Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Võ Công Liêm : MODIGLIANI - HOẠ SĨ KHÔNG-HÓA


gởi: Những văn nghệ sĩ.

Không-hóa là gì? Là vai trò hoán triệt toàn diện để đi tới Như-nhiên. Tận triển mọi khả năng tri thức để đưa tình cảm của mình vào tác phẩm, nhờ đó mọi người cảm nhận được cái siêu lý nghệ thuật. Một thứ nghệ thuật phi nghệ thuật ; đặc biệt nghệ thuật hội họa. Modi đại diện cái gọi là không-hóa đó : ‘Neither / Aucune, ni l’un ni l’autre, non plus, neither…nor’. Nghĩa là không có ai mà chẳng có ai như Modi. Modigliani đi từ Không sang Có và đi từ Có sang Không. Cái ấy chính là con đường ‘tối-thượng-thừa’ mà xưa nay không ai có thể dẫm lên bước đi đó, dù ảnh hưởng ít nhiều cái uyển chuyển, khéo léo (gesture) như Modi đã làm và đã sống.

Modi quan niệm như Van Gogh (1853-1890) : « May mắn cho tôi, tôi chẳng mong đợi vào sự chiến thắng, vinh hoa nào, mà tôi chỉ tìm kiếm qua hội họa một phương cách thoát khỏi cuộc đời ».

Nếu vẽ là đóng băng trên một bình diện nghệ thuật ‘nhai lại’ thì đó là cái chết của nghệ thuật (The death of Art). Modi chính thức vượt thoát ra khỏi mọi khuôn thước cố hữu để có một tâm như siêu thoát, nhờ đó mới dựng lên toàn cảnh từ trí tuệ đến hiện thực. Ngắm tranh của Modi với một tâm hồn rộng mở, bao dung, một tinh thần độ lượng mới hài hòa tiết điệu đó. Bởi Modi có hai bề mặt của trạng huống con người ; vừa khách thể vừa chủ thể là hai phạm trù phiến diện tách ra khỏi dòng sống như nhiên, tức một cái gì an nhiên tự tại trong đáy linh hồn của Modi, chính cái đó là phương tiện thoát ly cuộc đời, thoát ly thế giới qui ước, tàn tích, bó rọ nầy. Tất cả là gò đống là đi tới cái chết (la mort de). Amedeo không thể chấp nạp cái thứ nghệ thuật như thế dù chấp nạp miễn cưỡng hay tạm bợ. Xin nhớ cho Modi không đuổi theo hư danh, ảo vọng của một nghệ sĩ chân chính, làm thế không để đời được. Modigliani hiểu điều đó.

Modi cần sống, sống nhanh sống vội, sống quên mình dù đương đầu với cái chết trong chén rượu truy hoan, trong độc dược (drugs) suy tàn, trong dục vọng sa đọa với đàn bà (womanizing), trong đam mê với nghệ thuật (passion of art) , Modi phải mượn tất cả những thứ đó để tìm thấy cái tuyệt mỹ cũa hội họa, cái đẹp của cuộc đời, trong đó cái đẹp của người phụ nữ là một liên hệ trung gian và đó cũng là cái nhìn khát vọng, cái khát vọng vô tình để đưa Modi đi vào hiện thực -realy life- tạo cuộc đời thêm một vũ trụ, vũ trụ của dự cuộc, vũ trụ của khát vọng là nhu cầu cần thiết cho họa nhân ; Modi nằm trong vị trí ấy.

Cái sự vẽ của Modi là không hướng tới cái hy vọng ngày mai mà hướng tới một sáng tạo nghệ thuật ; sự cớ đó chính là sự phiêu lưu của hình ảnh, với hình tượng trong một tư thế chủ động để tan chảy (fusion) vào họa phẩm (work of art)). Ấy là yếu tính vô thức mà Modi nhận ra như một tương quan giữa những hoạ sĩ cũng như những nhà điêu khắc khác.

What seemed important was the suject matter of the unconscious which he recognized as part of the indentity of the artist.

Trời sinh Modigliani có-con-mắt như thế mới trông thấy thứ nghệ thuật đó. Modi đối diện với cái ĐẸP để thưởng thức trọn vẹn cái đẹp, ông đã trút bỏ tất cả, những khái niệm khô khan, đưa thể xác dục vọng vào cái gọi là ‘mưu đồ’ mà chỉ tập trung tinh thần vào đối tượng, quên mình vào sự vật, vào hình tượng, hoàn toàn quên hết ngoại giới xung quanh để đi vào thế giới mê-hồn-trận của thế giới “vật ngã đồng tâm” là kinh nghiệm muôn thuở của Amedeo Modigliani .Có thể thời của Modi hay của Picasso người ta cho là ngông cuồng(?) It mean a mad intoxication! Chắc chắn là không; bởi tranh của Modi không nằm trong đề tài cái đẹp, cái đẹp trong tranh của Modi là đường nét, là bút pháp, là màu sắc, là yếu tố đích thực, cái đó là ‘ reality physique’ một hiện thực về tâm sinh lý, một ‘body language’ mà ở đây Modi diễn tả bằng một nội lực qua nét cọ của đường nét, của màu sắc như một tiếng nói của thân xác, một biểu hiện về hình thái sáng tạo nghệ thuật; vì thế mà đời nhìn dưới một nhãn quang không được đẹp như đời từng thấy qua nét đẹp. Modi không thể làm thỏa mãn cái ‘nhãn quang’ đó, không thể chạy theo thị hiếu mà làm mất đi những bước tiên khởi ‘avant-garde’ của hội họa. Nhưng quên rằng cái đẹp trong tranh của Modi là một cái gì thuộc về nội quan hơn là ngoại quan.

-Le laid peut etre beau, le joli jamais- (P. Gauguin). Vậy tranh của Modi là gì? Là một triết lý thuộc về phân-tâm-tính-dục ‘psychosexual’; quả là tư tưởng và hình ảnh vĩ đại cho một họa nhân như Modi.

Ngần ấy lý giải cũng đủ cho chúng ta thấy được chân tướng bản-lai-diện-mục của Modigliani, một giá trị như nhiên bất tận và trường cửu mà Modi để lại cho thế gian như một chứng tích giữa hồn và xác của con người.(1)

Amedio Modigliani sanh năm 1884. Dòng dõi ông có chất máu Do Thái (Sephardic Jews). Ra đời tại Livorno, Leghorn miền bắc Ý-Đại-Lợi (Italy). Gia cảnh trung lưu ở Tuscan. Modi định cư ở Pháp (1906) gặp gở và kết thân với Picasso, Utrilo, Soutine, Bracusi và một số văn nhân nghệ sĩ khác ở Paris.

Modigliani chỉ ở với trần gian 36 năm (1920). Sống ngắn nhưng đầy đủ; cái phận thiên tài đều chung số “phong vu bỉ sắc vu thử” thì lạ gì ‘bỉ sắc tư phong’ (ND).

Pháp là trung tâm của văn hóa nghệ thuật đã trải qua nhiều thời đại mà mỗi thời đại sản sinh ra những thiên tài xuất chúng qua từng bộ môn. Những tài nhân tụ về đây để phát huy cũng như sáng lập nhiều trường phái khác nhau. Những biểu tượng xẩy ra trong hiện trường của đời sống ông đã ảnh hưởng ít nhiều nhịp sống trong tâm hồn ông. Modigliani sa đọa từ đấy. Ám ảnh lớn lao cho Modi là phụ nữ, luôn luôn nghĩ đến xác thịt, một bức xúc gần như tâm bịnh. Ông điên loạn chính ông, vẽ đủ thể loại khác nhau, từ khối (cubist) ấn tượng (impress) dã-thú (fauves) tượng Phi châu (African sculpture) Cái thời kỳ mà các họa sĩ bắt đầu làm mới, Picasso đã đem nghệ thuật đại dương và da đen Phi châu, dập nát hội họa cũ để thành lập trường phái lâp phương (cubisme). Từ đó hội họa và điêu khắc lên đường để tìm hiểu cách diễn đạt mới, Modi đi đúng thời thượng về đường nét ‘dài’ (elongated figures), một đường nét có âm hưởng da đen Phi châu. Modigliani hồ hởi tìm hiểu, học tập về điêu khắc, tất cả đổi mới đó, gọi chung là Chủ nghĩa Hiện đại (Modernisme) rồi đến Hậu Hiện đại (Post-Modernisme). Một đánh dấu lớn lao cho Modi; ông gặp Bracusi điêu khắc gia gốc Bảo-Gia-Lợi (Bul) giữa năm 1910 và 1913, điêu khắc đã làm say mê người thưởng ngoạn. Kể từ đó Modi bắt đầu nhúng tay đục chạm gỗ và đá. Chỉ trong vòng 2 năm; Amedeo đành bỏ rơi điêu khắc vì lý do sức khoẻ để trở lại hội họa 1915. (2)

Thời gian sống ở Pháp Modi la cà khắp phố phường Paris, trao đổi hay thảo luận về hội họa với những bậc tài hoa, hay những bậc thầy mà Modi một thời ngưỡng mộ, ông thường ngồi cà phê nơi tụ hội văn nhân nghệ sĩ hay những hộp đêm, hầm rượu, say sưa tửu điếm. Modi ham vẽ như ham sống, đến đâu cũng vẽ, ông vẽ những đường nét như ‘vết chém’ qua chân dung của các nghệ sĩ như Diego Rivera, Picasso, Juan Gris, Jacques Lipchitz, Moise Kisling và Chain Soutine… với những nét bung phá đó, dần dần ông chuyển hướng qua đường nét ‘cổ-dài’ (long-necked nude) khởi từ đó Modi nghiên cứu và dồi mài đường nét ‘dài’ để tạo cho mình thế đứng riêng biệt. Qua những hình ảnh trong tranh người ta gán cho ông cái tên gọi họa-sĩ-phỉ-báng (le peintre maudit). Nhưng chính trong cái xấu xí (damnable) là cả một ngạc nhiên sau nầy khi mà người ta tìm thấy ‘chất liệu’ đó như một bản chất riêng biệt về cái bôi nhọ, chê bai mà Modi đã vẽ lên những hình tượng như thế.(3)

Đời bỏ quên Modi, những đứa con tinh thần của Modi trở nên vô thừa nhận; điều đó có khác gì Van Gogh. Modi ngậm đắng lao vào đời như kẻ khốn cùng; mặc dù những năm gần đấy tiếng tăm Modi đã trở thành ‘huyền-sử-ca’ trong giới văn nhân ở Paris cũng như ở cố quốc.(nước Ý mắc cái nợ di sản của Modigliani) nhưng không phải những thừa nhận đó mà kéo Modi ra khỏi vũng tối, có những đêm say mướt dưới cơn mưa ở Montparnasse, lạnh, đói, thiếu thốn ‘poverty-stricken’ sống nương nhờ như kẻ vô gia cư vô điạ táng, một đời phóng đãng phủ quanh ông để rồi buột miệng: “Tôi say ngất ngư cho tới chết” (I am going to drink myself to death) Tiếng nói đó như thổn thức cho thân phận mình. Modigliani chấp nhận mọi thương đau để hoàn thành những tác phẩm mà Modi nuôi dưỡng từ khi dấn thân vào con đường hội hoạ, người đã trải qua những chặng đường khốc liệt nhất, kể cả những cuộc tình đi qua trong đời Modi. Những tác phẩm của ông chính là đời

ông. Qua bao cuộc triển lãm từ xưa cho đến nay, người ta nhìn ngắm cái đặc thù của Modi là cả một suy tưởng trong những hình ảnh vẽ lên, nó không thuần chất như những họa phái khác. Modigliani đã tạo cho mình một cõi riêng từ tranh sang

tượng. Modi thành công trong hai lãnh vực đó, cũng vì đam mê tạc mà đưa tới cho Modi nhiễm bệnh hiểm nghèo lao phổi và suy thoái lần mòn cho tới ngày nhắm mắt. (4)

Cuộc đời là thế; cái thừa nhận thường đi sau cái chết. Modi là nạn nhận của sự phủ phàng : chối bỏ, khinh khi cả đời ông, cái cố gắng của Modi là cái chống lại mọi manh tâm trục lợi; Modigliani chả được lợi gì chỉ còn lại cái tiếng thơm muôn thuở mà đời truy phong khi người ta tìm thấy ánh hào quang trong tranh của Modi với một nỗi buồn thánh thiện ‘L’Ange au visage grave / The sad-faced Angle’ là cả một nội tâm chất chứa, phản ảnh cụ thể, một sự tĩnh lặng của nhân thế ‘human still lifes’. Thật thế; Modi không phô trương, không chứng tỏ cái hay của mình. Không!

Mà đời phô trương và chứng tỏ cho ông. Cao qúy vô cùng, nên suy ngẫm.

*

Dưới huyệt mộ Modigliani mỉm cười cho mình cho đời. Modi đã sống và đi trước thời đại hơn cả niên kỷ, con người ngày nay chỉ tìm thấy cái sự đã rồi, e rằng vẫn còn một số người chưa hiểu thấu cái siêu lý vô tận của Modi để lại.

Có biết, có nói chỉ là lập ngôn một cách mơ hồ về chân tướng sống thực của Amedeo Modigliani mà thôi. Khổ cho những kẻ còn chạy theo những đám bụi mờ không thấy ánh sáng của nghệ thuật hội họa để định nghĩa và minh định thế nào là chân thiện mỹ của ‘nghệ-thuật-thứ-bảy’. Hầu hết nghệ danh đều có nỗi khổ riêng cũng như kiếp nghèo riêng, có sa đọa riêng, có lẽ; họ tìm thấy nguồn cảm hứng xuất thần từ trong đó. Modi dùi mài, lùng kiếm cái sáng tạo, âm thầm và không bao giờ tự hào, mãn nguyện dù một thỏa mãn nhỏ, Modigliani ý thức được điều đó. Người nghệ sĩ tự mãn là nghệ sĩ chết. Chết hẳn. Xin đời nhớ cho!

Giờ đây và mãi mãi; Modi đón nhận hạnh phúc của mình đang ngự trị trong những viện bảo tàng nghệ thuật thế giới hơn là những cuộc đấu giá rầm rộ .

Cái đó chính là cái Không-hóa cho cả một đời dấn thân của Modi; để làm nên những gì là không-hóa trong tranh, trong đời mà Modi để lại cho hậu thế.

Một sáng tạo kỳ vĩ. Người ta đang ‘line-up’ để nhìn cái sống thực, cái hào quang của Modigliani với những gương mặt buồn trong tranh như chính nỗi buồn của mỗi chúng ta đang sống giữa cõi đời này ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab. tiết sương giáng 10/2011)

*Amedeo Modigliani: sanh ờ Ý 1884. Chết bịnh lao ở nhà thương thí Paris, Pháp 1920.

1915/16 mở đầu trường phái ‘dài’ qua tranh và tượng.

1918; Triển lãm cá nhân ở Paris.

1918/19 Triển lãm ở Cannes và Nice (Pháp)

SÁCH ĐỌC :

ART of the 20th. Century. 2000 Benedikt Taschen Verlag GmbH. Bonn. Germany.

ARTnews magazine USA (jan.2004). Tranh hình trong bài lấy từ tạp chí nầy.

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

Tưởng nhớ thi sĩ Bùi Giáng (1926 - 1998)


13 năm ngày mất thi sĩ Bùi Giáng
7/10/1998 - 7/10/2011

Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín


Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh

Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa
Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
Chim ngây ngất vào trong đôi mắt lả
Anh lim dim cho chết lịm hồn mình

Anh quên mất bò đương gặm cỏ
Anh chỉ nghe tiếng cọ rì rào
Có hay không ? bò đương gặm đó ?
Hay là đây tiếng gió thì thào ?
Hay là đây tiếng suối lao xao
Giữa giòng cỏ xuôi ghềnh chảy xuống ?

Mùi thoang thoảng lách lau sương đượm
Mùi gây gây gấy gấy của hương rừng
Mùi lên men phủ ngập mông lung
Không biết nữa mà cần chi biết nữa

Cây lá bốn bên song song từng lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
Hạnh phúc trời với đất mang mang
Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây đương nằm đó
Không biết trời đất có ngó mình không

Vĩnh Trinh - Thạch Bàn 1950


Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

GIỚI THIỆU TẬP THƠ MỚI




NHỮNG CON CHIM CỦA BÓNG TỐI
THƠ PHẠM TẤN HẦU

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC 2011

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 87 – 2.10.2011 (Trích đăng từ 1.1.2010, xem MỤC LỤC DANH SÁCH ở Kỳ 75)

871 - Đoàn Văn Líu

“NGƯỜI TIẾP SÓNG” TIN MỘ LIỆT SĨ

Công chức về hưu sinh tại Hà Nội – Mất 2007 ở Hà Nội (72 tuổi).

Kỹ sư đóng tàu làm ở Bộ Giao thông – Vận tải tại Hà Nội.

Năm 1993 cùng vợ vào Quảng Trị tìm mộ liệt sĩ em vợ nhưng không có kết quả.

Tuy vậy qua chuyến đi này lại đọc được trên báo Quảng Trị thông tin về 7 ngôi mộ liệt sĩ khác quê miền Bắc mới nghĩ rằng chắc gia đình không biết nên về nhà tìm cách viết thư thông báo cho các gia đình liệt sĩ kể trên. Bởi thông tin chính thức từ đơn vị báo tử về gia đình trước đây có lẽ do yêu cầu giữ bí mật quân sự nên chỉ vắn tắt không rõ ràng địa điểm, ngày tháng.

Kết quả quá tốt cả 7 gia đình đều có thư hồi đáp cám ơn, cho biết nhờ đó đã vào Quảng Trị tìm được mộ người thân.

Thế là từ đó nảy sinh ý nghĩ tiếp tục công việc “đưa tin” mộ liệt sĩ như vậy. Bằng cách đi sưu tầm loại thông tin này từ các báo đài về tổng hợp rà soát lại chi tiết, địa chỉ rồi làm cầu nối gửi đến gia đình liệt sĩ. Báo thì đi mượn hoặc đọc ké, đài thì đều đặn nghe các chương trình thông tin liệt sĩ của Đài Tiếng nói VN qua chiếc đài cũ kỹ. Sau được Chủ tịch Nước tặng cho chiếc đài radio-cassette xịn vừa nghe vừa ghi lại, rồi tiến lên hiện đại hơn là thu băng, sau nữa được đài cung cấp luôn bản danh sách đã đọc trên đài.

Ghi lại đầy đủ tất cả thông tin tìm được (có hôm làm đến 2-3 giờ sáng) kèm photocopy bài báo hoặc ghi chú kỹ thông tin đài phát ngày giờ nào làm 2 bản một bản gửi đi đến gia đình liệt sĩ và một bản lưu lại. Trước khi gửi đã xác minh địa chỉ thông qua Ban Thương binh – Liệt sĩ địa phương, bì thư tự làm để tiết kiệm tiền, ngoài đề “Thư biếu thông tin mộ liệt sĩ” (sau này bưu điện biết được mới cho miễn dán tem).

Cứ cần cú làm kiểu “kiến tha lâu đầy tổ” như thế hơn 10 năm trời đã gửi hàng vạn lá thư với phần lớn được hồi âm kèm lời cảm tạ thiết tha “xin vái ông một lạy”. Trong số này gần 700 gia đình đi theo thông tin đó đã tìm ra một liệt sĩ thân yêu. Được tặng cho biệt danh “Người tiếp sóng” tin tức mộ liệt sĩ, “Người nghe đài giùm” thân nhân liệt sĩ…

Bản thân chỉ khiêm tốn tự nhận: “Công việc của tôi không có gì đáng kể. Tôi về hưu thời gian rỗi rãi nên còn sức làm… Làm chẳng có lý do gì cả, chỉ là sự đồng cảm giữa các gia đình đồng cảnh ngộ với nhau thôi… Gia đình nào chưa biết tin mình cũng mừng lây cho họ, mừng như chính mình tìm thấy phần mộ của người thân vậy.”

Nhưng bao gia đình người nhờ mình giúp tìm được mộ liệt sĩ còn gia đình mình có người em vợ liệt sĩ thì đến giờ vẫn chưa biết mộ chí hay hài cốt lạc loài nơi đâu!

872 - Jonathan Hanh Nguyen

NGƯỜI NỐI NHỊP CẦU VN – PHILIPPINES

Doanh nhân Việt kiều Philippines tên cũ Nguyễn Hạnh sinh 1951 tại Nha Trang. Sống ở VN - Philippines (2011).

Năm 1974 theo gia đình “trốn” chiến tranh qua Philippines định cư rồi ở luôn kể cả sau khi chiến tranh kết thúc.

Tại đây được đi du học Mỹ . Tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế học ra làm cho Hãng sản xuất máy bay Boeing một thời gian rồi xin chuyển về làm việc cho Hãng Hàng không Philippines, quê hương thứ hai vừa ở gần gia đình vừa thấy “gần gũi với VN hơn”. Bởi trong lòng vẫn không quên bao kỷ niệm thời học trò ở Nha Trang nhớ lớp học trong ngôi trường nằm sát biển, “nơi tôi hay ngồi nhìn ra biển thả hồn ước mơ…”

Vì thế năm 1984 khi VN vừa Đổi mới mở cửa đã bay về quê nhà thăm viếng bạn bè người thân. Từ đó nhận ra những cơ hội xây dựng, kinh doanh mới cho mình vừa thỏa ước mơ tìm lại quê hương vừa góp phần giúp đỡ đồng bào vẫn còn nhiều khó khăn trong cuộc sống thời hậu chiến.

Trong các việc làm này nổi bật nhất là giúp mở đường bay thẳng TPHCM – Manila Thủ đô Philippines năm 1985. Ngoài ra còn thành lập công ty, lập cơ sở sản xuất tại quê nhà Nha Trang, góp vốn hình thành chuỗi siêu thị ở TPHCM, xây nhà máy lắp ráp ô tô ở Hà Nội… Đồng thời tham gia nhiều hoạt động từ thiện xã hội.

Được xem là một “Đại sứ thiện chí” không chính thức của VN – Philippines. Gần đây nhất vào giữa năm 2011 đã tình nguyện vận động hỗ trợ 122 ngư dân VN bị Philippnes bắt đưa ra tòa vì tội theo tàu đánh cá vô tình vi phạm lãnh hải nước bạn, lo cho số người này nơi ăn ở khi được thả ra rồi bỏ tiền mua vé máy bay cho họ về nước.

Rất tâm đắc với câu nói nổi tiếng của cố Tổng thống Mỹ J. F. Kennedy lấy làm kim chỉ nam cho cuộc đời mình “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho bạn mà hãy tự hỏi mình đã làm gì cho Tổ quốc”.Áp dụng vào thực tế thành lời dạy cho con cái: “Tôi luôn nói với các con ba là người VN, cái gốc của các con là VN nên các con là người VN, đi đâu làm gì cũng không được quên VN, phải nghĩ cho VN.”

873 – Hnơch

2 LẦN THEO FULRO

Nông dân người dân tộc Banah sinh 1959 tại Gia Lai. Sống ở Gia Lai (2008).

Sinh ra lớn lên trong vùng căn cứ địa cộng sản nên ông nội, mẹ và em gái chết vì bị bom Mỹ đánh trúng, cha cũng bị biệt kích Mỹ bắn chết.

Vậy nhưng năm 1986 khi vợ mới sinh đứa con thứ hai lại nghe lời tàn quân Fulro dụ dỗ theo chúng qua Campuchia lập căn cứ chống phá VN.

Năm 1992 chịu khổ không nổi mới bỏ trốn theo đường rừng đi suốt một tuần lễ mới về lại buôn sóc cũ. Được chính quyền địa phương tha tội cho về làm ăn sản xuất nuôi vợ con.

Nhưng năm 2000 bọn Fulro cũ lại tìm gặp nói ngon ngọt kéo đi theo qua Campuchia “hoạt động” một lần nữa để lại vợ một mình nuôi 7 con thơ nheo nhóc.

Tuy nhiên lúc này Campuchia sau thời Pol Pot đã giao hảo trở lại với VN không bao che cho Fulro nữa nên dẹp bọn này. Vì vậy bị bắt giữ trao trả lại cho phía VN năm 2001. Lần này tái phạm nên phải ra tòa lãnh án 5 năm 6 tháng tù.

May mắn ở tù 4 năm thì được xét giảm án cho ra tù sớm về với gia đình. Từ đó thôi hết mộng Fulro nữa để lo chăm chỉ cuốc đất trồng cà phê cố gắng làm lại cuộc đời khi đã về chiều.

874, 875 - Họa Mi – Lê Tấn Quốc

RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CHỮA BỆNH CHO CHỒNG

Nữ ca sĩ Việt kiều Pháp tên thật Trương Thị Mỹ sinh 1955 tại Sài Gòn. Sống ở Pháp (2011) – Nghệ sĩ kèn saxophone sinh 1953 tại Sài Gòn. Sống ở TPHCM (2011).

Nữ ca sĩ được cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ dìu dắt bắt đầu nổi tiếng vài năm trước ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ. Còn nghệ sĩ saxophone học nghề từ năm 11 tuổi, đến 15 tuổi đã đi thổi phòng trà Sài Gòn.

Sau 1975 cả hai gặp nhau trong khi cùng đi trình diễn theo Đoàn Kim Cương hoặc các tụ điểm văn nghệ, nàng hát chàng đệm kèn da diết. Từ đó yêu nhau.

Năm 1976 làm lễ cưới trở thành một đôi uyên ương văn nghệ tài sắc vẹn toàn. Sinh được hai con trai một gái.

Bất ngờ năm 1988 vợ theo đoàn văn nghệ nhà nước qua Pháp biểu diễn rồi… bỏ đoàn ở lại luôn! Chồng con ở nhà hoàn toàn không hay biết gì hết.

Scandal bỏ nước ra đi này sau đó được người vợ giải thích ra đi không phải vì lý do chính trị hay kinh tế mà muốn ra nước ngoài tìm chuyên gia chữa trị cho chồng mắc bệnh khiếm thị bẩm sinh sắp mù cả 2 mắt. Tuy nhiên không rõ có ý định từ trước hay qua đến Pháp mới nảy sinh ý đó hay có người gợi ý?

Dù vậy quả là năm 1990 đã đón chồng và 3 con qua Pháp (nhà nước vẫn cho phép đi chữa bệnh có thời hạn) đưa đến bác sĩ chuyên gia Pháp chẩn đoán chuẩn bị điều trị. Nhưng cuối cùng cả giáo sư Pháp cũng bó tay không thể chữa được chứng bệnh nan y này!

Thế là 2 vợ chồng lâm vào thế tiến thối lưỡng nan trên xứ người, đi không xong ở không được. Vợ không thể về nước sợ bị ghép tội “phản bội tổ quốc” (!), còn chồng lại không chịu ở lại làm gánh nặng cho vợ con mà lại không có điều kiện được tiếp tục theo đuổi sự nghiệp âm nhạc đã ăn sâu vào máu thịt. Cũng không chấp nhận xin ở lại theo chế độ “tỵ nạn chính trị” mang tiếng với quê nhà.

Cuối cùng chồng chọn giải pháp một mình quay về quê hương, để 3 con ở lại vợ nuôi có điều kiện ăn học tốt hơn quê nhà còn nghèo khó. Một quyết định mà “đến bây giờ không bao giờ ân hận”.

Từ đó vợ ở lại nước ngoài đi hát nhà hàng nuôi con (tránh xa chính trị nên từ chối qua Mỹ hát), chồng lại về thổi kèn sân khấu và thu đĩa.

Rồi thời gian trôi qua dù không muốn thì vẫn xa mặt cách lòng mỗi người phải tự lo toan cho cuộc đời riêng của mình nên rốt cuộc ai cũng chắp nối bước đi bước nữa. Vợ lấy chồng mới kỹ sư Việt kiều gốc Sa Đéc năm 1995 sinh thêm một con gái rồi nghỉ hát cùng chồng mở xưởng nhỏ làm bánh ngọt ở ngoại ô Thủ đô Paris.

Nhưng dù vậy mối tình nghệ sĩ đẹp trong thời hậu chiến vô vàn gian nan trắc trở ấy đã để lại vết thương lòng quá sâu đậm không dễ gì quên được.

Với người chồng cũ nó biến thành “Tiếng kèn tôi là tiếng kèn tâm sự. Bởi khi thổi tôi đặt hết tâm hồn mình vào giai điệu. Đôi mắt mập mờ thì đôi tai phải choàng hết phần việc còn lại. Cuộc đời tôi vướng nhiều nỗi buồn nên tiếng kèn cũng mang theo số phận…”

Còn với người vợ cũ thì “Tôi muốn giữ mãi những phút giây quý giá của hạnh phúc để quên đi những chuỗi ngày buồn đau, những vết thương lòng đã chôn chặt từ lâu…”

Bởi vậy năm 2009 đã trở về làm album “Một thời yêu nhau” tìm lại cảm xúc mối tình đầu, vẫn mình hát với chồng cũ đệm kèn như ngày ấy bên nhau…

876 – Hoài Linh

VUA TẤU HÀI THẾ HỆ MỚI

Nam diễn viên sân khấu Việt kiều Mỹ tên thật Võ Nguyễn Hoài Linh sinh 1969 tại Cam Ranh (Khánh Hòa). Sống ở VN – Mỹ (2011).

Cha là đại úy VNCH (gốc Quảng Nam) đi cải tạo sau 1975 nên mẹ phải “bỏ của chạy lấy người” bỏ nhà cửa cơ nghiệp ở Cam Ranh dẫn 6 con (bản thân là con thứ ba nhưng là con trai đầu) chạy vào “tỵ nạn” ở Dầu Giây (Đồng Nai). Ở đây cả nhà làm rẩy và buôn bán lẻ sống qua ngày vẫn dễ thở hơn ở quê cũ đã lỡ mang tiếng gia đình “Ngụy quân” khó ngóc đầu nổi!

Lớn lên muốn theo ngành sư phạm song bị bác… lý lịch! May mà có năng khiếu múa và nhờ còn bạn bè ở Nha Trang giới thiệu nên được nhận vào Đoàn múa Ponaga của Khánh Hòa. Từ đó học thêm nghề hát cộng diễn xuất rồi phát triển qua tấu hài.

Năm 1992 chuyển vào hoạt động sân khấu ở TPHCM bắt đầu nổi tiếng thành công rực rỡ đặc biệt trong thể loại tấu hài mang phong cách dân gian kiểu mới đúng thị hiếu quần chúng bình dân.

Năm 1993 theo gia đình đi Mỹ theo diện H.O sau khi cha cải tạo về năm 1982.

Tại Mỹ tiếp tục diễn show hài gặt ăn khách.

Nhưng từ 1996 quay về lại TPHCM biểu diễn mới thành công tột đỉnh đoạt nhiều giải thưởng danh hài, còn được mời tham gia nhiều bộ phim hài ăn khách.

Đã có vợ Việt đưa qua Mỹ năm 1997, sinh được một con gái đầu lòng.

877 – Lê Nguyễn

TỪ ĐỘI TUYỂN BÓNG ĐÁ MỸ ĐẾN ĐỘI TUYỂN BÓNG ĐÁ VN

Cầu thủ bóng đá Việt kiều Mỹ tên Việt là Nguyễn Thế Anh sinh 1986 tại Mỹ. Sống ở VN – Mỹ (2011).

Cha mẹ qua Mỹ sau 1975 (cha quê Bến Tre).

Lớn lên dù thể hình nhỏ bé so với dân Mỹ song đã sớm bộc lộ năng khiếu chơi bóng đá nên được tuyển vào đá chân tiền vệ cánh cho CLB Dallas ở quê Texas. Rồi vào Đội tuyển Trẻ Mỹ U.16 và U.18 dự giải Trẻ Vô địch thế giới 2005.

Tốt nghiệp trung học từ chối vào các CLB chuyên nghiệp giải Mỹ để theo đuổi con đường đại học vừa học vừa chơi cho đội bóng sinh viên.

Nhưng chỉ thời gian ngắn sau chấp nhận qua Hà Lan đá cho đội trẻ CLB Ajax Orlando vào năm 2005. Một năm sau được HLV Hà Lan Guus Hiddink nổi tiếng chú ý lấy về đá cho PSV Eindhoven. Qua 2008 chuyển đến CLB Randers ở Đan Mạch.

Trong thời gian này, năm 2007 được triệu tập vào Đội tuyển U.23 Mỹ đá ba trận và cả ĐT Mỹ cũng đá 3 trận ở Cúùp Nam Mỹ.

Năm 2009 theo gợi ý của cha đã về lại quê hương VN đầu quân cho đội Hoàng Anh – Gia Lai dự giải V-League. Trong mùa giải đầu tiên đã ghi 13 bàn cộng 16 đường chuyền ăn bàn giúp đội đoạt Cúp Quốc gia và xếp hạng 6 V-League.

Năm 2011 chuyển về đội Bình Dương đương kim Á quân V–League.

Năm 2010 đã xin nhập nhập quốc tịch VN song đến tháng 9.2011 mới đượïc duyệt (đồng thời vẫn giữ quốc tịch Mỹ), từ đó có khả năng có thể khoác áo thi đấu cho Đội tuyển VN.

878 – Lê Văn Nhạc

NGƯỜI ĐÀN ÔNG LỚN TUỔI NHẤT

Lao động nghèo sinh 1900 tại Đồng Nai. Sống ở Đồng Nai (2011).

Nhà nghèo “không có nổi cục đất chọi chim” lớn lên đành chịu phận đi làm mướn cày thuê. Dù vậy năm 1940 cũng lấy được vợ là cô thôn nữ gặp gỡ qua những lần hò đối đáp trong khi cùng đi cấy lúa.

Năm 1943 theo tiếng gọi yêu nước để vợ ở nhà còn mình lên đường theo Việt Minh đi kháng chiến chống Pháp.

Sau 1954 tiếp tục ở lại hoạt động bí mật chống chính quyền Ngô Đình Diệm. Không may cuối năm 1957 bịï bắt giam ở nhà tù Phú Lợi tại Bình Dương.

Mãi 4 năm sau mới được thả với trong người bệnh tật triền miên. Trở về nhà mất liên lạc với cơ sở lại bị mật vụ theo dõi nên cả 2 vợ chồng đành phải bỏ xứ đi tha phương cầu thực. Vì bệnh nên không con.

Đến 1975 hòa bình tái lập mới dẫn vợ về quê cũ nương náu qua ngày, tự tìm việc làm chân tay đắp đổi kiếm sống chứ không được hưởng chế độ gì do đã ngưng hoạt động, quan hệ với tổ chức lâu rồi.

Đến năm 2011 vợ mới 88 tuổi nhưng chồng tính ra đã 111 tuổi hơn kỷ lục “Người đàn ông lớn tuổi nhất” mới được ghi nhận trước đó vài tháng là cụ ông Huỳnh Văn Lạc hiện ở quận 12 TPHCM sinh năm 1901 tức 110 tuổi.

Cuộc sống neo đơn chỉ 2 vợ chồng “quá” già lủi thủi lụ khụ không con cháu thân thích giúp đỡ nên cảnh nhà rất nghèo không có đường điện nước, không có cả nhà vệ sinh. Dù v?y 2 vợ chồng vẫn còn sức khỏe sinh hoạt bình thường, đặc biệt luôn giữ tinh thần lạc quan vui sống như ông cụ thường khoe: “Hồi xưa nghèo quanh năm toàn ăn cơm với muối, giờ bữa ăn có cá có thịt là sướng lắm rồi!”.

Gần đây mới được địa phương xây cho Nhà Tình thuơng, bắt đườøng điện nước, tặng áo quần vật dụng đem lại chút niềm vui an ủi tuổi già đã quá cổ lai hy.

879 – Lê Vị

3 ĐỜI ĐI TÌM MỘ LIỆT SĨ

Nông dân sinh tại Quảng Ngãi (đã mất).

Ở trong vùng căn cứ cộng sản thời chống Mỹ bên cạnh sông Trà Khúc ở huyện Tư Nghĩa nên năm 1966 đã tự tay chôn xác con nuôi là một chiến sĩ du kích bị địch phục kích bắn chết. Sau một thời gian do bom đạn tàn phá quê nhà quá dữ đành phải bỏ quê ra tỉnh ở.

Sau hòa bình quay về quê cũ tìm mộ con nuôi thì thời gian qua quang cảnh đã đổi khác, đất đai bị san bằng không sao tìm được dấu tích ngôi mộ. Thế là từ đó đau đáu nỗi lòng thương nhớ con nuôi muốn làm sao tìm cho ra mộ. Đến khi qua đời đã trăng trối lại cho con trai hãy tiếp tục thực hiện nguyện vọng đó cho kỳ được.

Nhưng đến đời con bao nỗ lực tìm kiếm cũng đều vô hiệu.

Rồi đến cả đời cháu thì may sao nhờ người cháu này làm nghề tìm phế liệu chiến tranh đem bán nên qua máy rà trên mặt đất mới phát hiện ra di vật chiếc hộp quẹt và chiếc lược nhôm của liệt sĩ người chú con nuôi. Từ đó khai quật đưa hài cốt về quy tập nghĩa trang liệt sĩ theo đúng di huấn ông nội để lại.

880 – Lệ Thu

NGƯỜI HÁT “HÀ NỘI NIỀM TIN YÊU VÀ HY VỌNG” HAY NHẤT

Nữ ca sĩ tên thật Bùi Thị Oanh sinh 1943 tại Hải Phòng. Sống ở Mỹ (2011).

Cùng mẹ di cư vào Nam từ 1953. Trở thành nữ danh ca tên tuổi hàng đầu miền Nam trước 1975 với giọng trầm khàn độc đáo đặc biệt thành công qua những ca khúc tình cảm chiều sâu lắng đọng.

Ngày 28.4.1975 trước khi chế độ Sài Gòn đầu hàng cộng sản đã cùng 3 con gái lên đường ra sân bay định di tản, đã đến dưới chân cầu thang máy bay song nhớ thương còn lại mẹ già nên quyết định quay về nhà chấp nhận ở lại.

Sau đó vẫn được đi hát bình tthường ở các tụ điểm văn nghệ quần chúng. Tất nhiên bấy giờ là dẹp nhạc vàng chỉ hát nhạc cách mạng trong đó thể hiện rất đạt ca khúc để đời “Hà Nội niềm tin yêu và hy vọng” của nhạc sĩ Phan Nhân. Bài hát sáng tác năm 1972 dưới mưa bom Mỹ nhưng chính tác giả phải công nhận sau ngày Giải phóng vào Sài Gòn mới nghe bài này “chưa ai hát hay bằng” Lệ Thu.

Áy thế mà nữ ca sĩ hát nhạc cách mạng thành công này – hơn cả ca sĩ cách mạng chính cống - đến cuối năm 1979 lại dẫn con gái út… vượt biên đến đảo Malaysia!

Sau đó qua Mỹ năm 1980. Hai năm sau 2 con gái lớn cũng vượt biên qua theo.

Trên đất Mỹ tiếp tục trình diễn, thu đĩa sống khỏe. Nhưng đời sống riêng khá buồn, qua 2 đời chồng đều ly dị nên khi con cái lớn khôn ra đời chỉ còn lại một mình sống cô quạnh.

Năm 2007 về nước “vì nhiều người trong nước muốn nghe tôi hát, nếu về chậm hơn một chút sợ sẽ là quá muộn”.

Và thực tế quả là trở về cố hương trên sân khấu hát lại những tình khúc một thời thành danh vẫn được khán giả ái mộ chào đón nồng nhiệt.

(Còn tiếp)

http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hosohauchienky87

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Thơ Thái Ngọc San - Võ Quê

Thái Ngọc San
1947 - 2005

Màu Thiên Thu


Có một lần tôi về Bến Ngự

Thấy giàn hoa em đã trổ bông

Tôi đứng nghe gió chiều ru ngủ

Thấy hồn mình thoáng tựa mù không.


Tôi một dòng sông, em một dòng

Cây lá che đời buổi chớm đông

Rượu tình ngàn chén như hồ thỉ

Một dòng sông hoài, một dòng sông.


Tôi đứng bên đường xưa lối cũ

Nghe mơ hồ tiếng ngựa hành qua

Có phải nhà em là Thủy Tạ

Có phải tình tôi là mây xa.


Mai kia tôi như người thiếu ngủ

Cũng đầy vơi một cuộc phong trần

Em vẫn dưới giàn hoa vạn kỷ

Thiên thu đời ngọn gió đông xuân.


Tôi bước đi khi em về lại

Lá bên đường rụng chiếc tình nhân

Có gì trong mắt em ái ngại

Có gì tan tác tựa phù vân.


Ta gặp nhau bên đường xuôi ngược

Rồi ngàn năm là chiếc bóng đời

Dưới giàn hoa em thời mãn cuộc

Đã in hình rách nát đời tôi.



Võ Quê

1948 -


Tình Thơm Hoa Bưởi


lối mòn hoa bưởi vương vương
dấu chân ngọc nữ đưa chàng về xa
mai trời nắng đổ ngựa sa
em còn ngóng đợi chiều tà bên sông
nay còn phơi lụa mùa đông
với tình biển núi mặn nồng quê hương
lối về hoa bưởi vương vương
bước chim đã lạ chàng nương nẻo hồn

( Tuần báo Khởi Hành, số 19 , 04 tháng 9 năm 1969)

http://www.gio-o.com/ThoTinhNam1975.html

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

"Lắng nghe tiếng nước chảy"

THÁI KIM LAN
Tưởng niệm Cố Hoà Thượng Thích Thiện Châu

Vừa qua tôi lục giấy tờ cũ, tình cờ thấy một trang giấy có thủ bút của Thầy Thích Thiện Châu (cố Hoà Thượng Thích Thiện Châu), một bài thơ. Cảm động quá. Bài thơ này Thầy viết sau khi khoá Thiền mùa hè năm 1990 chấm dứt và là lần cuối cùng Thầy sang giảng khoá Thiền tại Muenchen.

Từ khi đảm nhiệm dạy môn triết học so sánh giữa tri thức luận Phật học và triết học Tây phương tại Đại học LMU Muenchen, mỗi năm tôi tổ chức khoá Thiền mùa hè và mùa đông cho sinh viên (trong đó những trí thức quan tâm đến Thiền cũng có thể ghi tên tham dự). Hội thảo cuối tuần đúc kết các đề tài tham luận lý thuyết chuyển sang thực hành để giúp sinh viên hiểu biết chu đáo về Phật học và thực hành phương pháp Thiền định. Những lần như thế tôi thường mời hai vị sư: Thầy Thiện Châu ở chùa Trúc Lâm (Paris) và Bikkhu Pasadika người Đức (hiện cũng hơn 80, vốn là bạn học với Thầy TTC và HT Thích Minh Châu, một học giả uyên thâm về Sanskrit và Tây tạng) đến hướng dẫn các buổi ngồi Thiền cũng như tham luận của sinh viên. Trong suốt các thập niên 70, 80, 90, đầu thiên niên kỷ thứ 21, hai vị Thầy đáng kính đã không ngại đường xa đến giúp tôi, đông cũng như hè, lặn lội trong tuyết lạnh hay thong dong trong nắng ấm, tận tình chỉ dẫn những sinh viên trẻ tìm hiểu đạo Phật với tâm từ bi và khiêm ái.

Khoá Thiền năm 1990 tôi tổ chức tại Weyarn cách München 50 km, trong rừng, tại một trung tâm văn hoá tôn giáo, được trang bị đầy đủ cho các buổi toạ Thiền, rất thích hợp với hội thảo của chúng tôi.

Sau khi đón Thầy từ sân ga, chúng tôi đến Weyarn, buổi chiều trước hôm bắt đầu khóa Thiền. Thầy trò đi dạo trong rừng, cũng để tìm điạ điểm rộng thoáng, đẹp cho một buổi ngồi Thiền định trong rừng. Hôm ấy đi sâu vào rừng, một hồi không tìm thấy lối ra, tôi cùng với các cháu bối rối sợ đi lạc mãi trong đêm khó tìm đường, nhưng Thầy vẫn điềm đạm, bảo ngồi nghỉ chân rồi đi tiếp, lúc sau Thầy bảo đi theo hướng nước chảy, may sao gặp một hồ nước mới định phương hướng tìm về, khi ấy trăng đã lên cao.

Thầy Thích Thiện Châu và Mai Lan


Dạo ấy các khoá Thiền do tôi tổ chức rất đông sinh viên đến tham dự, có khi lên đến trăm người, mặc dù thông báo giới hạn tham dự tối đa 50 người (đối với viện Triết, đó là hiện tượng khá đặc biệt). Nhiều lần phải phân làm hai nhóm và mỗi Thầy hướng dẫn một nhóm. Thật thú vị khi thấy các sinh viên Đức đua nhau vào lớp có ôngThầy Việt nam, còn số sinh viên Á Châu, nhất là các Phật tử Việt nam (ngoại khoá) lại thích vào nghe ông Thầy Đức giảng.Thường sau mỗi khoá Thiền, Thầy TTC đọc một hay hai bài thơ cho sinh viên nghe (tôi dịch sang tiếng Đức). Năm ấy, sau buổi Thiền, Thầy viết bài thơ trên mặt sau tờ giấy ghi tên sinh viên tham dự (thường danh sách một bản đưa cho Thầy).Thầy để lại bài thơ, rồi từ biệt mọi người và từ đó không trở lại nữa sau khi ngã bệnh và viên tịch năm 1997.

Nhìn lại thủ bút của Thầy, tôi ngẩn người, thế mà đã 21 năm, không ngờ đã hai thập niên lẻ một, tưởng như mới đây, mà nay người không còn nữa...

Từng chữ như vẽ lại dáng vị sư áo nâu nhũn nhặn, trầm tỉnh ngồi nghỉ trên phiến đá, trong lúc chúng tôi, nhất là tôi, lo sợ trời tối mà các cháu nhỏ (Mai Lan lúc ấy lên 9, Minh lên 10) đi theo đã đói và mỏi mệt, sương xuống càng lúc càng dày. Thầy bảo đừng sợ, rồi hướng dẫn chúng tôi đi theo tiếng suối, chúng tôi vạch lau sậy đi trong sương mù bồng bềnh...và không thể tả nỗi sự vui mừng ngạc nhiên khi thoát ra khỏi vùng vây lau sậy u minh, đến bên bờ hồ, mới biết trăng đã lên tự bao giờ, vằng vặc sáng.

Lời thơ bình dị, mộc mạc, hầu như tự quên là thơ, không đòi hỏi là thơ, mà đạo vị và thi vị thanh thoát bàng bạc từ chữ đầu đến chữ cuối đúng theo hạnh „giới ngữ“ của nhà Phật. Chân dung của vị sư như thoát ra từ câu thơ, hiển hiện trước mắt, điềm đạm, khiêm cung và từ ái, một lữ khách theo chân Như Lai, đến và đi như thế, không ồn ào, không mê hoặc. Người đã đến từ xa, cùng những sinh viên ngồi đếm từng hơi thở, hầu như chỉ dạy cách lắng tâm nghe dòng đời chảy để „thấy đường“ nhân ái rộng trước mắt. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao sinh viên Đức ngưỡng mộ Thầy.

Thơ của Thầy Thiện Châu

Thấy đường

Chiều xuống giữa ngàn cây,
Sương lam hoà trong mây
Cỏ dại lấp lối đi
Lữ khách dừng chân nghỉ
Lắng nghe tiếng nước chảy
Lần theo suối đi mãi
Hết đường - một hồ vắng
Nước lặng loáng trăng vàng

(Thích Thiện Châu 14.7. 1990)

* Thường những buổi toạ Thiền đều không được chụp hình vì tôn trọng sự tĩnh lặng và tập trung, nên không có hình ảnh đầy đủ.

Huế, trung thu Tân Mão
T.K.L
http://tapchisonghuong.com.vn

Hòa Thượng Thích Thiện Châu


Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Thiện Châu (1931 – 1998)

Nguyên Đạo

Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tHáng 2 năm 1931 tức ngày 7 tHáng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.

Thầy xuất gia năm 16 tuổi (1947) và thọ giới Tỳ kheo năm 1952. Bổn sư của Thầy là Cố Đại Lão Hòa thượng Thích Giác Nguyên, Viện chủ Tổ đình Tây Thiên (Huế).

Từ năm 1948 đến năm 1958, Thầy theo học tại trường Phật học Báo Quốc. Ra trường năm 1958, với một căn bản Phật học và Hán văn vững chắc, một tinh thần năng nổ hết lòng vì Đạo, Thầy trở thành giảng sư xuất sắc và trẻ nhất vào thời đó, thuyết giảng tại các tỉnh miền Trung: Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Phan Thiết, Nha Trang, Ban Mê Thuột... và cuối cùng là Sài Gòn, trước khi lên đường du học sang Ấn Độ vào năm 1961.

Tại Ấn Độ, Thầy đã đậu bằng Cử nhân Pàli (Pàlyacharya) và Cử nhân Anh Văn (năm 1965).

Năm 1966, Thầy qua Anh theo học tại Học viện Đông Phương và Phi Châu (School of Oriental and African Studies).

Đến năm 1967, Thầy qua Pháp, thể theo lời mời của Phật tử Việt Nam tại đây, đang cần người hướng dẫn tu học.

Năm 1971, Thầy đậu bằng Tiến Sĩ Triết Học (Docteur 3e cycle-Sorbonne).

Năm 1972, Thầy trở thành Nghiên Cứu Viên của Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia Pháp (CNRS).

Năm 1978, Thầy đậu bằng Tiến Sĩ Quốc Gia Văn Học và Khoa Học Nhân Văn (Docteur d’Etat ès lettres et sciences humaines), tức là bằng cao nhất có thể đạt được trong môn này.

Song song với học chữ, Thầy còn hướng dẫn tu học cho Phật tử Việt kiều tại Pháp và Tây Đức, và tham gia tích cực vào Phong Trào đòi Hòa Bình của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ.

Ngay từ năm 1966, tuy ở tại Anh Quốc Thầy vẫn thường qua Pháp hướng dẫn tu học cho Phong trào Việt kiều Phật tử tại đây, mà nòng cốt là Đoàn Sinh viên Phật tử, đang gặp khó khăn trầm trọng về tổ chức. Đến năm 1967 thì Thầy ở lại hẳn bên Pháp. Dưới sự hướng dẫn tinh thần của Thầy, Đoàn Sinh viên Phật tử đã được củng cố lại và vào những năm 68, 69, trở thành một trong những tổ chức vững mạnh nhất của Việt kiều tại Pháp vào thời bấy giờ, với tờ báo Gió Nội. Cùng khoảng thời gian đó, Đoàn sinh viên Phật tử Việt Nam tại Tây Đức được thành lập. Hai Đoàn kết hợp lại thành Liên Đoàn sinh viên Phật tử Việt Nam tại Âu Châu (01/ 07/ 1970), hàng năm đều tổ chức trại sinh viên, hè tại Pháp đông tại Tây Đức. Thầy luôn luôn có mặt tại các trại, hướng dẫn tu Thiền và giảng dạy giáo lý cho các trại sinh.

Hội Phật tử Việt Kiều Hải Ngoại, Chi Bộ Pháp, do Thầy trực tiếp lãnh đạo với tư cách là chủ tịch Hội bao gồm Đoàn Sinh viên Phật tử và nhiều phân hội khác, quy tụ công nhân, trí thức, thương gia... Song song với tờ báo Gió Nội, do doàn Sinh viên Phật tử VN tại Pháp đảm trách, bám chặt thời cuộc, và cũng là phương tiện đấu tranh cho Hòa Bình tại Việt Nam, Thầy còn cho ra thêm tờ Tin Phật (1968), nhắm các giới trung và cao niên, và thiên nặng về giáo lý phổ thông hơn. Bên Đức có tờ Đi Tới do Đoàn Sinh viên Phật tử Việt Nam Tại Tây Đức chủ trương, sau đó được thay thế bằng tờ Biển Đông, cả hai đều nhận sự chỉ đạo của Thầy.

Về Phật sự, thời đó chưa có Chùa. Các buổi lễ Phật được tổ chức tại các phòng công cộng, thuê hoặc mượn. Vào đầu thập niên 70, các buổi Lễ Tết quy tụ hàng ngàn người.

Nghi thức tụng niệm hoàn toàn bằng tiếng Việt, chỉ có phần "Tam quy, ngũ giới" thì bằng chữ Pali, có dịch chữ Việt, vì thuở đó, trong các buổi lễ có rất nhiều Phật tử Pháp hay người nước khác. Khi đông người ngoại quốc thì đọc Tam Quy Ngũ Giới bằng Pali, còn thông thường đọc bằng chữ Việt.

Vào năm 1975, các Đoàn Sinh viên Phật tử tại Pháp và Đức giải thể, Đoàn viên phân tán đi mọi nơi. Cùng một số người cũ, Thầy thành lập Hội Phật tử Việt Nam tại Pháp, và ra tờ báo Hương Sen (1975). Đầu năm 1977, Thầy cùng với Ni Sư Mạn Đà La khởi công quyên góp xây Trúc Lâm Thiền Viện với ý nguyện xây dựng "một ngôi Chùa Việt Nam trên đất Pháp", thực sự Việt Nam. Sau đó Thầy Phước Đường, đang trụ trì một Chùa ở Nha Trang, được mời qua tiếp sức. Năm 1980, Trúc Lâm Thiền Viện được khởi công xây, và đến năm 1990 làm lễ kHánh thành. Trong khoảng thời gian này, Thầy thường đi thuyết giảng và dạy Thiền tại một số trường Đại học hay trường Cao đẳng ở các nước Pháp, Tây Đức, Thụy Sĩ, các Trung tâm Tôn giáo quốc tế, Tin Lành hay Gia Tô Giáo...

Từ năm 1995 đến năm 1998, Thầy tổ chức nhiều buổi hội thảo, với mục tiêu vận dụng giáo lý Phật để tìm câu trả lời cho những vấn đề lớn của thời đại như: Sinh Đạo Đức, Môi Sinh, vị trí của nữ giới, vai trò của người cư sĩ, Thiền định với cuộc sống hôm nay, Sống thời đại theo tinh thần Đức Phật... Những buổi hội thảo này quy tụ rất nhiều trí thức Việt kiều đang sinh sống tại các nước phương Tây, như Pháp, Đức, Mỹ... với sự tham gia của nhiều vị Tôn Đức từ trong nước qua như Hòa thượng Thích Minh Châu, Hòa thượng Thích Trí Quảng, Thượng tọa Thích Chơn Thiện, nhiều Cư sĩ kỳ cựu của Phong Trào Chấn Hưng Phật giáo như Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm...

Thầy cũng thường về nước tham dự công việc Hoằng Pháp Lợi Sinh của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, và đã giữ những trách nhiệm:

Ủy Viên Trung Ương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam

Phó Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam

Phó Chủ Tịch Hội Đồng Phiên Dịch và Ấn Hành Đại Tạng Kinh Việt Nam

Phó Viện Trưởng Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Huế

Đại Diện Giáo Hội PGVN ở Hải Ngoại

Chủ Tịch sáng lập Hội Phật tử Việt Nam tại Pháp

Viện Chủ Trúc Lâm Thiền Viện

Về thế học, Thầy đã đạt được mức độ tột cao, về đạo học Thầy có một kiến thức uyên thâm, Thầy được mọi nơi biết tiếng, từ quê nhà đến nơi hải ngoại, nhưng phong cách của Thầy luôn luôn khiêm tốn hiền hòa.

Mọi người còn nhớ hình ảnh của một vị sư trẻ, năm xưa, sống thanh đạm, đơn sơ, trong một căn phòng trọ nhỏ tí, chót vót trên lầu sáu, lầu bảy, sát mái nhà, tại Thành phố Paris. Và hình ảnh của những trại hè sinh viên, một người tu sĩ áo nâu, chiều chiều ngồi dùng trà trước túp lều nhỏ, được kín đáo dựng bên cạnh bụi cây. Một bình trà nhỏ, bốn chén đất nung, nhỏ bằng đốt ngón tay, ai có duyên ghé ngang xin mời ngồi, giọng nói luôn luôn hòa ái, dịu ngọt, khiêm tốn, lễ độ với mọi người, từ cụ già cho tới những thanh thiếu niên, hay đám sinh viên cứng đầu cứng cổ, tưởng như trên đời chẳng biết nể vì ai... Vâng! "lễ độ" với mọi người, không mảy may phân biệt! Gói ghém trong những cái đơn sơ, tầm thường, nhỏ bé ấy, là một lòng tin vững chắc vào Đạo Phật Việt Nam, vào Dân tộc Việt Nam, vào tiếng nói của người Việt Nam... với một quyết tâm thực hiện cho được lý tưởng của mình, không sợ hãi bất cứ một thế lực nào, và không một sức mạnh nào lay chuyển nổi.

Lúc 11 giờ 30 ngày 05 tháng 10 năm 1998 tức ngày rằm tháng 8 năm Mậu Dần, Thầy đã ra đi! Phải chăng là ra đi vĩnh viễn? Không hẳn đâu, vì Thầy vẫn còn để lại cho đệ tử, cho hậu thế cả một chương trình to lớn để theo đuổi, với những mục tiêu rõ rệt, cụ thể. Chương trình này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các bài giảng, các bài báo hay sách vở Thầy soạn từ hơn 30 năm qua, và có thể tóm thâu trong những điểm sau đây:

1) Sống sao cho đúng là người Phật tử Việt Nam, sống đạo Phật với bản sắc văn hóa Việt Nam, gột sạch những vẩn đục của mê tín dị đoan.

2) Thể hiện phương châm "người Việt nói tiếng Việt", cố gắng Việt hóa Kinh điển, tụng niệm. Quyển "Nghi thức tụng niệm" của Chùa Trúc Lâm hoàn toàn bằng tiếng Việt, không một bài Kinh chữ Hán, không một bài chú. Và quyển Nghi thức này đã được Phật tử tụng từ hơn 30 năm nay.

3) Vận dụng "cộng nghiệp" để thực thi phương châm "Thể hiện đạo Pháp, phục vụ dân tộc"

4) Vận dụng Giáo lý Phật để tìm câu trả lời cho các vấn đề lớn của thời đại.

Thầy đã ra đi, nhưng những ai còn kiên tâm đi theo đường Thầy chỉ dạy sẽ luôn luôn có Thầy bên cạnh.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Villebon ngày 11 tháng 10 năm 1998 ( 21 tháng 8 năm Mậu Dần )

Đệ tử Nguyên Đạo


Những tác Phẩm của HT Thích Thiện Châu:

1) Đường về xứ Phật (đồng tác giả), Sài Gòn 1964

2) Tin Tưởng, 1964

3) Vài lá Bồ đề, Paris 1972

4) Phật tử, TPHCM 1972

5) Nghi Thức Lễ Phật, Paris 1968

6) Pháp Cú (Dhammapada) dịch từ Pàli, Paris 1980

7) Tìm Đạo, TP HCM 1996

8) Le traité des trois lois (Tridharmakasàstra), Luận án Tiến sĩ Triết Học - Sorbonne 1971

9) La littérature des personnalistes (Pudgalavadin) dans le boudhisme ancien, Luận án Tiến sĩ Quốc Gia về văn chương và Khoa học nhân văn - Sorbonne 1977

10) La recherche spirituelle dans le bouddhisme, Paris 1978

11) La vie et la mort dans le bouddhisme, Paris, Paris 1978

12) Dictionnaire des philosophes (đồng soạn giả) - Paris 1988

13) The literature of the Personnalists (Pudgalavadins) of early buddhism – 1997

14) Être Bouddhiste, Paris 1997

15) Và rất nhiều bài báo, giới thiệu, diễn giải Kinh được đăng trong Gió Nội, Tin Phật, Đi Tới, Hương Sen trong hơn 30 năm. Các bài này đã được soạn thành tập nhưng chưa kịp phát hành.


Pháp ngữ trước lúc hỏa thiêu nhục thân của Hòa thượng Thiện Châu:

Hòa thượng Thiện Châu! Xin Ngài lắng nghe.

Giới hạnh của Ngài thì trong sạch,

Tuệ tâm của Ngài thì sáng tỏ,

Ngài nguyện làm sứ giả của Phật để làm công việc của Phật ở trong thế giới này.

Ngài sống và chết như vậy. Cái thân loài người rất khó có; Ngài đã đổi cái cũ, thay cái mới, để qua lại trong thế giới này. Thế giới này là "cái trường thi tuyển chọn người làm Phật" Ngài đã ở đây, và vẫn còn ở đây, để làm "người bạn không đợi mời gọi" cho nhân loại, cho chúng sinh.

Trăng Linh mụ, gió Túy vân, cái quê hương đạo vị ấy của Ngài, đã tạo ra Ngài và đang chờ Ngài.

Tỳ kheo Trí Quang

(Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu)

http://daitangkinhvietnam.org/lich-su-phat-giao/nhan-vat-phat-giao-viet-nam