Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

Mời tham dự buổi sinh hoạt văn nghệ giới thiệu Quán Văn số 14




Mi các bn đến tham d
buổi sinh hoạt văn nghệ
giới thiệu tập san văn học

QUÁN VĂN SỐ 14

Chủ đề:
ĐINH CƯỜNG,
THI SĨ CỦA HOÀI NIỆM

Thời gian:
9 giờ sáng Chủ Nhật, 21.4.2013

Địa điểm:
Chiêu  Cà phê – Sách
169A Ba Vân
Phường 14 Quận Tân Bình

Rất hân hạnh được đón tiếp các bạn.

Nguyên Minh
& nhóm chủ biên Quán Văn








Quán Văn số 14 được thực hiện công phu
với các bài viết, truyện, thơ của:

Huỳnh Hữu Ủy   Đỗ Long Vân   Bùi Giáng   Hoài Khanh  
Trịnh Công Sơn   Doãn Quốc Sỹ   Đặng Tiến   Đinh Cường  
Đặng Kim Côn   Tuyết Linh   Lữ Quỳnh   Luân Hoán  
Nguyên Minh   Phạm Cao Hoàng   Trần Hoài Thư 
 
( Phần chủ đề )

Huỳnh Như Phương   Nguyễn Thị Khánh Minh   Huyền Chiêu
Nguyễn Ngọc Thơ   Thu Phong   Từ Sâm   Nguyễn Hữu Duyên
Trương Văn Dân   Elena Pucillo Trương   Vũ Anh Tuấn   Vĩnh Sinh
Ban Mai   Đỗ Lai Thúy   Nguyễn Khắc Thạch  
Đoàn Văn Khánh   Nguyễn Minh Nữu   Ngô Đình Hải   Triều Hạnh
Nguyễn Dương Quang   Nguyễn Huy Thiện   Trần Căng   Mai Khoa
Chiêu Anh Nguyễn   Nguyễn Thị Thanh Long   Nguyễn Phước
Nguyễn Thị Hồng Vân   Minh Lương   Nguyên Thanh   Đinh Xuân Hảo
Vũ Trọng Quang   Trần Dzạ Lữ   Từ Hoài Tấn   Hạc Thành Hoa
Chu Trầm Nguyên Minh   Nguyễn Sông Ba
( Phần thường xuyên )
 




Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

Thông tin thêm về thi sĩ Hoài Khanh

Nhà thơ Phương Tấn vừa chuyển thêm một số thông tin do bạn Uyên Hà gời:

Hoài Khanh, Võ Văn Quế, vẫn hằng năm làm một vài chuyến rong chơi ra miền Trung (Thân phụ anh gốc Quảng Nam). Năm nay ông về Hội An, ở nhà người bạn là Bs Huỳnh Kim Hơn(0906444099). Ngày 8/4 anh cùng Bs Hơn đến Đà Nẵng thăm vài bạn thơ. Tôi đã đưa hai người về lại Hội An ngày 9/4.  Anh bị lên huyết áp đột ngột ngay tại nhà Bs Hơn.  Anh Hơn đã cấp cứu tại nhà rồi đưa ngay ra BV Hoàn Mỹ Đà Nẵng. Trong đêm 10/4, BV đã chụp não và cho biết não chưa bị tổn thương.  Trong đêm đó, con trai của anh đã từ Biên Hòa bay ra.  Hiện anh vẫn còn nằm trong phòng cấp cứu, tỉnh táo, nhận biết mọi người đến thăm nhưng lưởi hơi cứng nên nói không được rõ. Tay trái và chân trái vận động khó khăn.  Bs BV Hoàn Mỹ cho biết anh có thể phải được chữa trị một vài tuần trước khi chuyển anh về Hoàn Mỹ Sài gòn.  Không ai được ở chăm sóc anh trong phòng lúc này.  Khách thăm viếng chỉ được cho ở bên cạnh anh từng người một trong giờ thăm.  Con trai anh, Võ Nguyên Lâm (0949980888) hiện phải thuê phòng trọ ngay bên ngoài BV để theo dõi bệnh tình của cha. 

Uyên Hà

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

Thông báo khẩn: nhà thơ Hoài Khanh bị tai biến

Chiều nay vừa nhận được tin nhắn từ bạn thơ Uyên Hà Đà Nẵng thông báo :
Nhà thơ Hoài Khanh bị tai biến hiện nằm tại Bệnh Viện Hoàn Mỹ đường Nguyễn Văn Linh TP Đà Nẵng.
Bạn văn, thân hữu quan tâm có thể đến thăm hỏi.
Hoặc liên hệ với Uyên Hà - 0909908021 nếu muốn biết thêm thông tin.

Cầu chúc nhà thơ sớm qua khỏi

Vài dòng tiểu sử:


Hoài Khanh tên thật Võ Văn Quế . Sinh năm1934 tại phường Đức Nghĩa, Phan Thiết, Bình Thuận. Hiện trú tại phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, Đồng Nai. Trước 1975 làm báo, có thời gian phụ trách tòa soạn tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ và trông coi nhà xuất bản Ca Dao tại Sài Gòn .
Sau 1975 lui về cuốc đất trồng khoai ở Biên Hòa cho tới nay.

Đã in :
- Dâng Rừng (thơ, 1957)
- Thân Phận (thơ, 1962)
- Lục Bát (thơ, 1968)
- Gió Bấc, Trẻ Nhỏ Đoá Hồng và Dế (thơ, 1970)
- Trí Nhớ  Hoang Vu và Khói (tập truyện, 1970)
- Hương Sắc Mong Manh (thơ, nxb Thư Ấn Quán, Hoa Kỳ, 2006)
- Buông Xả Thanh Thản, Đối Thoại Triết học (dịch Martin Heidegger, nxb Văn hoá, 2007)

Sẽ in :

- Phương Trời Lưu Viễn (thơ)
- Lang Thang Vào Thế Giới Nghệ Thuật (tập 1 )
- Lang Thang Vào Thế Giới Âm Nhạc Cổ Điển (tập1)
                                  
Ngồi lại bên cầu

Người em gái trở về đây một bận
Con đường câm bỗng sáng ánh diệu kỳ
Tôi lẩn trốn vì thấy mình không thể
Mây của trời rồi gió sẽ mang đi

Em – thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
Mầu cô đơn trên suối tóc la đà
Còn gì nữa với mây trời đang trắng
Đã vô tình trôi mãi bến sông xa

Thôi nước mắt đã ghi đời trên đá
Và cô đơn đã ghi dấu trên tay
Chân đã bước trên lối về hoang vắng
Còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy

Quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
Giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
Ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
Con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu

(trích từ tập thơ Thân Phận )


Tham khảo thêm tại :
 http://www.art2all.net/tho/hoaikhanh/trang_hoaikhanh.htm

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

Giáo lý Phật giáo chạm đến mọi vấn đề của đời sống

Nhà văn Hồ Anh Thái

Như Phật dạy thì bàn tay ta không thể nắm nhiều hơn một nắm lá. Biết đủ thì đủ, đời sống một con người cũng chẳng cần nhiều. Tham vọng và hiếu thắng chỉ đưa người ta sa vào chỗ rườm rà vướng bận một cách không cần thiết.
Nhà văn Hồ Anh Thái:  Giáo lý Phật giáo chạm đến mọi vấn đề của đời sống
Nhà văn Hồ Anh Thái

Thuộc thế hệ nhà văn hậu chiến, khởi lên tên tuổi từ sau năm 1975, khi xuất hiện trên văn đàn như một hiện tượng, Hồ Anh Thái đem đến một giọng văn trẻ trung, tươi mới, như thể anh chỉ việc lẩy ra từ đời sống thanh niên, sinh viên của mình những trò đùa, những cuộc phiêu lưu, những khát khao khám phá đời sống...

Đầu những năm 1990, sau một thời gian nghiên cứu tại Ấn Độ, Hồ Anh Thái xuất hiện trở lại trên văn đàn với những chùm truyện ngắn độc đáo, hài hước mà thâm trầm: Người đứng một chân,Người ẤnTiếng thở dài qua rừng kim tướcCuộc đổi chác...

Từ đó một nguồn đề tài mới được khai thông với một văn phong khác lạ. Mới đây nhất, sau những tác phẩm được tìm đọc và gây tranh luận như Cõi người rung chuông tận thếTự sự 265 ngàyBốn lối vào nhà cườiMười lẻ một đêm... Hồ Anh Thái trở lại với đề tài Ấn Độ bằng tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi.
Một nhà văn đã lựa chọn đề tài Ấn Độ tất sẽ nung nấu ý tưởng phục dựng hình ảnh bậc vĩ nhân và thời đại của Người. Cuốn sách đã được Công ty Văn hóa Phương Nam phát hành với số lượng lớn và gây được dư luận. Cuộc trò chuyện với nhà văn Hồ Anh Thái cũng bắt đầu từ đề tài Ấn Độ.

Viết về Đức Phật - cái gánh tự đặt lên vai

- Trước khi anh bắt đầu viết về Ấn Độ, nhiều người yêu mến tác phẩm của anh vẫn còn nhớ đề tài quen thuộc của anh là lớp thanh niên, sinh viên sau chiến tranh, ngang ngổ, bướng bỉnh, không chịu theo khuôn phép... Giọng văn thì khác hẳn các bậc đàn anh lúc ấy vừa đi ra khỏi chiến tranh: hồn nhiên, tinh nghịch, như lẩy ra từ đời sống hàng ngày. Đang được chú ý thế, vì sao bỗng nhiên anh đổi sang đề tài Ấn Độ?

- Có lẽ là do nhân duyên. Tôi được đào tạo cơ bản về ngoại giao, làm ngoại giao, rồi đi bộ đội nghĩa vụ. Rời quân ngũ trở về với ngành ngoại giao, tôi đã chọn Ấn Độ chứ không phải là những khu vực khác. Lúc ấy chưa biết gì mấy về Ấn Độ, nhưng mà dứt khoát chọn. Bây giờ sau khi đã đi, đã sống qua nhiều xứ sở mới biết mình đã lựa chọn được điều phù hợp với bản thân. Tôi muốn đem về được cho xứ sở mình chút ít từ nền văn minh Ấn Độ vốn gần gũi nhưng đứt đoạn đã lâu.

- Anh có nghĩ rằng do sự đứt đoạn ấy mà người đọc hôm nay sẽ khó tiếp nhận văn hóa Ấn Độ hơn, chẳng hạn khó hơn việc tiếp nhận văn hóa Trung Hoa?
- Nói chuyện văn hóa Trung Hoa, tôi phục lăn những người có thể kể vanh vách những điển tích Trung Quốc. Tôi thì có đọc hết Tam Quốc, Đông Chu Liệt Quốc, Sử ký... nhưng ít có gì vào được mình, nếu như không nói nó bị đẩy hết ra, nhầm lẫn lung tung các nhân vật, sự kiện... Ấy thế, nhưng Ấn Độ thì rất vào, rất ngấm. Những gì mà người Việt ta cho là rắc rối, bí ẩn đều được nhẹ nhàng thâm nhập và thẩm thấu. Có lẽ là do cái tạng? Hay là tiền định?

Trở lại với việc người Việt khó tiếp nhận văn hóa Ấn Độ thì tôi đồng ý với anh. Cho dù về địa lý, ta ở trên bán đảo Trung - Ấn, vừa Trung vừa Ấn, thì ảnh hưởng Ấn Độ hầu như còn rất mong manh. Kết quả là người xứ ta dường như dễ tiếp nhận văn hóa và tư tưởng Trung Hoa hơn là Ấn Độ. Bây giờ dân ta xem phim Trung Quốc, đọc sách Trung Quốc vẫn thấy gần gũi hơn, dễ vào hơn.

- Phật giáo được các nhà sư Ấn Độ đi theo các thuyền buôn truyền trực tiếp vào nước ta, có thể coi là sớm nhất ở vùng Đông Á, trước cả hai trung tâm Phật giáo Trung Hoa. Nhưng rồi sau đó là nghìn năm Bắc thuộc. Phật giáo nguyên gốc được truyền vào Việt Nam hầu như khó có thành tựu so với nguồn Phật giáo truyền gián tiếp qua Trung Hoa. 
- Lần đầu tiên tôi đến Trung Quốc, có cảm giác khá là gần gũi. Còn đến với Ấn Độ thì sao? Hăm hở lao vào mà tìm hiểu, mà học hỏi. Đúng là như lao xuống biển mà bơi. Càng bơi càng không thấy bờ. Mấy năm đầu lao vào hòa nhập, rồi một ngày bỗng hoảng lên. Ấn Độ cho ta cảm tưởng, càng tìm hiểu lại càng không hiểu gì cả. Người làm báo chỉ cần đến một đất nước dăm bảy ngày, trở về kết hợp tài liệu có thể viết một bài dày dặn. Còn tôi, ở Ấn Độ đến năm thứ tư mới dám viết truyện ngắn đầu tiên. Đó là truyện Người đứng một chân, rồi Người Ấn, khi tôi muốn lý giải tính cách Ấn Độ.

- Dạo ấy anh đã viết về Đức Phật, trong một tác phẩm ngắn, Chuyện cuộc đời Đức Phật, giống như đọc kinh Phật rồi kể lại chuyện đời Phật theo lối kể của một nhà văn. Bây giờ đọc lại truyện kể này, thấy dường như đó là đề cương cho mảng chuyện về cuộc đời Đức Phật trong cuốn tiểu thuyết mới của anh vậy.
- Đất nước Ấn Độ bao la đến mức người ta gọi đó là một tiểu lục địa. Sáu năm liền, tôi ba lô trên vai, ngang dọc khắp các miền địa lý, các miền văn hóa. Thích thì đi. Lúc ấy chưa nghĩ là mình sẽ chọn cái gì mà viết. Nhưng rồi ngấm dần. Và nghĩ rằng mình may mắn, mình có được cơ duyên. Trước tôi chưa có, sau tôi thì khó có nhà văn chuyên nghiệp nào ở ta có được cơ hội đắm mình trong cái đại dương văn hóa Ấn Độ đến mức ấy. Vậy là tôi tự đặt cái gánh ấy lên vai mình, phải viết, viết về Ấn Độ, viết về Đức Phật.
Tôi vừa nói đến cái duyên. Trong những chuyến tìm kiếm, khám phá nhiều địa danh của Phật giáo, tôi đã tìm đến Việt Nam Phật Quốc Tự ở Boddhgaya, nơi có cây bồ đề giác ngộ. Khi ấy chùa chưa xây xong, mọi thứ còn ngổn ngang, gặp thầy Huyền Diệu còn tưởng là người Nhật, mấy câu trao đổi đầu tiên phải nói bằng tiếng Anh. Đến bây giờ thầy Huyền Diệu vẫn nhắc chuyện, nếu không có tôi “phát hiện” và viết bài trên báo Giác ngộ, báo Văn Nghệ, khiến Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước tìm đến chùa sau đó, thì Việt Nam Phật Quốc Tự vẫn còn lặng lẽ cho đến bây giờ, đúng như tâm niệm của thầy. 

Tôi xin kể một chuyện khác: có Phật tử Việt Kiều ở Mỹ, một đời ao ước được đến viếng thăm cây bồ đề của Phật. Ông theo đoàn đi chiêm bái, nhưng vừa xuống sân bay Calcutta, ông đã phải vào bệnh viện cấp cứu. Đoàn đi thăm đất Phật mười ngày, đến khi quay lại Calcutta cũng vừa lúc ông nọ khỏi bệnh như không, lại thoăn thoắt cùng mọi người lên máy bay trở về Mỹ. Tức là có đi mà không có đến.
Có người đi cùng tôi trong một chuyến viếng thăm thánh địa này. Vào chính điện, như mọi người, anh giơ máy ảnh chụp tượng Đức Phật ở tư thế Người nhìn về hướng đông. Xong xuôi, khi anh về, tráng phim in ảnh, những tấm ảnh đều đẹp, riêng bức ảnh chụp tượng Phật thì hỏng, trắng lóa... Chuyện chỉ có thế, coi là ngẫu nhiên cũng được, mà coi là vô duyên cũng được. 

- Như vậy thì có thể coi là anh gặp nhân duyên. Anh đã viếng thăm hầu hết các thánh địa Phật giáo trên đất Ấn Độ mà không một lần bị lỡ dịp vì lý do này khác, đã chụp nhiều ảnh lưu giữ mà không cái nào bị trắng lóa. Rồi tác phẩm của anh viết về Ấn Độ được độc giả đón nhận, được dịch in ở Mỹ, ở Pháp (cuốn Behind the Red Mist và Aventures en Inde). Và bây giờ tôi có nghe nói Đức Phật, nàng Savitri và tôi cũng mới được một nhà xuất bản Mỹ đặt vấn đề dịch ra tiếng Anh.

- Đúng là có chuyện ấy. Nhưng khi bàn đến việc chọn người dịch thì hơi khó khăn. Chọn được dịch giả người Mỹ biết tiếng Việt thì ông này không có kiến thức về văn hóa Ấn Độ, bó tay luôn. Như ta vừa nói với nhau, đến cả người Việt còn khó tiếp xúc văn hóa Ấn Độ nữa là. Cuối cùng, tôi đành phải đứng ra nhận, tự mà dịch lấy cùng với một ông bạn nhà văn người Mỹ. Công việc này sẽ lấy mất của tôi một năm trời. Đành vậy, tôi cũng muốn độc giả Âu Mỹ đọc cuốn sách này.

Giáo lý Phật giáo chạm đến mọi điều của đời sống

- Anh có nghĩ rằng nhân vật Đức Phật của anh khó trùng hợp với hình ảnh Đức Phật của những người khác?
- Nhân vật của tôi vừa giống vừa khác. Giống vì chúng ta đều có một mẫu số chung khi tiếp nhận kiến thức về Người. Khác vì tôi có thể tiếp xúc với nguồn tài liệu không giống bạn, trí tưởng tượng của tôi khác, tư tưởng khác và quan niệm thẩm mỹ... cũng khác.
Sáu năm trời trên đất Ấn Độ cho tôi cái may mắn lục tìm tài liệu, có những tài liệu cổ và quý hiếm. Mười mấy năm sau đó, tôi tham khảo được những tài liệu của các học giả nước Anh, nước Đức là những xứ mà ngành Ấn Độ học có thành tựu. Dần dần, tôi hình dung ra nhân vật Đức Phật của riêng mình và đã tái hiện trung thành với mình trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi.

- Anh có cho rằng nhà văn phải tạo ra cơ hội bình đẳng cho độc giả, cả người chưa sẵn sàng chuẩn bị cho cuộc tiếp xúc với văn hóa Ấn? Nói như vậy bởi vì có kiểu độc giả cầm cuốn sách lên là nhăm nhăm tìm một điều định sẵn, kết quả là tìm mà không thấy, vì thế cũng đánh mất cơ hội thấy được những điều khác.
- Tôi tin rằng mỗi người khi đọc Đức Phật, nàng Savitri và tôi sẽ có một văn bản của riêng mình, khác với văn bản của chính tác giả, khác văn bản của những độc giả khác. Đó là một đặc điểm của việc tiếp nhận văn chương nghệ thuật.

- Xin bàn đến một khía cạnh tương đối "nhạy cảm". Nhìn chung giới trí thức Phật giáo tiếp nhận cuốn tiểu thuyết này một cách bình thản và ghi nhận một thành tựu văn học ở một đề tài khó. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng giá mà tác giả lược bớt yếu tố sắc dục thì đây sẽ là cuốn sách của mọi nhà.
- Tôi không chối bỏ mong muốn tiểu thuyết này trở thành cuốn sách của mọi nhà, của mọi thế hệ trong các gia đình. Tôi tin rằng khi nào trong đời sống tâm linh Việt còn yếu tố Phật giáo, khi ấy còn có người đọc cuốn sách này. Vua Pasenadi lần đầu tiên diện kiến Phật cũng chấp vào bề ngoài non trẻ của Người mà không tin rằng đó là một bậc thầy lớn.
Ta là Phật tử, ta chấp vào cái áo đơn sơ của nhà sư thì không thấy được trí tuệ trong đầu của bậc thầy. Cầm cuốn sách lên, mới nghe nói rằng nó có sắc dục mà chối bỏ nó thì cũng là chấp nê, không đúng với tinh thần Phật giáo vậy.

- Quả là trong tiểu thuyết có chạm đến sắc dục. Nhưng tôi thấy ở đây tác giả chủ ý không miêu tả cảm giác mà suy tư về sắc dục. Khó hình dung được khi viết về Ấn Độ mà nhà văn lại lảng tránh sắc dục, tác phẩm khi ấy sẽ chỉ là một phiên bản xơ cứng bất thành Ấn Độ. Xứ sở của Kama Sutra (Dục lạc kinh), khắp nơi đền chùa chạm khắc hình trai gái giao hoan, có lẽ phải là một nơi nghệ thuật dục lạc phát triển đến đỉnh như vậy mới là điểm xuất phát triết lý Trung Đạo của Phật, triết lý dục lạc dẫn đến khổ đau... Và cuộc đời đắm chìm trong dục lạc của Yasa, đặc biệt là Savitri, là một minh chứng sinh động cho chân lý của Phật.
- Tôi vẫn nghĩ tính bao trùm của giáo lý Phật giáo rộng lớn đến độ chạm đến mọi vấn đề của đời sống. Bạn cứ thử đưa ra một vấn đề gì đó tưởng là mới mẻ mà xem, ngẫm nghĩ kỹ thì mới thấy là hơn 2.500 năm trước, Phật đã nói rồi.
Nhiều triết thuyết sau này cũng thừa hưởng ít nhiều của Phật giáo. Vậy trở lại với tiểu thuyết, không chỉ là chuyện dục lạc mà thôi, chuyện hận thù và báo thù của đạo sư Bà La Môn, của Savitri, chuyện yêu thương với đồng loại, với mọi chúng sinh... đều không ra ngoài vòng triết thuyết và giáo lý của Phật.

Mọi nhân vật đều có cơ hội bình đẳng

- Có một cách đọc, trong đó người ta khó chấp nhận khi anh "dám" đưa vào cuốn sách về Phật một nhân vật nữ như nàng Savitri. Ngang tàng, nổi loạn, đối kháng với các giáo điều, nhưng đồng thời lại ôm đầy thù hận và khao khát báo thù, khao khát dục lạc. Chỉ riêng việc đặt nhân vật ấy vào trong cuốn sách đã có thể bị coi là báng bổ, là "giải thiêng" hình ảnh Phật. Người đọc trưởng thành chắc chắn không đồng tình với cách đọc này, nhưng dù sao, vẫn muốn biết quan điểm của anh.
- Tôi viết tiểu thuyết, và trong tác phẩm, mọi nhân vật đều có cơ hội bình đẳng, khó mà nói là nhân vật nào không được quyền xuất hiện bên cạnh nhân vật nào. Còn chữ "giải thiêng", tôi hiểu đó là từ demythologize, tức là xóa bỏ màu sắc huyền thoại bao quanh nhân vật, không phải chữ desecrate có nghĩa là xóa bỏ tính thiêng liêng.

- Xuất phát từ sự hiểu nhầm ấy, một số người đã thấy phản cảm vì nghĩ rằng tác giả muốn "xóa bỏ sự thiêng liêng". Một ít người khác thì cực đoan hơn, họ cho rằng phải giải thiêng mới có thể nổi loạn và tạo ra tác phẩm lớn.
- Những mưu toan giải thiêng kiểu ấy trước các bậc vĩ nhân thường bị phá sản, giống như ngửa cổ mà ném cát lên mặt trời vậy. Họ cũng quên rằng rất nhiều tác phẩm trung thành với đề tài tôn giáo lại trường tồn hơn vô vàn những cố gắng "nổi loạn".

- Đọc sách của anh, nhiều người nghĩ rằng anh là một Phật tử từ trong cốt lõi.
- Tôi thích phần triết thuyết của Phật giáo, tôi cũng thích phần triết học của các tôn giáo khác. Với tôi, bậc giáo chủ của các tôn giáo đều có sức hấp dẫn lạ thường và đều là những người thầy lớn- Phật cũng thường nói như vậy với các đồ đệ. Tôi thích đọc về các giáo chủ, nghiền ngẫm lý thuyết, từ đó mà cố hình dung ra các vị. Đấy là thái độ đối với lý thuyết tôn giáo, còn về thực hành thì... Thú thật tôi thường tránh đám đông, mà chùa chiền bây giờ đông người quá. Tôi cũng thường quên ngày rằm mùng một. Trong lòng vẫn tự an ủi: Phật tại tâm, Phật chứng giám.

- Tôi lại nghe bạn bè anh nói rằng khi viết Đức Phật, nàng Savitri và tôi, Hồ Anh Thái thực hành thụ giới trong một thời gian dài...
- Chắc là họ đùa đấy, bởi vì khi viết, tôi chỉ có một mình, và không ai biết tôi làm việc như thế nào đâu. Nhưng cũng đúng là trong thời gian viết, tôi chủ động cách ly với mọi công việc, tắt hết điện thoại bàn và điện thoại di động, không tiếp xúc với bạn bè và đồng nghiệp, thực hiện một kỷ luật rèn luyện thân thể và lao động. Vừa nghiêm khắc vừa rất tự nhiên, thành ra không phải gắng sức và không tự làm khó cho mình.

- Chắc chắn rằng sáu năm liền bôn ba trên đất Ấn Độ và ngót hai chục năm "bơi" trong cái đại dương văn hóa này đã để lại ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong tác phẩm và cuộc đời anh. Anh có sẵn sàng chia sẻ điều này với mọi người hay không?
- Khi mới đến Ấn Độ, tôi vẫn còn nóng tính lắm. Ỷ mình có chân lý, nhiều khi không chịu ai, đấu tranh với xung quanh, từ sếp cho đến ông lái xe trong cơ quan. Việc không chạy thì "trị" cả người bản xứ cho đến khi việc được làm đúng mới thôi.
Người Ấn rất tốt nhịn, cộng với ý thức đẳng cấp mấy nghìn năm khiến họ có lối sống khoan dung, bình yên, bất bạo động. Nên hiểu rằng tính cách Ấn hoàn toàn trái ngược với những vụ việc của các tổ chức ly khai, khủng bố, gây mất ổn định.
Rất tự nhiên, dần dà mình cũng thiền đi, và khi trở về Việt Nam, chất Ấn Độ đã ngấm vào tôi từ lúc nào. Hầu như tôi không nhận lời đăng đàn diễn thuyết, hoặc giao lưu với độc giả. Trước mọi sự bao giờ cũng tự dặn mình, không đôi co tranh cãi, không hơn gì nhau câu nói.
Quyền lợi chia bôi, nhường mọi người nhận trước. Người ta ghen ghét, đố kỵ, bịa đặt công kích mình hoặc làm ác với mình, cứ lấy sự ôn hòa mà đáp lại. Ôn hòa, cũng bởi vì tin vào điều nhà Phật nói: những người ấy trong đời tự họ đã và sẽ phải chịu luật nhân quả rất nặng nề rồi...

- Trong đời sống riêng, anh có tiếp nhận được gì không từ triết lý phương Đông?
- Tôi hài lòng với cuộc sống riêng của mình. Thành viên trong gia đình sống hòa hợp. Như Phật dạy thì bàn tay ta không thể nắm nhiều hơn một nắm lá. Biết đủ thì đủ, đời sống một con người cũng chẳng cần nhiều. Tham vọng và hiếu thắng chỉ đưa người ta sa vào chỗ rườm rà vướng bận một cách không cần thiết.
- Xin cảm ơn anh
Theo Văn hoá Phật giáo

Trích lại từ phongdiep.net

Võ Hồng (1923-2013)

Diễn Đàn (Paris)
8-4-13

Hoài cố nhân
Võ Hồng
(1923-2013)

  Đặng Tiến
 
Nhà văn Võ Hồng vừa qua đời ngày 31-3-2013 tại Nha Trang ở tuổi 90, xem tiểu sử diendan.org, là một trường hợp đặc biệt trong hiện tình văn học Việt Nam. Sau tập truyện đầu tay Hoài cố nhân, in 1959, qua nửa thế kỷ cầm bút, ông đã để lại cho đời hơn ba mươi tác phẩm : truyện ngắn, truyện dài, thơ và nhiều bài biên khảo rải rác trên báo, chủ yếu viết trước 1975 tại miền Nam, thời Việt Nam Cộng Hòa. Qua cái cầu 1975, ông ở lại Việt Nam, vẫn ở Nha Trang, vẫn tiếp tục viết, dù chỉ lai rai, có khi dưới những bút hiệu khác. Và có thêm khoảng 15 đầu sách, vài ba cuốn tái bản : Gió cuốn, nxb Lá Bối, 1968, nxb. Long An 1989 ; Nhánh rong phiêu bạt, nxb. Lá Bối 1970, nxb. Nha Trang 1989 ; một số tên sách mới, nhưng in những bài viết trước 1975 như Thiên đường ở trên cao, Nghĩa Bình, 1987, Trong vùng rêu im lặng, Nha Trang 1988. Một ít tác phẩm như Chúng tôi có mặt, nxb. Tp HCMinh, 2001, tập truyện giả tưởng viết sau này. Đặc biệt có tập tùy bút Một bông hồng cho cha, được nhà Văn Nghệ trong nước, in 1994, và nhà An Tiêm ở Paris in lại sau đó. Đồng thời, nhiều tác phẩm Võ Hồng được nhà Văn Nghệ ở Hoa Kỳ tái bản, như Trầm mặc cây rừng, 1986, Hoa bươm bướm, 1988, Như cánh chim bay, như vậy người đọc có thể nói : về mặt dư luận Võ Hồng đã đạt một mức đồng thuận nào đó, rất hiếm có trong một đất nước ly tán, mà văn học nghệ thuật là một địa hạt nhạy cảm.
Giới cầm bút có ít nhiều tên tuổi tại Sài gòn trước 1975 hoàn toàn phân hóa : một số ít, rất ít tác giả hợp tác với chính quyền mới (và được chính quyền đó chấp nhận) thường là cán bộ nằm vùng trước kia, đặc biệt là trường hợp Vũ Hạnh ; một số bị bắt giữ, hay bị xếp vào hàng ngũ đồi trụy, biệt kích, bị cấm in ấn ; một số người ngưng viết vì bất hợp tác, hay viết rồi chuyển sáng tác ra phổ biến ở nước ngoài ; có người chấp nhận thỏa hiệp, viết cầm chừng, không va chạm, không xu phụ nên được dư luận chấp thuận (đến mức độ nào đó), như trường hợp Võ Hồng. Dĩ nhiên là cũng có lời ong tiếng ve, như khi ông gia nhập Hội Nhà Văn, 1977.
Võ Phiến, bạn thân thiết cũ, đồng hương, đồng cảnh ngộ thời 1945- 1954, khi viết về Võ Hồng, 1995, trong bộ Văn Học Miền Nam 1, không mấy đậm đà, thậm chí còn gay gắt. Nhưng nói chung là giới văn nghệ tiếp cận Võ Hồng một cách ôn hòa, công bình hơn, đặc biệt có Nguyễn Lệ Uyên trong một bài viết nghiêm túc từ Tuy Hòa trên tạp chí Thư Quán Bản Thảo, xuất bản tại Mỹ, trong số đặc biệt về Võ Hồng vô cùng ưu ái 2.

 
*     *
*
Hoàn cảnh đặc biệt này có những lý do liên quan đến lối sống và lối viết của Võ Hồng. Tại Miền Nam, ông nổi bật vào giữa thập niên 1960, nhất là khi nhà Lá Bối ào ạt xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng không phải là tác giả ăn khách, thời thượng ; bằng cớ là trong các tuyển tập truyện ngắn – được xem như là tiêu biểu cho tinh hoa lúc đó – không có tên Võ Hồng, kể cả tuyển tập Ảo Mộng do nhà Lá Bối thân thiết ấn hành 1966.
Lý do chính là : truyện Võ Hồng không nằm trong những dòng cuồng lưu của thời thượng, không đáp ứng thị hiếu độc giả trẻ. Chỉ luận về kỹ thuật thôi : kết cấu không hấp dẫn, tình tiết không éo le, cốt chuyện thàng thàng, ai ai cũng có thể trải nghiệm qua mà không vướng bận. Nhân vật thì thường thụ động, chậm chạp, không phát huy sáng kiến, thậm chí không kịp thời phản ứng. Họ chỉ ngồi im, ước mơ rồi tiếc rẻ. Không có cá tính rõ nét. Võ Hồng kể chuyện kháng chiến, từ thời Nhật thuộc đến hết thời Pháp thuộc, mà ông đã trải qua. Nhưng như khách bàng quan, không dấn thân mà cũng không phê phán. Trong khi thời đại chờ đợi, đòi hỏi một lập trường, một quan điểm. Khi ra số báo Thư Quán Bản Thảo đặc biệt về Võ Hồng, nhà văn Trần Hoài Thư đã viết ngay dòng đầu  « thành thật mà nói, hồi ấy, trước 1975, tác phẩm của Võ Hồng ít để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí của tôi… Bởi vì tác phẩm vủa Võ Hồng ít đề cập thẳng về chiến tranh và những suy nghĩ thao thức của một thế hệ… ». Tuy vậy, trong một chuyến xuất viện sau khi bị thương lần thứ hai tại mặt trận Bình Định, người lính trinh sát Trần Hoài Thư, năm 1969 đã đến thăm Võ Hồng tại Nha Trang và có bài phỏng vấn, đăng ở báo Văn thời đó3.
Thái độ Võ Hồng dửng dưng, vô tích sự như thế là việc lạ, vì đồng hương Khu Năm với ông phần đông là những người có ý chí, lập trường, động cơ chính trị mạnh mẽ, thậm chí quá khích, không chống bên này thì chống bên kia. Thái độ ngoại cuộc của ông không được lòng cả hai phe đương chiến, cả độc giả dấn thân, nhưng ngày nay, lại là chứng từ khách quan quý hiếm. Điều này giải thích địa vị của Võ Hồng trước và sau 1975.
Địa lý văn truyện của Võ Hồng là quê ông, từ Phú Yên lên Đà Lạt, xuống Nha Trang. Nhất là Nha Trang. Một vùng đất ít màu sắc văn học, ít hấp dẫn người đọc. Nhân sự là những con người thật trong việc thật, không được dàn dựng thành biểu tượng, như anh Bốn Thôi hay ông Năm Tản trong Võ Phiến cùng quê. Đặc biệt là ngôn ngữ đúng với lời ăn tiếng nói địa phương. Ví dụ mẩu đối thoại trong Trầm mặc cây rừng với một cô gái đang gánh đọt mía :
«  - mùa này sắp trồng mía rồi sao ?
«  - Dạ không. Em đi này ngọn để dặm vào vạt mía bị rầy áp ».
Không phải độc giả nào cũng hiểu và thưởng thức từ vựng như thế.

 

Nói chung, hành văn Võ Hồng đơn giản, tự nhiên, ít có những câu màu mè, trau chuốt, trừ …cái tựa đề, kiểu Hoài cố nhân, Hoa bươm bướm, Nhánh rong phiêu bạt, Thơm ngát hương cau… Nhiều độc giả bị Gió cuốn vào những tiêu đề. Rồi hụt hẫng (Hoài cố nhân là những chữ Hán khắc trên một con dấu ; Hoa bươm bướm là tên một loài cỏ dại, v.v…).
Võ Hồng là người học rộng, sành tiếng Pháp, nhưng không mấy chịu ảnh hưởng các trào lưu thế giới đang thịnh hành. Ông rất thân với Phạm Công Thiện : người bạn vong niên này liên miên đề xuất các tác giả bốn bể năm châu, thì Võ Hồng chỉ nghiền ngẫm một cuốn Clémentine của Anatole France. Thời gian này, sách báo ngoại quốc tràn ngập trên thị trường miền Nam, thời thượng là những Sartre, Malraux, Bùi Giáng dịch Camus, Võ Phiến dịch Stefan Zweig, Dostoievski, Nguyễn Hiến Lê dịch Somerset Maugham. Riêng Võ Hồng là con thuyền cắm sào ngoài dòng thời đại.
Cùng một nghề dạy học, nhưng Võ Hồng có chút gì lạc lõng so với các đồng nghiệp Doãn Quốc Sỹ, hay Nhật Tiến, ba nhà văn nổi tiếng là nhà giáo hiền lành…
Ở đây, chúng tôi chỉ so sánh những cái có thể so sánh được, chứ không đặt Võ Hồng vào toàn cảnh Văn Học Miền Nam. Nhiều nhà giáo viết văn, nhưng Thanh Tâm Tuyền không viết văn trong tư cách nhà giáo, ngược lại với Võ Hồng. Tác giả Hoài cố nhân luôn luôn tề chỉnh, đạo mạo. Văn phong mô phạm có khi làm trở ngại cho danh vọng văn học.
*     *
*
 
Viết văn, khởi đầu thường là sở thích, lâu dần trở thành nhu cầu. Khi tác phẩm có độc giả, sáng tác trở thành một nghĩa vụ. Đây là trường hợp Võ Hồng viết văn để « trả hiếu » với quê hương như lời ông tự sự. Quê hương gồm có vùng đất đai Nam Trung Bộ khốn khó, những con người trầm luân, những biến cố đa đoan, là tình yêu, là ám ảnh, là nguồn cảm hứng – đồng thời là nghĩa vụ cho Võ Hồng. Ông trả lời phỏng vấn năm 1972  «  nếp sống quê tôi chưa hề được một nhà văn nào nhắc đến. Những nếp sống cũ xóa đi. Tôi nghĩ rằng nếu tôi dâng trọn cả cuộc đời của tôi để dựng lại cái dĩ vãng đó vẫn còn chưa đủ » (báo Văn, Sài Gòn, số 299).
Dâng trọn cả cuộc đời cho quê hương : một lý tưởng như thế, không cao quý sao ? Và non nửa thế kỷ sau, từ nước ngoài, Trần Hoài Thư, « nhà văn trẻ » năm nay cũng đã cổ lai hy, năm 2005, đánh giá tổng kết « tác phẩm ông trước sau vẫn ca tụng tình yêu chung thủy, tình yêu quê hương, cái đẹp của tâm hồn, cổ súy đạo nghĩa, ca ngợi và mang lại niềm tự hào của thế hệ ông trong thời kỳ chống Pháp, không kích động hận thù, không xúi dục kẻ khác lao đầu vào cõi chết » (tr.52).
Do đó, anh đã ra một số báo ưu ái, nghiêm túc cho Võ Hồng, và nhận được sự ủng hộ, hợp tác với nhiều người trong và ngoài nước, nhiều thế hệ khác nhau « Những tư liệu, hình ảnh cung cấp quá nhiều, đủ biết là tình thương mến của những người thuộc thế hệ đàn em của ông dành cho ông là to lớn đến chừng nào. Và chính những anh em cầm bút cũ ở trong nước đã đề nghị chúng tôi làm số chủ đề này » (tr.49) 4.
Vì vậy, chúng tôi đã cho rằng, trong hiện tình văn nghệ bị phân hóa ngày nay, trường hợp Võ Hồng là một biệt lệ hy hữu. Nó chứng tỏ trong văn học, đâu đây, đâu đó, vẫn còn le lói một tia sáng đạo lý. Nó là niềm tin cậy.
Võ Hồng quê quán Tuy An thuộc tỉnh Phú Yên. Thiết tha với địa phương quê nhà như vậy mà Võ Hồng ít khi về. Trước 1975 ông có đôi lần về thăm. Sau đó, đất nước thống nhất, an bình nhưng ông chưa một lần về cố quận, cách Nha Trang chỉ khoảng 125 km.
Thế mới hay : quê hương là chút nghĩa cũ càng, là những hình bóng phôi pha, là Nhánh rong phiêu bạt trong hoài niệm.
Ba mươi năm xa Tuy An : thời gian dài gấp đôi kiếp Thúy Kiều lưu lạc.
Tuy An, Tuy An, Võ Hồng chưa một lần về lại Tuy An.

 

Đặng Tiến

Orléans, 6-4-2013

 
1 Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Truyện, tập 3, tr.1718, nxb Văn Nghệ, California, 1999
2 Nguyễn Lệ Uyên, Võ Hồng nhân cách và chữ nghĩa, tạp chí Thư Quán Bản Thảo, số 21, tháng 10-2005, New Jersey, Hoa Kỳ. In lại đổi tên Võ Hồng, người luôn nặng lòng với quê hương, trong Trang sách và những giấc mơ bay, tr. 5-18, nxb Thư Ấn Quán, New Jersey, 2010. Diễn Đàn đăng lại tại đây.
3 Thư Quán Bản Thảo, báo đã dẫn, có đăng lại nguyên văn bài phỏng vấn này, cùng với nhiều chứng từ quý hiếm. Báo in ra để tặng bạn đọc, hỏi nơi địa chỉ tranhoaithu@yahoo.com
4 Thư Quán Bản Thảo, báo đã dẫn

Nguồn : http://viet-studies.info