vợ chồng bộ đội về hưu sống ở quê nhà xã Trà Sơn, huyện Bắc Trà My.

Từng chiến đấu ở vùng này nên bản thân biết người dân tộc Cà Dong ở bản Cao Sơn trên vùng núi gần đó (khoảng 300 người) thường xuyên bị nạn đói vào mùa mưa lũ do không lên nương rẫy kiếm cái ăn được mà địa thế nơi này quá hiểm trở nhiều đèo dốc trơn trợt khiến ngoài xã hay huyện không thể vào tiếp tế kịp thời. Nên có khi đồng bào đói đến cả tháng rưỡi phải ăn rau rừng bất kể nguy cơ mắc bệnh tật.

Vì vậy cuối năm 2006 tự mình đã vào rừng Cao Sơn bỏ cả tháng trời một mình đốn cây, cưa xẻ dựng nên một căn nhà gỗ gọi là làm… kho thóc cứu đói cho đồng bào bản này. Rồi trích lương hưu 2 vợ chồng 600.000 đồng mua 2 tạ lúa – mua ngay tại chỗ của dân trong bản – đổ vào kho vốn có sức chứa đến 3 tấn. Xong giao lại cho trưởng bản quản lý đến mùa mưa lũ nhà nào đói hãy lấy thóc ra cấp không cho bà con ăn cầm cự qua cơn ngặt nghèo.

Từ năm 2007 quả là “Kho thóc ông Oai” đã góp phần cứu dân bản Cao Sơn qua cơn hoạn nạn thiếu ăn gần chết đói. Không chỉ thế, cả những khi hộ nào gặp cảnh khó khăn đột xuất, kho cũng được mở cửa xuất thóc hỗ trợ đồng họ.

Từ đó bà con theo gương cũng góp tay vào giữ cho kho thóc tồn tại, sau mỗi vụ mùa tùy theo khả năng từng hộ đóng góp từ 10-20kg thóc.

Nhưng sự đóng góp đó cũng giới hạn không bao nhiêu do đời sống đồng bào dân tộc chưa khấm khá nên những lúc thấy kho sắp cạn thì ông chủ kho “tự phát” này vội vàng vơ lương hưu vợ chồng mình đem mua thêm thóc đổ thêm vào kho. Làm sao bảo đảm cho nó là “kho thóc Thạch Sanh” danh bất hư truyền thì mình mới an tâm.

797 - Đoàn Viết Hoạt

TAN VỠ ẢO TƯỞNG TRÍ THỨC THIÊN TẢ

Nhà hoạt động dân chủ Việt kiều Mỹ sinh 1943 tại Hà Đông. Sống ở Mỹ (2011)

Từng 2 lần đi du học Mỹ đậu bằng tiến sĩ về nước làm phụ tá viện trưởng ĐH Vạn Hạnh, nơi tập trung giới trí thức thiên tả từ sinh viên đến giáo sư trong đó có nhiều sinh viên gốc Quảng theo cộng sản.

Vì thế khi cộng sản tiến vào Sài Gòn 30.4.75 đã cùng giới trí thức sinh viên này tỏ rõ xu hướng ủng hộ chính quyền cộng sản.

Nhưng vốn chỉ là thành phần ủng hộ “chay” (không vào Đảng hay được móc nối hoạt động ngầm) nên dần dà bị chế độ mới bỏ rơi không tin dùng. Từ đó sinh ra bất đồng chính kiến đưa đến hành động chống đối khiến chỉ qua năm 1976 thì bị bắt giữ đưa ra tòa kết án 12 năm tù.

Năm 1988 mãn hạn tù được thả ra vẫn tiếp tục tham gia tổ chức các hoạt động chống chính quyền nên năm 1990 bị bắt lần thứ hai lãnh án đến 20 năm tù, sau giảm xuống còn 15 năm.

Trong tù tiếp tục viết bài phản bác chế độ tìm cách gửi ra nước ngoài. Từ đó gây tiếng vang quốc tế, được một số tổ chức quốc tế vận động chính quyền nên năm 1998 được đặc xá trả tự do.

Ra tù được Mỹ tiếp nhận ngay cùng với giải thưởng “Cây bút vàng của Tự do” từ Hiệp hội Báo chí Thế giới.

Trên đất Mỹ tiếp tục sự nghiệp đấu tranh tự do dân chủ cho VN song đôi khi lại có quan điểm lập trường có vẻ “trí thức” quá (như không chấp nhận dùng lại cờ VNCH…) so với xu hướng chống Cộng quá khích ở hải ngoại nên từng bị các thế lực cực đoan này quay qua tố ngược lại là… “Việt Cộng giả danh”!

798 - Đỗ Anh Thư

“VUA” XÍCH LÔ HÀ THÀNH

Doanh nhân sinh khoảng 1951 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2011).

Đi bộ đội năm 1969 vào chiến trường miền Nam từng đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Năm 1976 xuất ngũ về học ĐH Sư phạm Hà Nội khoa sử.

Năm 1981 tốt nghiệp song nộp đơn xin đi dạy chờ dài cổ đến gần 5 năm vẫn không được gọi. Gặp thời bao cấp đời sống quá khó khăn đành chấp nhận hành nghề… đạp xích lô để nuôi vợ con!

May nhờ có trình độ, biết tiếng Pháp nên tìm được khách hàng du khách nước ngoài thường xuyên giúp kiếm sống đỡ đần cũng tạm được.

Nhưng năm 2001 Hà Nội ra lệnh cấm nghề xích lô khiến bản thân và bạn bè đồng nghiệp rơi vào cảnh thất nghiệp. Lúc đó riêng mình bây giờ đã có điều kiện trở lại nghề dạy học song không đành lòng bỏ nghề “phu xích lô” một thời nhìn bạn bè đồng nghiệp đói rách cùng khổ nên vận dụng trình độ, kiến thức và ngoại ngữ có sẵn để xin lập công ty xích lô du lịch hợp pháp phục vụ khách ngoại.

Công ty đặt tên là Cty Sans Souci (tiếng Pháp nghĩa là không lo âu) là công ty xích lô đầu tiên duy nhất cả nước nhanh chóng trở thành một thương hiệu có uy tín văn minh lịch sự đất Hà thành giúp hơn 130 “tay lái” xích lô có công ăn việc làm ổn định.

799 - Đỗ Đình Phương


ĐỆ NHẤT TÂY BAN CẦM SUÝT BỎ NGHỀ

Nghệ sĩ guitar sinh 1940 tại miền Bắc. Sống ở Mỹ (2011).

Bố là nhạc sĩ kiêm nhạc trưởng ở Hà Nội thời tiền chiến nên học đàn guitar từ năm 14 tuổi.

Sau khi di cư vào Nam năm 1954, theo học Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn với thầy Dương Thiệu Tước. Tốt nghiệp thủ khoa về dạy trường Am nhạc và Mỹ thuật Huế 2 năm rồi quay lại Sài Gòn vừa dạy học vừa biểu diễn sân khấu, đài phát thanh. Danh tiếng vượt ra khỏi nước được tôn xưng là tay đàn đệ nhất tây ban cầm Đông Nam Á (chuyên giai điệu flamenco).

!975 di tản qua Mỹ bị cuốn vào việc kiếm sống nên hầu như không xuất hiện trình diễn nữa dù có lúc cũng mở lớp dạy đàn tại nhà.

Đến khi về hưu được bạn bè động viên mới quay lại rèn tay nghề để đến năm 2006 ra đĩa CD đầu tiên rồi qua 2007 – sau 32 năm mai danh ẩn tích – tái xuất giang hồ trên sân khấu được hoan nghinh nhiệt liệt. Từ đó mở các chuyến lưu diễn phục vụ cộng đồng gợi lại một thời vàng son ngón tay vàng guitar Việt.

800 - - Đỗ Đức Địu

CHẾT 12 ĐỨA CON NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM

Nông dân sinh 1954 tại Quảng Bình. Sống ở Quảng Bình (2009).

Năm 1972 đi bộ đội vào Nam chiến đấu trên mặt trận Thừa Thiên – Huế, người yêu cùng quê cũng đi thanh niên xung phong.

Năm 1973 cả hai xin về quê làm đám cưới rồi sau đó chia tay vào chiến trường.

Sau chiến tranh xin xuất ngũ về quê làm ruộng cùng vợ. Sau năm 1975 sinh con trai đầu lòng nhưng chỉ 2 ngày thì qua đời với những triệu chứng bệnh kỳ lạ khủng khiếp là đầu phù to, da vàng và chảy nước nhầy!

Thời đó chưa ai biết về CĐDC là gì mà chỉ xem đây như một “tai nạn” nên đến năm 1981 vẫn sinh đứa con thứ hai là gái và may mắn lần này cháu có vẻ vẫn bình thường như bao trẻ khác.

Vì thế một năm sau lại sinh con với mong ước có trai nối dõi. Lần này đúng là con trai thật song chưa kịp đặt tên cháu thì nó lại có triệu chứng như đứa con đầu là biến chứng bệnh lý kỳ quặc da đổi màu vàng rồi co giật chết cứng.

Một phần do chưa có con trai và phần khác thiếu kiến thức nên 2 vợ chồng vẫn cố sinh con năm một và tất cả đều lập lại cảnh cũ vừa sinh ra đã chết co quắp kỳ dị như quái thai, sinh đếùn đứa thứ 13 vẫn thế!

Cả 2 vợ chồng rơi vào khủng hoảng có khi muốn điên lên, cứ mỗi lần vợ mang thai là chồng tự động đi kiếm gỗ cặm cụi cưa xẻ… làm hòm cho con! Chôn 12 con thành 12 ngôi mộ nhỏ trên đồi cát phía sau nhà thành một “nghĩa trang gia đình” khoảng 20m2, mộ con nhiều quá mà toàn con chưa đặt tên nên phải… đánh số ngôi mộ thay vào. Chi tiết ngày sinh ngày mất phải ghi vào một cuốn sổ riêng mới nhớ nổi mà làm giỗ, hầu như mỗi tháng đều có đám giỗ con.

Hàng xóm láng giềng có lời dị nghị đổ tội cho người vợ khiến người chồng sinh lòng chán nản mới bỏ nhà đi kiếm… vợ khác thử sinh con xem sao. Tuy nhiên vợ mới – tạm gán ghép – sinh con rồi con cũng chết y hệt!

Thế là 2 năm sau đành quay về với vợ cũ, bấy giờ mới chịu ra Hà Nội khám bệnh biết được mọi sự đều do di chứng CĐDC mình hứng chịu thời lăn lộn trên chiến trường A Lưới ở Thừa Thiên – Huế.

Tuy nhiên vẫn lại sinh tiếp lần nữa được một gái may quá xem như bình thường. Thế là… ráng thêm lần nữa cũng một gái… bình thường, có vẻ như con gái ít nhiều “né” được CĐDC?

Nói là bình thường chứ thật ra chỉ cô con gái thứ hai là tương đối khỏe mạnh nhất ra Hà Nội học trung cấp y tế được nửa chừng cũng đổ bệnh phải bỏ học về quê làm nghề may qua ngày, rồi có chồng có con sống được. Còn 2 em gái út thì một đứa mắt mờ tai điếc, một đứa ngây ngô khờ khạo thỉnh thoảng lại lên cơn co giật khiến cha mẹ cứ phải chăm suốt như trẻ nít.

Bởi vậy trong cái “nghĩa trang gia đình” nhỏ bé kia còn đào sẵn… 3 huyệt mộ nữa… để dành cho 3 đứa con còn sống song cha mẹ cứ phập phồng lo chúng sẽ ngã bệnh hiểm nghèo như 12 anh chị em chúng ra đi lúc nào không biết!

(Còn tiếp)

http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hshc-ki-79