Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Một vài hình ảnh ghi lại đám cưới của con trai út ngày 3/2/2012

























Bằng hữu chung vui:
Vợ chồng Nguyễn Miên Thảo và cháu nội, Lê Ký Thương, Vũ Trọng Quang, Lê Thánh Thư, Ngọc Quý, Trần Dzạ Lữ, Cao Huy Vĩnh, Nguyễn Văn Trai, Giang Hải, Hiền Bản, Hà Thúc Huy, Vợ chồng Ngô Văn Giáo, ....


Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

KHÚC QUANH


Lại một ngày cuối tuần. Thứ Bảy. Buổi sáng đông đúc người và xe cộ ngược xuôi.
Hết tháng này sẽ chấm dứt thời gian làm việc "full time"". Bắt đầu từ tháng 3 sẽ làm "part time".
Đó là một quyết định cần thiết trước khi rút lui hẵn. Tạm biệt gần 20 năm làm việc kiểu công chức, kiếm cơm và nuôi gia đình. Đã qua thời trai trẻ và trung niên bươn chải mưu sinh. Các con đã trưởng thành, đã có đôi và đang tạo lập từng cuộc sống riêng dẫu có đứa vẫn chưa thành công lắm.
Chuẩn bị để nghỉ ngơi và thư giản với cuộc sống sau nhiều năm trách nhiệm và bổn phận.
Sẽ làm những việc mình thích và chọn lựa. Đó thực sự là niềm vui.
Như thuở nào mười ba tuổi làm những vần thơ lục bát đầu đời chép tặng người bạn gái cùng lớp.

Sắp rẽ qua một khúc quanh.


Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2012: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 101 – 6.2.2012

1011 - Cung Tiến
PHỔ NHẠC THƠ TÙ CẢI TẠO
Nhạc sĩ Việt kiều Mỹ tên thật Cung Thúc Tiến sinh 1938 tại Hà Nội. Sống ở Mỹ (2012).
         Một con người tài hoa đa năng được xem là một thần đồng âm nhạc với 2 ca khúc nổi tiếng “Thu vàng” và “Hoài cảm” sáng tác từ năm mới 15 tuổi ở Hà Nội.
1954 di cư vào Nam đi du học Uùc và Anh về ngành kinh tế nhân đó tranh thủ học thêm nhạc lý ở nước ngoài. Từ đó các sáng tác nhạc tiếp theo tuy ít song đều là những tác phẩm đạt trình độ chuyên môn cao nội dung trí thức như “Lệ đá xanh”, “Mắt biếc”, “Nguyệt cầm”…
         Ngoài ra còn viết lý luận phê bình văn học, dịch tác phẩm văn học kinh điển Nga của Dostoievski và Solzhenitsyn (bút danh Thạch Chương).
         Sau 1975 định cư tại Mỹ tiếp tục sự nghiệp âm nhạc với bước ngoặt bắt đầu đưa tác phẩm của mình trầm mình trong không khí thời sự từ biến cố 30.4 bằng cách phổ nhạc 12 bài thơ làm từ trại cải tạo của Thanh Tâm Tuyền trong tập “Vang vang trời vào xuân” 1981 (trước kia từng phổ thơ TT Tuyền bài “Đêm” và “Lệ đá xanh”):

“… Chống cuốc đứng vững chân
Trên mảnh đất khốn khổ
Thở hít đến vô cùng
Mãi mê ngắm hồng rợ

Vang vang trời vào xuân
Ta bật kêu mừng rỡ
Ơi bè bạn xa xăm
Tim ta cũng cháy đỏ
Rực tựa bóng trăng rằm.”

         Tiếp đó năm 1992 phổ nhạc bài thơ trường thiên “Ta về” của Tô Thùy Yên cũng làm từ trại cải tạo:
“… Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.
 
Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt  sạm soi khe nước
Ta hoá thân thành vượn cổ sơ.
….. 
         Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao.
 
         Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh…”.
 
Cả 2 tác giả đều là bạn thân thời làm tạp chí Sáng Tạo và 2 tác phẩm đều được sáng tác theo phong cách nhạc giao hưởng kết hợp hát, nói, ngâm và hòa nhạc thính phòng. Riêng “Vang vang trời vào xuân” được công diễn hát đệm dương cầm năm 1985 tại Thủ đô Washington.
         Ngoài ra còn làm đồng dịch giả ra tiếng Anh cuốn hồi ký chính trị “Hồ sơ mật dinh Độc Lập” của TS Nguyễn Tiến Hưng nguyên Cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Sau đó quay về với dòng âm nhạc dân tộc, viết tấu khúc “Chinh phụ ngâm” 1987, tập trung nghiên cứu làn điệu quan họ Bắc Ninh đưa vào nhạc giao hưởng đồng thời lấy cảm hứng từ đó để viết tác phẩm âm nhạc đương đại “Lơ thơ tơ liễu buông mành” 2003…

1012 - Ngô Thị Thắt
NỮ PHÁO BINH ANH HÙNG ĐI ĂN MÀY
Nông dân sinh 1951 tại Quảng Bình. Sống ở Quảng Bình (2011).
         Mới 16 tuổi đã xung phong gia nhập đội nữ pháo binh Ngư Thủy, đội nữ pháo binh duy nhất miền Bắc được thành lập năm 1967 nổi tiếng anh hùng bắn rơi máy bay Mỹ.
Là em út của đội (từ 85 – 91 chiến sĩ gái) lại nhỏ con nên được phân công làm trợ thủ tiếp đạn từng được đưa vào bài vè truyền thống của đội: “O Thắt 16 tuổi/ Viên đạn nặng 16 cân/ Dù đạn cao ngang người/ Thắt càng thêm vững chí.”
Sau chiến tranh, đội giải thể năm 1977, tất cả trở về làm dân thường không được hưởng bất cứ chế độ nào kể cả bị thương tích trong chiến trận.
Bản thân thiếu học, không nghề nghiệp nên phải bám theo ruộng đất làm lụng vất vả vẫn không đủ ăn. Rồi sinh 2 con ngoại hôn mà 2 con đều bị tâm thần càng đẩy cả nhà vào cảnh khốn cùng. Cuối cùng chỉ còn con đường… đi ăn mày nuôi con: “Không nghề nghiệp, không chồng con, nghèo quá khổ quá không có chi ăn thì đi ăn mày có chi xấu có chi sai?”
Không chỉ mình mình mà còn một số đồng đội cũ cũng đành làm như vậy.
Đầu những năm 2000 sau khi vụ việc được đưa lên báo Lao Động, cả nước mới bị đánh động tìm cách giúp đỡ, hỗ trợ tiền bạc, xây cho nhà tình nghĩa, xây tượng đài Nữ pháo binh Ngư Thủy… mới chấm dứt thảm cảnh “bôi đen anh hùng” này!  
        
1013 - Nguyễn Văn Hải
CHUYÊN GIA GỠ BOM MÌN SINH NGHỀ TỬ NGHIỆP
Thường dân sinh tại An Giang – Mất 2009 ở Đồng Tháp.
         Sau chiến tranh nổi tiếng là một “thợ gỡ mìn” khắp Nam Bộ, không chỉ gỡ bom mình ở quê nhà huyện Tri Tôn mà còn đi đến các tỉnh Kiên Giang, Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bến Tre làm việc tháo gỡ vô vàn  quả bom mình còn nằm yên dưới lòng đất. Nhờ chịu khó nghiên cứu kỹ các loại bom mìn, lực nổ, sức công phá, cách chế tạo, nguyên lý nổ, độ nguy hiểm, độ rủi ro để từ đó tìm ra phương pháp, kinh nghiệm chống nổ, vô hiệu hóa nó.
Ngay cả các đội gỡ bom mình của bộ đội công binh biết tiếng cũng phải mời tham gia công tác này.
         Nhưng trong một chuyến đi như vậy với bộ đội năm 2009 ở Đồng Tháp gỡ 4 quả bom, đến quả thứ tư đang tháo ngòi nổ thì gặp loại ngòi nổ tự động ít gặp phát nổ chết ngay tại chỗ!
         Trước đó có một đệ tử ruột gỡ quả đạn cối 81 ly bị đạn phát nổ ngay trên tay chết không toàn thây. Bà vợ đang ở gần đó cũng thiệt mạng luôn.
Còn người em trai từng có thời gian theo anh học nghề sau đó chỉ đi gỡ thêm 9-10 quả bom nữa ở Sóc Trăng và Bến Tre rồi thôi, giải nghệ về nhà đánh cá, nuôi gà sống qua ngày chứ không dám làm nghề giỡn mặt tử thần nữa.

1014 - Nguyễn Văn Hoàng
2 VỢ CHỒNG CHỈ… 1 CÁNH TAY!
Nông dân sinh 1950 tại Bến Tre. Sống ở Bến Tre (2007).
         Năm 1966 đi bộ đội đánh Mỹ.
         Năm 1972 bị thương nặng phải giải phẫu cắt cụt 2 tay.
         Sau ngày hòa bình là thương binh về quê cũng phải sống bám vào ruộng vườn làm được gì thì làm. Dù vậy vẫn được một cô thôn nữ cảm phục đem lòng thương yêu nhận làm chồng.
         Nhờ có vợ đỡ đần nên việc làm ruộng vất vả cũng qua ngày đoạn tháng.
Không ngờ tai ương lại đến nữa khi ngườøi vợ đi chặt tre không may bị tai nạn… đứt mất một cánh tay!
Thế là từ đó 2 vợ chồng chỉ còn 1 tay lành lặn coi như phải “bao tiêu” hết mọi việc khó khăn từ làm đất, cấy lúa đến đào hố trồng cây ươm cành...
Thế mà vẫn chung sức làm được bao việc lao động khó nhọc để sống còn kể cả những việc mỗi người có đủ 2 tay làm cũng không xuể như tước xơ dừa, san lấp hố bom làm nhà, khai hoang lập vườn cây ăn trái… Vợ tận dụng một tay còn lại làm xoăn xoắt, còn chồng thì làm bằng.. 2 cùi tay tới mức chai sần rắn như đá!

1015 - Nguyễn Văn Hồng
LỌN TÓC KỶ VẬT 40 NĂM
Cựu chiến binh sinh khoảng 1943 tại Hà Tĩnh. Sống ở Hà Tĩnh (2008).
            Năm 1964 trướùc khi lên đường vào chiến trường miền Nam đã thề nguyền hứa hẹn với người yêu cùng quê ngày chiến thắng trở về cả 2 sẽ làm lễ kết hôn. Người yêu trao tặng kỷ vật mang theo là một lọn tóc nhỏ xén ra từ mái tóc mình được kết lại thành hình số 8 dễ thương.
           Từ đó mang theo kỷ vật bất ly thân trong bao trận địa trên bao chiến trường khốc liệt, ấp ủ nằm gọn sát trái tim người chiến sĩ luôn kề cận cái chết trong gang tấc.
            May mắn cuối cùng cả người lẫn kỷ vật vẫn còn nguyên vẹn sau chiến tranh để chàng trai vội vã mang về tìm người yêu chuẩn bị làm lễ cưới.
           Nhưng đâu ai ngờ người yêu đã hy sinh trước đó 7 năm rồi, chính là tiểu đội trưởng Võ Thị Tần của tiểu đội 10 cô gái liệt sĩ bị bom Mỹ vùi dập tại ngã ba Đồng Lộc huyền thoại năm 1968. Nhưng ở quê nhà không ai dám báo cho anh biết!     
           Thế là “người chồng không bao giờ cưới” đành nghẹn ngào mang kỷ vật về nhà đặt lên bàn thờ thay cho quà cưới mà từ đó anh cũng thề là không sẽ không có lần thứ hai cho mình .
           Món kỷ vật vẫn ở đó suốt 30 năm nữa mãi đến năm 2005 mới được chuyển cho Nhà lưu niệm Ngã ba Đồng Lộc trưng bày cho mọi người thắp hương khấn nguyện. Nhưng với chủ nhân của nó còn sống thì lọn tóc theo mình 40 năm ấy những sợi tóc của nó vĩnh viễn không bao giờ bạc.

1016 - Nguyễn Văn Hùng
MỐI TÌNH PHÁP - VIỆT KHÔNG NƠI NÀO CÓ ĐƯỢC
Nhà hoạt động xã hội sinh 1956 tại Sài Gòn – Mất 2007 ở TPHCM (52 tuổi).
         Trước 1975 là con nhà giàu nhưng bị rơi vào tệ nạn nghiện ngập ma túy nên sau ngày giải phóng thường xuyên bị bắt vào trại cai nghiện.
         Sau nhiều lần đi cai nghiện như vậy rồi được tham gia các khóa học đả thông tư tuởng, huấn nghiệp đã từ bỏ được ma túy để chuyển sang tham gia công tác xã hội giúp đỡ trẻ em đường phố, nạn nhân ma túy trở về với cuộc sống bình thường. Năm 1992 được sự giúp đỡ của tổ chức nước ngoài đã lập ra Nhà mở Thảo Đàn làm cơ sở nuôi dạy trẻ em đường phố gom nhặt từ các nơi về.
          Đến năm 2004 rời Thảo Đàn chuyển qua lập nhóm tình nguyện viên Nụ Cười hướùng đến hỗ trợ đối tượng nạn nhân HIV – AIDS.
         Công việc đang dang dở thì giữa năm 2007 bùng phát bệnh ung thư gan giai đoạn cuối nằm chờ chết. Thật ra bị phát hiện bệnh từ lâu song cố giấu mọi người vì sợ ảnh hưởng công việc trong khi bản thân nghèo mạt lại không vợ con nên không có điều kiện tối thiểu để chữa bệnh.
         Trong giai đoạn cuối đời đó may mắn cũng có được một niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ngắn ngủi nhưng vô cùng lạ lùng đã đem lại cho người sắp chết những nụ cười cuối cùng – một tình yêu kỳ diệu. Từ nữ đạo diễn Pháp Leslie Wiener 56 tuổi (lớn hơn 5 tuổi) vốn đã quen nhau 13 năm nay.
         Nữ đạo diễn này từng đến VN làm một số bộ phim tài liệu về nạn nhân CĐDC, trẻ em đường phố… qua đó đã quen biết với anh. Từ quan hệ hoạt động cùng chí hướng phục vụ cộng đồng hướng tới các đối tượng bất hạnh, tình cảm đồng điệu, mến phục tấm lòng thiện nguyện dần dần chuyển qua tình yêu thầm lặng (bà đã góa chồng).
         Nhưng tình yêu đó chỉ chính thức bùng nổ khi được tin người yêu mắc bệnh nặng khó qua được, bà đã lập tức bay qua TPHCM tự nguyện làm người chăm sóc người yêu tận tình như một người vợ lo cho chồng. Chẳng những thế còn dự định tiến hành lễ cưới vào ngày 4.1 sang năm 2008 cũng chính là ngày sinh của cả hai người (định mệnh khéo sắp đặt!).
         Tuy nhiên cả hai không thể chờ đến ngày đó được bởi bệnh ngày càng trầm kha nên ngày 2.10.2007 hai người quyết định tổ chức lễ đính hôn ngay trong bệnh viện nơi chú rể phải trải qua những giờ phút hấp hối cuối cùng.
         Chỉ hơn một tháng sau thì cuộc tình kết thúc ở nghĩa trang với đoàn người đưa tang đa số toàn trẻ em đường phố đi chào vĩnh biệt một người anh, người cha, người thầy thân thương.

1017 - Nguyễn Văn Lý
Ông Nguyễn Văn Lý (bên phải) tại Trại giam Nam Hà (ảnh chụp ngày 14/10).
BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN VÀO TÙ RA KHÁM NHIỀU NHẤT
Linh mục sinh 1946 tại Quảng Trị. Bị giam ở Hà Nam (2012).
         Cuộc đời học đạo và phụng vụ gắn liền với giáo phận TP Huế. Sau 1975 được xem là đệ tử thân cận của cố Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền, sau 75 từng làm thư ký cho cố tổng giám mục.
         Sau khi TGM Nguyễn Kim Điền qua đời năm 1988, bản thân bắt đầu có những hoạt động chống chính quyền cộng sản đòi quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo. Liên tục hô hào giáo dân phản đối chính quyền, tham gia lập nhóm, lập đảng chống Cộng… Vì vậy đã bao lần bị bắt ra tòa vào tù rồi được các tổ chức nhân quyền vận động cho giảm án thả ra vẫn tiếp tục lao vào cuộc đấu tranh hăng say không mệt mỏi, cụ thể:
         + 1977 – 1978 ở tù hơn một năm.
         + 1983 – 1992 ở tù hơn 8 năm tại Thanh Hóa và Nam Hà.
         + 2001 – 2004 lại lãnh án 15 năm tù sau được ân xá với điều kiện quản thúc tại địa phương.
         + 2007 thêm án 8 năm đưa ra Hà Nam giam giữ. Năm 2010 do mấy lần bị sốc tim nên được tạm tha cho về ở Tòa Tổng Giám mục Huế để chữa bệnh song vẫn tranh thủ đi ra ngoài hoạt động chống chế độ nên giữa năm 2011 bị bắt đưa trở lại nhà giam Hà Nam.
         Đặc biệt trong phiên tòa năm 2007 đã xảy ra sự cố “bịt mồm” trước tòa hết sức hi hữu do bản thân lớn tiếng “đả đảo” khiến viên cảnh sát đi kèm sợ quá bèn tự phát thò tay ra trước bịt miệng bị can! Cảnh này bị chụp ảnh lan truyền khắp thế giới xem như một biểu tượng cho tình trạng cấm tự do ngôn luận tại VN.
         Đã được 2 tổ chức nhân quyền ở Czech và Đức trao giải (khiếm diện) đấu tranh cho tự do dân chủ.

1018 - Nguyễn Văn Nam (1)
LẬP QUỸ KHUYẾN HỌC ĐẦU TIÊN
Bộ đội về hưu sinh 1927 tại Long An. Sống ở Long An (2010).
         Trải qua 9 năm đi bộ đội kháng chiến chống Pháp ở huyện Cần Đước quê nhà.
         Đến 1954 không đi tập kết ra Bắc mà được lệnh ở lại nằm vùng chống chế độ Ngô Đình Diệm. Cuối năm 1955 bị bắt giam ở nhà tù Tân Hiệp (Biên Hòa) được một thời gian ngắn tham gia tổ chức cuộc phá nhà lao vượt ngục quy mô giải thoát cho khoảng hơn 400 tù cộng sản.
         Bản thân quay về quê nhà Cần Đước chỉ huy đại đội rồi tiểu đoàn đánh Mỹ, 6 lần bị thương trong đó có lần bị trúng đạn ngay miệng khiến có thêm biệt danh “Sáu Méo” ngoài bí danh “Sáu Nam”.
         Sau ngày thống nhất đất nước, làm huyện đội trưởng Cần Đước.
         Năm 1985 về hưu vẫn còn ham hoạt động bằng cách xoay qua làm công tác khuyến học, từ năm 1991 đã bỏ tiền túi dành dụm ra lập Quỹ Khuyến học cho học trò nghèo ở Cần Đướùc trong khi Hội Khuyến học VN năm 1996 mới ra đời, sau đó mới đến Hội Khuyến học Long An 1998.
         Không chỉ thế, còn gây bất ngờ cho mọi người khi vào đúng dịp Tết 2006 đã viết sẵn một bản di chúc đưa ra trước bàn thờ tổ tiên cho vợ con đọc và ký tên vào đồng ý cho mình sau khi qua đời được… hiến xác! Với lý do giản dị chân chất của dân miệt vườn: “Sống được đến giờ là quá đạt yêu cầu, ráng làm thêm việc gì có ích coi như lời thêm việc đó”!

1019 - Nguyễn Văn Nam (2)
“CỌP SÀI GÒN”
Việt kiều Uùc sinh tại Sài Gòn. Sống ở Uùc (2005).
         Là dân giang hồ thứ thiệt ở TPHCM nên sau 1975 bị công an truy lùng tệ nạn xã hội khiến phải tìm đường vượt biên qua Thái Lan, sau đó chuyển qua định cư Uùc năm 1980.
         Trên vùng đất mới lập tức bắt tay vào khai thác “thế mạnh” xã hội đen sẵn có của mình để gây dựng cơ đồ mới, mở rộng mạng lưới buôn lậu ma túy, ăn cướp, bắt cóc và cả giết người. Được tôn xưng là đại ca “Cọp Sài Gòn” lừng danh vùng Nam Úc. 
         Vì thế bị cảnh sát Uùc mở chiến dịch tấn công bắt giữ. Khi bị bắt vào tù cũng nhanh chóng nổi tiếng là tù nhân nguy hiểm nhất khiến phải chuyển qua nhiều trại giam kiên cố canh phòng cẩn mật hơn. Dù vậy cũng đã 2 lần có âm mưu tổ chức trốn ngục song bị phát giác kịp thời.
         Mãn hạn tù vào giữa năm 2006.

1020 - Nguyễn Văn Phương
5 CON GÁI ĐIÊN
Nông dân sinh 1940 tại Quảng Nam. Sống ở Quảng Nam (2008).
         Năm 1968 theo cộng sản đánh Mỹ, làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí ra chiến trường.
         Một năm sau lấy vợ trong chiến khu sinh con gái đầu lòng cùng lúc bản thân bị địch bắn gãy chân bắt làm tù binh giam ở Hội An.
         Năm 1970 được phóng thích trở về quê gặp lại vợ con mới thấy con gái đầu lòng có biểu hiện tâm thần bất ổn, tâm trí khờ khạo nói năng lảm nhảm không đầu không đuôi.
         Từ đó đến cả sau ngày kết thúc chiến tranh lần lượt sinh thêm 4 con gái nữa đều mắc chứng điên điên khùng khùng như vậy. Suốt ngày cả 5 chị em không làm được việc gì mà chỉ phá phách nhà cửa tanh bành, đánh lộn lẫn nhau và đánh cả cha mẹ nữa. Cha mẹ chỉ biết cắn răng chịu đựng. Riêng người cha thương binh 3/4 còn phải lo làm ruộng nuôi bầy con điên.
         Năm 2003 mới được biết các con mình đều chịu ảnh hưởng CĐDC, bấy giờ mới được chứng nhận cho hưởng trợ cấp nạn nhân CĐDC.
         May sao đến đứa con út thứ sáu vẫn là gái song lớn lên học hành bình thường như mọi người. Ra trường làm cô giáo tiểu học rồi lấy chồng ở riêng.
         Tuy nhiên đến đó thì vợ mất để lại một mình mình tiếp tục chịu đựng 5 đứa con thay phiên nhau hành hạ người cha già. Đã vậy, cô con gái út lấy chồng bị đổ vỡ hạnh phúc phải quay về tá túc nhà cha mẹ chấp nhận sống chung đụng với 5 người chị mất trí biến căn nhà nhiều khi thành như một địa ngục!
         Dù vậy vẫn không chịu đưa 5 con vào trại tâm thần như lời hứa với người vợ quá cố là không bao giờ bỏ rơi con mình: “Tôi vốn chịu khổ quen rồi… Hơn nữa, tôi không thể sống xa tụi nó được.”
         (Còn tiếp)
http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hosohauchienky101

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Lê Thánh Thư Viết Trong Bóng Tối

Vũ Trọng Quang
 Đa phần thơ tập hợp vào Viết trong bóng tối. Amen (*) đã xuất hiện trên các mạng văn chương: tienve, vanchuongviet, damau, litviet; bây giờ văn bản hiện hữu trên Giấy Vụn chứng tỏ một thái độ, minh chứng ngoài luồng, ngoài thuồng luồng kinh kỳ, ngoài hệ thống gọi tên chính thống, mà chính thống để làm gì, để được nằm trong khuôn khổ trói buộc à ? Thái độ viết trong bóng tối là thái độ từ vị trí tọa độ âm u nơi mở đường cho chùm ánh sáng chiếu thẳng tới, không có sự từ từ rón rén mò mẫm mà mạnh dạn lao đến, đi mãi, có thể ngừng một chút ở giao lộ, vận động hành trình ánh sáng tiếp tục. Hai âm Amen thiêng liêng vừa là tiếng đồng vọng thánh ca chấm câu vừa là tiếng âm vang bắt đầu gieo mở; như tiếng thơ Lê Thánh Thư vang cường độ decibel qua màng nhĩ tai lừa: lừa mị, lừa lọc, điếc lừa…; mở trang sách mở ra cánh cửa dành cho sự đồng cảm, không cài then, nhưng không phải ai cũng mở được nếu không có password tâm hồn tâm trạng (Biết đâu có bàn tay nhám nhúa luồng tay vào trong khóa lại!).

Trong phần trả lời phỏng vấn trên litviet tác giả bày tỏ: “Hội họa mang cho tôi sự cứu chuộc, thơ ca mang lại cho tôi niềm an ủi” và “…Giữa hội họa và thơ, tôi cần cả hai để sống. Lao động chính là vẽ, lao động phụ làm thơ…”, có thể Lê Thánh Thư chân thật về quan niệm nghệ thuật, nhung tôi lại nghĩ khác, không có chính phụ ở đây, nhìn và xem trước tác của hắn, tôi thấy cả hai lĩnh vực đều tận tụy như nhau; nhìn bìa tập thơ do chính tác giả thể hiện và phần thi ca thể nghiệm đều cho thấy cần lao biểu đạt đồng hành, nhiều người biết  Lê Thánh Thư một họa sĩ tầm cở và cũng biết luôn một nhà thơ  Lê Thánh Thư đầy đam mê (ngay phong cách trả lời phỏng vấn trên litviet rất thi hứng thi tính), hai con người đều là chủ tịch trong một con người.

Mật độ những câu thư hai chữ và ba chữ có tỷ lệ chiếm ngụ nhiều hơn cả trong toàn sách, làm cho người đọc liên tưởng đồng dạng đồng dao, nhưng đồng dao nơi đây là đồng dao phi hồn nhiên suy nghiệm dành cho người lớn, mang yếu tố tổng hòa :bạo liệt, uất ức, dồn nén, bất đồng, ngao ngán, thất vọng, hy vọng, nghiêm trọng, đùa giỡn.

Đất liền
Há miệng
Bịt miệng
Em quên
Thuyền quyên
Tôi quên
Bút nghiên      
Tháng giêng
Còn nguyên
Cửa thiền
Thâm nghiêm
Cửa quyền
Tự biên
Tự diễn (trang 24)

Câu thơ hai chữ song song làm nghĩ đến đường ray xe lửa, hai đường song song không bao giờ gặp nhau, hay chỉ gặp nhau ở vô cực, yếu tính của con đường thi ca là sự mở không đến đi không tới; cô đơn gặp nhau chạm gió buốt phương Bắc, không áo ấm, không lạnh; cô đơn gặp nhau chạm nắng cháy phương Nam, hừng hực, không nản chí. Phần còn lại của độ dày tập thơ, là thế đứng những câu thơ tự do nhiều chữ, chỗ sống đứng (chứ không phải chết đứng, khi chết thì đứng và nằm đều như nhau)

Tiếng tù và cày xới hoàng hôn
Trên cánh đồng ngập tràn mộ chí
Đâu đây vẳng tiếng kêu
Phải tiếng linh hồn gọi nhau từ dưới ngược lên
Níu ngày chậm lại
Chậm tàn hương (trang 126)

(*)  Xuất bản quý 4/2011, gởi tặng độc giả

NGUỒN: vanchuongviet.org

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Tùy bút VÕ CÔNG LIÊM


THƯ ĐẦU NĂM
            Hay VẾT LĂN TRẦM

     Tôi thân quen một người bạn cao tuổi. Anh trước tuổi tôi đâu chừng 5 năm. Hai chúng tôi quen biết nhau chưa một lần bằng xương, bằng thịt. Chúng tôi thân quen qua văn thơ, thấy nhau qua hình ảnh và từ đó xem như thân thiện. Vắng thư thăm nhau là ’nhớ’. Già như chúng tôi mà gọi là nhớ thì tình quá đi thôi!
Gõ cửa nhà anh, bạn già Ân nhận ra tôi ngay; cười nói vui vẻ và tỏ ra ’welcome’.  Người trong hình khác với người ngoài đời nhiều lắm. Anh phúc hậu, rất mực là người biết điều, xử thế; đúng như văn phong anh viết mà tôi hình dung -văn tức là người- giờ thấy đúng thật. Anh mỉm cười chào tôi như người bạn đã quen nhau từ lâu. Tôi cười chào anh như người anh lớn tuổi của tôi. Ngồi chưa nóng đít, chưa hớp xong chén trà, anh hớn hở rủ tôi đi ăn ngay. -Tụi mình đi ăn, ở nhà tâm sự không thú. Bạn già nói. -Ăn gì sớm thế anh? Tôi nói. -Món nầy ngon lắm: Bánh cuốn Thanh Trì. Tôi muốn mời Trí. Đi thôi! Bạn già nói.
Bánh cuốn Thanh Trì làm tôi nhớ về Hà Nội một lần ghé lại và người bạn mời đi ăn món ngon ở đất Hà thành. Nói đến món ngon làm tôi liên tưởng đến Vũ Bằng. Thì ra ở khắp nơi đất nước ta đều có chi nhánh Thanh Trì, lan qua cả nước ngoài và rồi trở nên ’franchise’ như cầu chứng tại tòa. Ăn ở Hà Nội thấy ngon và lý thú nhờ sản phẩm, chất lượng, ’âm thanh’ trộn vào nhau cho nên Thanh Trì thành món ăn trứ danh. Trong nước; cùng một kiểu chế biến đúng bài bản, đúng con người nhưng âm thanh Thanh Trì mất gốc. Ra nước ngoài người đẹp Thanh Trì vẫn giữ đúng mẫu mực nhưng âm thanh lai căn, nhiều khi Thanh Trì không còn là danh xưng nguyên gốc mà trở thành Americancivilization không chừng. -Ngon lắm cậu thử xem. Bạn già mời. Hai thằng tôi cúi đầu ăn, thỉnh thoảng ngẩng lên cười thích thú, cười không phải ngon miệng, cười vì sung sướng gặp nhau.
Cái ngon của người đẹp Thanh Trì không cần phải rao báo, không cần phải rùm beng, không cần phải chứng tỏ. Ngon; giờ nằm trong bụi người ta cũng ’mò’ tới thưởng thức nhất là cái hay, cái đẹp. Thế nhưng nhiều chủ tiệm, chủ quan rằng phải hô hào thì lắm thực khách. Đúng! Đó là môi trường ẩm thực. Nhập và xuất. Còn như ông bạn già tôi cũng viết văn, làm thơ, làm báo và biết vẽ loẹt quẹt; đầy đủ bộ sậu mà thấy người ít đánh trống hoặc đòi ăn mãng cầu. Và đời vẫn biết tên ông rành rọt. Từ mấy chục năm nay là thế, mà đôi khi anh trở nên khiêm ái và lãnh cảm là khác. Tôi yêu cái ’style’ đó, tôi mến cái lòng hào hiệp thượng mã như thế, nghiền ngẫm tánh khí anh và được là bạn với anh, học ở nơi anh. Thật hãnh diện, thật hạnh phúc tôi.
Thế tại sao trong bài viết nầy lại đưa cái chuyện bánh cuốn Thanh Trì vào đây? Không ăn nhập gì cả. Dạ thưa; đó là cái cớ để chúng tôi có dịp nói chuyện đầu năm và ôn lại những vết lăn trầm lún trong bùn ở giữa ’food-court’ nầy.Vui thôi mà!  

Chí khí mà nói từ xưa nay cái chuyện văn vẻ của dân ta có những cái mà không đi lên được cũng do từ bản chất cố hữu, cứ thấy mình hơn thấy người; chưa nhận một giải thưởng (Nobel) gì cho mát mặt tổ quốc, nhận toàn giải ba-hoa-chích-chèo. Hồi xưa đi học cho rằng vua quan ta thủ cựu: nạn nhân đau khổ nhất là Nguyễn Trường Tộ,  nghe qua thấy cái kiểu cư xử ấy là võ đoán...Thế rồi thời gian trôi và lớn dần mà mình không lớn (lùn như tôi), máu tự hào vẫn còn nằm lì trong tế bào não, tế bào ngũ tạng và ngay cả trên tế bào da mặt. Hiện tượng tế bào đó gọi nôm na là  ’face-talk’ chớ không phải ’face-lift’. Ông bạn già tôi thắc mắc mấy cái từ tôi nói, có thể đi lạc vấn đề(?). Dạ thưa anh; tôi đọc được cái ’self’ của họ, mà cái self là cái đáng ghét. Cho nên nó hiện nguyên hình trên cái mặt đáng ghét đó. Tôi buồn mà không nói nên lời... Anh bạn già tôi đưa đi ăn bánh cuốn Thanh Trì là một gợi nhớ, nhớ về Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, nhớ về giòng văn chương tiền chiến, hậu chiến 1930/1945, giòng cách mạng văn học nghệ thuật 1938, giòng văn hóa Nam Bắc 1954/1975 và cho tới nay từ trong ra ngoài. Những lãnh vực đó ít nhiều vẫn còn duy trì một đức tính bảo thủ, cố cựu, nghĩa là không đứng lại, hay dựa cột ’đình’ nghe lời phải trái, để rồi bước ra khỏi vết-lăn-trầm. Không chịu khám phá cái mới mà chỉ đi tới đi lui, đôi khi vòng vo tam quốc qua mấy thập niên như trâu bò về chuồng. Thậm chí cổ vũ cái văn hóa cổ lỗ sĩ, hay là quá hoài niệm, nhớ người, nhớ ta mà tiếc nuối. Lạ quá; cứ đưa cái ’tôi’ đứng trước thiên hạ. Sao thế? Vì có ai hơn ta đâu! Ông nhà nước cũng thế; cái-ta là của ta, là đỉnh cao trí tuệ cho nên giữ ngôi vị ’Ta’ là ta. Mà cái-ta là cái chi chi, thế mà rủa cho lắm! Qúy vị văn, thơ, họa, nhạc cũng luôn luôn nghĩ là ta nhất trên đời. Cứ đua nhau thi thố, bắt thiên hạ phải biết cái-ta.Thật buồn cười! Nước ta chưa có Viện Hàn Lâm hoặc từ xưa đã lập Quốc Tử Giám rồi phế hưng mà mấy khi xem trọng, vì thế mạnh ai nấy làm, mạnh ai sáng tác, dù sáng tác rất bí-đái hoặc phải gồng, rặn con chữ cho kịp với chợ trời, đưa tới cái gọi là mất sáng tạo, mất cảm tác, bất luận là nó nằm trong bộ môn nào. Cứ phóng ra cái đã, xem giống cái gì đặc tên cái đó, chả phải mô-típ, mô-tơ chi cho mệt. Hay thuộc trường-phái-đặc-tên? Có một cái khổ khác là a-dzua rất ẩu. Thấy cái đám có tên tuổi ’ca’ là đua nhau ca chả biết con giáp nào cả. Bốc! đua nhau bốc, cái ẩu đó vô tình tiêm cho họ mũi thuốc ’hách’, thật ra họ không hách nhưng rồi phải hách vì đời ẩu, cho nên tự cho mình là đại thi hào, đại văn hào, đại họa sĩ, đại phê bình gia, bắt mấy vị đó phải sắm cái vai kịch, cái vai ’không cầu chứng tại tòa’. Viết đâu một vài cuốn sách, truyện, in ấn vài ba tập thơ, lý luận cho ra triết thuyết, vểnh cái mặt kênh kiệu ra dáng cao học; cho nên có nhiều vị không cho về nhà phách tấu, nói phét là thế. Lui! Cứ như là cả thế giới biết đến mình. Cái figuration đó ngó gai con mắt vô cùng . Rồi tịt ngòi không viết. Làm như ta đã viết lừng lẫy chừ viết làm chi, đủ để hậu thế rồi. Đại dzỗm! Hay tại cái bản chất truyền thống? Có thể. Nhìn những nhà văn hóa, văn nghệ nước ngoài (không có nước trong) mỗi khi được phỏng vấn hay đặc câu hỏi; thật tình không thấy họ như mình tưởng. Rất chân tình, không đỏm dáng. Những tay nhà giàu, nhà nghèo ở đây cũng thế, họ không có những tế bào như mình có. Khiêm nhường? Không! cái chất như thế. Với chúng ta thì lại khác, khác hẳn. Họ ùn ùn phong chức, nào là có chân trong đại học, trong văn học, trong trường, trong đời... ai ’bổ nhiệm cái danh xưng đó’  Không cần ai bổ nhiệm, tự có thôi mà! Nâng lên một bề dày tiểu sử  ’ồn  ào’, có như thế mới xôm tụ văn chương. Nhưng có thấy chi mô.
                 ”Ai tri âm đó mặn mà với ai” (ND). Đó mới là đại thi hào!
Ông bạn già tôi thấy tôi thao thao bất tuyệt. Lắng nghe rồi mỉm cười không nói. Hay người đã nhúng chàm nhiều lần trong đời? gác đũa ăn, ông bạn già tôi cứ điềm nhiên nhắp trà ’hoa nhài’ không nói hay góp ý, chắc ông muốn chơi cái câu ’im lặng là vàng’. Tôi buột miệng hỏi ông: - Anh trở lại làm báo, viết văn, làm thơ cho vui tuổi già ?. - Người ta làm rồi; mình lui cho họ làm hay hơn mình làm. Hơn thế nữa báo với cọp dần dần đi ra nghĩa trang nằm ngủ, người đọc thích đọc báo mạng nhiều hơn. Bạn già nói. Tôi suy nghĩ lời nói của người bạn văn. Đúng! đã gọi là ’mạng’ thì cần chi cái chuyện đăng với duyệt. Đăng hay không tùy ông chủ báo, thả vô đăng liền hay dầm dưa cũng tùy ở ông. Cảm tình viên? Hay dựa hơi cho thêm năng động? Duyệt trước khi đăng (posting) hay chả thèm duyệt. Ít có những nhà làm báo mạng chân chính như hôm nay. Cũng có một số mạng rất chăm chút, đọc, sửa trước khi đăng thì có mấy ’trự’ không ưa đi vào. Nói bỏ lỗi; một vài vị làm báo trình độ lỡ cỡ cho nên tự ái cao, cũng có cái-ta trong người, muốn cho mọi người thấy cái-ta nhưng thực ra chưa đáng có cái-ta đó. Tào lao lắm, nhiêu khê lắm, nói không ngạ. Mấy ông phê bình dịch thuật cũng thế. Cái thú ăn mãng cầu của mấy vị  như đỉnh cao...Qúy vị làm báo ngày nay cũng nên biết cho: thằng cầm bút, thằng ngồi bấm máy lia chia cả hai thằng chẳng có lợi nhuận gì nốt. Cả hai thằng ’free’; thế thì giữ độc quyền làm chi rứa? Ăn cái giải gì trong đó. Muốn độc quyền thì trả nhuận bút; ôm mà làm kỷ nghệ! Đó cũng là cái self-An-Nam ta. Thiệt khổ! Mấy ngàn năm rồi vẫn không chịu tắm rửa; ở thế chịu sao thấu? Cũng nên có cái ’courtesy’ với nhau cho vui vẻ đôi bên. Ích kỷ mà làm chó gì! Viết tục thì cho là chạm phong hóa, không sạch. Thế kỷ 21 rồi. Người ta ’make-love’ tỉnh bơ sao không nghe nói gì hết cả. Khoái lắm! nhưng đạo-đức-dzỗm một chút thôi mà. Uạ; sao lại chê bai, bài bác? Bài gởi đến bổn báo tự ý sửa, đổi chữ, đặc đề lung tung như mèo cào. Đại ẩu; chả phép tắc. Cái điều mất tự trọng là coi như phạm húy trường thi đó biết không. Thưa ngài (sir). Nói cho ngay cũng từ cái học vụ lỡ cỡ đó mà ra. -Thôi; ăn đi cả bánh nguội. Mấy ’dzụ’ đó tôi biết quá đi mà. Xưa tôi làm báo, trả nhuận bút đàng hoàng thế mà nhiều khi bị ’giũa’ toe tua. Sá chi cái buổi nhố nhăn này. Bạn già nói.
Nên có một viện Hàn Lâm hay viện Bảo Tàng sách báo cho Việt Nam. Thay vì viện Bảo Tàng súng ống. Kẻo không cái văn chương Việt Nam trở nên tạp-bà-lù. Za không ra ’da’. Pờ không ra ’phờ-ắt-fắt’ là Fờ. Có nhiều tác giả ký giao kèo dài hạn, một hai năm không cho ai vô ’chơi’; cắm dzùi. Cái kiểu nầy khác chi ’mạ lấy tiền rồi con ơi’. Nói vui thôi mà! Thời này ai cũng là ông vua của mình cả. Cái thời vi tính. Mạnh miệng lắm. E lệ cái giống gì. Biết rồi; khổ quá nói mãi... em chả!
Tôi đọc một câu này không biết của ai; quên! Hình như của S. Freud thì phải:
                          ”societal shit” tạm dịch: cứt xã hội. Hay!

                                                                 *

-  Mấy khi đến chơi ba bửa tết. Chú  ở lại nhà tôi ít hôm, bọn mình còn nhiều chuyện vui để kể. Bạn già nói. Thấy cái lòng chân của người bạn mà khó chối từ. Nhưng phải chối từ vì không đủ thời gian để nán lại, nhất là để bạn già phải bận lòng đón đưa giữa lúc nầy thấy không đẹp. Cả hai bọn chúng tôi đã là tuổi thất thập thì buồn chi chuyện ở với đi. Quá đủ rồi phải không ông bạn già của tôi ?
Tôi từ giả người anh tốt bụng, trở về cố quận. Suy ngẫm về mấy lời chân tình của người bạn văn; tấm lòng văn nghệ đáng qúy, nhất là được ăn  món bánh cuốn Thanh Trì ở đất lạ nơi đây. Chúng tôi chia tay lúc ấy trời cũng đã chập tối ./.

VÕ CÔNG LIÊM   (ca.ab. mồng7tết nhâmthìn 29/1/2012)      

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

CHIA VUI

CHIA VUI 

Được tin anh Hồ Văn Hiền tức nhà thơ Từ Hoài Tấn , làm lễ thành hôn cho con trai út là Hồ Ngọc Hiến với Nguyễn Tuyết Hằng vào ngày 03 tháng 02 năm 2012 (nhằm ngày 12 tháng 01 năm Nhâm Thìn ) tại Sài Gòn.
Anh em văn nghệ sĩ xin chia vui cùng gia đình nhà thơ Từ Hoài Tấn , chúc tân lang và tân giai nhân một đời yêu nhau-một đời hạnh phúc.


VŨ TRỌNG QUANG – TRẦN HỮU DŨNG- LỮ QUỲNH – NGUYÊN MINH – LÊ KÝ THƯƠNG-TRẦN DZẠ LỮ- VÕ CÔNG LIÊM - LINH PHƯƠNG.

http://my.opera.com/hoadongphuong/blog/

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2012: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 100B – 30.1.2012 
1001 - Lê Văn Tính
TÙ CHÍNH TRỊ  LỚN TUỔI NHẤT
Tù nhân sinh 1939 tại VN. Bị giam ở Đồng Nai (2012).
            Trước 1975 là dân biểu chế độ cũ.
            Sau 1975 đi cải tạo 10 năm.
            Ra trại lại tiếp tục tham gia các tổ chức chống Cộng. Khi bị phát hiện bèn bỏ trốn định theo đường bộ vượt biên qua Thái Lan nhưng đuợc nửa đường thì bị bắt ra tòa lãnh án 20 năm tù.
            Đến hết năm 2011 vẫn còn nằm tù ở Đồng Nai dù tuổi cao đã 73 tuổi mắc nhiều chứng bệnh người già.

1002 - Nguyễn Thị Bích
CƯỚI VỢ CHO CHỒNG
Nông dân sinh 1946 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2008).
            Năm 1968 lấy chồng là bộ đội lái xe đường Trường Sơn.
            Qua những lần chồng về phép đã mang thai sinh con gái đầu lòng năm 1969 nhưng con mắc bệnh trí óc chậm phát triển, khờ khạo vụng dại như con nít không lớn nổi. Năm 1974 sinh con thứ hai thì chết ngay sau khi lọt lòng mẹ.
            Sau chiến tranh, chồng thương binh ra quân trở về quê làm ruộng. Hai vợ chồng sinh thêm một trai một gái nữa năm 1975 và 1983 và cả 2 cũng vẫn mắc bệnh trầm kha như con gái đầu. Sau này mới biết ấy là hậu quả của CĐDC mà chồng đã mắc phải thời chiến tranh lái xe chuyển quân trên đường Trường Sơn.
            Bản thân không dám sinh thêm nữa trong khi chồng vẫn ao ước muốn có một đứa con trai lành lặn để nối dõi. Thương chồng nên năm 1986 mới tự mình đi tìm… cưới vợ lẻ cho chồng là một phụ nữ lỡ thời ở làng bên.
            Từ đó sống cảnh một chồng 2 vợ 2 nhà nhưng vẫn cố gìn giữ không khí hòa thuận đôi bên. May sao người vợ sau sinh được một trai 2 gái đều khỏe mạnh bình thường.
            Bấy giờ người chồng có thể mãn nguyện yên tâm ra đi, tiếp theo là cô con gái đầu tiên cũng mất năm 2003.
            Bấy giờ 2 người vợ còn lại phải tìm đến sống chung một nhà để nương tựa tuổi già cùng lo cho 5 con. Bản thân mắc bệnh gai cột sống còng lưng gập cả người vẫn phải lụm cụm đi chăm sóc miếng cơm giấc ngủ cho 2 đứa con bệnh tật đã hơn 30 tuổi mà vẫn ngơ ngơ ngác ngác trước cánh cửa cuộc đời khép kín. 

1003 - Nguyễn Thị Hồng
CÔ NHI VIỆN CÔNG GIÁO NUÔI CON CỘNG SẢN
Lao động sinh 1963 tại Quảng Nam. Sống ở Đà Nẵng (2007).
            Cha là du kích chống Mỹ ở huyện Tiên Phước, năm 1972 cho vợ đưa con gái đầu lòng bị bệnh ra bệnh viện ở Tam Kỳ chữa trị.
            Nhưng khi con lành bệnh cũng là lúc nhận được tin chồng đã hy sinh nên 2 mẹ con lâm vào cảnh tứ cố vô thân không tiền bạc mà cũng không ai giúp đỡ nên bồng con đến cho cô nhi viện Thánh Tâm Sao Biển của các xơ Công giáo ở Đà Nẵng. Đồng thời mẹ cũng xin ở lại đây làm người phục vụ vừa để có dịp gần gũi con mình.
            Năm 1974 đến lượt mẹ mắc bệnh qua đời, thế là bản thân thành trẻ mồ côi tiếp tục được cô nhi viện nuôi dưỡng.
            Sau hòa bình, năm 1976 được một gia đình ở Đồng Nai nhận về làm con nuôi. Nhưng thực chất là giống như mướn người làm không công, bắt làm lụng vất vả và còn thường xuyên đánh đập nữa.
            Vì thế một thời gian sau chịu đựng không nổi bèn bỏ trốn tìm đường quay về lại mái ấm cô nhi viện ngày xưa, được các xơ giang rộng vòng tay ấp ủ yêu thương.
            Tới tuổi trưởng thành mới chia tay cô nhi viện ra ngoài lấy chồng. Dần dần cuộc sống ổn định sinh được 4 con trai học hành đàng hoàng.
Được như vậy nhờ công nuôi dưỡng của cô nhi viện không bao giờ dám quên, không biết cách nào trả ơn cho đủ thì tự nhiên người con trai đầu sau khi tốt nghiệp đại học tin học đã tình nguyện vào chủng viện đi tu. Như định mệnh đã sắp xếp cho một sự đền đáp ơn trên đã cứu vớt cuộc đời mẹ mình. 
           
1004 - Nguyễn Tuấn Nam
TÙ CHÍNH TRỊ “ĐẶC BIỆT”
Tù nhân sinh 1935 tại VN. Bị giam ở Đồng Nai (2012).
            Nguyên là sĩ quan bộ đội năm 1975 từ Bắc vào tiếp quản miền Nam mới giải phóng, sau đó tiếp tục được điều qua mặt trận Campuchia.
            Nhưng trên đất Campuchia lại nảy sinh ý đồ “ly khai” bằng cách bắt liên lạc với một số tổ chức chống Cộng tại đây. Aâm mưu bại lộ nên bị bắt ở biên giới Campuchia – Thái Lan rồi di lý về VN năm 1996 ra tòa chịu án 19 năm tù.
            Có lẽ là tù chính trị lớn tuổi nhất (77 tuổi) song đây là một tù chính trị khác thường, không phải là “tù nhân lương tâm” thường thuộc người của chế độ cũ chống Cộng sau 75 mà là từ phía Cộng sản (có bí danh Bảo Giang đàng hoàng) nhảy qua chống đối thành tù “chiêu hồi” giống như cán binh Việt Cộng bỏ ngũ ra hàng chế độ VNCH thời trước!
            Còn đến 3 năm mới mãn hạn tù trong khi đã 2 lần bị tai biến khiến nay không đi đứng được nữa.

1005 - Nguyễn Văn Chiến
KIỆN TƯỚNG BÓNG BÀN KHUYẾT TẬT QUỐC TẾ
Thương binh sinh 1948 tại Quảng Nam. Sống ở Đà Nẵng (2007).
            Gia đình cộng sản nhà nòi với cả cha và 5 anh em đều là liệt sĩ thời đánh Mỹ nên năm 16 tuổi đã thoát ly đi làm giao liên. Năm 1966 vào bộ đội chiến đấu trên mặt trận Quảng Đà.
            Giữa năm 1967 được tin cha hy sinh thì chỉ mấy tháng sau đến lượt mình bị thương nặng chấn thương cột sống lẫn sọ não và gãy đùi trái được chuyển ra Bắc chữa trị.
            Sau thời gian dài năm viện được cho về an dưỡng thương binh ở miền Bắc. Dù đi đứng phải chống nạng song không muốn bỏ phí tuổi trẻ vẫn còn khát vọng vươn lên đóng góp với đời nên xin đi học ĐH Y Hà Nội.
            Năm 1982 tốt nghiệp bác sĩ tình nguyện tha thiết xin về lại Đà Nẵng phục vụ đồng bào quê hương. Trở thành một bác sĩ chống nạng vẫn rất tận tâm cứu người tuy đôi khi bản thân mình cũng phải… nhập viện cấp cứu do vết thương cũ tái phát nguy hiểm.
            Năm 1992 về hưu vẫn không chịu nghỉ ngơi mà tiếp tục tham gia dạy lớp xóa mù chữ cho người lớn.
            Chừng đó xem ra vẫn chưa đủ đối với “người lính già đầu bạc” nên từ năm 1999 còn quay qua tập môn thể thao bóng bàn xe lăn. Mỗi sáng sớm đều đặn chống nạng đi bộ cả gần 7km từ nhà đến CLB luyện tập, trưa ở lại ăn cơm nắm tập tiếp đến chiều mới lội bộ về. Con cái muốn lấy xe đạp chở đi, không chịu vì xem đi bộ cũng như một cách rèn luyện thể lực, sức bền vậy.
            Có công mài sắt có ngày nên kim, từ năm 1996 đã giành tổng cộng 34 huy chương môn bóng bàn xe lăn cả trong lẫn ngoài nước. Trong đó nổi bật nhất là 11 huy chương (6 HCV) các giải người khuyết tật Châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á cùng 23 huy chương giải NKT trong nước (9 HCV cá nhân, 4 HCV đồng đội).

1006 - Nguyễn Văn Chính
CHUYÊN GIA TÌM HÀI CỐT LIỆT SĨ
Thương binh sinh 1941 tại Nam Hà cũ. Sống ở Hà Nội (2007).
            Từng trải trên chiến trường miền Nam với nhiều thương tích trong đó có 7 mảnh đạn trong người còn nằm yên.
            Hòa bình lập lại, trở về Hà Nội vẫn phục vụ trong quân ngũ. Lấy vợ xuất thân bộ đội thông tin, sinh 4 con.
            Từ cuối năm 1995 chuẩn bị về hưu mới bắt tay vào thực hiện kế hoạch ấp ủ bấy lâu là đi tìm hài cốt đồng đội còn thất tán, mất tích. Bằng cách làm rất bài bản tập hợp tất cả thông tin, tư liệu góp nhặt được về liệt sĩ từ giấy báo tử, thư từ, kỷ vật, đồng đội, bạn bè, đơn vị cũ, hội cựu chiến binh… không bỏ sót bất cứ chi tiết nào. Từ đó sàng lọc để tập trung nghiên cứu kỹ lưỡng những chỉ dấu dù nhỏ nhất cho giả thuyết hài cốt hay mộ liệt sĩ đó nằm ở đâu. Sau đó mới cùng bạn bè, ngườøi thân liệt sĩ lên đường truy tìm.
            Nhờ cách làm khoa học đó mà kếùt quả tìm kiếm khá chính xác, tìm được nhiều hài cốt trên các chiến trường cũ Quảng Trị và miền đông Nam Bộ khiến ai biết cũng nể phục tưởng mình có tài “ngoại cảm”!
            Bà vợ cũng từng một thời chịu đựng gian khổ chiến tranh nên hếùt lòng ủng hộ, dành dụm tiền bạc được đồng nào đều đưa hết cho chồng làm nghĩa vụ thiêng liêng không ai bắt buộc. Vì thế suốt đời vẫn ở căn nhà thuê 20m2, đơn vị cấp đất cho xây nhà thì lại nhường cho một gia đình liệt sĩ.
Không may năm 1999 bà vợ qua đời để lại người lính già gà trống nuôi con. Nhưng không cô đơn vì đượïc biết bao người chịu hàm ơn tìm hài cốt chia sẻ hoàn cảnh để vẫn vượt lên nỗi đau đời riêng tiếp tục cuộc hành trình tìm đưa đồng đội về với gia đình, quê nhà.

1007 - Nguyễn Văn Chơi
“HÀNG CÂY SÁU ĐẤU”
Cán bộ về hưu sinh 1940 tại Bến Tre. Sống ở Bến Tre (2009).
            Gốc nông dân nghèo nên cả nhà đều đi theo cộng sản, anh và em trai hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ. Bản thân đi chăn trâu, làm mướn, học hết lớp nhất tiểu học cũng vào chiến khu luôn, bí danh Sáu Đấu (con thứ năm quyết chiến đấu tới cùng).
            Năm 1970 làm bí thư xã ngay quê mình rồi lên huyện phụ trách tài chính.
            Sau 1975 phát bệnh nhiều phải lên TPHCM điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy. Nhân đó mới có dịp ngắm nghía hàng cây dầu đồ sộ chạy dài trước cổng bệnh viện mê lắm uớc gì quê nghèo của mình có được hàng cây như vậy bởi trong chiến tranh bao nhiều cây cối trong làng đều bị bắn phá sát rạt không còn đâu bóng mát cho đất và người.
            Từ đó nảy sinh ý nghĩ sao không bắt chước đưa cây dầu về trồng đất quê mình? Nghĩ là làm bằng cách buổi chiều tản bộ ra trước đường đi nhặt… trái dầu rụng trên đường về cất trong phòng bệnh. Đến ngày ra viện năm 1980 gom được 3 bao bố khiêng ra xe đò về quê tiếp tục làm bí thư xã như cũ.
            Từ 3 bao bố trái dầu khô đó mới ươm giống rồi tiến hành kế hoạch trồng dọc hai bên con đường chính xuyên qua xã chạy dài qua đến xã lân cận, đường được mở rộng thêm lấy đó làm trục trung tâm để đắp đập thủy lợi bao quanh xã ngăn mặn trồng lúa. Thời đó tất cả hầu như đều làm bằng công sức lao động ngườøi dân trong xã nên 5 năm mới hoàn thành công trình tổng hợp cây – nước – lúa.
Ban đầu cũng có ý kiến phản đối vì làm đường, mở đường lấy mất đất của dân (thời đó những khái niệm đền bù, giải phóng mặt bằng làm gì có!), rồi cây trồng án ngữ trước nhà dân có khi bất tiện… Thậm chí dân còn kiện lên tới tỉnh!
            Nhưng rồi thời gian qua hàng cây dầu dần lớn lên cao thẳng tắp cành lá xum xuê rợp bóng mát quá đẹp cho thấy hiệu quảû của nó. Lại còn sinh sôi lợi nhuận chặt bán gỗ làm nhà chia tiền cho bà con có công chăm sóc và góp quỹ xây trường học, trạm xá y tế, nhà tình nghĩa… Nếu bây giờ phải tặng huy chương bảo vệ môi trường xanh – sạch nhưng lúc đó cây cũng đã không phụ ơn người mới sinh ra tên đặt cho nó là “Hàng cây Sáu Đấu”!
            Năm 1995 về hưu nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo: “Đời tui như sãi ở chùa quét lá đa. Quét xong thấy lòng thanh sạch nhẹ nhàng.”

1008 - Nguyễn Văn Diệp
SỐNG TRÊN BÃI MÌN
Nông dân sinh 1931 tại Bình Dương. Sống ở Bình Dương (2008).
            Năm 1956 bắt đầu theo cộng sản đánh Mỹ.
Năm 1960 lấy vợ làm y tá trong chiến khu. Sinh được 4 con thì vợ và đứa con mới sinh mắc bệnh nặng không đủ phương tiện thuốc thang chạy chữa nên qua đời.
Sau chiến tranh một mình gà trống nuôi con song lại thêm 2 đứa con nữa cũng mang bệnh chết sớm.
Năm 1988 lấy vợ mới làm ngành công an cũng góa chồng (chồng bộ đội thương binh mất năm 1978 để lại 2 con).
Hai vợ chồng đều đến tuổi về hưu phải sống nhờ trong khu tập thể công an tỉnh. Năm 1998 hai vợ chồng mới làm đơn xin đất làm nhà tình nghĩa thì được cấp cho một khu đất hoang nằm trước một đồn lính chế độ cũ.
Hai vợ chồng đưa 4 con lên đó bắt tay vào dọn dẹp dựng nhà ở tạm bợ, lúc đó mới tá hỏa phát hiện rằng nơi đây toàn chôn… mìn và cả nhiều ngôi mộ vô danh nữa! Do đồn lính thời trước gài mình chống Việt Cộng xâm nhập, vì thế đã có nhiều người không biết giẫm phải mìn chết chôn luôn tại đó.
Nhưng đã lỡ lâm vào cảnh tiến thối lưỡng nan rồi, sợ mìn nổ mà bỏ đi thì cuối đời biết nương tựa vào đâu nên đành chấp nhận sống chung với mìn và mộ địa. Hai vợ chồng cố gắng ra tay phát quang, dọn sạch được chỗ nào hay chỗ đó, hễ nghi điểm nào có mìn thì đánh dấu để cả nhà biết mà tránh xa.
Ngày qua ngày cứ thế mà khai hoang mảnh đất chết chóc để dần dần biến nó thành một vườn cây trái xum xuê cũng thu hoạch được hoa trái bán kiếm sống nuôi con. Còn mìn bẫy nằm quanh quất đây đó may mà cũng cám cảnh không nổ bất tử!
Nhưng đến năm 2004 chính quyền lại bất thần ra quyết định… thu hồi gần một nửa mảnh đất (toàn bộ nhà và vườn khoảng 400m2) mà 2 vợ chồng đã đổ mồ hôi – và cả tính mạng đem ra đánh đố với bom mìn – khai khẩn, với lý do “chiếm dụng đất công”!
Làm đơn kiện tứ phương đến năm 2008 vẫn chưa đi đến đâu.  

1009 - Nguyễn Văn Đôi
“ANH NUÔI” LÂM CẢNH ĐÓI ĂN
Nông dân sinh tại Cao Bằng. Sống ở Buôn Ma Thuột (2011).
            Người dân tộc Nùng vào bộ đội làm anh nuôi vừa cầm súng chiến đấu vừa lo nuôi quân đánh Mỹ, tham gia chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột rồi sau đó còn chuyển qua mặt trận Campuchia truy kích bọn tàn quân Pol Pot.
            Giải phóng Campuchia xong một thời gian thì bị thương được giải ngũ quay về quê Cao Bằng.
Nhưng lúc đó quê hương cũng mới xảy ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc khiến nhà cửa cha mẹ bị cháy rụi trong khi bản thân bị mất hết giấy tờ quân ngũ lại gặp cảnh cuộc sống đảo lộn không biết xoay xở thế nào. Đành cùng vợ con làm rẩy đốt than gắng gượng sống qua ngày.
Nhưng ở vùng sơn cước xa xôi ngày ấy lại trong thời bao cấp khó sống nổi nên cuối cùng dắt díu vợ con tìm đường quay về… chiến trường xưa Buôn Ma Thuột hy vọng đã từng quen biết một thời gian có thể kiếm sống được.
Tuy nhiên cảnh cũ người xưa nay đổi khác rồi, không còn nơi nào không còn ai nương tựa mà gánh nặng gia đình đùm đìa nên lại tiếp tục kéo dài phận lam lủ thiếu ăn thiếu mặc, dược địa phương liệt vào diện hộ nghèo phải thường xuyên cứu đói.
Mãi đến năm 2011 đồng đội cũ ở đơn vị cũ – một Sư đoàn Anh hùng – mở cuộc vận động tìm kiếm thông qua Đài truyền hình VN mới gặp lại được người anh nuôi đáng quý ngày xưa mừng mừng tủi tủi.
Từ đó anh nuôi mới được khôi phục danh nghĩa và chế độ cựu chiến binh, được đồng đội tặng cho chiếc máy kéo và vốn liếng để “nuôi quân gia đình” đánh thắng giặc nghèo giặc đói.
           
1010 - Nguyễn Văn Hà     
MẤT “KHẢ NĂNG LÀM CHỒNG
Công chức sinh 1953 tại Nam Định. Sống ở Ninh Bình (2007).
            Dù là con trai duy nhất được miễn nghĩa vụ quân sự nhưng năm 1971 vẫn tình nguyện đi bộ đội.
Năm 1972 được tung vào trận chiến mùa hè đỏ lửa bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Bị thương khá nặng ởû háng và đùi được chuyển về Nghệ An điều trị rồi ra Hải Dương an dưỡng.
Năm 1973 được chuyển ngành đi học nghề tài chính, năm 1976 ra trường về làm ở Ninh Bình.
Tại đây năm 1984 lấy vợ làm nhân viên cấp huyện. Nào ngờ đến đêm tân hôn bản thân mới phát hiện thì ra vết thương ở đùi và háng trước kia đã khiến mình không còn khả năng tính dục đàn ông nữa, lâu rồi vậy mà không hề hay biết chút gì! Có thể bác sĩ lúc đó vì tế nhị không nói hoặc sau này sinh ra di chứng hậu quả không lường trước được.
Từ đó dễ hiểu dần dần đưa đến cảnh vợ chồng tình nghĩa phai nhạt rồi hầu như trở thành lạnh lùng xa cách nhau. Bản thân đi tìm quên trong men rượu, rơi vào cảnh sống bê tha trác táng, còn vợ thì quay qua… ngoại tình với người tình nhỏ tuổi hơn. Không chỉ thế, năm 1992 vợ còn sinh con với người khác nhưng bắt chồng phải nhận làm cha hờ mà chỉ có riêng mình phải cắn răng chịu đựïng âm thầm!
            Đề nghị ly hôn thì vợ không chịu với ý đồ đợi đứa con khôn lớn để lãnh quyền thừa kế gia sản. Đến năm 2002 mới đồng ý ly hôn sau khi vợ đã dàn xếp… lấy hết tiền bạc, của cải, nhà cửa của người chồng “bất lực”.
            Trong cảnh bơ vơ cô độc lại hầu như trắng tay may sao năm 2003 vẫn có một cô giáo góa chồng (2 con) thương cảm chấp nhận chắp nối tình già dù lần này đã được anh nói thẳng sự thật về vết thương chiến tranh cay đắng của mình, vết thương đã làm cho mình “bất hạnh chẳng ai giống ai”.   
            (Còn tiếp)
http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hosohauchienky100b