Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Thơ Từ Hoài Tấn

Sinh nhật

Khúc một

Buổi sáng hót tiếng chim hương mật xanh
Dòng sữa của rừng thẳm
Trong hẻm cà phê những ngày chạy trốn
Em không lấp đầy những ngày trống rổng anh
Vẫn còn chút hoài nghi sự sống

Hy vọng này phút giây của sự thật
Cho ta những điều mới lạ hơn
Và trong lời kêu báo động của tình yêu
Cho ta những hồi chuông bất tận

Người phụ nữ có mái tóc bờm
Từ bên kia đại dương trở về
Hoa quả thơm trong gói giấy
Được xắt thành những mãnh vụn
Ngây thơ giữa mồm miệng
Cùng một chút muối mặn và ớt đỏ
Bỗng ngọt ngào giọng nói
Trong buổi gặp lại sau nhiều năm

Buổi sinh nhật không có hoa
Có nắng và gió
Lều bạt giăng ra trong hẻm cà phê
Khoảng chừng mười người ngồi
Nhìn ngày và tháng bước đi ngoài đường
Thấy mình khóc cười ngất ngưỡng trong đó
Trong đó – những ngày sóng vỗ bạo cuồng ngoài biển Đông


Khúc hai

Một chút âm thầm vui trong những ngày mưa âm u
Ngồi dưới hiên quán cóc
Bao nhiêu buổi chiều qua đong đếm bằng những giọt
Những viên gạch lề đường cũng chịu buồn thôi
Khi heo hút mùa tàn phai

Chừng đó ly tách trong bữa tiệc đời
Những giọt rượu màu hổ phách óng ánh là tình chúng ta
Không muốn cạn
Sợ bay đi tình ta
Thời ngắn ngủi
Ném hết ly tách vào khoảng không
Không cần uống cạn
Vơi hay đầy hãy tự nó bay đi

Bao nhiêu lần tôi thèm trong một chút bỗng dưng
Cận kề niềm vô hạn
Trên chiếc xe buýt hai tầng tử sinh
Không có ga dừng bến trạm
Mải miết con đường hoan ca

Xin gửi lời chúc mừng
Sinh nhật vui vẻ nhất là sinh nhật chưa bao giờ có


10/7/2012


 
Tình yêu thời hèn nhát

Tôi không thể mở miệng nói yêu em vì tôi hèn
Tôi dửng dưng mọi sự
Tôi như cục đá bên đường
Bao giờ mới biết khóc
Cho sự khổ đau của mất mát và sự sĩ nhục của kẻ mạnh đối với kẻ yếu
Sự hà hiếp của kẻ lớn với kẻ nhỏ

Tôi không thể mở miệng nói yêu em vì tôi hèn
Tôi như cái cây bên vệ đường
Những nhánh vươn ra bị chặt cụt
Tôi như thân thể còi ốm trơ xương
Không sức sống


Tôi không thể mở miệng nói yêu em vì tôi hèn
Tôi như một mùi hương nhạt nhẽo
Chờ ngọn gió thổi bay đi
Biệt dạng và vô nghĩa
Không có sự nuối tiếc

Tôi không thể mở miệng nói yêu em vì tôi hèn
Đêm ngày cũng như nhau
Những lời đĩ thỏa
Của bọn hình nhân
Và bọn lợn lòi
Làm tôi tởm lợm

Tôi không thể mở miệng nói yêu em vì tôi hèn
Tôi đau âm thầm
Tôi đớn nghẹn
Và tôi câm
Giữa một thời sống bất động

Tôi không thể mở miệng nói yêu em vì tôi hèn
Bởi lời nói bay ra khỏi bờ môi
Sẽ là lời kết tội của bạo lực

TỪ HOÀI TẤN

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2012: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 117 – 10.7.2012 

Tưởng niệm
955 - Nguyễn Hữu Có
CẢI TẠO 12 NĂM THÀNH “NHÂN SĨ”
Cựu trung tướng VNCH sinh 1925 tại VN – Mất tháng 7.2012 ở TPHCM (88 tuổi).

Tướng chế độ cũ

Nhân sĩ chế độ mới

     Thuộc nhóm tướng Dương Văn Minh đảo chính Ngô Đình Diệm, đến giưa thập niên 1960 từng làm Bộ trưởng Quốc phòng, Phó thủ tướng VNCH.
     Năm 1967 bị phe “tướng trẻ” Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ lừa cho đi công cán Đài Loan, Hàn Quốc rồi… cách chức cấm trở về khiến phải qua sống lưu vong ở Hong Kong.
     Năm 1970 Tổng thống NV Thiệu cho phép về song buộc giải ngũ ra ngoài làm kinh doanh, ngân hàng dân sự.
     Khi tướng Dương văn Minh lên cầm quyền tổng thống vài ngày trước 30.4.1975 riêng mình đã được gọi lại chuẩn bị giao nhiệm vụ nhưng chưa kịp động tay động chân gì thì… giải phóng!
     Bản thân chập chờn nửa đi nửa ở, cuối cùng chấp nhận ở lại không theo Mỹ đi di tản dù cố vấn Mỹ sẵn sàng giúp vì nghĩ mình đã giải ngũ rồi không tội vạ gì với cách mạng. Sau đó muốn vượt biên thì sợ nguy hiểm cho gia đình có đến 12 đứa con nên thôi. Rốt cuộc… đi cải tạo 12 năm tận ngoài Bắc!
     Trong thời gian ở trại đã được “Ơn trên kêu gọi” (vợ con mắc bệnh nặng được cầu nguyện mà khỏi bệnh) tự nguyện bỏ đạo Phật cải đạo Tin Lành năm 1983.
     Năm 1987 được thả về “loanh quanh trong nhà trồng rau, nuôi gà”.
     Đến cuối những năm 1990 được gợi ý tham gia hoạt động xã hội, qua năm 2004 chấp nhận lời mời làm thành viên Uy ban Mặt trận Tổ quốc VN với tư cách “nhân sĩ” (nhân vật của chế độ cũ chấp nhận ở lại sống chung hợp tác với Cộng sản) cổ xúy cho tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc. Được cho đi Mỹ thăm viếng người thân, bạn bè thoải mái.
     Hàng tuần có tham gia phụ việc nấu cháo từ thiện một lần cho bệnh nhân Bệnh viện Nhi đồng 1 TPHCM.

278 - Nguyễn Mộng Giác
VIẾT TRONG THỜI CẤM VIẾT
Nhà văn Việt kiều Mỹ sinh 1940 tại Bình Định - Mất tháng 7.2012 ở Mỹ (73 tuổi).
(Anh 2012)
     Nhà văn xuất thân nhà giáo, tốt nghiệp ĐH Sư phạm Việt – Hán Huế 1963, ra trường đi dạy trường Đồng Khánh ((lấy vợ Huế) rồi chuyển về quê nhà Quy Nhơn dạy trường Cường Để. Sau lên làm hiệu trưởng rồi làm luôn giám đốc Sở Giáo dục Bình Định.
Song song đó còn viết văn, bắt đầu nổi lên cuối thập niên 60 ở miền Nam với phong cách phân tích tâm lý hiện đại sâu sắc, tiềm ẩn tính triết lý, bút pháp cô đọng qua tập truyện ngắn ”Bão rớt”, các truyện dài “Tiếng chim vườn cũ”, “Qua cầu gió bay”, “Đường một chiều”, tập tiểu luận văn học “Nỗi băn khoăn của Kim Duung” (Kim Dung, tác giả truyện chưởng Hong Kong). Được trao Giải thưởng văn học quốc gia của chế độ cũ.
Vì thế năm 1974 xin nghỉ chức giám đốc Sở chuyển về Bộ Giáo dục ở Sài Gòn làm chuyên viên cao cấp với mục đích muốn có điều kiện thuận lợi theo đuổi lâu dài con đường sáng tác.
      Nhưng xảy ra biến cố 30.4. 75 nên bị cho nghỉ việc tuy tham tâm vẫn muốn hoà nhập, đóng góp với chế độ mới. Đành chấp nhận trở thành thợ… làm mì sợi – món ăn làm từ bột mì Liên Xô viện trợ phổ biến thời bao cấp thiếu đói – vừa làm vừa chở đi bỏ mối.
      Tuy nhiên vẫn không buông bút, không bỏ cuộc văn chương với niềm tin sâu sắc “ngày mai trời lại sáng”. Nên vẫn tiếp tục viết trong giờ nghỉ trưa và tối về cặm cụi ở nhà khu ngoại ô Sài Gòn trong tình cảnh nhà văn “Ngụy” đuơng nhiên không được viết không được in, thậm chí còn có thể bị bắt vì điều đó!.
       Từ đó bắt đầu thai nghén bộ tiểu thuyết trường thiên lịch sử “Sông Côn mùa lũ” viết bút bi trên những cuốn tập vở học trò. Tác phẩm viết về đề tài cuộc khởi nghĩa Tây Sơn diễn ra nơi quê nhà Bình Định xa xưa, khởi thảo 1978 và hoàn thành 1981.
       Nhưng đến đó thấy chờ “trời lại sáng” có vẻ… lâu quá mà xin vào làm báo Tin Sáng (báo TPHCM, của nhóm trí thức nhân sĩ chế độ cũ – “tại chỗ” - được chế độ mới cho phép hoạt động nhằm mục đích tập hợp tầng lớp này tham gia ủng hộ Cách mạng) cũng không đuợc nên đành… vượt biên một mình qua Mỹ (sau mới bảo lãnh vợ con qua). Phải trầm trầy trầm trật mấy lần (có lần bị bắt giam mấy tháng) mới đi thoát được năm 1982.
Thế rồi chính trên đất Mỹ, “Sông Côn mùa lũ” 4 tập dày 2.000 trang mới có cơ hội xuất bản năm 1991. Cùng lúc trở lại góp mặt trên văn đàn hải ngọai, tham gia viết lách trên nhiều báo, tạp chí trong đó có thời gian dài quản lý tạp chí Văn Học, cộng tác thường xuyên với tạp chí Hợp Lưu (thời gian đầu khi tạp chí này còn theo xu hướng chống Cộng ôn hòa kêu gọi hoà hợp dân tộc)…
Tiếp tục viết, in thêm tập truyện ngắn “Ngựa nản chân bon”, “Xuôi dòng”; tập tiểu luận “Nghĩ về văn học hải ngoại”…
       Cuối cùng rồi cũng đến thời “trời lại sáng” - Đổi mới mới  sớm quay về nước tìm kiếm sự đồng cảm đến muộn. Nhờ đó “Sông Côn mùa lũ” được ra mắt đồng bào trong nước năm 1998 (tái bản 2002), còn được một hãng phim trong nước mua bản quyền định chuyển thành phim…  
       Sau đó tiếp tục về nước nhiều lần, về thăm lại Huế quê hương thứ hai dù năm 2004 bị bệnh gan đã phải cắt một phần lá gan
       Trong lúc còn bao nhiêu dự án ấp ủ đang hy vọng thực hiện trên quê mẹ thì trong một chuyến về nước làm việc kết hợp thăm bà con nhân ngày Tết 2009 mới được vài ngày thì bị đột quỵ ngã bệnh nặng phải lập tức được đưa về lại Mỹ chưa trị. 
    Từ đó phải ngồi xe lăn mọi việc trông nhờ vào vợ con chăm sóc, được 3 năm thì qua đời. Sau khi mất được giới phê bình trong nước ghi nhận là một “nhà văn nặng lòng với đất nước”.
1.171 – Bùi Quang Thận
NGƯỜI CẮM CỜ DINH ĐỘC LẬP
Đại tá Quân đội Nhân dân VN sinh 1948 tại Thái Bình – Mất 2012 ở Thái Bình (65 tuổi).
Trong khoảnh khắc lịch sử nhảy xuống xe tăng cầm cờ Mặt trận tiến vào dinh Độc Lập.
     Vào bộ đội năm 1966 ở binh chủng Tăng – Thiết giáp.
     Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Miền Nam, là đại đội trưởng tăng - thiết giáp chỉ huy một mũi  tiến công đi đầu vào dinh Độc Lập (nay là dinh Thống Nhất). Bản thân có mặt trên xe tăng 843 là chiếc xe tăng thứ nhì tiến vào trong dinh (xe tăng thứ nhất mang số hiệu 390 đã húc đổ cổng dinh trước đó vài phút) liền nhảy xuống xe cầm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam xông vào dinh lên tận nóc dinh hạ cờ VNCH xuống để kéo lá cờ Mặt trận lên thay thế báo hiệu chế độ chính quyền “đổi chủ”.
     Sau đó về Bắc được đưa đi học Liên Xô cũ 4 năm rồi về lại binh chủng cũ, làm tới chức Chủ nhiệm Tăng – Thiết giáp.
Đương nhiên được đề cử danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân song rốt cuộc không đạt tiêu chuẩn vì địa phương cấp xã không đồng thuận với lý do ông cụ thân sinh ở làng có dấu hiệu… mê tín dị đoan! Quân hàm cũng chỉ lên lon đại tá đến ngày về hưu năm 2000.
Về hưu ở quê nhà, cả ngày đầu tắt mặt tối phụ công việc làm ăn kiếm sống với gia đình, một mình lặn lội làm đầm tôm và phụ vợ mở cửa hàng bán gas, mình lo việc đi xe máy chở bình gas đến cho khách hàng…
1.172 – Đào Thiện Sính
GỬI HƠN 14.000 THƯ BÁO TIN LIỆT SĨ
Bộ đội về hưu sinh 1947 tại Hải Dương. Sống ở Khánh Hòa (2012).
     Bộ đội trên chiến trường Miền Nam, tham gia đánh trận ở Tây Nguyên, miền đông Nam bộ. Năm 1973 được rút về làm Phòng Thông tin T.Ư Cục Miền Nam.
     Sau 1975 xuất ngũ về quê. Nhưng qua 1979 lại được gọi tái ngũ đưa qua chiến trường Campuchia và Lào. Đến 1983 mới ra quân về quê nhà Hải Dương sinh sống. Lấy vợ sinh con, cả nhà sống bám vào nghề nông.
     Năm 1988 đưa cả gia đình vào Khánh Hòa lập nghiệp, riêng mình được nhận vào làm bưu điện huyện.
     Bản thân có một người anh trai cùng đi bộ đội hy sinh tại Miền Nam nhưng hoàn toàn mất tích nên lòng cứ nặng nỗi niềm muốn đi tìm dấu vết, thông tin về mộ phần, hài cốt anh giờ không biết lưu lạc nơi đâu. Lâu nay cố truy tìm tin tức anh trai bằng cách tìm đến các nghĩa trang xem mộ anh tình cờ có nằm ở đó không song gặp hoàn cảnh, điều kiện quá khó khăn nên chưa làm được bao nhiêu.
     Từ khi vào Khánh Hòa mới có điều kiện đi thăm nhiều nghĩa trang liệt sĩ từ Quảng Trị vào Nam để tiếp tục tìm kiếm thông tin về anh trai nhưng vẫn chẳng có tăm hơi gì.
Tuy nhiên bù lại, qua những chuyến đi đó đã gặp gỡ biết bao người đồng cảnh ngộ như mình. Từ đó nảy sinh ra ý nghĩ nhân cơ hội đến nghĩa trang tìm anh mới “một công đôi việc” ghi chép thông tin về các ngôi mộ có dấu hiệu chưa được thân nhân viếng thăm rồi về nhà viết thư báo tin về địa phương (theo quê quán liệt sĩ ghi trên bia mộ) cho biết.
Để làm việc này đã lập cả một danh sách tên tỉnh thành, quận huyện, làng xã thay đổi qua các thời kỳ để đối chiếu tìm ra tên địa phương ngày xưa và bây giờ. Nhờ hồi trước từng làm nhiệm vụ ở phòng thông tin trong chiến khu nên đã có một số kinh nghiệm làm bài bản, khoa học.
Ban đầu phải viết thư tay, sau này mới có điều kiện photocopy mẫu lá thơ báo chỉ việc điền chi tiết vào nhanh chóng tiện lợi hơn. Nhưng phải mất tiền mua phong bì, tem thư so với đồng lương ít ỏi của một viên chức quèn. May mà dần dà nhiều người biết được công việc nghĩa tình thầm lặng này nên giúp đỡ tiền mua bì thư và cả bưu điện cũng cho miễn dán tem luôn.
Hành trình đi đến nghĩa trang bởi thế càng kéo dài ra tính ra đã đến cả hơn 100 nghĩa trang ở Miền Nam, tham dự cả các cuộc quy tập mộ liệt sĩ để góp nhặt thông tin thêm về tổng hợp lại.
Mỗi lần lên đường đều trang bị giống như thời bộ đội vào cuộc hành quân, chỉ có khác là bây giờ thủ sẵn chiếc kính lúp (để đọc những bia mộ qua thời gian mưa gió bị mờ hay nhòe chữ), sau còn có được chiếc máy ảnh con biếu cho để chụp lại toàn văn bia mộ đỡ nhọc công chép lại. Còn chuyện ăn ở thì đơn giản thôi, gặp đâu ăn đó, đụng đâu ngủ đó trong đó nơi tá túc ban đêm thuận lợi hơn cả chính là… nghĩa trang nơi mình đang “tác nghiệp”!
Cứ thế đã viết hơn 14.000 lá thư báo tin về mộ phần liệt sĩ gửi đi. Kết quả nhờ đó khoảng 30% trường hợp báo tin đã giúp người nhà đi tìm được mộ liệt sĩ. Nhưng không dám nhận sự báo đáp nào vì xem đây là việc “góp phần nhỏ làm được điều gì đó nhớ đến đồng đội đã ngã xuống” và “chỉ muốn làm lặng lẽ thôi”.
Tuy nhiên tin tức về anh trai mình thì vẫn biệt vô âm tín. Cho nên tự hứa với lòng mình “Ngày nào còn sống thì còn đi tìm anh, tìm đồng đội.”     
1.173 - Miên Đức Thắng
TỪ NHẠC SINH VIÊN QUA GỐM SỨ
Nhạc sĩ Việt kiều Đức tên thật Phan Văn Thắng sinh 1948 tại Huế. Sống ở Đức (2012).
     Vào Sài Gòn học ĐH Khoa học, từ đó tham gia phong trào sinh viên tranh đấu chống chế độ Thiệu – Kỳ theo Mỹ. Nổi tiếng với một số nhạc phẩm phản chiến hát tập thể như “Hát từ đồng hoang”, “Dậy mà di”…
     Bị chính quyền VNCH bắt đưa ra tòa về tội chống đối rồi nhân đó đẩy đi lính trường Thủ Đức năm 1969. Ra trường sĩ quan chấp nhận lệnh bố trí đi làm đơn vị hậu phương quân đội ở Tây Nguyên.
     Có lẽ vì vậy mà “mất điểm” với Cách mạng nên sau 1975 không được ưu ái, đành tự lực cánh sinh cùng vợ mở tiệm bán thuốc Tây. Đến năm 1989 theo gia đình vợ xuất cảnh qua Đức.
     Trên xứ người xa lạ chuyển qua nghiên cứu làm nghề gốm sứ nghệ thuật kết hợp vẽ tranh hợp thời hơn có thể giúp mưu sinh.
Còn nhạc vẫn làm nhưng không thành công gây tiếng vang như xưa do đã qua rồi thời tuổi trẻ sinh viên đầy nhiệt huyết đấu tranh. Và nhạc bây giờ chuyển hướng tìm đến với tình yêu hoài niệm quê hương Huế hòa quyện với niềm tin đạo Phật, 2 yếu tố thường song hành nối liền nhau:

“Tôi sông thơm lòng mẹ
Tình đầy nguồn xa xôi.
Đi qua bờ thế kỷ
Mênh mang điệu ru hời.
Sen chiều lên áo mới
Nội thành hát à ơi
Sông ơi, lòng có biết, tôi, sông là bến đò”.
                 (Tôi, Sông là bến đò)
     Vẫn thường xuyên về thăm quê hương, nhất là quê Huế thân thương ghi đậm dấu ấn một thời học trò Quốc Học.

1.174 - Trần Minh Dũng
“DŨNG VIỆT NAM”
Lao động Việt kiều Philippines sinh 1971 tại Khánh Hòa. Sống ở Philippines (2012).
     Năm 1989 vượt biên đường biển đến Philippines.
Sống luôn ở đây làm nghề bán giày dép vỉa hè, lấy vợ bản xứ sinh được 5 con.
     Từ năm 2004 trở thành ân nhân “cứu hộ” ngư dân VN đánh cá chẳng may xâm phạm lãnh hải Philippines bị bắt hoặc bị bão trôi giạt vào nơi đây không nơi nương tựa không ai giúp đỡ. Khi đó tự nguyện làm cầu nối trung gian với chính quyền địa phương, đóng vai trò thông dịch, chạy giấy tờ, thậm chí còn lo thủ tục tòa án trong trường hợp ngư dân bị đưa ra tòa Philippines. Đã giúp hơn 30 nhóm ngư dân VN như vậy.
     Từ đó được ngư dân VN thân tình gọi là “Dũng VN” như kiểu “Thần hộ mạng”, hễ ai đi biển cũng đều có số điện thoại của anh để gọi cầu cứu lỡ khi lâm cảnh ngộ lạc qua nước bạn bất đắc dĩ. Cả hải quân Philippines tuần tra biển cũng có số điện thoại này phòng ngừa khi cần sẽ nhờ hỗ trợ, phiên dịch.
     Trả lời tại sao làm việc không công như thế, chỉ nói đơn giản “Vì họ là đồng hương, ở xứ người thấy đồng hương gặp nạn không lẽ bỏ mặc?”
1.175 - Trần Ngọc Huế
TỪ NGƯỜI HÙNG ĐẾN TÙ BINH
Việt kiều Mỹ nhân viên ngân hàng về hưu sinh 1942 tại Huế. Sống ở Mỹ (2012).
     Xuất thân thiếu sinh quân VNCH, sau đó vào trường Võ bị Đà Lạt.
Ra trường 1963 xin chuyển về Sư đoàn 1 đóng tại Huế để ở gần quê nhà đúng như tên cha mẹ đặt.
     Đến trận chiến Mậu Thân 1968 tại Huế, là trung úy đại đội trưởng Đại đội Hắc Báo đơn vị đặc nhiệm  thiện chiến “đánh đâu thắng đó” của Sư đoàn 1 chỉ huy đánh giải vây Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1.
Từ chiến tích đó, được xem là một người hùng trẻ tuổi mới nổi lên của quân lực VNCH, được Tướng Tư lệnh quân Mỹ ở VN gắn huân chương, được Bộ trưởng Hải quân Mỹ tuyên dương là “Anh hùng của những anh hùng”. Cố vấn Mỹ rất khâm phục, còn đặt cho tên Mỹ là “Harry”.
     Tiếp tục sự nghiệp quân đội thăng tiến, năm 1971 lên lon trung tá tham gia chiến dịch Lam Sơn 719 đánh Hạ Lào (Cộng sản gọi là chiến dịch Đường 9 Nam Lào). Không may đơn vị bị bao vây, bản thân bị thương nên chấp nhận ở lại cầm cự cho binh lính dưới quyền rút lui. Kết quả bị bắt đưa ra Bắc ở tù 13 năm.
     Đến năm 1983 mới được trả tự do, vào Sài Gòn sống lây lất qua ngày.
May mắn có một cố vấn Mỹ cùng làm việc chung trước kia ở Sư đoàn 1 từng được sĩ quan Hắc Báo này  cứu sống trong một trận đánh luôn nhớ ơn nên khi về Mỹ đã tìm mọi cách hỏi thăm tin tức, gửi tiền giúp đỡ.
Sau đó vận động cho bạn mình được bảo lãnh xuất cảnh qua Mỹ năm 1991 cùng vợ và 3 con gái, còn giúp đỡ tìm nhà, tìm việc làm nuôi gia đình.
1.176 - Trần Ngọc Liễng
LÃNH TỤ “LỰC LƯỢNG THỨ BA” CUỐI ĐỜI ĐI TU
Luật sư về hưu sinh 1923 tại Vĩnh Long – Mất 2011 ở Đồng Nai (89 tuổi).
Từng có quá trình thân Cộng từ năm 1954 làm việc chung với luật sư Nguyễn Hữu Thọ (sau là Chủ tịch Mặt trận Giải phóng Miền Nam).
Vì vậy bắt đầu năm 1966 từ nhiệm khỏi chức vụ ở chính phủ VNCH (phụ trách lĩnh vực xã hội) để tách ra hoạt động độc lập theo xu hướng chống Mỹ, chống chế độ độc tài quân phiệt Thiệu - Kỳ, đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ cho người dân Miền Nam.
Từ đó trở thành một trong những đại diện trí thức của lực lượng chính trị tự nhận là “Lực lượng thứ ba” không Cộng hòa cũng không Cộng sản mà đứng giữa hai thế lực đó với tham vọng đóng vai trò trung gian hòa giải tiến tới lập lại hòa bình cho đất nuớc. Biến nhà mình thành một địa điểm hội họp của phe đối lập chế độ Sài Gòn.
Nhưng thực tế không được như kỳ vọng với chiến thắng của Cộng sản 30.4.75 đẩy “Lực lượng thứ ba” tới chỗ không còn chỗ đứng, nhiệm vụ gì nữa đành tự động… giải tán!
Bản thân được chế độ mới mời làm “nhân sĩ” vào Mặt trận Tổ quốc VN, một tổ chức mang tính quần chúng không quyền lực chỉ đóng vai trò “làm cảnh” dân chủ cho chế độ. Cho nên chẳng còn làm được gì nữa như mong mỏi khác với thời trước dù sao cũng làm được vài việc có ích cho đồng bào, xã hội trên tiến trình dân chủ hóa đất nước.
Có lẽ vì vậy mà mấy năm cuối đời đã lên một thiền viện ở Đồng Nai… tu luôn - có pháp danh đàng hoàng Thích Kiến Huyền - cho đến ngày qua đời.  

1.177 - Trần Quốc Hoàn
VẬN ĐỘNG VIÊN CHẤT ĐỘC DA CAM
Người khuyết tật sinh 1975 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2007).
     Cha là bộ đội bị nhiễm CĐDC nên mình ra đời đã 2 chân bị teo lại không đi được muốn di chuyển phải dùng tay bò đi.
Dù vậy vẫn phấn đấu học tốt nghiệp THPT. Nhưng nhà nghèo cha mẹ phải nuôi 6 anh em nên không có điều kiện học tiếp lên đại học.
Bản thân không cam chịu chí hướng mình dừng ở đó nên vừa tìm việc làm đơn giản kiếm sống qua ngày (nhận đập dẹp lon bia phế thải bán làm phế liệu đúc lại) vừa tự mở ra một lớp học tình thương tại nhà dạy cho các em nhà nghèo bỏ học nửa chừng. Song song đó còn tham gia tập luyện môn thể thao đua xe lăn.
Từ đó đã khiến một cô gái xứ Huế đem lòng yêu thương lấy làm chồng năm 2001.
Kết quả bao công công sức trì chí chiến đấu chống lại số phận không may mắn như thế giống như dã tràng xe cát biển Đông 10 năm đã giúp nhiều em học tốt nghiệp cấp 3 và còn lên đại học nữa. Phần mình đạt thành tích Huy chương vàng Hội thi Người khuyết tật toàn quốc 2001, Huy chương đồng Paragames toàn quốc 2003.
Cũng năm này còn đạt được một “siêu” huy chương nữa là có con gái đầu lòng quý hơn vàng.  

1.178 - Trần Tam Tiệp
VĂN BÚT CHỐNG CỘNG
Nhà báo Việt kiều Pháp sinh 1928 tại Vĩnh Long – Mất 2009 ở Pháp (82 tuổi).

     Trung tá tâm lý chiến binh chủng không quân VNCH, chủ biên nguyệt san “Lý tưởng” của binh chủng này.
     Trong biến cố 30.4.75 di tản qua Pháp.
Tại đây vào năm 1978 cùng luật sư Trần Thanh Hiệp (nhóm Sáng tạo)  và nhà thơ Nguyên Sa chủ xướng tái lập Chi hội Văn bút VN hải ngoại thành viên Văn bút Quốc tế (PEN Club) được công nhận. Bản thân giữ chức tổng thư ký 3 nhiệm kỳ liên tiếp.
     Với chức vụ đó có điều kiện tổ chức mạng lưới viết bài chống Cộng ở nước ngoài lẫn trong nước tìm cách gửi qua đồng thời vận động tổ chức Văn bút Quốc tế chống Cộng, lên tiếng phản đối chế độ cộng sản VN vi phạm quyền tự do tư tưởng, sáng tác của người dân.
     Các hoạt động trên đạt một số kết quả trong thời gian đầu trên trường quốc tế nhưng về sau dần dần giảm hiệu quả do phản ứng từ chính quyền VN ngày càng được củng cố.
     Trong thời điểm khó khăn đó thì năm 1994 bản thân lại không may bị tai nạn giao thông nặng chấn thương sọ não. Tuy được cứu sống song từ đó không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục tham gia hoạt động văn hóa chống Cộng như trước nữa cho đến khi di chứng bệnh phát tác qua đời. 

1.179 - Trần Tâm
CÔNG DÂN KHÔNG QUỐC TỊCH NƯỚC NÀO!
Việt kiều Mỹ. Sống ở Mỹ (2007).
     Cha là nhà báo chế độ chống Cộng nên sau 1975 bị bắt rồi chết trong tù.
     Vì thế năm 1980 đưa gia đình (cả bà mẹ) vượt biên đường biển được một chiếc tàu Đức vớt đưa về Đức cấp giấy cho tạm trú.
     Năm 1986 tự động đem gia đình rời khỏi Đức qua Mỹ theo một người anh kiếm việc làm ở một tổ chức xã hội tại Los Angeles đồng thời tranh thủ đi học đại học. Từ đó năm 2001 nộp đơn xin vào Mỹ tị nạn chính trị.
     Nhưng bị bác đơn vì lý do trước đó đã ở Đức thì Đức phải giải quyết nên phía Mỹ ra lệnh trục xuất về lại Đức!
Tuy nhiên Đức cũng từ chối cho nhập quốc tịch Đức bởi đương sự và gia đình đang tạm trú mà đã tự ý bỏ Đức ra đi không xin phép quá thời hạn bình thường (như đi lo công việc riêng, đi thăm bà con hay du lịch) 6 tháng.
     Thế là rơi vào tình trạng sống và làm việc tại Mỹ, giấy tờ tạm trú ở Đức song không được công nhận là công dân của… nước nào cả!  
     Mãi đến năm 2007 do dư luận cộng đồng Việt kiều ở Mỹ lên tiếng vận dộng mới được Quốc hội Mỹ gọi ra điều trần. Nhưng điều trần xong thì lại bị cảnh sát… bắt với lý do khong tuân hành lệnh trục xuất!
     Cuối cùng được dân biểu Mỹ (Đảng Dân chủ) đại diện TP San Jose đông Việt kiều sinh sống can thiệp mới được tiếp tục cho phép tạm trú… chờ Uy ban Di trú Mỹ xem xét lại trường hợp này.

1.180 - Trần Thanh Sơn
NGƯỜI “KHÔNG THỂ TỰ ĐI”
Giảng viên đại học sinh 1984 tại Bình Định. Sống ở TPHCM (2012).
     Cha là bộ đội nhiễm CĐDC nên mình sinh ra bị teo 2 chân, một tay bị teo 70%.
     Chân như thế không đi được nhưng cũng không ngồi xe lăn tự đẩy được do tay quá yếu nên 12 năm học tiểu học đến THPT đều được cha cõng đến trường. May mà tay dù không bưng được chén cơm mà ăn song cũng còn đủ lực để cầm bút viết và sau này gõ bàn phím vi tính.
     Từ đó học tốt nghiệp khoa công nghệ thông tin ĐH Khoa học Tự nhiên TPHCM. Đúng lúc đó thì người cha kính yêu qua đời vì chứng ung thư gan vỡ ra. Bây giờ phải nhờ bạn bè, bà con thay phiên nhau cõng mình đi học tiếp lên cao học đồng thời đi dạy môn tin học văn phòng tại ĐH Văn Lang.
     Còn chịu khó học thêm ngành quản trị kinh doanh nhằm chuẩn bị sau này thực hiện ước mơ mở một ngôi trường nhỏ dạy miễn phí cho học trò khuyết tật cùng hoàn cảnh không may như mình: “Nếu mình đi được, con đường của mình sẽ khác. Nhưng mình không thể tự đi thì mình phải chấp nhận chuyện đó mà tìm cách khác để hòa nhập với cuộc sống.”
     (Còn tiếp)
 https://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hosohauchienky117

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

“Vách đá cheo leo” – Tâm thế của người cầm bút: Bao dung & Hàm súc.


Mới nhận được tập tạp văn của anh Cao Thoại Châu. Trich lại  bài viết của Trần Hữu Dũng trên vanchuongviet.org:



“Vách đá cheo leo”, tác giả Cao Thoại Châu,  gồm 50 bài tạp văn, dài 256 trang, do NXB Hội Nhà Văn ấn hành vào tháng 3 năm 2012. Bìa do Huỳnh Thị Nhung & Mạnh Khoa trình bày, mỗi bài tạp văn kèm theo “phụ lục” là một hay hai bài thơ.
 
Cao Thoại Châu sinh năm 1939 tại Nam Định, lớn lên tại Sài Gòn, từng đi dạy học ở Châu Đốc, Kom Tum, Pleiku, Long An. Anh đã cho xuất bản ba tập thơ: “Bản thảo một đời – NXB Long An năm 1993 “, “Rạng đông một ngày vô định – NXB Văn Nghệ năm 2007”, “Ngựa hồng – NXB Thanh Niên năm 2009” và một tập Tạp văn “Vớt lá trên sông – NXB Hội Nhà Văn năm 2010”. Anh còn dùng các bút hiệu khác là Hư Trúc, Mãn Châu, Tiểu Nhã.
 
Nhà thơ Nguyễn Liên Châu nhận xét về tập sách nầy như sau: “Đúng là đọc Tạp văn của một nhà thơ thấy rất khác so với đọc Tạp văn của một nhà văn hay của môt nhà báo. Lại càng khác khi đó là “Tạp văn của Cao Thoại Châu”. Cần phải có tâm thế “bao dung và điềm đạm” giống tác giả mới có thể “mỉm những nụ ưu tư” trước những đa đoan và nhiễu nhương thế sự, phận người.” (Bao dung & Điềm đạm).
 
Còn họa sĩ Huỳnh Thị Nhung coi đây là những mảnh vá của cuộc đời: “Cũng phải thôi, anh là con người luôn nặng nợ với tha nhân, thấy đời rách thì cứ rút tâm ra mà vá, Cao Thoại Châu vá khéo léo và nhuần nhuyễn như người được trời sinh ra chỉ để vá.” (Những mảnh vá).
 
Đây là tập tạp văn thứ hai của Cao Thoại Châu, chứng tỏ bút lực sung mãn của người bước vào tuổi 73 tuổi, vẫn viết blog “Rạng đông một ngày vô định” mỗi ngày. Mỗi bài tạp văn của nhà thơ chất chứa đầy nỗi ưu tư, trăn trở với cuộc sống, về mọi thứ diễn ra quanh ta. Từ câu  chuyện Trước ngày tận thế, Hoang tưởng và ức chế cộng dồn đến Xóm tôi ở, Siêu mỏng và siêu ngố!, Văn hóa…chuyện tục, sao không?

Chậm rãi đọc từng trang, có nhiều đoạn làm chúng tôi giật mình, cảm động phải tự vấn với lương tâm chính mình.

”Để có một ly nước chanh, thật đơn giản nhưng không phải ai cũng
làm được một cách dễ dàng, pha mà có người đã quên bỏ
đường... Càng không thể nhắm mắt uống một ly tưởng như
đã có đường!”
(Trái chanh và ly nước chanh)

“Trừng trị nghiêm khắc nhưng kẻ này là một yêu cầu chung của toàn xã hội nhưng như thế chưa đủ, thậm chí là còn thiếu lắm. Bởi đã có cả một làn sóng tội ác đủ kiểu dạng và càng ngày càng nghiêm trọng về các mặt. Dưới bề mặt bình an của xã hội là một con nước ngầm của cái ác, thì sao không mời các nhà xã hội học, tâm lý học cùng chung tay trong việc hình thành chống tội ác từ gốc của nó? Chống không phải chỉ cho hôm nay mà cho nhiều thế hệ, thậm chí cho thế hệ cháu chắt chúng ta?” (Hoang tưởng và ức chế cộng dồn)

“Trong tình yêu chẳng hạn, biết bao người hơn một
lần trong đời cũng phải lên chuyến tàu suốt, khác nhau là
người khôn ngoan, có tâm hồn và bản lĩnh thì không bù lu
bù loa oán trách bất cứ ai, mà lặng lẽ cầm chiếc vé đúng
mệnh giá và lên tàu! Không làm cho giá vé đội lên một
cách vô ích, đó là người biết sống...!”
(Giá của chiếc vé tàu suốt)

“Trong một lần hai vị gặp nhau sau bài thơ đó, Tản Đà (đang say) trách “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à?”, Nguyễn Vỹ (cũng đang say) đáp “Tôi có ví như thế thì chó nó xấu hổ, chứ chúng ta xấu hổ nỗi gì?”. Câu thơ và cả cách đối đáp thật đầy bi phẫn của người cầm bút thời nô lệ! Phải vì đối đáp ấy mà sáng nay hai cụ cùng về đây trong tĩnh lặng của lòng tôi tôn kính và cảm thương đôi người cầm bút của một thời đại?” (Phút tinh khôi tôi lại nhớ người!).

Có nhiều lúc tác giả sa đà, luận bàn dài dòng khiến cho bạn đọc thấy rối rắm như đi lạc vào mê hồn trận của câu chuyện phiếm lúc trà dư tửu hậu ngoài đời. Đọc xong tập Tạp văn “Vách đá cheo leo”, chúng tôi hình dung ra cái nụ cười mỉm chi đầy bao dung và hàm súc của một nhà thơ lớn tuổi đang sống vui, an nhàn ở mảnh đất Long An.

Trần Hữu Dũng

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

Tiếc thương Nguyễn Mộng Giác, 1940-2012 MÙA BIỂN ĐỘNG



Nhà văn Nguyễn Mộng Giác - Tranh Đinh Cường
                                   (Nguồn : tác giả Đặng Tiến)


Une saison d’homme
Entre deux marées
Quelque chose comme
Un chant égaré
Aragon 
 
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác vừa qua đời tại Mỹ, ngày 02- 7- 2012 sau một cơn bệnh dài, là tác giả hai bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa biển động[1],  tiểu thuyết thời sự, sáng tác tại Hoa Kỳ 1982- 1989, gồm năm tập, 1 800 trang, và bộ tiểu thuyết lịch sử Sông Côn Mùa Lũ, viết trong nước, 1978- 1981, 4 tập, 2000 trang , là hai bộ tác phẩm đồ sộ nhất trong ngành tiểu thuyết Việt Nam, sau Cửa biển[2], của Nguyên Hồng xuất bản trong nước đã lâu.
Tác phẩm Mùa biển động  đã được độc giả hải ngoại đón tiếp nồng nhiệt. Tập một, Những đợt sóng ngầm, in năm 1984, đã được tái bản nhiều lần, Bão nổi (1985) cũng vậy; tập ba mang tên toàn bộ Mùa biển động, 1986, đã tái bản. Bèo giạt in năm trước, 1988, thì năm sau tác giả cho in tập cuối, dài nhất, là Tha hương.
Tiểu thuyết Mùa biển động là một biến cố quan trọng trong nền văn chương Việt Nam ở hải ngoại, cần được chào đón xứng đáng, và cần được phân tích, thảo luận, phê phán cặn kẽ, bên ngoài cái vòng khen chê tùy hứng và lẩn thẩn, hay cuồng nộ theo những định kiến chính trị hay phe phái.
Bài này giới thiệu từng tập một, theo giá trị ở thời điểm xuất bản, và cuối cùng sẽ có phần tổng luận về năm tập. Để bạn đọc có thể đặt Mùa biển động vào thể loại văn học của nó, tôi có bài khác, về tiểu thuyết trường thiên nói chung – đăng kèm.

Nguyễn Mộng Giác sinh năm 1940 tại Bình Định, đã có tác phẩm in tại Sài Gòn trước 1975: Ba truyện dài, hai tập truyền ngắn và một tiểu luận. Vượt biển năm 1981, ông khởi viết Mùa biển động ngay từ trại tị nạn Kuku, và viết tiếp tại Hoa Kỳ. Nguyễn Mộng Giác có một sức viết, một ý chí lao động nghệ thuật đặc biệt: trong tám năm tha hương, phải làm nhiều nghề vất vả để sinh nhai, ông đã xuất bản năm truyện dài, hai tập truyện ngắn[3] và viết nhiều bài nghiên cứu văn học giá trị. Từ 1985, ông chủ trương tạp chí Văn học nghệ thuật, từ 1986 đổi tên là Văn học, hiện nay là tờ báo văn nghệ Việt Nam thuộc loại đứng đắn và hay nhất, so với nhiều tạp chí khác cả trong lẫn ngoài nước. Khi viết xong – nghĩa là rảnh nợ Mùa biển động - Nguyễn Mộng Giác có tâm sự: «Từ bảy năm nay, tôi vừa viết vừa lo đánh máy, vừa tự bỏ tiền in mấy bộ truyện dài này, trong khi vẫn phải dành thì giờ cho việc kiếm sống… Xin bạn đọc hiểu cho rằng đây là tim óc tôi, là mồ hôi của tôi, là máu của tôi»[4]. Một gương cần mẫn, một tình yêu văn nghệ, một cống hiến cho tiếng nói dân tộc, ở mức ấy, ở một người Việt lưu vong, đáng cho nhiều người suy nghĩ.
Nguyễn Mộng Giác là người di tản, độc giả của ông, trước hết là người di tản. Tác phẩm của ông phản ánh thế giới quan của người bỏ nước ra đi; ông không mấy cảm tình với chế độ cộng sản, điều đó dễ hiểu và không quan hệ gì với nghệ thuật.
 
Mùa biển động kể lại đời sống, vật chất và tinh thần, một thế hệ thanh niên đồng lứa tuổi với Nguyễn Mộng Giác, quay chung quanh mươi nhân vật nam và nữ, thuộc ba gia đình ở Huế. «Tôi muốn qua cuộc đời thăng trầm của ba gia đình, phản ánh giai đoạn có nhiều thăng trầm bể dâu nhất của người miền Nam, từ lúc chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ đến ngày tôi vượt biên »4 – 1981.
Nhân vật chính của Nguyễn Mộng Giác toàn là những thanh niên trí thức thành thị, phần nhiều thuộc thành phần khá giả, bị cuốn vào những cơn bão của lịch sử, trong non hai mươi năm. Tác giả đưa vào tiểu thuyết những sự kiện có thật, nhân vật có khi trùng tên thật của nhiều người thật, nhưng khẳng định rằng Mùa biển động không phải là tiểu thuyết lịch sử mà chỉ là «biến chuyển tâm trạng của [một] thế hệ thanh niên trưởng thành trong chiến tranh […], cuối cùng trôi nổi theo một nhân vật chính đến chỗ tha phương »[5] (nhưng cuối cùng, các nhân vật chỉ «tha hương» mà không «tha phương»).
Hai tập đầu, Những đợt sóng ngầm (1984) và Bão nổi (1985), gợi lại phong trào tranh đấu miền Trung khoảng 1964-67 với những biểu tình, xô xát, tuyệt thực, hội thảo, bàn thờ Phật xuống đường, xe tăng lựu đạn đàn áp…. Không khí tiểu thuyết sôi nổi, biến cố dồn dập, các nhân vật thường xuyên dao động trong thời sự nóng bỏng, được tác giả phản ánh dồi dào, trung thực. Nhưng cái hay là tâm trạng của một lớp thanh niên: họ làm chính trị hàng ngày, hàng giờ, với lập trường, quan điểm, vì cơn bão lịch sử đã thổi tạt họ vào một đám cháy, chứ bản thân họ không phải là những con người chính trị. Và sự lựa chọn của họ, chỉ tự do trong chừng mực nào đó, trong những điều kiện xã hội nào đó mà thôi.
Khi hai tập đầu ra mắt, đã có một số người phản ứng mãnh liệt trên vài tờ báo chống cộng ở Bắc Mỹ. Đại khái họ chê trách Nguyễn Mộng Giác o bế những nhân vật thân cộng, sau này theo Mặt trận giải phóng, như Tường, bôi bác quân đội Sài Gòn qua nhân vật Lãng, và cả chế độ Sài Gòn nữa, và tác giả đã đánh bóng cho phong trào Phật giáo, v. v. Khi sự công kích trở thành thô bạo, đã có nhà văn lên tiếng bênh vực Nguyễn Mộng Giác, và ông cũng có lần trả lời, đại ý rằng bộ tiểu thuyết chưa xuất bản toàn bộ, vậy không thể đánh giá lập trường tác giả qua hai cuốn đầu tiên.
Thật ra thì Nguyễn Mộng Giác đã viết Những đợt sóng ngầm Bão nổi với tất cả tấm lòng tha thiết với kỷ niệm, với tất cả những mất mát của bản thân; nếu ông có nâng niu sự cố này hay nhân vật kia, thì đó cũng là tình cảm thường tình của người mẹ với những đứa con – dù là con hư. Mà dù trong thâm tâm Nguyễn Mộng Giác có nuôi nấng chút tình cảm nào đó với phong trào tranh đấu miền Trung 1964-67, thì cũng chưa chắc gì ông đã tán thành quan điểm chính trị và phương pháp hành động của phong trào đó. Nguyễn Tuân, khi đề cao tài chém treo ngành của một đao phủ hay lòng yêu nghệ thuật của một cai ngục, không chắc gì đã ưa nghề đao phủ hay cai ngục. Thậm chí, viết văn, đôi khi chỉ là cách vân vê một vết thương trong đời mình.
Nhà văn Nhật Tiến yêu thích hai tác phẩm này là có lý do sâu sắc [6].
Nhưng dường như Nguyễn Mộng Giác cũng thấm đòn. Đến Mùa biển động, tập 3 (1986, không có tên riêng), ông đã thận trọng hơn, chừng mực hơn, «giữ võ» kỹ hơn. Động tác chỉ xảy ra mấy ngày Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, với những trận đánh, những vụ «xử lý» chôn người mà mọi người đều biết; tác giả mô tả cảnh thảm sát ở một chương áp chót và giải thích hiện tượng đó ở chương cuối, như một tư liệu. Nhắc lại những tàn bạo của các đơn vị Mặt trận giải phóng tại Huế, Nguyễn Mộng Giác chỉ nêu lên một sự thật lịch sử, một trong nhiều sai lầm của phe giải phóng, nhưng thuộc loại tàn bạo nhất. Nhưng cũng là một cách chứng tỏ rằng ông không phải là người thân cộng, với những ai cần biết rõ điều đó để an tâm.
Về cuộc tổng công kích Mậu Thân 1968 tại Huế, ngày nay ta có nhiều tác phẩm tư liệu: từ Giải khăn sô cho Huế (1969), Tình ca cho Huế đổ nát (1967) của Nhã Ca, đến bút ký của một số nhân vật đã từng sống trong Mùa biển động như Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu, 1971), hay Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Quang Hà, Tô Nhuận Vỹ (Huế những ngày nổi dậy, 1979), hoặc của tướng Lê Chưởng, chính ủy mặt trận Huế thời đó (Đất nước vào xuân, 1979). Đây là những chứng từ có giá trị lịch sử và văn chương. Ngoài ra còn có những hồi ký mặt trận của các tướng Lê Tự Đồng, Trần Quý Hai. Có lẽ Nguyễn Mộng Giác chưa đọc, chỉ dựa vào hồi ký của tướng Lê Minh và cuốn The battle for the Tet 1968 của Keith William Nolan.
Tuy nhiên  Mùa biển động III là một cuốn sách hay, qua thuật kể chuyện trầm tĩnh, chừng mực và hấp dẫn. Tác giả khéo gạn lọc những chi tiết làm nổi bật tâm lý của người Huế trung bình lúc đó. Chúng ta lại có dịp so sánh để thấy đặc tính của ba thể loại văn chương: Hoàng Phủ Ngọc Tường viết bút ký, Lê Chưởng viết hồi ký, Nguyễn Mộng Giác viết tiểu thuyết. Họ khác nhau không phải chỉ ở «lập trường» hay vị trí quan sát, hay cách nhìn, mà còn ở hành văn, ở thể loại. Điểm cuối cùng này về mặt văn học, tôi rất thích thú.
Đến Bèo giạt, tập 4, dường như Mùa biển động đã đưa Nguyễn Mộng Giác đến Tiền Đường. Nợ tình đã trả xong trong hai cuốn đầu, ân oán cũng đã phân minh với cuốn 3, tác giả phát triển tài năng của mình thoải mái. Trước hết, ông đổi không gian: từ Huế, động tác chuyển vào Qui Nhơn, và phần nào Sài Gòn. Thời gian cũng im ắng hơn: kỷ niệm Mậu Thân đang kéo da non thành sẹo, người ta lo lắng cho hòa bình. Chuyện xảy ra từ 1968 đến Hiệp định Paris 1973: Ngữ, nhân vật chính, một hạ sĩ quan đã làm việc tại tòa tỉnh trưởng Thừa Thiên, được chuyển vào Sài Gòn, học thêm, thi tú tài, vào trường sĩ quan Thủ Đức, rồi được về làm việc tại tiểu khu Quy Nhơn. Không khí chính trị bớt căng thẳng: không còn những đấu tranh sôi nổi của hai tập đầu, cũng không còn sự ngột ngạt giữa hai lằn đạn như trong tập 3. Bèo giạt là sự chờ đợi, suốt thời gian hòa hội Paris. Cuộc tranh chấp chính trị, giới hạn trong phạm vi cá nhân, quyền bính và địa phương, không phản ánh được sự chuyển mình của miền Nam lúc đó; ngược lại, các nhân vật sống nhiều hơn đời sống riêng tư của mình: tình yêu, tình gia đình, tình bạn xen kẽ vào những chương trình thời sự. Lời kể chuyện nhẹ nhàng, linh hoạt, hấp dẫn hơn, «tiểu thuyết» hơn; các nhân vật thoát ly phần nào ra khỏi từ trường của thời đại, đã xê dịch, sinh hoạt, đối thoại tự nhiên hơn. Về phương diện kỹ thuật, Bèo giạt có những ưu điểm nhất định.
Những ưu điểm đó cần được trả giá: trước hết là sự chênh lệch so với ba tập trước. Từ một không khí nặng trĩu thời cuộc đè bẹp định mệnh, những nhân vật như Tường, Ngô, Nam, bước sang Bèo giạt người đọc như hụt hẫng khi nghe các ông trung tá, đại tá, giữa những canh mạt chược, đàm luận về cách làm tỉnh trưởng: tỉnh lớn phải thế này, tỉnh nhỏ phải thế kia. Trong khi đó, những năm 1970-73 miền Nam đang đi vào khúc quanh quyết định: hòa hội Paris, chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, mặt trận Trị Thiên, mùa hè đỏ lửa, cuộc đấu tranh tại các đô thị chống tham nhũng, độc tài… Tác giả có viện lý do không viết tiểu thuyết lịch sử đi nữa, thì người đọc vẫn mong đợi nhiều âm vang hơn của thời sự, dù chỉ là thời sự của tỉnh Bình Định, một địa phương quan trọng, thời đó có nhiều sự cố.
Để vớt lại nhược điểm đó, tác giả đưa ra nhiều nhận định tổng quát về chính trị: về chế độ Ngô Đình Diệm (tr. 1076), về tác dụng vụ tấn công Mậu Thân (tr. 1080) – cả hai nhận định đều không mấy liên quan đến Bèo giạt, có liên quan là những ý kiến về chương trình bình định nông thôn (tr. 1068), tiếc rằng những trang viết này vừa dài dòng, vừa sơ lược và nằm ở ngoại vi tiểu thuyết.
Tóm lại, Bèo giạt dễ đọc hơn ba cuốn trước nhờ lối kể chuyện của tác giả. Nhưng cũng như toàn bộ Mùa biển động, tác phẩm mang nặng tâm tình của tác giả - một Nguyễn Mộng Giác bớt say đắm và trầm tĩnh hơn.
Mà kỷ niệm vẫn thiết tha, đằm thắm: tiếng cửa sắt mở hé ở tòa soạn Bách Khoa; tiếng đánh máy chữ lóc cóc giữa tiếng ì ầm của máy in, ở tòa soạn báo Văn, hai chữ «tình thân» ở cuố thư, vẫn còn gợi nhiều âm hưởng da diết đối với nhiều người, trong đó có Nguyễn Mộng Giác, có cả tôi: chúng tôi bắt đầu yêu, yêu cuộc sống, yêu văn chương qua những âm hưởng đó. Và nay, đọc lại Nguyễn Mộng Giác, sau bao nhiêu mùa biển động, bầu trời trong tôi bỗng ánh ỏi rất nhiều tiếng chim vườn cũ.
 
Đặng Tiến
Orleans, 29 tháng giêng 1990, đọc lại và cập nhật 02-7- 2012,
để tưởng niệm Nguyễn mộng Giác
 

[1] Mùa biển động, năm tập đều do nhà Văn nghệ (California) xuất bản; tập cuối Tha hương, 1989, giá 21 đôla Mỹ. Địa chỉ: P. O. Box 2301, Westminster, CA 92683, USA.
[2] Cửa biển, gồm có Sóng ngầm (1961), Cơn bão đã đến (1967), Thời kỳ đen tối (1973), Khi đứa con ra đời (1976), đều do nhà Văn học xuất bản, Hà Nội. Riêng Sóng ngầm in lại trong Tuyển tập III Nguyên Hồng, nxb Văn học, Hà nội, 1985.
[3] Ngựa nản chân bon, 1984, Xuôi dòng, 1987, nxb Văn nghệ, California.
[4] Nguyễn Mộng Giác, Tha hương, sách đã dẫn, tr. 1860 và 1853
[5] Lời giới thiệu ở trang bìa.
[6] Nhật Tiến, tạp chí Văn học số 39, tháng 4-89, California, tr. 45. 

Trích từ art2all.net 

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

Xem tranh CÙ NGUYỄN


     Cảm nghĩ của Khổng Đức

Với tính cách cố tri chí thiết, không thể không viết đôi dòng cảm nghĩ về phòng tranh của Cù Nguyễn, nhưng khi cầm đến bút mới thấy bao khó khăn.
Tranh của Cù Nguyễn quá đồ sộ qui mô, tất cả là 40 bức tranh sơn dầu; nói về lượng bức nhỏ nhất 60 x 75 cm, còn là 20 bức khổ lớn từ 80 x 80 đền 100 x 130; còn về phẩm ngoài ba bức có hình tượng thiếu nữ là Cung trăng,Suối tóc, Đồi mộng mơ, không phải dài dòng vì ai cũng có thể hiểu dù có nhiều cách thế khác nhau. Còn lại 37 bức là cả một thế giới của màu sắc, đường nét, bố cục đầy biến đổi, dù vẫn mang những danh hiệu vô cùng hấp dẫn: Cây Nhân sinh, Những con đường, Hình và bóng, Tây nguyên lễ hội, Sóng hoa,  Đồi trăng, Phố xanh, v…v… Nhưng là loại tranh không hình tượng (non-figuratif), giống như  tranh trừu tượng mà không mang dấu ấn gì của trường phái nầy; có thể nói đó là kết tinh của hơn 50 năm sống lăn lóc trong nghệ thuật. Cù Nguyễn cũng từng thổ lộ là không học, không chịu ảnh hưởng  của trường phái hội họa nào, mà chỉ tự học hỏi, tự tìm tòi với sự đam mê của bản thân. Điều này quá rõ Cù Nguyễn luôn luôn cố tạo dựng cho mình một bản sắc, một đường lối riêng biệt, nên từ năm 1961, lúc mới ngoài 20 tuổi Cù Nguyễn đã đạt được huy chương vàng về hội họa giữa Sàigòn hoa lệ này. Tuy nhiên vẫn không lạc ra ngoài cái quỉ đạo trào lưu tiến hóa của nhân loại là quay về với nội tại, với tâm linh, xa rời cái thực trạng ngoại hình đầy bụi bặm phũ phàng của thiên nhiên; không sao chép thiên nhiên như một đối tượng, mà chỉ quan sát, quán thông, khế hợp với nó để moi sâu, lột trần, thu hút cái bản chất thực tại tiềm ẩn trong đó. Vì vậy có thể nói nghệ thuật của Cù Nguyễn là nghệ thuật thuần túy – nghệ thuật phát sinh chân lý – nghệ thuật được mở rộng với cảm tính, với tự do, phát huy đến tận cội ngưồn  thực tại siêu việt của cái thế giới bên kia (de ce qui est au-dela), nó bao hàm cả vận mệnh, cả cuộc sống của con người, trong đó có liên quan đến sứ mệnh của dân tộc, của lịch sử. Mỗi bức tranh của Cù Nguyễn là một thế giới hình trạng riêng biệt (forme) từ đường nét đến màu sắc. Đây là điểm xuất phát đáng kể khi tuổi đời  của họa sĩ đã vào thế hệ ngoại thát thập (sanh năm 1938) mà sức sáng tạo, óc tưởng tượng vẫn còn rạt rào mang đầy tính chất thơ. Hay nói cho đúng hơn Cù Nguyễn đã sáng tác trong tư thế ý thức mà vô thức, tư thế của trực giác thi tính (intuition poetique) với cái âm điệu của tâm linh – như Valery, thi hào của Pháp từng nói “ cái hay cái đẹp của một bài thơ phải có âm điệu của người nữ lí tưởng, đó là âm điệu của tâm linh (la plus belle poesie a la voix d’une femme ideale, mlle Âme). Thật ra  bức tranh cũng là một bài thơ (thi trung hữu họa, họa trung hữu thi), bức tranh đẹp là tự nó như có khí lực, đúng như Tạ Hách đời Lục triều của Trung Quốc từng nêu là “khí vật sinh động”, là sự biến hóa của khí thế có sức truyền đạt thành ra như có âm thanh. Đặc biệt trong bố cục thường có nhiều khoảng trống (vide), nó khác hẳn với hội họa tây phương mà giống đông phương. Khoảng trống tự nó cũng có những vai trò vững chắc ngang hàng với màu sắc và đường nét – nó là tâm linh xuất phát từ chủ thuyết Đạo giáo. Cái dữ kiện ưu tiên là khái niệm Khí, cái khí tạo nên sự sống nên gọi là sinh khi. Chính dữ kiện đó làm cho hội họa trở nên sống động, thiếu vắng sinh khí chính là dấu hiệu làm cho hội họa trở nên tồi tệ ngay. Tương quan của khí chính là âm dương, nó là hiện thân của qui luật năng động quản lý cả vạn vật, nó là bóng tối là ánh sáng v…v….
Viết đến đây chắc có bạn đọc  đã cho tôi là quá thiên lệch, quá ca tụng bạn cố tri… Thật tế tôi đã xem tranh Cù Nguyễn với tính cách của người thưởng ngoạn; mà theo nghĩa hiện đại, thưởng ngoạn đúng nghĩa là tham dự hội nhập vào sự sáng tạo, nó chủ động. Hay đúng hơn thưởng ngoạn là tái sáng tạo, người thưởng ngoạn không phải là bất động gói kín trong sự tiếp thụ tác phẩm; mà là dùng sự tự do của mình để tái sáng tạo, thẩm tra sự biểu hiện của tác giả. Đối với loại tranh vô hình tượng (non-figuratif) chỉ có màu sắc, đường nét và  hình trạng (forme) nên thưởng ngoạn được nhiều lợi thế tha hồ mà tưởng tượng mà sáng tạo. Như vậy cái thế giới do nghệ thuật gia sáng tạo tức tác phẩm chỉ mới là tiền đề, chỉ đến khi được tiếp thụ, được thưởng thức mới đạt được sự thể hiện chân chính, mới gọi là hoàn thành. Nói rõ hơn là nghệ thuật gia với người thưởng ngoạn cùng tạo nên sản phẩm nghệ thuật.. Cụ thể hơn chúng ta hãy dùng ngay một vài bức tranh của Cù Nguyễn để làm thí dụ. Như bức Tây Nguyên lễ hội (số 30) được diễn tả như một bông hoa màu cam xòe cánh trên nền xanh đậm (Ờ đây tôi chỉ xin nêu lên đôi  nét chính).Màu xanh đậm là màu của núi rừng Tây nguyên, cũng như màu da cam là màu của đất cát”ba-dzan”, xem tranh TNLH lại nhớ đến câu thơ của Đinh  Như Thúy cũng nói về mùa lễ hội : “nhắm khít mắt, nhắm khín mắt đang mùa cồng chiêng…. Rừng lùi xa huyền bí lùi xa linh thiêng…” Trong cánh hoa màu cam lại có những vòng tròn dở dang như những  “ ẩn ức va đập ẩn ức …”Nhưng  các bạn có thể nghĩ, có thể tưởng tượng khác tùy theo  hoàn cảnh buồn vui hay bận rộn nhàn hạ….
Chúng ta hãy xem đến bức “mắt lưới” (số 13), lưới đây chắc là lưới cá, làm ta liên tưởng đến biển cả hay đến hình ảnh của một cuộc sống ràng buộc chằng chịt như ca mắc vào lưới, tự mình không sao tìm ra lối thoát…. Đường cong của bố cục với những hình trạng uyển chuyển như những con mắt dòm ngó đủ chiều…. Có những vòng tròn linh động… Theo hội họa trung quốc nét bút là sự kết hợp giữa con người và thiên nhiên. Nó là hiện thân của con người trong quá trình thể hiện cử chỉ của sự sáng tạo, nên nó là khí, là âm dương (đậm lợt), là thiên địa, vạn vật, tất cả vừa đảm nhiệm vừa chịu dựng  nhịp điệu và sự xung động ẩn bí của con người. Chúng ta hãy xem thêm một bức nữa là “ Vươn lên – số 38”,theo nhãn quan méo mó của tôi nó là một bức tranh mang tính tổng hợp Đông tây. Nó có đủ những yếu tố cơ bản của sự sáng tạo như đã trình bày ở trên. Đặc biệt có những khoảng trống, vô hình mà như hữu hình khiến ta tưởng đến như một con người đang cất bước, cho nên nó mang ý nghĩa “vươn lên”. Ở đây cái Tâm trú ngụ trong  khoảng trống như tập trung khí để phân phối khắp cơ thể của nội tạng. Vì khoảng trống đó mà Tâm con người trở thành qui luật hay là tấm gương chiếu sáng cho chính nó và thế giới….
Tranh của Cù Nguyễn quá đồ sộ không phải chì vì chất lượng  như tôi đã phác họa ngay đầu bài viết, mà cái đồ sộ đáng kính chính là phần ẩn tàng dấu kín, nó là chân lý là ý tưởng  ở phía sau mỗi bức tranh mà trong giới hạn của một bài viết về cảm nghĩ không thể nào nói hết được. Để kết luận cho bài viết, tôi hãy tạm thời mượn lời của Kandinsky mà nói rằng: “ Nghệ thuật của tranh Cù Nguyễn có khả năng cung cấp cho chúng ta yếu tố để trầm tư và cũng là chỗ để cho tâm hồn nghỉ ngơi.   
 Suýt nửa thì tôi quên, chủ đề của phòng tranh Cù Nguyễn kỳ này là “Hướng tới tương lai”, tương lai đây không phải là bản thân tác giả mà là nhắm vào  tầng lớp thanh niên, cầu mong có người noi theo gương cần cù  của tác giả mà thiết lập được những hệ thống qui luật mới mẻ cho nền hội họa Việt Nam.                                                                                      
                                                                                                                                 Khổng Đức   

Bản do tác giả gởi