Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 81 – 15.8.2011 (Trích đăng từ 1.1.2010, xem MỤC LỤC DANH SÁCH ở Kỳ 75)

811 - Chu Quang Đức

THẦY DẠY KHÔNG THỂ CẦM PHẤN

Giáo viên sinh 1984 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2011).

Chịu ảnh hưởng di chứng CĐDC từ bố bộ đội thời chống Mỹ ở miền Nam, sinh ra người thấp bé, chân bị liệt không đi được, cánh tay bị rút ngắn khiến không cầm được vật dụng.

Dù vậy vẫn nỗ lực học hành thành đạt, thi đậu ĐH Sư phạm Hà Nội ngành tin học. Tuy nhiên ra trường do thể hình bị khuyết tật quá nặng nên không được trường nào nhận về.

Không nản chí quay về nhà mở lớp dạy tin học tại gia ở huyện Mê Linh. Ngồi xe lăn vẫn dạy tốt tuy không thể cầm phấn viết bảng giảng bài như người thường song bù lại đã có máy tính “công cụ vạn năng” giúp thay thế hoàn hảo.

Từ đó nhanh chóng nổi tiếng thầy giỏi trò kéo đến học đông đảo đạt kết quả thi đậu nhất huyện hơn cả học ở trường phổ thông chính quy.

812 - Đào Thị Kiều

CHẾT 6 CON NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM

Nông dân sinh 1951 tại Đồng Nai. Sống ở Đồng Nai (2011).

Thuở nhỏ gia đình sống gần sân bay Biên Hòa nên có thể đã bị ảnh hưởng CĐDC lúc nào không biết. Đã vậy năm 20 tuổi lấy chồng đi kháng chiến chống Mỹ sau đó chống nạng trở về – với một viên đạn cùng 8 mảnh bom còn nằm trong thân thể - nên cũng không biết có dính CĐDC hay không.

Hậu quả là năm 1970 sinh con gái đầu lòng nằm liệt một chỗ chỉ ú ớ kêu khóc chứ không nói được, đến nay 41 tuổi vẫn còn sống trong tình trạng như vậy, thân thể toi tóp cân nặng hơn 10kg là cùng.

Sau đó sinh tiếp 6 con nữa đều dị dạng và lần lượt qua đời khi chỉ mới được 17 ngày hoặc 7 tháng rưỡi hoặc 19 tháng, lâu nhất có đứa sống đến 37 tuổi rồi cũng qua đời. May mà đứa cuối cùng con gái sinh năm 1989 thể trạng tương đối bình thường.

Nuôi con bệnh nặng như thế mà nhà quá nghèo – chồng làm ruộng, vợ làm công nhân đập đá - không còn biết xoay xở thế nào cho con đỡ bệnh hơn. Có khi trời mưa nhà dột khiến 2 vợ chồng phải đứng suốt đêm giăng tấm ny lông che mưa cho bầy con bệnh tật nằm thiêm thiếp.

Nỗi đau mất 6 con trong tình cảnh cùng quẫn quá bi thảm như thế đẩy người mẹ đến 3 lần… tự tử song được cứu sống kịp thời. Lần đầu uống thuốc rầy được hàng xóm đưa đi bệnh viện súc ruột. Lần thứ hai thì chồng phát hiện ngăn cản. Lần thứ ba cũng chồng nghi ngờ khuyên can tới mức phải quỳ xuống… lạy vợ “Anh lạy em, em và con đừng chết!”.

Đành vẫn sống với thêm bao nỗi đời đau thương oan nghiệt tiếp tục đổ xuống: Năm 2004 chồng qua đời chưa được bao lâu, nhà vắng người đưa đến thảm họa 2 đứa con gái bệnh hoạn nằm ở nhà bị một kẻ xấu… hãm hiếp (sau đó bị bắt bỏ tù 14 năm đã chết trong tù)!

Bây giờ chỉ còn niềm an ủi cuối cùng là con gái út lên đại học sắp tốt nghiệp: “Giờ tôi không tự tử nữa đâu vì con gái út là lẽ sống của tôi.”

813 - Ea Sola

ĐIỆU MÚA CHIẾN TRANH

Nữ biên đạo múa Viêt kiều Pháp tên cũ Nguyễn Thủy sinh tại Gia Lai. Sống ở Pháp (2011).

Cha VN, mẹ Pháp (gốc Ba Lan – Hungary), sinh ra và lớn lên ở miền Nam vào thời cao điểm chiến tranh chống Mỹ.

Năm 1974 theo gia đình qua Pháp định cư.

Học múa và kịch nghệ tại Paris từ cuối những năm 1970. Sau đó có thời gian làm nghệ sĩ biểu diễn đường phố múa hiện đại và kịch nói.

Năm 1989 quay về lại VN bỏ ra 5 năm nghiên cứu nghệ thuật cổ truyền VN trong đó chú trọng múa và âm nhạc truyền thống.

Từ nguồn cảnm hứng dân tộc đó đã sáng tác nhiều vở diễn múa hiện đại lồng trong nội dung đề tài mang âm hưởng chiến tranh – cuộc chiến tranh mà mình từng là chứng nhân – gây tiếng vang vì tính sáng tạo độc đáo, mới mẻ và sâu sắc. Gồm “Hạn hán và cơn mưa” 1995, “Ngày xửa ngày xưa” 1997, “Cánh đồng âm nhạc” 1998, “Thế đấy thế đấy” 1999, “Khúc cầu nguyện” 2000, “Ký ức – Hạn hán và cơn mưa” 2005, “Đường bay” 2008, “Hình hài trắng” 2009…

Chủ đề chiến tranh như một ẩn dụ nghệ thuật trở di trở lại nhiều ở đây bắt nguồn từ hồi ức không thể quên từ thời thơ ấu: “Tôi đã lớn lên trong một cuộc chiến tranh. Tôi từng bị sốc vì chiến tranh…”

Nhưng chiến tranh hiện hình qua đây bàng bạc bóng bẩy như những ký ức nhắc nhở mọi người đừng bao giờ “tái phạm” nữa: “Vấn đề là làm thế nào để những ký ức về chiến tranh có thể khơi dậy ý thức của con người về giá trị của hòa bình và thái độ kiên quyết nói KHÔNG với bạo lực… Những cảm hứng về sự tổn thương của một dân tộc trong chiến tranh được gắn liền với tiếng nói chống bạo lực – một vấn đề mang tính toàn cầu.”

Đặc biệt tất cả tác phẩm trên đều được trình diễn ra mắt trên quê hương VN rồi sau đó mới đưa đi công diễn Châu Au như lời cảm tạ của một đứa con: “Tôi là người con lai luôn mang trong mình những suy nghĩ băn khoăn về bản thân, mảnh đất nơi tôi sinh ra, nơi tôi đã ra đi và lại quay về…. Bởi ký ức VN vọng lại trong tôi là tiếng hát tuyệt đẹp, sâu thẳm. Tôi vừa muốn nghe lại vừa muốn hiểu tại sao nó đẹp như thế… Ngày trước khi rời VN tôi nức nở. Khi trở về tôi cũng nức nở. Còn bây giờ tôi không khóc nữa. Vì tôi biết nếu có ra đi tôi cũng sẽ lại trở về.”

814 - Hà Văn Sỹ

“LƯU DÂN” HIỆN ĐẠI

Giáo viên sinh 1953 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Bình Phước (2011).

Cha là thượng sĩ VNCH phục vụ hậu cần nên sau 30.4.75 chỉ bị đi học tập ngắn hạn. Liền đưa cả gia đình về quê ở huyện ngoại thành TP Huế cuốc đất làm ruộng, làm hợp tác xã.

Thời hậu chiến bao cấp ở vùng quê nghèo lại con đông cơm không đủ ăn áo không đủ mặc nên rơi vào cảnh gần như sống dở chết dở.

Bản thân vừa học vừa đi chăn trâu mót lúa sống vạ vật qua ngày, thường xuyên mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm “độn”. May mà có năng khiếu môn văn học hành rất tốt (cả nhà chỉ có mình học khá như vậy) nên quyết lấy đó làm như cái pháo cứu sinh giúp mình thoát nghèo, thoát khỏi cảnh sống nông thôn thất học tối tăm mù mịt tương lai.

Trầm trầy trầm trật lắm mới thi đậu được vào ĐH Sư phạm Huế (văn) nhưng trải qua quá trình mấy năm học càng gian khổ không kém, ngày ngày đạp chiếc xe đạp nát đi về hàng chục cây số trong cảnh trời mùa đông không áo ấm, mùa thi ăn không no bụng. Thậm chí có lúc vào lớp đi… chân không, dép đứt hết không tiền mua!

Ngày ra trường lại gặp thêm cảnh o ép khác do có lý lịch “Ngụy” nên chưa phân công! Thế là có một quyết định cực kỳ sáng suốt làm đơn tình nguyện đi dạy học tận miệt cùng trời cuối đất Cà Mau mới được chấp thuận.

Trải qua 10 năm làm thầy giáo nơi vùng đất chóp mũi đất nước giúp “nâng cấp” cuộc đời đỡ hơn thấy rõ, lấy vợ tại đây cũng gốc… hoàng tộc Huế. Cậu sinh viên “mất dép” ngày xưa nào ngờ nay cũng trở thành thầy hiệu trưởng oách như ai!

Quả là miền Nam vùng đất mới giàu tài nguyên sản vật chưa khai thác đủ, dân tình và không khí xã hội chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa Pháp nên có cách ứng xử thoáng hơn, cởi mở dễ thở hơn hẳn so với Thừa Thiên – Huế từng là kinh đô phong kiến triều Nguyễn gặp chế độ cộng sản càng vướng nặng hận thù giai cấp đưa đến bao thảm cảnh kỳ thị đồng bào. Cho nên thời đó Nam tiến là con đường sống còn – “tự cứu” - của dân Ngụy không có điều kiện vượt biên!

Sau này cả đại gia đình cha mẹ anh em cũng đi theo con đường đó “di dân” toàn bộ vào Bình Phước mới tách tỉnh càng thành nơi đắc địa đất lành chim đậu cho những “lưu dân” thế hệ hiện đại. Và “lưu dân” cũng tự hào có đóng góp lại cho miền đất mới một nhà giáo đàng hoàng, một nhà thơ ân tình:

“Con sông Hậu trải mình thương nhớ

Giữa đôi bờ kết chuyện trăm năm.

Anh bên này sông em bên kia sông

Con sóng đong đưa, phà anh qua bến…

…………………………………..

Anh đã kịp qua chuyến phà hạnh phúc

Cho nhịp cầu rạo rực nhân duyên…”

(Phà Cần Thơ)

815 – Heidi Neville-Bub

“NGƯỜI CON GÁI ĐÀ NẴNG”

Công dân Mỹ gốc Việt tên cũ Mai Thị Hiệp sinh 1968 tại Đà Nẵng. Sống ở Mỹ (2002).

Mẹ buôn bán ở chợ Đà Nẵng đã có chồng và 3 con nhưng chồng bỏ đi theo Việt Cộng nên mẹ ở lại phải làm sở Mỹ rồi lấy lính Mỹ để có tiền nuôi con mới sinh ra mình. Tuy nhiên sinh ra thì người cha lính Mỹ về nước bỏ rơi mấy mẹ con.

Đến trước ngày giải phóng miền Nam, mẹ sợ có con lai Mỹ bị liên lụy nên đem con cho cô nhi viện ở Đà Nẵng, sau đó đứa con được đem vào Sài Gòn theo chiến dịch Babylift đưa qua Mỹ.

Tại Mỹ được một phụ nữ Mỹ độc thân nhận làm con nuôi. Sống tại bang Tennessie nổi tiếng phân biệt chủng tộc (nơi phát sinh tổ chức K.K.K) nên mang mặc cảm về màu da. Đã vậy, bà mẹ nuôi rất khó tính có ý muốn cắt đứt mối quan hệ huyết thống gốc Việt cũ của mình, nói dối gia đình cũ của mình đã chết hết, thậm chí khi có tin về mẹ ruột ở VN đã giấu không cho con nuôi biết.

Sống trong cảnh thiếu thốn tình cảm lại bị mẹ nuôi o ép quá đáng tới mức sinh ra trầm cảm có lúc tính quyên sinh. Nhờ bạn bè an ủi giúp đỡ mới quyết định bỏ nhà ra ngoài sống riêng tự kiếm việc làm nuôi thân.

Năm 1992 lấy chồng bạn học cũ đi lính hải quân, sinh 2 con gái.

Bắt đầu tìm hiểu về gốc gác, lai lịch mình, từ từ may mắn năm 1996 được bạn Việt kiều giúp đỡ tìm liên lạc được với mẹ ruột còn sống ở Đà Nẵng. Năm 1997 trở về Đà Nẵng gặp lại mẹ ruột và 3 anh chị cùng mẹ khác cha.

Cuộc đời lưu lạc cùng hành trình tìm về quê mẹ đã được nhà làm phim Mỹ quay thành bộ phim tài liệu mang tên “Người con gái Đà Nẵng” từng được đề cử tranh giải Oscar 2003 hạng mục phim tài liệu xuất sắc.

816 - Hoàng Xuân Hùng

TỪ CHỐI CHÍCH MORPHINE GIẢM ĐAU

Nhà kinh doanh nhỏ sinh 1953 tại Hà Nam. Sống ở Hà Nam (2011).

Năm 17 tuổi đi bộ đội vào Nam chiến đấu.

Sau 1975 tiếp tục được điều qua chiến trường Campuchia. Tại đây năm 1979 giẫm phải mình bị cưa cụt 2 chân lên tận trên đùi không lắp chân giả được.

Cuối năm 1980 được đưa về trại thương binh ở quê nhà Hà Nam. Phải tập đi lại bằng cách vịn hai tay vào 2 chiếc ghế con để tự lo mọi sinh hoạt cá nhân. Tình cảnh đó khiến một nữ điều dưỡng cùng quê ở trại sinh lòng khâm phục rồi yêu thương đến chỗ tự nguyện kết hôn với người thương binh tàn phế nặng bất chấp bao lời dị nghị của bà con, hàng xóm. Lương thương binh cộng nữ điều dưỡng không đủ làm đám cưới may nhờ đồng đội, bạn bè thông cảm cho vay tất cả 7.000 đồng (thời này) lo liệu đám cưới.

Bắt đầu từ đó đối đầu với thực tế cuộc sống khắc nghiệt 2 vợ chồng phải tự lực cánh sinh, sau đó còn nuôi 2 con trai ăn học nữa. Được giúp đỡ giới thiệu cho làm đại lý bia rồi tiến lên phát triển thêm đại lý cám heo, đại lý xay xát gạo… Bản thân tập đi và lái xe ba bánh đi bỏ mối hàng không nề hà cực nhọc ngày đêm.

Bên cạnh đó còn vết thương cũ (mỏm xương cụt nơi điểm cưa chân) gặp khi trái gió trở trời luôn gây đau nhức tận cùng. Được bác sĩ cho phép chích morphine giảm đau nhưng sợ quen dùng thành nghiện sẽ khiến bản thân mình tàn tạ làm khổ thêm vợ con nên kiên quyết không dùng mà tự nghiến răng gồng mình chịu đựng cho qua cơn!

Dần dà thuận vợ thuận chồng tát biển Đông, nhờ chăm lo làm ăn buôn bán mà cuộc sống ngày càng dễ thở. Nuôi được 2 con trai đều đã tốt nghiệp đại học với đầy lòng tự hào về bố mình: “Từ bé đến lớn chưa bao giờ tôi có mặc cảm về bố mình. Bố có thể làm được mọi việc như những người bố bình thường khác…”

817 - - Hoàng Xuân Giang

TRĂNG TRỐI GỬI LẠI QUÊ HƯƠNG

Nhạc sĩ Việt kiều Canada sinh 1946 tại Huế – Mất 1994 ở Canada (49 tuổi).

Cháu ruột nhà bác học Hoàng Xuân Hãn, em ruột nhà thơ Hoàng Xuân Sơn (Canada).

Trước 1975 học đại học ở Sài Gòn, cùng anh Hoàng Xuân Sơn tham gia hoạt động trong nhóm văn nghệ sinh viên Văn khoa Sài Gòn thành lập Quán Văn, điểm xuất phát âm nhạc Trịnh Công Sơn – Khánh Ly.

Sau 1975 qua định cư tại Canada mới bắt đầu viết nhạc theo dòng ca khúc lãng mạnh đầy chất nghệ sĩ Huế. Đăng nhạc, thơ văn – cả tranh nữa - trên báo hải ngoại.

Bắt đầu thời Đổi mới cuối thập niên 1980 là một trong những người quay về VN sớm nhất tính chuyện phát triển du lịch. Vì vậy khi trở lại Canada đã bị giới chống Cộng hô hào “tẩy chay” không giao du, không phổ biến tác phẩm vì tội “nối giáo Cộng sản”!

Dù vậy năm 1994 khi biết mình mắc bệnh ung thư gan nặng không qua khỏi đã quyết định quay về nước – đặc biệt quê nhà Huế thân thương - một lần nữa để thăm bạn bè, vui chơi hoài niệm một thời tuổi trẻ sôi nổi. Nhân đó in tập nhạc đầu tay cũng là cuối cùng 20 bài nhan đề “Hãy nhìn tôi như thế” (Trịnh Công Sơn viết lời tựa).

Họp mặt đầm ấm cùng bạn bè, kỷ niệm mà không cho ai biết mình bệnh… sắp chết rồi đến thời điểm “chuông nguyện hồn ai” thì an nhiên quay lại Canada chấp nhận cái chết định mệnh đã an bài.

Với lời từ biệt cuối cùng đã để lại trên quê hương: “Hãy nhìn tôi như thế vì đời lãng quên tôi, vì tôi nhỏ bé, vì tôi sẽ biến mất trước khi cuộc đời vội vã nhớ lại như một thoáng ăn năn vô vị…”

818 - Hồ Điệp

GIỌNG NGÂM MẤT TÍCH

Nữ nghệ sĩ ngâm thơ sinh 1930 tại Hà Nội – Mất tích 1987 ở Campuchia (58 tuổi).

Từng là cô đầu hát ca trù ở miền Bắc nên sau khi di cư vào Nam 1954 nhanh chóng trở thành giọng ngâm thơ nổi tiếng miền Nam trong chương trình tiếng thơ Tao Đàn (do cố thi sĩ Đinh Hùng sáng lập) trên sóng phát thanh quốc gia kéo dài gần 20 năm.

Năm 1987 cùng một nhóm 11 người vượt biên theo đường bộ qua Campuchia song từ đó mất liên lạc, tin tức luôn!

Đáng chú ý trong số con cái sau này có con trai lớn Nguyễn Quốc Quân (sinh 1953 tại Hà Nội) cũng đã vượt biên theo đường bộ qua được Thái Lan rồi vào Mỹ từ năm 1981. Học đại học tốt nghiệp tiến sĩ, năm 2002 gia nhập đảng Việt Tân chống Cộng ở Mỹ giữ chức vụ “Trung ương” và đến năm 2007 được đưa về TPHCM âm mưu tổ chức gây rối chống chế độ VN hiện hành thì bị bắt đưa ra tòa lãnh án 6 tháng tù. Mãn án năm 2008 bị trục xuất về lại Mỹ.

819 - Hồ Hữu Tường

THỜI NÀO CŨNG TÙ!

Nhà tư tưởng, hoạt động chính trị sinh 1910 tại Cần Thơ – Mất 1980 (71 tuổi).

Học Pháp trở về (bạn của triết gia Jean-Paul Sartre) tham gia hoạt động chính trị từ thời Pháp, từng theo cộng sản Đệ tứ Quốc tế chống Pháp nên bị Pháp bắt giam đày ra Côn Đảo.

Còn viết báo viết sách với nội dung chính trị, nổi tiếng với bộ truyện “Phi Lạc sang Tàu” viết theo phong cách văn hài.

Sau 1954 từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thay vào bằng lập thuyết chủ nghĩa dân tộc, đề xuất miền Nam theo thể chế trung lập không cộng sản không tư bản. Tiếp tục hoạt động chống chế độ Ngô Đình Diệm nên năm 1957 bị bắt ra tòa tuyên án tử hình, sau được quốc tế can thiệp nên lại đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Năm 1964 chế độ NĐ Diệm bị lật đổ mới được thả về. Năm 1965 đắc cử dân biểu Hạ viện vào phe đối lập với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, chủ trương kêu gọi Liên Hợp Quốc bảo trợ cho miền Nam trung lập. Sau đó nghiêng về ủng hộ giới Phật giáo, làm viện phó ĐH Vạn Hạnh.

Ngày 30.4.75 từ chối đi di tản vì tin mình là người “yêu nước” không có gì phải lo lắng.

Nhưng thực tế không hoàn toàn như thế khi năm 1977 bị bắt do nghi ngờ có tham gia hoạt động chống chính quyền mới. Đưa ra giam ở Bình Thuận, cho trồng coi vườn thuốc nam của bệnh xá.

Tuổi già sức yếu qua bao lần gian nan tù tội lại thêm bệnh hiểm nghèo (xơ gan) nên khi thấy khó lòng qua khỏi, trại giam mới cho về. Tuy nhiên xe đưa về chỉ còn cách nhà 100m thì… trút hơi thở cuối cùng trên xe! Trong lúc đó vợ lại đang trên đường vào trại thăm nuôi, còn con trai nằm tù tội vượt biên bị bắt ở Bến Tre.

820 – Hồ Mơ

CHA NUÔI CỦA “MA RỪNG”

Nông dân sinh 1937 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2007).

Người dân tộc Pa Cô (nên còn tên Am Khanh) thời trẻ đi bộ đội đánh Mỹ từ năm 1956, được phong “Dũng sĩ diệt Mỹ” 4 lần. Năm 1969 bị thương nặng được đưa ra Bắc chữa trị cưa mất một chân.

Sau chiến tranh về quê ở bản Prin gần biên giới Lào làm ruộng rẩy. Vợ mất sớm để lại 2 con.

Một mình “gà trống nuôi con” đã cực nhọc rồi mà lòng lại nảy sinh tình thương đối với đám trẻ mồ côi trong bản. Một phần vì nhớ thủa nhỏ mình cũng từng mồ côi mẹ và phần khác nhờ đi bộ đội có được học tập kiến thức nên thương trẻ em người dân tộc mồ côi cha mẹ ở trong bản theo hủ tục lạc hậu thường bị xem là “ma rừng” phải chôn sống theo cha hoặc mẹ vừa qua đời. Vì thế đã tìm mọi cách để xin – hoặc thậm chí “cướp” lấy cháu ôm bỏ chạy! – về nuôi.

Cứ như thế đã nuôi được 8 em, có em còn sơ sinh phải bồng đi xin cho… bú ké sữa mẹ! Lớn lên còn lo dựng vợ gả chồng cho chúng, từ đó có thêm 20 đứa cháu nội ngoại. Tất cả đều xem là “những khúc ruột của tau cắt ra, là tài sản lớn nhất đời tau đó”.

Không chỉ thế, dù chỉ còn một chân nhưng từ năm 1999 còn tự tay lầm lũi cuốc đất vác đá san đất… làm đường, mở một con đường mới thông thương buôn làng với xã lên huyện giúp bà con đi làm ruộng rẫy, vận chuyển hàng hóa đỡ vất vả. Làm ròng rã suốt 3 năm mỗi ngày từ sáng sớm đến tối mịt, về sau bà con thấy vậy hiểu ra lợi ích nên cùng chia nhau xúm vào làm phụ. Đường hoàn thành dài 3km cho ô tô có thể chạy qua, được đặt tên “tự phát” là đường Hồ Mơ!

Chưa hết, còn làm nhà ngoài bìa rừng tự nguyện đóng vai “kiểm lâm nhân dân” giữ rừng Cù Nhoi, rừng phòng hộ đầu nguồn của huyện Hướng Hóa. Song song đó còn dùng kinh nghiệm học hỏi từ bộ đội để dạy đồng bào cùng mình làm ruộng lúa nước bậc thang, trồng sắn, nuôi trâu bò…

Làm biết bao nhiêu việc vậy mà vẫn thấy chưa đủ: “Tau ước sao đừng có… ban đêm, mặt trời cứ sang hoài như ri thì làm được biết bao nhiêu là việc”!

(Còn tiếp)

http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hshc-ki-81

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011

Sơn Nam "ở trọ trần gian"

(TT&VH) - Tính đến ngày 13/8 vừa rồi, nhà văn Sơn Nam rời xa “cõi tạm” tròn 3 năm (2008 - 2011). Sinh thời, Sơn Nam được rất nhiều người yêu quý, nhiều đại gia còn muốn mời ông về làm “môn khách” trong nhà. Nhưng Sơn Nam vẫn thích ở trọ nơi có nhiều người lao động tay chân, thích sống gần những mảnh đời cơ cực.

Ông Đào Tăng, năm nay ngoài 70 tuổi - một người mến mộ rồi trở nên thân thiết với Sơn Nam và gia đình nhà văn, đã kể với TT&VH về những tháng ngày nhà văn “ở trọ trần gian”. Đào Tăng có viết một cuốn sách về Sơn Nam đang được NXB Trẻ ấn hành. Ngoài sách, Đào Tăng hiện có một thùng sữa bò dùng đựng hình Sơn Nam mà ông đã chụp trong những năm được “đi và ở” với nhà văn.

“Sơn Nam đi bụi”

Nhà văn Sơn Nam trong một quán cà phê
vỉa hè năm 2003 - Ảnh: VĐD

Sáng ngày 11/8/2005, trên đường đi xe ôm trở về nhà, sau khi ngồi uống cà phê từ một quán bụi tại Q. Gò Vấp, nhà văn Sơn Nam đã bị tai nạn xe gắn máy chỗ ngã ba đường Phan Đăng Lưu - Đinh Tiên Hoàng, Q. Bình Thạnh, TP.HCM. Ông bị bể xương chậu, xương khớp bàn chân phía bên trái.

Sau tai nạn, như một hiệp sĩ phải gác kiếm, Sơn Nam đành nằm một chỗ trên giường bệnh, rời xa những thói quen dân dã hàng ngày. Ba năm sau lâm bệnh nặng, nhà văn đã qua đời ngày 13/8/2008 tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định.

Lăng mộ ông được an táng rất đẹp tại đường Nghệ sĩ, khu Danh nhân trong Nghĩa trang công viên Bình Dương thuộc huyện Bến Cát. Đường phố Sài Gòn từ đó vắng bóng một văn nhân trìu mến, người đọc vắng đi một tác giả lừng danh của vùng đất Nam bộ.

Trước đó, cuối Thu năm 1995, trong giới anh em văn nghệ sĩ nhiều thế hệ xôn xao: “Nhà văn Sơn Nam bỏ nhà đi bụi...”. Tất nhiên, chuyện ông không ở nhà mà đi ở nhà trọ là có, nhưng đó chỉ là chuyện ý thích cá nhân, vì ông không muốn vướng bận người khác do cách sống “đặc thù” của mình.

Chốn ở với Sơn Nam không thiếu, vì từ khi báo, đài đưa tin Sơn Nam gặp khó khăn trong cuộc sống, có rất nhiều đồng nghiệp, bạn bè, kể cả các đại gia nhà cao cửa rộng tìm ông chào mời về ở với họ. Nhưng thật ra, Sơn Nam thích ở nơi xuề xòa độc lập, đồng điệu với người đã có tuổi, có quán tánh và sinh hoạt đặc thù như ông. Đối với Sơn Nam không gì bằng nhà trọ, cơm đường, cháo chợ, ly cà phê điếu thuốc đen ngoài hè phố “thoát trần một cõi thiên nhiên”.

Ông đã đến ở những nơi dành cho thợ hồ, thợ mộc, thợ gò hàn, sửa xe gắn máy, bán bia, cà phê, vé số... Loại nhà trọ này khá phổ biến ở các xóm lao động ngoại thành. Nó được dựng lên bằng các chất liệu thô sơ, mái tôn vách ván, buồng ngăn bằng tấm bạt, ni lông sơ sài. Nó ngột ngạt vì căn phòng bé xíu, các phòng dồn sát bên nhau chung một cụm, chung một đường đi vừa lách đủ tấm thân, ẩn khuất trong xó kẹt.

“Cỗ xe ít hao nhiên liệu”

Sơn Nam đã gởi thân ở những khu nhà trọ như thế hơn mười năm ròng. Ông cho rằng mình thật diễm phúc vì đã chứng kiến và chiêm nghiệm lắm điều từ các số phận ở các nhà trọ. Tất cả mọi thành phần, nghề nghiệp, trí thức cho đến dân dã đều bình đẳng. Nhà văn hay mọi người đều nơm nớp mối lo chung về cơm áo, sòng phẳng mọi khoản tiền lớn nhỏ mới yên thân. Từ đó, gái trai trẻ già ở bên nhau càng thú vị, thân thiện, tối lửa tắt đèn có nhau mọi hoàn cảnh.

Tác giả Đào Tăng (ngoài cùng bìa phải) cùng các văn nghệ sĩ
thăm nhà lưu niệm Sơn Nam ở Tiền Giang.

Tôi đã đến rất nhiều lần với Sơn Nam trong các khu nhà trọ. Ở đó, có ông thầy soạn giáo án bên cạnh cậu sinh viên dùi mài kinh sử trong cảnh chan chát của người thợ quai búa hàng ngày. Tiếng ì xèo xì xẹt khói lửa nồng nặc của thợ gò hàn sát bên tai ông nhà văn đang lặng lòng, thót tim sáng tác.

Sơn Nam đã ngồi viết trong tiếng rồ ga nổ máy ầm ĩ của thợ sửa các loại xe máy. Chưa hết, còn các tiếng chửi tục, tiếng cười sàm sỡ, tiếng nhạc xập xình luôn vọng bên tai nhà văn bất luận giờ giấc nào. Tôi gọi chốn nhà trọ là một cái lò trui rèn sắt thép, quỵ xuống hay vươn lên chính là cái tư đức của chí nhân.

Nhà văn Sơn Nam viết văn giữa chốn dân dã như thế bởi ông xem viết cũng là một nghề khó nhọc để kiếm chén cơm ăn như mọi nghề. Trên mười năm sống và làm việc trong những cái nhà trọ, nhưng tất cả mọi tác phẩm sách báo của ông đều “mẹ tròn con vuông” ra đời.

Ngày 10/4/2003, lúc đang ở nhà trọ, ông là nhà văn đầu tiên ở nước ta được NXB Trẻ mua trọn đời bản quyền hơn 50 đầu sách viết từ năm 1947 đến sau này. Hôm Sơn Nam đi ký bản quyền với NXB Trẻ, dân trong xóm trọ ngạc nhiên khi ông già bỗng dưng khoác đồ vest bệ vệ. Hôm sau, họ đọc báo, xem tivi mới biết “Ông già là người nổi tiếng”. Bởi trong mắt họ đã khắc sâu hình ảnh của một ông già cô đơn tuổi đã bóng xế. Quẩn quanh trong khu nhà trọ, ông thường chỉ mặc cái quần đùi, còm cõi từ thắt lưng lên đôi vai gầy, dọc dài theo sống lưng chỉ thấy da bọc xương. Đêm ngày ở xóm nhà trọ nóng bức, xóm làng chỉ thấy ông cặm cụi viết. Đôi lúc ông đứng lên đi bộ quanh đường hẻm nghèo nàn rồi lại ngồi vào bàn viết.

Tôi gọi Sơn Nam là cỗ xe ít hao nhiên liệu nhưng cứ đều đặn nổ máy chạy hoài. Bởi đời ông có tiêu xài gì nhiều, vật chất đối với ông luôn tối giản... Nhưng Sơn Nam sang trọng quá chừng ở cái cõi trần gian tạm bợ này, khi đã để lại cho đời rất nhiều danh tác.

Trạc Tuyền (ghi)

http://www.thethaovanhoa.vn

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

THƠ MÙA VU LAN

Hôm nay ngày rằm tháng bảy - LỄ VU LAN -đọc lại bài thơ cũ để nhớ đấng sanh thành



TƯỞNG NHỚ MẠ

* Chú Mạ: danh xưng Cha Mẹ ở một số miền quê Thừa Thiên Huế

nhớ buổi tối mùa đông

mạ đi bán về muộn

liếp cửa giật mấy lần

gió se lòng nỗi đợi


con ngồi trông mong ngóng

ngọn đèn dầu tỏ mờ

các em đều đã ngủ

trong giấc dài trẻ thơ


mạ thu mình qua cửa

đêm tối ở ngoài kia

mạ cười hoa sen nở

- chợ mùa mưa ế nhề


mong mạ về là quý

từ hồi sớm canh khuya

áo tơi đôi triên gióng

về họp chợ đầu ngày


từ nhà quê lên phố

hai vai nặng cá đầy

có khi xe đò chạy

đành gánh bộ đi sau


con đường quê đá sỏi

mưa nắng biết mấy mùa

mạ ngày ngày hôm sớm

cuộc mưu sinh nhọc nhằn


thời thiếu nữ xuân thì

mạ vào vai đào chính

gánh hát ở làng quê

do ông Ngoại chủ xướng


giọng ca hò thắm đượm

tình quê bao niềm thương

dạt dào qua năm tháng

ấm áp lời quê hương


chú ở cách một xóm

nhà hai bên cũng gần

trời se duyên mau chóng

nối kết một đời chung


chú lái xe đò nhỏ

chạy từ làng lên phố

ngày ngày lại đi về

tiếng còi vang ngoài ngõ


một dạo miền quê khó

lại bão lụt liên miên

chú chạy xe không được

mạ bán cá nhọc nhằn


nghe miền Nam trong đó

khu dinh điền mới mở

đất lạ dễ làm ăn

chú mạ bàn tính kế


đi thì đi bỏ quê

tìm con đường sanh sống

con ở lại với dì

sáu tuổi đà đưa tiễn


một vài năm qua đi

một vài năm xứ lạ

có vốn liếng ầm ì

chú muốn về quê lại


về quê rồi về quê

không cầm được của cải

ở Hải Lăng thất bại

về quê lại về quê


mạ theo chú dãi dầu

nắng mưa cùng sớm tối

đám con còn lau nhau

tuổi thơ nhiều chìm nổi


lần này ở cao nguyên

có người quen dò hỏi

làm ăn rất xông xênh

vùng khai hoang đất mới


Kontum chào vẫy gọi

lên đường lại lên đường

năm một chin sáu hai

em Hằng vừa một tuổi


nhà ở khu Võ Lâm

số nhà 42 A

đường Đống Đa mới mở

hai căn nhà liền kề


mạ vẫn là sớm hôm

lại cùng đôi triên gióng

chợ Võ Lâm không xa

mở một vựa cá nhỏ


năm cùng năm tháng qua

nhà một tay mẹ giữ

nuôi đàn heo sau nhà

mỗi năm được hai lứa


nhà mỗi ngày một khá

chú sắm xe daihatsu

cuộc sống vui rôm rả

con sáu đứa đủ đầy


mỗi năm con lên thăm

hè cao nguyên mát mẻ

trong hơi ấm mạ hiền

tình gia đình rất ấm


mạ tươi tắn nụ cười

sáng chợ về ra đón

có mấy gói hàng quà

cho đàn con trông ngóng


năm con đậu Tú tài

chú mạ mừng vô kể

mua cho chiếc Honda

để đi học ở Huế


gần mười năm cao nguyên

nên một cơ nghiệp nhỏ

chú mạ cuộc sống yên

bên các con đầy đủ


gần mười năm Kontum

chiến tranh ngòai cửa ngõ

đêm vẫn nghe tiếng pháo

từ xa xa ì đùng


mạ vẫn ngày buôn bán

chú vẫn chạy xe đều

mua thêm căn nhà nữa

ở ngòai phố mặt tiền


nhà trải qua mấy cuộc

pháo kích xa rồi gần

giữa thời buổi chiến tranh

biết đâu mà né tránh


mạ ngày ngày đi chợ

hơi trưa trưa lại về

đời sống như bình ổn

một gia đình xa quê


khi mỗi mùa hè đến

con trở lại mái nhà

trong tình yêu của mạ

ngời sáng cả bao la


rồi cũng đến một ngày

như bao nhiêu chàng trai

con sung vào quân đội

mạ canh cánh lo hoài


lo hết nửa chiếc xe

con trở về hậu cứ

anh lính kiểng lè phè

lòng vòng quanh phố chợ


năm bảy mươi qua đi

Kontum và chú mạ

mùa Xuân đến thầm thì

hạnh phúc tràn qua ngõ


Xuân đến vẫn đang mùa

Tết vừa qua một lúc

hôm tháng giêng mười ba

điện gọi từ căn cứ


âm báo từ cao nguyên

về một tin khủng khiếp

mạ qua đời qua đời

từ một cơn pháo kích


trong buổi sáng lệ thường

mạ thức dậy ra chợ

ngày mới chớm tinh sương

bằng xe ôm đến bến


khi trở về trên phố

viên đạn pháo quái ác

nổ tung giữa mặt đường

mạ vướng nhiều mảnh đạn

ôi một trời đau thương


chú trăm đường chạy chữa

nhưng không kịp nữa rồi

mạ trút hơi thở cuối

còn kịp gọi tên con


ôi đau đớn lòng ôi

đau đớn quá lòng ơi

mạ đã không còn nữa

đau xé ruột trời ơi


mạ đã không còn nữa

qua chặng đường thanh xuân

tuổi vừa tròn bốn bốn

đã vĩnh biệt dương trần


đã vĩnh biệt mạ ơi

xa cách ngàn sông núi

bao giờ được gặp Người

mịt mờ đường muôn lối


đưa mạ về quê hương

nấm mộ nằm mông quạnh

ôi dâu bể tang thương

cuộc đời sao vắng lặng


chú và các con còn

mưu sinh trên phố núi

mạ vắng rồi ai mong

những sớm trưa về chợ


con còn những ngày hè

xưa còn tiếng cười mạ

xa xa dặm đường quê

tìm bóng chim tăm cá


ôi mạ của một đời

khôn xiết lời đau đớn

chia ly cả một đời

vô cùng cơn bi hận


ai khóc giùm với tôi

Người không còn cõi thế

không còn thấy mặt Người

còn khi nào gặp gỡ ?


trăm năm ôi ngàn năm

mỗi người chỉ một mẹ

âm vang muôn nghìn lần

một lời ru khe khẽ


mạ qua rồi còn đây

cả một đời thương nhớ

khóc thuở bước xa bầy

chân lạc loài trong cõi


thiên thu cũng là đây

mạ qua rồi, ừ nhỉ

trắng xóa một bờ mây

vọng âm buồn muôn ý

bao giờ ta có lại

bóng mạ hiền năm xưa

một đời ta mãi mãi

ôm gối Người đong đưa

để chiều hôm sớm tối

tiếng mạ cười như mơ

tiếng cười như âm dội

qua mấy tầng thiên thu


bao giờ bao giờ nữa

thời gian qua mất rồi

mạ cũng không còn nữa

đau đớn dậy thành lời


con đốt nén hương thơm

đồng mồ quê làng cũ

mạ nằm có ấm không

những mùa đông mưa lũ


dặm đời dài phía trước

con còn cuộc mưu sinh

chú và bầy em nhỏ

trong cõi sống bập bềnh


ôi biết bao nhiêu năm

tìm ra một người mẹ

trăng qua bao nhiêu rằm

nụ cười bừng sáng lại


ôi biết khi nào nguôi

niềm thương nhớ mạ tôi


TỪ HOÀI TẤN

Mùa Vu Lan - Tháng 8/2008

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Sự tích rằm tháng bảy và xuất xứ của hai tiếng Vu Lan


AN CHI

Rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm là ngày xá tội vong nhân, dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Nhưng đây cũng còn là ngày báo hiếu mà giới tăng ni Phật tử gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này và lễ cúng cô hồn có phải là một hay không? Và đâu là xuất xứ của hai tiếng "Vu Lan"?

Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật. Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì. Thân hình tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ. Mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống. Quá thương cảm xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ. Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng. Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn. Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa. Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.

Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sanh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động đến thần thánh. Phải nhờ đến uy đức của chúng tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được. Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông. Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo. Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác. Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát. Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.

Ngày rằm tháng 7 do đó được gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không? Không! Ðây là hai lễ cúng khác nhau được cử hành trong cùng một ngày. Sự tích lễ cúng cô hồn đại khái như sau : Cứ theo "Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh" mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: " Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên ". A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là "Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni", đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là " thả quỷ miệng lửa ", về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành " tha tội cho tất cả những người chết ". Vì vậy, ngày nay mới có câu "Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân ".

Vậy lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là hai lễ cúng khác nhau. Một đằng thì liên quan đến chuyện ông Mục Liên, một đằng lại liên quan đến chuyện ông A Nan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và ông bà bảy đời, một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng. Một đằng là báo hiếu, một đằng là làm phước. Sự khác nhau giữa hai bên là hiển nhiên, nhưng nhiều người vẫn cứ lẫn lộn. Chẳng hạn trước đây, ông Thái văn Kiểm cho rằng lễ Vu Lan và lễ (xá tội) vong nhân (fête des Trépassés) là một. Còn lễ cúng cô hồn (fête des âmes errantes) và lễ xá tội vong nhân (Pardon des Trépassés) chính là một thì ông lại xem là hai (X. Les fêtes traditionnelles Vietnamiennes, B.S.E.I., t. XXXVI, no1, 1961, pp. 64-65). Mới đây, hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi cho rằng lễ Vu Lan là để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết (Chúng tôi nhấn mạnh - HT) không còn phải đọa cảnh khổ nữa (Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 795, mục Vu Lan bồn). Nhưng đây không phải là " những người đã chết " nói chung vì như đã biết, đó chỉ là cha mẹ cùng với ông bà bảy đời mà thôi.

Trở lên là nói về sự khác nhau giữa lễ cúng cô hồn với lễ báo hiếu, thường gọi là lễ Vu Lan. Vu Lan là dạng tắt của Vu Lan bồn. Nhưng Vu Lan bồn là gì ? Sau đây là lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi : " Bồn là cái chậu đựng thức ăn. Cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa. Vu Lan dịch âm từ chữ Sanscrit Ullabana, là cứu nạn treo ngược. Những người làm nhiều điều ác đức, sau khi chết, phải thác sinh xuống những cõi sống rất khổ gọi là địa ngục. Ở đây có một khổ hình là bị treo ngược (Sđd, tr. 795). Chúng tôi sẽ dựa vào lời giảng này mà tìm hiểu về xuất xứ của mấy tiếng " Vu Lan " và " Vu Lan bồn ". Lời giảng này có bốn điểm sai mà điểm sai thứ nhất thì chúng tôi vừa mới chỉ ra ở những dòng cuối của đoạn trên.

Sau đây là điểm sai thứ hai : Nói bồn là cái chậu đựng thức ăn thì không đúng vì bồn chỉ là một yếu tố phiên âm (sẽ phân tích rõ ở phần sau) mà thôi. Nói rằng đó là " cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 " thì lại sai theo một kiểu khác nữa. Chậu là " đồ dùng thường làm bằng sành sứ hoặc kim loại, miệng rộng, lòng nông, dùng để đựng nước rửa ráy, tắm giặt hoặc để trồng cây v.v..." (Từ điển tiếng Việt 1992). Vậy đựng thức ăn trong loại đồ dùng đó mà dâng lên cho chư tăng thọ thực là một hành động hoàn toàn thất nghi và thất lễ. Thật ra, Phật đã dạy Mục Liên như sau:

Phải toan sắm sửa chớ chầy
Ðồ ăn trăm món trái cây năm màu
Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu
Món ăn tinh sạch báu mầu
Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng

(Diễn ca kinh Vu Lan bồn)

Thau, bồn (chậu) chỉ là những thứ phải dâng cho chư tăng trong dịp Vu Lan để dùng trong việc rửa ráy, tắm giặt... mà thôi. Còn thức ăn thì phải "tinh sạch báu mầu, đựng trong bình bát " đàng hoàng lịch sự, chứ có đâu lại đựng trong chậu.

Thật ra, trước Thích Minh Châu và Minh Chi, cũng có những học giả đã giảng như trên, chẳng hạn Ðoàn Trung Còn trong bộ từ điển lớn về Phật học hoặc Toan Ánh trong bộ sách dày về nếp cũ. Ðây là một cách giảng lệ thuộc vào cái sai của sách vở Trung Hoa. Từ Nguyên chẳng hạn, đã giảng về mấy tiếng Vu Lan bồn như sau : " Nói lấy chậu đựng trăm thức để cúng dường chư Phật " (Vị dĩ bồn trữ bách vị cung dưỡng chư Phật).

Ðiểm sai thứ ba là đã theo cái sai của những người đi trước mà giảng Vu Lan thành " cứu nạn treo ngược", vì thấy từ điển Trung Hoa giảng Vu Lan bồn là " cứu đảo huyền ". Thật ra, khi Từ Nguyên chẳng hạn, giảng Vu Lan bồn thành " cứu đảo huyền " là đã mượn hai tiếng "đảo huyền " trong sách Mạnh Tử. Trong sách này, có cú đoạn " Dân chi duyệt chi do Giải đảo huyền dã" nghĩa là "như giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng vậy ". Chính Từ Nguyên cũng đã giảng " đảo huyền " là sự khốn khổ tột cùng (khốn khổ chi thậm). Vậy " cứu đảo huyền " không phải là " cứu nạn treo ngược " mà lại là " giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng ". Hai tiếng " đảo huyền " ở đây không còn được hiểu theo nghĩa đen nữa. Nghĩa của chúng ở đây cũng giống như nghĩa của chúng trong thành ngữ " đảo huyền chi tế " là tình cảnh khốn khó, chứ không phải là " cảnh bị treo ngược ".

Ðiểm sai thứ tư là ở chỗ nói rằng danh từ Sanscrit "Ullabana" có nghĩa là "cứu nạn treo ngược". Trước nhất, cần nói rằng từ Sanscrit này đã bị viết sai. Vậy không biết ở đây hai tác giả muốn nói đến danh từ Sanscrit nào, nhưng cứ theo dạng sai chính tả đã thấy thì có thể luận ra rằng đó là một trong hai từ sau đây : Ullambana hoặc Ullambhana. Ở đây, xin phân tích từ thứ nhất: Ullambana gồm có ba hình vị : ud (trở thành ul do quy tắc biến âm samdhi khi d đứng trước l) là một tiền tố, thường gọi là tiền động từ (préverbe) chỉ sự vận động từ dưới lên, lamb là căn tố động từ có nghĩa là treo và ana là hậu tố chỉ hành động. Vậy Ullambana có nghĩa là sự treo lên. Nhưng tất cả chỉ có như thế mà thôi ! Từ Sanscrit này không hề diễn đạt cái ý treo ngược hoặc treo xuôi gì cả. Nó lại càng không thể có nghĩa là "cứu nạn treo ngược " được.

Trở lên, chúng tôi đã nêu ra những điểm sai trong lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi về hai tiếng "Vu Lan ". Vậy đâu là xuất xứ và ý nghĩa đích thực của hai tiếng này ? Trước nhất, Vu Lan là dạng nói tắt của " Vu Lan bồn ". Ðây là ba tiếng đã được dùng để phiên âm danh từ Sanscrit Ullambhana. Từ này thoạt đầu đã được phiên âm bằng bốn tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là Ôlambàna. Dạng phiên âm cổ xưa này đã được Từ Hải khẳng định. Về sau, Ôlambàna được thay thế bằng dạng phiên âm mới là " Vu Lan bồn", trong đó Vu thay thế cho Ô, lan cho lam và bồn cho bà + n (a). Vì " Vu Lan bồn " chỉ là ba tiếng dùng để phiên âm, cho nên từng tiếng một (Vu, Lan, bồn) hoàn toàn không có nghĩa gì trong Hán ngữ cả. Do đó, tách bồn ra mà giảng thành " cái chậu đựng thức ăn " như hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi đã làm là hoàn toàn không đúng.

Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Danh từ Sanscrit này có ba hình vị: Tiền tố ud (trở thành ul vì lý do đã nói), căn tố động từ lambh và hậu tố ana. Xin nói rõ về từng hình vị: Không giống như trong Ullambana, ở đó nó chỉ sự vận động từ dưới lên. Trong Ullambhana, tiền tố ud chỉ ý phủ định hoặc đối lập, thí dụ : chad (che, bọc, phủ), dv (đối với), uc-chad (cởi quần áo), khan (chôn), đv ut-khan (moi lên), gam (đi), đv ud-gam (đi ra), nah (trói, buộc), đv un-nah (cởi trói) v.v... Trong những thí dụ trên, ud trở thành uc, ut, un do quy tắc biến âm samdhi. Còn các căn tố động từ thì được ghi bằng chữ in hoa theo truyền thống khi chúng được tách riêng. Căn tố động từ lambh là hình thái luân phiên với labh, có nghĩa là lấy, chiếm lấy, nắm bắt ... Vậy Ul-lambh có nghĩa là giải thoát. Hậu tố ana chỉ hành động có liên quan đến ý nghĩa mà tiền tố và căn tố động từ diễn đạt. Vậy Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Ullambhana được phiên âm sang Hán ngữ bằng ba tiếng dọc theo âm Hán Việt là " Vu Lan bồn ". Vu Lan bồn được nói tắt thành Vu Lan. Vậy Vu Lan là sự giải thoát. Xuất xứ của nó là danh từ Sanscrit Ullambhana. Ðây là từ thứ hai trong hai từ mà chúng tôi đã suy đoán ở trên. Trong cấu tạo của từ này, tuyệt nhiên cũng không có một thành tố nào mà về ngữ nghĩa lại có liên quan đến hiện tượng " treo ngược " cả.

Trở lên, dù sao cũng chỉ là ý kiến thô thiển của một cá nhân. Ðúng hay sai, xin được sự thẩm xét của các nhà chuyên môn, trước nhất là các nhà Phật học và các nhà Phạn học.

http://nhavantphcm.com.vn/doc-duong-van-hoc/su-tich-ram-thang-7-va-xuat-xu-tieng-vu-lan.html

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

Gặp Nhau "Lúc O Giờ" Với Trần Hữu Dũng



Nhị Ka


Tập thơ “Lúc O giờ” của Trần Hũu Dũng (*) trình diện và tặng bạn bè văn nghệ tại cà phê lề đường 58 Trần Quốc Thảo, quận 3; ngày 6/8/2011 tập hợp lại ở nhà hàng Việt Xưa số 65 Tú Xương gần bên; đây không phải buổi ra mắt thơ như anh Vũ Trọng Quang cho biết “ .

Nhân dịp anh Trần Hữu Dũng có tập thơ mới, chúng ta tập hợp ở đây…cụng ly chúc mừng”, một cái cớ để gặp nhau dzô dzô, do đó không có tuyên bố dài dòng, không điểm danh những người tham dự và cũng không có đọc thơ; số người dự kiến là 20 đã tăng lên gần 50 người, chỗ ngồi ở phòng riêng đã đặt trước, không đáp ứng được, chật mà vui.

Có người ở rất xa: từ nước ngoài về như chị Vũ Trà My, có người từ Đà Nẵng vào: Huỳnh Lê Nhật Tấn và Trần Thiên Thị (Trần Thiên Thị thách Vũ Trọng Quang “Lúc O giờ” ra nhà thờ Đức Bà đấu kiếm để chiếm trái tim mỹ nhơn), có người tận cùng đất nước: Huỳnh Thúy K.iều lên; ở gần thì có Hiếu Tân từ Vũng Tàu, Mỹ Tho thì có Vương Huy; tại SàiGòn, dĩ nhiên, đông nhất, gồm những nhà văn nhà thơ nhà báo họa sĩ đạo diễn: Khổng Đức, Nguyễn Tiến Văn, Đoàn Thạch Biền, Lê Thị Kim, Lê Văn Duy, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Hòa vcv, Chiêu Anh Nguyễn, Khương Hà Bùi, Quỳnh Trang, Đào Hiếu, Nguyễn Đạt, Từ Hoài Tấn, Nguyễn Đình Bổn, Phan Ngọc Thường Đoan, Mẹ Đốp, Nhật Chiêu, Phạm An Hòa, Vũ Hà Nam, Mỹ Khanh, Lý Đợi, Bùi Chát, Đinh Kim Phúc, Nguyễn Thị Hậu, Ngô Thị Hạnh, Trần Hoàng Nhân, Vũ Lập Nhật, Đinh Kim Phúc, Trần Hồ Thúy Hằng, Đỗ Đình Chiến…Anh em thù tạc đến 2 giờ, gom một số người ham vui bay qua quán khác ở đường Nguyễn Phúc Nguyên (gần ga SàiGòn) cụng ly tiếp với 2 chai rượu của Lê Văn Duy và Đỗ Trung Quân.

Đến xế chiều, buổi lai rai còn vài người, cuộc vui nào cũng tàn, tàn mà vẫn còn vui. Tác giả “Lúc O giờ” không chờ đến khuya để người về trong đêm tối ôm cành hoa tả tơi, buổi gặp mặt không tuyên bố gì, chỉ phút cuối tuyên bố: VỀ, Trần Hữu Dũng dắt xe về tỉnh táo, mưa lún phún./.

(*) “Lúc 0 giờ” do Nguyễn Tiến Văn, Lý Lan, Phạm Viêm Phương chuyển ngữ. Nxb Hội Nhà Văn, quí 3/2011


Bản tác giả gửi + vanchuongviet.org