Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

CHUYỆN ĐỜI Ý ĐẠO - TÂM TỊNH THÌ CÕI TỊNH

Hạo Nhiên

Có một vị nam cư sĩ mỗi ngày thường hái hoa tươi trong vườn nhà mình
đem đến chùa chí thành dâng cúng Phật. Một hôm, khi đem hoa đến điện
Phật, chợt gặp Thiền sư Vô Đức từ pháp đường đi ra. Thiền sư hoan hỷ
nói:

- Lành thay! Lành thay! Mỗi ngày anh đều đem hương hoa chí thành dâng
cúng Phật, theo kinh nói, thường dùng hương hoa cúng dường, đời sau sẽ
được phước báo thân tướng trang nghiêm!

Cư sĩ nghe nói, vui vẻ đáp:

- Đó là bổn phận con phải làm! Mỗi ngày khi đến chùa lễ Phật thì tâm
con mát mẻ, giống như được tẩy rửa nhưng khi về đến nhà thì lại phiền
muộn. Bà nội trợ thường phiền hà ồn náo như cái chợ, con làm sao giữ
gìn tâm mình cho thanh tịnh thuần khiết?

Thiền sư Vô Đức hỏi:

- Ông thường dùng hoa tươi cúng Phật, hẳn có ít nhiều kiến thức về cắm
hoa, bây giờ tôi hỏi ông, làm cách nào để giữ cho hoa được tươi lâu,
tốt đẹp?

Cư sĩ đáp:

- Muốn giữ gìn hoa được tươi lâu, mỗi ngày phải thay nước, và khi thay
nước nên cắt bỏ một phần dưới cành hoa đi, vì phần cành nằm trong nước
dễ bị thối rữa. Khi cành thối rữa thì khó hấp thu nước, làm cho hoa
mau héo tàn.

Thiền sư Vô Đức nói:

- Giữ gìn cái tâm thanh tịnh thuần khiết cũng giống như thế. Hoàn cảnh
sinh hoạt của chúng ta giống như nước trong bình, còn chúng ta là hoa.
Chỉ có thường xuyên lọc sạch thân tâm, sửa đổi tính tình và luôn luôn
sám hối, sửa đổi khuyết điểm mới có thể tạo nên sự tươi mát, an nhiên.

Nghe xong, cư sĩ hoan hỷ làm lễ cảm tạ:

- Cám ơn thiền sư khai thị cho con! Hy vọng sau này có cơ hội, con sẽ
thân cận thiền sư, ở trong tự viện làm thiền giả, an hưởng chuông sớm
mõ chiều, yên tâm tĩnh trí trong tiếng kệ lời kinh.

Thiền sư Vô Đức nói:

- Đâu cần đợi cơ hội đến ở trong tự viện, ông hít vô thở ra đó là kinh
kệ, mạch đập đó là chuông mõ, thân thể là chùa chiền, hai tai là tỉnh
giác thì ở đâu cũng yên tĩnh.

(Theo Tinh Vân Thiền Thoại)


BÀI HỌC ĐẠO LÝ:

Nước trong bình tự nó không thể trở nên hôi thối nếu không cắm hoa
vào. Hoàn cảnh sống của chúng ta cũng như thế, sẽ không rắc rối, phiền
phức… nếu chẳng có những tâm niệm xấu ác hiện hành. Kinh Phật nói “Tâm
tịnh thì cõi tịnh”. Một khi tâm thanh tịnh thì ở đâu cũng là đạo
tràng, trở thành Tịnh độ. Vì vậy, mấu chốt của việc tu tập là luôn
tịnh hóa thân tâm của mình.

Nhiều người nghĩ rằng, cuộc đời vốn đầy dẫy những nhiễm ô, tệ nạn, cám
dỗ nên khó giữ tâm trong sạch. Họ ước muốn có một hoàn cảnh sống tốt
hơn để có thể tu tập, và hẹn một ngày nào đó, có cơ hội sẽ vô chùa tu
chẳng hạn. Nhưng họ đâu biết rằng, nếu đem tâm niệm bất thiện vào chùa
thì cũng khó giữ được thanh tịnh chốn thiền môn!

Kinh Bát Đại Nhân Giác nói: “Tuy vi tục nhân, bất nhiễm thế lạc”. Đó
là nhân cách của người học Phật. Vẫn sống giữa cuộc đời, phải đối mặt
với cơm ăn áo mặc, bon chen danh lợi, nói chung bị vây quanh bởi tiền
tài, danh vọng, sắc dục… mà người con Phật vẫn nỗ lực để luôn giữ mình
trong sạch, không bị thói đời chi phối, vẩn đục. Để làm được điều này,
trước hết bản thân mỗi chúng ta phải “tự tịnh kỳ ý”, tức làm sạch tâm
ý của mình. Một khi tâm ý đã thanh tịnh thì mình có thể “Nhẫn nhịn đời
nhưng không để cho quyền lực đen tối của đời sai sử. Tùy thuận thế
gian nhưng không bị nhấn chìm trong dòng xoáy dơ bẩn của thế gian”.

Kinh Duy Ma nói: “Chúng sinh là Tịnh độ của Bồ tát”. Chúng ta chưa
phải là Bồ tát nhưng nếu có thể giữ “tâm bình khí hòa”, biết lắng nghe
và chia sẻ trong tinh thần hiểu biết-thương yêu, thì mỗi gia đình của
chúng ta cũng sẽ biến thành một Tịnh độ nho nhỏ.


Từ INTERNET

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

Mỹ học của Maurice Merleau-Ponty



Tiểu luận Khổng Đức
       Merleau-Ponty (1908-1961) là một trong những nhân vật quan trọng của chủ nghĩa tồn tại. Ông xuất thân trong gia đình giai cấp tiểu tư sản, từng học tại Học viện Cao đẳng Sư phạm ở Paris, sau đó là giảng viên triết học của học viện. Ông chịu ảnh hưởng triết học Bergson và Husserl, tự  gọi triết học của ông là “Tri-giác hiện-tượng-học”, từng cng tác với Sartre trong tạp chí “Hiện đại”. Năm 1942, M.Ponty đưa ra tác phẩm đầu tiên là “cơ cấu của hành vi”(La structure du comportement), đến năm 1945 thì hoàn thành luận văn “Tri-giác hiện-tượng-học” (Phenomenologie de la perception). Ngoài ra  ông còn có những tác phẩm: Ý nghĩa và vô ý nghĩa (sens et non sens)-1948; Phù hiệu (signes)-1960; Thị giác và tâm tư (L’oeil et le regard)-1961; Thấy và không thấy được (Le visible et l’invisible)-1963.
Triết học cơ bản của ông là một thứ vô thần học, và điểm chủ yếu trong triết học của ông là khái niệm tri giác. Theo ông thì tri giác là cơ sở phản tỉnh của con người, và cơ sở của tri giác là cơ thể của con  người; ông chống đối  thuyết “tôi tư duy là tôi tồn tại” của Descartes, nhấn mạnh về tính thực tại của tư tưởng tồn tại, và tính quan trọng của tri giác không phải là khái niệm hóa của cách quan sát cùng thế giới nhận thức. Mà cho rằng sự tồn tại trong thế giới tóm lại là ý thức phản tỉnh đối với thế giới. Vì sự tư duy, tất nhiên con người tồn tại, con người ngoài việc bản thân tồn tại, còn có sự tồn tại của bản tính. Sự tồn tại của con người lệ thuộc vào sự tồn tại của tồn tại, tức là con người tồn tại vì cá thể của nó, và cũng là một bộ phận của tồn tại; không có tồn tại tức không có thế giới, nên tồn tại là bản chất. Một trong tính của tồn tại là ẩn tàng, do đó nếu nó phô bày ra thì chắc không sao đạt được. Có thể không phải là quan niệm, cũng không phải sự vật, mà vây quanh nó chỉ là quan niệm, và là độ lượng của các thứ sự vật. Quan niệm cũng không phải là hư vô mà là một thứ đối tượng không thể thấy được. Cơ thể và linh hồn là một đơn vị có thể cảm được hai phương diện của thế giới, và thế giới cũng kể như là mối liên hệ cội nguồn của sự vật. Sự tồn tại chỉ thông qua con người, tự thân nó biểu hiện, và chủ yếu của con người là phải ngoại tại hóa sự tồn tại, cùng lí giải và phô bày sự tồn tại.
                                                                                                                  
Tri giác và bản chất của nghệ thuật.-
Đối với vấn đề mỹ học, Merleau-Ponty rất nồng nhiệt, ông cho rằng triết học cũng là một thứ nghệ thuật, vì nó vẫn thông qua tri giác con người mới biểu hiện được sự tồn tại. Do đó, trong tư tưởng mỹ học, cũng giống như trong tư tưởng triết học, tri giác và tồn tại đều là hạch tâm của khái niệm.
Merleau-Ponty cho rằng đối với việc diễn đạt ý tưởng, khởi đầu là vận dụng tri giác ở cấp thấp nhất, rồi sau đó mới phát triển thành nghệ thuật. Muốn phô bày cái bản thể của thế giới tồn tại thì phải nắm cho được cái áo bí của tồn tại, tức vạch ra được cái hiện tượng mộc mạc của tri giác trực giác. Do đó ông chỉ rõ: “Cái hành động đầu tiên của triết học là phải xâm nhập vào thế giới khách quan đầy sống động, cùng phát hiện cái hiện tượng mới mẻ, đánh thức tri giác theo hướng mới, đồng thời biến tự thân nó thành một thứ sự thực và một thứ tri giác quên đi bộ mặt giả trá. Tri giác là trung tâm của cơ thể, tri giác ở trong cơ thể và là chủ thể của tri giác. Nó là cơ cấu của một thứ sáng tạo tính, tự thân nó liên tục phát triển trong thời gian. Cơ thể là một thứ cơ cấu  đối với thế giới khai phóng cùng liên hệ với thế giới. Nó là điểm chống đỡ và lèo lái của con người trong thế giới. Tri giác là phần kiến trúc quan trọng trong cơ thể, bỏ tri giác tức là bỏ sự tiếp xúc đối với các thứ sự vật, nó là sự tồn tại được nhận thức trước đó. Cứ theo quan điểm của Merlau-Ponty, đối tượng của tri giác với các thứ sự vật không phải là tài liệu cảm tính đơn thuần, mà là xuyên qua đặc trưng cảm tính của chúng bộc lộ ra các thứ ý nghĩa. Thí dụ như đối với tri giác màu đen, chúng ta không phải chỉ biết đó là màu đen khi xuyên qua ánh sáng, mà còn cảm được đó là một thứ ức chế, trầm mặc, hay nghiêm trang. Do đó tri giác là nơi bắt gặp ý nghĩa. Phương thức tồn tại của sự vật là phải thông qua tri giác mới có thể bộc lộ được sự tồn tại. Ông nói :”Tôi dùng cái phương pháp tổng thể của cá thể tồn tại của tôi đạt đến tri giác: tôi nắm được cái cơ cấu độc nhất vô nhị của sự vật, cái phương thức độc nhất vô nhị của tồn tại, chúng hướng về phía tôi mà hiển hiện. Do đó, với Merleau-Ponty tri giác là nắm được thế giới, nắm được một phương thức căn bản của tồn tại. Tri giác có tính sáng tạo, nhưng nó không giống như cái kính lấp lánh phản ánh đối tượng cảm xúc, mà là tính sáng tạo cấp ý nghĩa cho đối tượng. Cùng lúc nó cũng mang tính trực giác, nó là một thứ hoạt động tiền phản tỉnh. Ngoài ra, tri giác cũng tiến hành trong bối cảnh sinh hoạt quá khứ và tương lai của con người. Những đặc trưng cơ bản của tri giác đối với việc hoạch định bản chất của nghệ thuật là  đặc nặng vấn đề ý nghĩa.
Merleau-Ponty cũng xác minh:”Nghệ thuật là phô bày biểu lộ cái chân tướng của sự vật; không kể nó là văn học, âm nhạc hay hội họa cũng thế thôi. Chân tướng của sự vật lại tiềm ẩn trong vật chất hiện thực, chỉ thông qua tri giác mới thể nghiệm được. Sự tối tăm của chân tướng sự vật là để bảo trì trạng thái thần thánh của nó; nghệ thuật phải thông qua phương cách đặc biệt của tự thân mới có thể thấy được đối tượng, và biểu hiện được ý nghĩa có thể thấy được đó. Nhiệm vụ của nhà nghệ thuật là khiến cho sự tồn tại không thể thấy được của đối tượng thành thấy được, bộc lộ cái chân tướng tồn tại, khiến cho cảm giác đối với sự tồn tại và tưởng tượng thành đối tượng có thể lí giải được”.   
Những hình vẽ trên vách đá của hang động xa xưa cũng như họa sư Picasso và các môn phái hội họa hiện nay, nhiệm vụ của họ là khiến cho đối tượng sự vật thành tồn tại và có thể thấy được.
Merleau-Ponty còn tiến thêm một bước nữa là chỉ rõ: mỗi một cá nhân cụ thể, mỗi người có một dạng thức tri giác khác nhau, vì mỗi cá nhân có một cảnh ngộ khách quan, và những điều kiện không giống nhau, do đó  mỗi người tự thân có một thứ tri giác riêng biệt. Khi tri giác một đối tượng, họ thường chú ý đến những bộ phận này mà quên đi hay coi thường các bộ phận khác, sự chú ý hay coi thường mỗi người cũng mỗi khác. Đối với nghệ thuật gia thì đây là điểm họ cấu tạo thành cơ sở cá tính.

Ý nghỉa của tác phẩm nghệ thuật
 Theo ông, toàn bộ triết học đều dốc vào việc sáng tạo trùng tân một lực lượng ý nghĩa chỉ vào sự vật; ngoài ra còn có phương diện ý nghĩa trong mỗi thời kì, đúng như Valery từng nói “ ngôn ngữ là tất cả.” vì nó không phải là thanh âm của một cá nhân mà là sự vật, như thanh âm chân thực của nước chảy, của rừng rậm…”
Nghệ thuật mang tính sáng tạo, trong đó nguyên nhân chủ yếu của nó là tính ngôn ngữ, vậy thì bản thân ngôn ngữ tức là sáng tạo. Ngôn ngữ thủy chung mang tính chất khai phóng, do đó mà luôn luôn biến hóa và là cơ sở kéo dài của sự cách tân. Chính vì ngôn ngữ mang tính sáng tạo, cho nên thi nhân mới dụng ngôn ngữ mà sáng tạo ra thơ gây xúc động lòng người. Cà họa sĩ, cả nhạc sĩ, điêu khắc gia cũng dùng ngôn ngữ nghệ thuật của mình mà sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật lắm sắc thái. Do đó mà Merleau-Ponty mới nói rằng:” Ý nghĩa của ngôn ngữ chia thành các bộ phận, giống như cơ thể xinh đẹp của sự vật, nó thông qua sự tồn tại và liên hệ với tồn tại, mà còn sinh ra khuynh hướng yêu thương, sắc dục hóa cơ thể có một ý nghĩa hấp dẫn khiến tự thân thành một mạng lưới, một năng lực thiên phú, đúng như tri giác tự thân của cơ thể cùng lúc giống như tri giác của thế giới. Mới thấy do ngữ nghĩa tính của tác phẩm nghệ thuật, mà tác phẩm nghệ thuật thông qua tác dụng ngôn ngữ thành có ý nghĩa. Cái ý nghĩa căn bản nhất là trình bày sự tồn tại. Có thể nói cách nhìn của Merleau-Ponty là kế thừa cách nhìn của Heidegger. Theo Heidegger là con người mượn ngôn ngữ để nhận thức công cụ của sự tồn tại, thậm chí còn chủ trương “ngôn ngữ là căn nhà của sự tồn tại”. Và ngôn ngữ của Heidegger không phải là thứ ngôn ngữ miêu tả hay giải thích mà là ngôn ngữ được hình ảnh hóa, ngôn ngữ của thơ. Thông qua thứ ngôn ngữ ấy, chân lý của sự vật và sự tồn tại mới được phô bày ra.
Thế nhưng chỉ dựa vào tính ngữ nghĩa qui định thành ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật; vì tính chất ý nghĩa của ngôn ngữ quá mênh mông, nó bao hàm tất cả đặc trưng hệ thống phù hiệu cơ bản. Tác phẩm nghệ thuật sở dĩ có ý nghĩa, điểm quan trọng là vì nó là sản phẩm của tưởng tượng.Thí dụ như một họa sĩ chẳng hạn, trong khi ông ta vẽ là áp dụng một thứ tưởng tượng, một thứ lí luận không sao nói được. Ông ta không thể không thừa nhận hình hình sắc sắc của sự vật đầy trong nảo phải nạo vét; hay nói như Malherbe, theo cách nói song quan luận, cho rằng tâm khiếu bộc lộ từ đôi mắt đạt đến vẽ tròn đầy của sự vật, tâm không dừng lại khiến cho tự thân thị lực thấu suốt và thích ứng với sự vật. Tửởng tượng thông qua hư cấu biểu hiện khiến công chúng tiếp thu như sự thật cùng với ý nghĩa phong phú rót vào tình cảnh hư cấu, làm cho tác phẩm nghệ thuật có đầy ý nghĩa.  Quá trình sáng tác tác phẩm nghệ thuật là quá trình tưởng tượng của nghệ thuật gia.  Trong quá trình ấy, nghệ thuật gia thông qua dạng thức tri giác tự thân  đặc biệt sáng tác các thứ nhân vật, hình ảnh và hoàn cảnh, từ đó biểu hiện đầy đủ ý nghĩa. Tác phẩm nghệ thuật biểu hiện là mối quan hệ cá nhân nghệ thuật gia với thế giới, trong đó không phải chỉ có tiềm ẩn các thứ sinh hoạt của nghệ thuật gia, mà còn liên hệ đến các thứ sinh hoạt của tha nhân. Chính vì vậy mà theo cách nhìn của Merleau-Ponty, ý nghĩa phong phú của tac phẩm nghệ thuật không bao giờ khô kiệt. Vì nghệ thuật gia và người thưởng ngoạn đều là con người của lịch sử tính.
Mỹ học nghệ thuật của Merleau-Ponty bao hàm đặc trưng cơ bản của mỹ học chủ nghĩa tồn tại; nó là hạch tâm của khái niệm tồn tại, dùng nghệ thuật làm phương cách biểu hiện tồn tại. Nhưng mỹ học nghệ thuật của ông tự nó lại có tính đặc biệt độc đáo. Trước tiên ông đưa ra vai trò chủ thể kinh nghiệm có tác dụng trong nghệ thuật, ông đem tri giác và tưởng tượng  của nghệ thuật gia gia tăng đột xuất, khiến cho tác phẩm nghệ thuật sinh ra yếu tố tâm lý liên hệ với chủ thể. Đó là điều mỹ học hiện đại Tây phương rất chú ý đến việc nghiên cứu cơ bản thẫm mỹ học kinh nghiệm, là một trong những khuynh hướng nghệ thuật mỹ học biểu hiện quan trọng. Từ đó khiến cho nghệ thuật mỹ học mang tính hiện đại mới mẻ. Điểm thứ yếu, nghệ thuật mỹ học của M. Ponty rất coi trọng đặc trưng tính của  ngôn ngữ trong tác phẩm. Trong phương diện này, nghệ thuật mỹ học của ông trong việc biểu hiện cùng với ngôn ngữ mỹ học, giải thích học mỹ học có khuynh hướng tham thấu lẫn nhau. Ngoài ra, ông coi ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật mang tính chất khai phóng, đó là điểm khải phát vô cùng phong phú. Chủ yếu nghệ thuật mỹ học của ông giới hạn trong khái niệm “tri giác” kể như đó là  then chốt, mà chủ yếu bản thân của “tri giác “ là trực giác, nó đi trước tư tưởng phản tỉnh, là cách thức nhận thức thế giới khác thường chứ không phải là khái niệm, hiển nhiên, đó là cách bải bỏ tính logic ra khỏi sự tư duy, coi nghệ thuật như là thứ hoạt động thuần túy trực giác; đó là thứ nghệ thuật mỹ học được bao trùm trong ảnh hưởng của chủ nghĩa thần bí.
  
Thế giới cảm tri – Bản thân cơ thể ở trong thế giới giống như quả tim nằm trong cơ thể: nó liên tục bảo trì cảnh tượng sống động của thị giác có thể tiếp xúc, nó kích thích sự sống nội tại và nuôi dưỡng lấy nó, tự tạo thành hệ thống. Khi tôi đi lại trong phòng của tôi, nếu như tôi không biết đến những đồ vật ở bên ngoài hiện ra ở đây hay ở kia, nếu tôi không ý thức được những cử động của tôi, nếu thông qua những cử động của tôi, tôi không ý thức được tính thống nhất của cơ thể như các thứ ngoại quan cung cấp cho tôi nhìn thấy có thể không phải là vật thể đồng nhất của các khía cạnh. Đương nhiên tôi có thể suy tưởng ở trên nhìn xuống căn phòng, tưởng tượng ra nó hay vẽ bình diện căn phòng ra trên giấy; nhưng cùng lúc nếu không thông qua sự thể nghiệm của cơ thể, tôi không thể nào hiểu được tính thống nhất của vật thể. Vì cái mà tôi gọi là sự vật bình diện chỉ là cảnh tượng toàn cảnh mở rộng; chính là căn phòng nhìn từ trên cao, và nếu tôi có thể tóm tất cả những cảnh tượng của căn phòng, vì tôi biết rõ với cái chủ thể cụ thể hóa đồng nhất, có thể nhìn khắp các khía cạnh khác nhau. Người ta có thể giải đáp rằng, nếu thay thế vật thể trong thể nghiệm cơ thể như một cái cực tận cùng (pole) của sự thể nghiệm, thì chúng ta đoạt mất tính cấu tạo khách quan vật thể. Từ quan điểm của cơ thể chúng ta không bao giờ thấy được trọn vẹn sáu mặt của một hình khối dù nó là thủy tinh; tuy  nhiên từ hình khối có một ý nghĩa, tự thân hình khối, thực tế hình khối, vượt ra ngoài sự hiển hiện của cảm giác, vẫn là sáu mặt bằng nhau. Càng đi xung quanh nó, tôi càng thấy cái mặt chính biến dạng rồi biến mất, và mặt khác tiếp tục xuất hiện thành mặt chính. Như thế thể nghiệm bản thân vận động, chẳng qua chỉ là biết được điều kiện tâm lý, chứ không dùng được vào việc xác định ý nghĩa một vật thể. Vật thể và cơ thể tạo thành một hệ thống, nhưng nó là hệ tương quan khách quan, chứ không phải là một thứ tập hợp ứng đối chủ quan như chúng ta vừa mới nói qua. Vật thể thống nhất tính có thể là tư tưởng (tưởng tượng) chứ không phải là mối liên quan của cơ thể thể nghiệm đến vật thể thống nhất. Nhưng vật thể có thể tách ra khỏi những tình huống thực tế hướng về chúng ta hiển hiện sao? Người ta có thể dùng phương pháp suy luận tập họp tại khái niệm số 6, khái niệm của các khía cạnh và sự đồng đều, kết nối lại trong một công thức thành ra định nghĩa của khối. Nhưng cái định nghĩa ấy đặt thành vấn đề với chúng ta hơn là cung cấp sự kiện đề suy tư. Chỉ có ý thức được cái đặc thù tồn tại của không gian chứ không thoát ra được sự tư duy đui mù và tượng trưng. Vấn đề là trong tư tưởng vẽ ra được một khối sáu cạnh bao hàm một không gian có hình trạng đặc biệt. Nhưng nếu những từ “bao hàm” và “trong” có ý nghĩa với chúng ta, chính vì nó vay mượn ở sự thể nghiệm của chủ thể cụ thể hóa của chúng ta. Trong bản thân không gian nếu không có sự hiện diện của một chủ thể tâm sinh lý, thì không thể có một phương vị định hướng, cũng không có cái gì ở bên trong bên ngoài. Một không gian bị khép kín giũa các cạnh của một khối, giống như chúng ta   nhốt kín giữa những bức tường trong  căn phòng của chúng ta. Để có thể suy tư về về cái khối chúng ta phải chiếm cứ một vị trí trong không gian, có khi là bình diện, có khi ở trong khối hay ở bên ngoài khối, và từ đó chúng ta thấy được viễn cảnh. Một khối có sáu mặt bằng nhau không chỉ không thể thấy, mà còn không suy tư được; chính vì cái khối tự thân nó là khối, nhưng nó lại không tự là nó, mà nó là một vật thể tự tại hay tự tại tuyệt đối, mà không tự suy tư vật thể  là gì, sự phân tích phản tỉnh chỉ muốn chúng ta tách ra khỏi sự độc đoán. Nhưng vẫn có một sự suy tư khác, khẳng định ý nghĩa kế tục của vật thể, mà không đòi hỏi ý nghĩa ấy làm thế nào xâm nhập được vào sự thể nghiệm của chúng ta. Phân tích phản tỉnh dùng sự tư duy tuyệt đối của vật thể thay thế cho sự tồn tại tuyệt đối vật thể, nhìn vật thể từ trên cao, suy tư không dựa trên quan điểm nầy nó tự hủy cơ cấu nội tại: cho nên khi tôi thấy một khối sáu mặt đều nhau, nếu tôi có thể nắm được vật thể, không phải vì tôi từ nội bộ vật thể tạo nên, mà chính vì thông qua sự thể nghiệm tri giác tiến sâu vào thế giới. Cái khối có sáu mặt đều nhau là khái niệm giới hạn, thông qua đó mà nó hiển hiện trước mặt tôi, dưới tay tôi, và cái khối hữu hình đó trình hiện trước thị giác tôi.
Nhưng bề mặt của hình khối không phải là sự phản chiếu, mà chính là những bề mặt khi chúng ta nhìn mặt này đến mặt khác, và căn cứ theo sự hiển hiện viễn cảnh, tôi không cấu tạo khái niệm hình học để lí giải các mặt; nhưng cái khối đã ở trước mặt ta, và các mặt như tự hiển hiện ra. Tôi không cấn phải vận động cái tự ngã của tôi để có cái nhìn khách quan, tôi cũng không cần tính đến sự vận động chính mình để hiểu được hình trạng chân chính của mặt sau vật thể. Sự tính toán đã hoàn thành rồi, sự hiển hiện mới đã cùng với  chủ thể kết hợp rồi và biểu hiện thành một, không phải thông qua một thứ kỷ hà học thiên nhiên nào, mà là sự liên hệ giữa các bộ phận của cơ thể tôi giống như tương tợ tồn tại với nhau.
Sự tri giác ngoại tại và tri giác của cơ thể tự thân là một như nhau, vì nó là hai mặt của cùng một hành động. Từ lâu người ta cố gắng giải thích cái ảo ảnh của Aristote, cho rằng cái vị trí bất bình thường của những ngón tay không thể nào tổng hợp sự tri giác của nó được. Ngón giữa của cánh tay mặt và ngón cái của cánh tay trái không hoạt động bình thường với nhau được; nếu cả hai ngón tay có đụng chạm với nhau, như thế cần phải có hai đoạn (billes). Thực tế sự tri giác của hai ngón tay không phải chỉ cách nhau mà là ngược lại: chủ thể tham dự vào ngón tay cái, điều gi đụng chạm đến ngón giữa và qua lại lẫn nhau, như người ta dùng hai vật khác nhau gây kích thích như cây kim với quả bóng tròn, Thì trước tiên cái ảo ảnh của Aristote rối loạn. Cho nên hai cái tri giác của xúc giác không thể tổng hợp trong một vật thể đồng nhất, không phải vì vị trí ngón tay là bất bình thường hay do sự thống kê ít xảy ra, mà là vì ngón giữa của tay mặt và ngón cái của tay trái không thể giúp nhau trong việc khám phá vật thể; vì sự giao thoa của những ngón tay như là sự bắt buộc, vượt  qua khả năng cơ động của những cử động áp bức, vượt qua khả năng cơ động tự thân của những ngón tay, và không thể nhắm vào mục tiêu cử động. Cho nên sự tổng hợp của vật thể là phải thông qua sự thực hiện tổng hợp của cơ thể tự thân, sự tổng hợp của vật thể cùng với tổng hợp của  bản thân cơ thể là vật giống nhau và có sự liên hệ với nhau. Nói một cách chính xác hơn, là sự cảm tri của một phần ngón tay   giữa hai ngón tay có sự đồng nhất do một khí quan chi phối, Sự rối loạn của đồ hình cơ thể có thể biểu hiện trực tiếp trong thế giới bên ngoài mà không cần đến sự kích thích. Trong căn bệnh ảo giác tự thân (l’heautosope), trước khi bệnh nhân tự nhìn lấy mình, chủ thể đều phải trải qua trạng thái suy tư mộng ảo hay lo âu, và rồi hình ảnh tự ngã hiện ra ở bên ngoài, đó chẳng qua là mặt trái của nhân cách giải thể (depersonnalisation). Bệnh nhân tự cảm thấy như có hai cơ thể ở bên ngoài nó, một giống như ở trong thang máy đi lên, chợt thình lình đứng lại (vì trục trặc kĩ thuật). Tôi cảm thấy cái bản chất của cơ thể tôi như thoát khỏi tôi do cái đầu như vượt qua giới hạn của cơ thể khách thể...Chính trong cơ thể của nó mà bệnh nhân cảm thấy như người khác mà mắt nó chưa hề thấy bao giờ; giống như người bình thường biết được vết cháy ở sau gáy của nó, mà người ở sau nó thấy được. Cùng tương ứng một hình thức thể nghiệm ở bên ngoài bao hàm và dẫn đến tự thân cơ thể ý thức được. Có nhiều bệnh nhân nói rằng họ có cái ảo giác của “giác quan thứ sáu”. Theo sự thí nghiệm của các nhà tâm lí bệnh lí thì trường thị giác khách quan của vật thí nghiệm bị đảo ngược, đầu của vật thể bị chổng ngược xuống đất, phải sau ba ngày vật thể thí nghiệm mới phục hồi trạng thái như cũ. Người bị thí nghiệm cũng bảo họ thấy được ngọn lửa ở phía sau ót. Đó là vì phương vị của môi trường thị giác và là năng lực của ý thức cơ thể tự thân cùng với môi trường thị giác đưa đến sự thể nghiệm đảo ngược, có thể xuyên qua hiện tượng vật thể, hoặc xuyên qua chức năng cảm giác của cơ thể trong sự trùng tân phân phối không có gì khác biệt. Nếu người bị thí nghiệm có thể điều tiêt thị giác nhìn xa hơn, thì nó tự thấy ngón tay của nó hay những vật thể gần nó có hình ảnh lớn gấp đôi, Nếu người ta đụng đến nó hay chích cái gì vào cơ thể thì nó có cảm giác đụng chạm hay đau gấp đôi. Do đó cái ảo giác nhìn một vật thể thành hai. Tất cả tri giác trực tiếp bộ phận ở bên ngoài là một thứ tri giác của cơ thể ta giống như một thứ tri giác ở bên ngoài mà ngôn ngữ có thể giải thích. Như bây giờ chúng ta thấy đó, cơ thể không phải là vật thể thông suốt, không phải giống như qui luật cấu tạo thành hình tròn toán học nó cung cấp cho chúng ta; mà cơ thể chỉ là sự biểu hiện đồng nhất tính trực tiếp mà chúng tiếp nhận được là cơ cấu tự câu thông với thế giới cảm tính. Lý thuyết của đồ hình cơ thể là ẩn tàng lý thuyết của tri giác. Chúng ta phải tìm hiểu lại sự cảm tri của cơ thể chúng ta, chúng ta đã phát hiện được một thứ tri thức khách quan và cách xa liên quan đến cơ thể, và cái tri thức của cơ thể, vì cơ thể là sát thân với chúng ta và chúng ta là cơ thể. Cần phải vận dụng các phương pháp đánh thức sự thể nghiệm thế giới, vì thông qua cái cơ thể của chúng ta, mà chúng ta thành tồn tại trên thế giới, vì chúng ta cảm tri được thế giới qua cơ thể của chúng ta. Nhưng trong khi cơ thể chúng ta tiếp xúc và liên hệ với thế giới, cũng là lúc chúng ta phát hiện được chính bản thân chúng ta. Vì nếu chúng ta nhận thức được cơ thể chúng ta là cái ngã của thiên nhiên và là chủ thể của tri giác. ( Le corps est un moi materiel et comme le sujet de la perception.)
                                                                                    Khổng Đức (7-2012)

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Café Chiêu sáng chủ nhật - Thơ Chiêu Anh Nguyễn


Cùng nhà thơ Chiêu Anh Nguyễn - Hạ Đình Thao

CHIÊU ANH NGUYỄN 
Bất thưng

Giật mình vài lần giữa đêm
giấc ngủ không đầy 
là cánh tay 
bờ vai
ấm  
nửa khuya
 
Giấc ngủ quen  mùi chăn gối ẩm
co ro nghe lũ chim làm tình  líu ríu
váng cả góc vườn
 
những buổi đêm ôm chiếc iphone
viết linh tinh giữa lơ mơ 
quên mất mình 
mụ nạ dòng bước qua tuổi ba lăm 
trống rỗng 
có cơn mơ len vào nửa con mắt khép
giật mình 
như bước cả hai chân xuống vực
cơn lạnh đến tận sống lưng
có khi mở choàng mắt
đã thấy nhòa nước 
cảm giác bỏ rơi
 lạc lõng
ngồi lên cười rất nhạt !
 
nhiêu đó thôi 
đã nửa đoạn đời 
 
có giấc ngủ nào bất thường 
đêm hôm 
chạm
vào em 
ấm nóng
thả bềnh bồng 
thực hư 
 

Tình chưa cũ bởi vì tình chưa mới (*)

Ôm trên đôi bàn tay
một bó hồng nhung rực rỡ
phía ban mai là màu đỏ
mặt trời đang vươn vai
thả những cái ngáp dài
em nhìn vế phía đường chim bay vào lúc năm giờ ba mươi sáng
lung linh những tia hồng ..cam ...bàng bạc
đẹp đến cháy lòng
năm giờ sáng ..em chạy xe ra phố
con phố yên bình hơn
trời chớm đông thả những nụ môi hôn
lành lạnh nơi tóc mai phơ phất
cơn gió phả, ngịch ngầm sau gáy
em rùng mình ..khép chiếc áo khoác mỏng tang
giờ này ..anh chắc ngủ ngoan
trên chiếc ghế sofa nhỏ nhắn ..
đã có lần em nằm trên ấy ..chỉ một lần
em nhìn thấy ..cuộc đời anh ...
em nhìn thấy một thiên đường ..một giấc mơ ..
một nơi không bao giờ có em hiện hữu ...
*
Em chỉ  có thể hiện hữu nơi đây ..có vầng dương ló lên sau một đêm dài trằn trọc
những buổi ban mai nhìn trời mà như muốn khóc
vẫn ôm cả ngàn bông hoa ..mỗi ngày ..mỗi ngày
nhìn về nơi mặt trời rực cháy
rồi tàn theo kim đồng hồ ..chỉ sáu giờ sáng
trở về vị trí tầm thường ...chán ngán
làm  công việc thượng đế đã an bài
soi rõ một buổi ban mai
có một người ngẩn ngơ mà tìm về những gì mình không thể có
với hàng hiên gạch đỏ ..mái ngói nâu ...
từng chồng sách cao ngất nghểu ngang đầu ..chui cả vào gầm tủ
..em sẽ để giấc mơ em dừng lại
và không bao giờ cũ ..vì nó chưa bắt đầu ...

(*)thơ Nguyên sa


Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Thơ Trần Hoài Thư

HUẾ, SƯƠNG MÙ

http://trenews.net/MediaResources/Pictures/tai_lieu_van_hoc/web_tlvn_742.jpg
 
Buổi sáng ra đường nhìn không rõ
Pha đèn. Xe chậm. Trời mù sương
Xe ta mở sưởi, sao hồn lạnh
Mắt ta mờ, có phải cố hương ?

Xe chạy đi, mà tâm trí đâu
Hình như ta thấy Huế sương mù
Hình như có một dòng sông sữa
Thấp thoáng Hương Giang giữa xứ người

Xe lên. Cầu dẫn lên cao mãi
Đóng cửa sao lòng lại lãng du
Dưới ấy, sương đùn che mấy cửa
Ơi Trường Tiền 12 nhịp bơ vơ

Ở đây trời đất đang mê ngủ
Nơi ấy em còn lược với gương
Em ạ, ta thằng không tổ quốc
May mà còn một Huế mù sương.


TRẦN HOÀI THƯ

Trích lại từ : http://hoangloc.vnweblogs.com/

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Gặp Bùi Giáng trong cơn “điên”


Thi sĩ Bùi Giáng - tranh của hoạ sĩ Đinh Cường

Kỷ niệm ngày mất nhà thơ Bùi Giáng 07.10.1998 - 2012

Gặp Bùi Giáng trong cơn “điên”

THÀNH NAM

Có những con người rất thành danh nhưng lúc sống bị xã hội rẻ rúng hoặc không rạng ngời bằng khi đã mất, lần dở lại những trang lòng khó hiểu mà thu hút của Bùi Giáng ta cũng nhận ra giá trị sâu thẳm đó ở ông. Bùi Giáng một nhà thơ lớn mang tâm hồn trong sáng muôn thu…

Tôi biết tên Bùi Giáng trước năm 1975 qua sách báo lúc đó ông ở Sài Gòn làm thơ viết văn. Thời đó tôi đang còn là một thiếu niên ham thích thơ văn nhưng chưa có trình độ am hiểu cõi lòng sâu thẳm Bùi Giáng bàn bạc trên các sạp báo hay trong các nhà sách. Thơ Bùi Giáng mang triết lý siêu nhiên, khó hiểu nên ngày trước không hấp dẫn lắm với tôi so với những nhà thơ đa tình lãng mạn khác có chất đau khổ, sầu muộn, rực lửa con tim…
Năm 1977, lên Tp Hồ Chí Minh tình cờ tôi gặp một ông lão “điên” mang mùng, mền, chiếu, gối… quì lạy bất tận trước cửa một tiệm sách (tôi không còn nhớ con đường nào). Thấy lạ tôi nhìn ông. Lúc đó ít ai chú ý đến thái độ của một người điên bên đường chỉ có tôi và một đứa bé trai độ mười tuổi đứng lại nhìn. Đứa bé tỏ ra thân thiện với tôi như những kẻ quen nhau từ kiếp nào, không cần tôi hỏi nó nói: “Ông Bùi Giáng đó, viết sách nhiều lắm, bị người ta đốt hết nên khùng!”. Tôi hỏi: “Ông Bùi Giáng sao?”. Ông ngưng không lạy nữa, quay lên nhìn tôi với ánh mắt rất sắc. Chỉ một chốc thôi rồi ông tiếp tục lạy, tôi có cảm giác ông giả điên ngay từ hôm gặp đó nhưng những năm tháng ấy cuộc sống mọi người còn nhiều khó khăn phải biết lo toan và nỗ lực đóng góp tâm sức cho xã hội mưu cầu đất nước phát triển về kinh tế nên đầu óc mọi người ít chú trọng đến văn chương cũng như các nhân vật có tiếng trong nền văn học nước nhà. Tôi bỏ đi song suy nghĩ số kiếp “nhà thơ điên” phải về đâu khi cuộc đời ông còn nhiều duyên nợ với thơ văn, với trần ai khổ lụy?
Năm 1998, đọc một số báo thấy người ta viết về Bùi Giáng, phần lớn ca ngợi ông là một nhà thơ “kỳ vĩ xuất chúng” lúc ông vừa qua đời. Tôi trở nên chú tâm đến ông hơn nên say mê đọc các tài liệu ấy. Có một tác giả trên báo Tuổi Trẻ nói đến mối liên quan giữa nhà thơ với một nữ kịch sĩ lừng danh trên đất Sài thành trước và sau giải phóng suốt mấy chục năm, tác giả cho biết: mỗi ngày nhà thơ Bùi Giáng đi ngang nhà nữ nghệ sĩ tài hoa ấy quăng vào cửa sổ một bài thơ tình tự viết, khi ông qua đời bà ấy gom lại rất nhiều! Và thời gian Bùi Giáng “điên”, mỗi lần nằm giữa đường gây ách tắc giao thông bị công an bắt phạt ông đều nhờ người gọi bà ấy đến lãnh và cứ lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy! Cho đến ngày gần đất xa trời, Bùi Giáng mới thú thật với nữ nghệ sĩ là ông chỉ giả vờ chớ không điên thật!
Đưa tiễn “nhà thơ điên xuất chúng” đến nơi an nghỉ cuối cùng, “người yêu trong mộng” của Bùi Giáng đọc một bài cảm tưởng có đoạn: “Kính thưa anh Bùi Giáng, dù nghèo hay giàu, dù già hay trẻ, dù điên hay tỉnh… chúng ta ai cũng có quyền ôm ấp vào lòng một tình yêu để sống!...”. Câu cảm tưởng của bà cũng mang đậm triết lý sống sâu sắc đồng cảm như Bùi Giáng khi nhìn về thân phận con người, về kiếp sống trầm luân vui buồn sướng khổ bằng một nghĩa cử sẻ chia, san bằng tầng nấc giữa giai cấp và số phận…
Sau mười bốn năm Bùi Giáng vĩnh viễn ra đi, bây giờ người ta nhắc nhiều và tha thiết với thơ ông. Bùi Giáng hấp thụ triết lý thanh cao tuyệt diệu của Phật giáo, ông viết trong nguồn cảm hứng siêu thoát. Dù đương đầu với bao nghịch cảnh chua chát đắng cay thế nào tâm tư nhà thơ vẫn lạc quan lắm lúc tới mức bỡn cợt đùa nghịch với nhân gian, xem biển khổ không là miên viễn, trần ai là một trận địa vui, xong đường ai nấy về!
Một vài đoạn thơ Bùi Giáng dễ làm tôi nhớ nhất như:

“Em về mấy thế kỷ sau.
“Nhìn trăng còn thấy nguyên màu ấy không?...
***
“Hãy mang tôi tới bất ngờ,
“Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên…
***
“Ông vua kỳ vĩ thập thành,
“Vi vu quá độ nên thành ra điên…
***
“Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu,
“Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa…
“Hỏi người quê ở nơi đâu?
“Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà!”
***
“Anh thương em như thương một bà trời
“Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ!
***
“Tuổi thơ em có buồn nhiều
“Thì xin cứ để bóng chiều đi qua!
***
“Còn hai con mắt khóc người một con”
***
“Trước khi về chín suối
“Em xin gởi đá vàng
“Của trăm năm buồn tủi
“Về trở lại nhân gian…
***
Có những con người rất thành danh nhưng lúc sống bị xã hội rẻ rúng hoặc không rạng ngời bằng khi đã mất, lần dở lại những trang lòng khó hiểu mà thu hút của Bùi Giáng ta cũng nhận ra giá trị sâu thẳm đó ở ông.
Bùi Giáng một nhà thơ lớn mang tâm hồn trong sáng muôn thu mà có một lần tôi may mắn gặp nhưng lại lạnh lùng đi lướt qua ông.

 http://nhavantphcm.com.vn