Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

FESTIVAL NGHỀ TRUYỀN THỐNG 2013

Bài và ảnh : TRẦN NGỌC BẢO

Từ ngày 27/4 đến 1/5 tại Huế đã diễn ra Festival Làng Nghề Truyền Thống 2013, thu hút sự tham gia của các làng nghề không những ở Huế mà từ nhiều nơi trong cả nước.
Các sản phẩm được trưng bày trong những nhà rường ở công viên Tứ Tượng, đường đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, nhà Bảo Tàng Văn Hóa (trước đây là trụ sở UBND Thành phố Huế) và công viên Thương Bạc.

NGHỀ PHÁP LAM

Ở công viên Tứ Tượng (vườn hoa trên đường Lê Lợi, chỗ tiếp giáp với đường Hoàng Hoa Thám) có hai cây đèn kính pháp lam rất lớn. Pháp lam là đồ đồng tráng men, một nghệ 
thuật bắt nguồn từ châu Âu và phát triển từ thế kỷ 13 - 17; Sau đó, được du nhập vào Trung Quốc, Nhật Bản. Ở Việt Nam, nghệ thuật pháp lam được truyền vào từ Trung Quốc vào thời vua Minh Mạng (1820-1841), được sử dụng trong cung đình, làm nên những sản phẩm trang trí như phường môn, phù điêu, tranh, sản phẩn tiêu dùng như hộp, tráp, khay, choé, v.v.. Nhưng đến đời vua Tự Đức thì  nghề này bắt đầu bị mai một. Gần đây do nhu cầu bảo tồn, phục chế di tích Huế, nghề pháp lam bắt đầu được phục hồi.





Cặp đèn kính pháp lam



Đèn nhỏ



Choé  pháp lam và gạch trang trí



chóe



Tranh pháp lam



Tủ pháp lam



Đĩa trang trí



Chén sứ viền đồng



Móc khóa, souvenirs

NGHỀ LÀM MÕ
Mõ một pháp khí trong nghi lễ tụng kinh ở chùa cũng như ở nhà. Nghề làm mõ có những bí quyết riêng, thường truyền trong gia đình, để có thể chọn đúng loại gỗ, xả gỗ, lấy tiếng, tạo dáng,  chạm trổ hoa văn và sơn.



Mõ làm bằng gỗ mít

NGHỀ LÀM DIỀU 

Diều Huế là một môn giải trí dân gian, nhưng cũng được ưa chuộng trong giới quyền quí. Nhờ thế, các mẫu mã diều trở nên đa dạng, và thả diều trở thành những màn trình diễn có đội hình, thậm chí là diễn tuồng trên không. Từ năm 1992 tới nay, Câu Lạc Bộ Diều Huế  đã 10 lần đại diện Việt Nam tham gia liên hoan diều quốc tế được tổ chức 2 năm một lần ở Pháp.



Diều bướm



Diều phượng /phụng



Diều long bay bên diều bướm



Diều công



Diều phượng

Bài và ảnh : TRẦN NGỌC BẢO

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Cách đặt tên kép của vua Minh Mạng cho con cháu trong hoàng tộc

NGUYỄN HỒNG TRÂN

Vua Minh Mạng (tên hoàng tử là Nguyễn Phúc Đảm) lên làm vua năm Canh Thìn (1820). Ông là một vị vua có tri thức uyên thâm, biết nhìn xa thấy rộng.
Cách đặt tên kép của vua Minh Mạng cho con cháu trong hoàng tộc
Khi lên làm vua, ông biết lo lắng nhiều việc: lo xây dựng chính trị, phát triển giáo dục, văn hóa xã hội v.v... chắc là ông rất tâm đắc câu phương châm mà người xưa thường nói: “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Nghĩa là muốn cho dân chúng yên ổn, làm ăn phát đạt thì phải lo điều hành cai quản nhà nước thật nghiêm minh, chặt chẽ. Nhưng muốn vậy thì trước tiên phải lo dàn xếp nội bộ gia tộc được êm thấm theo khuôn phép rõ ràng.

Minh Mạng cũng đã biết từ nhiều đời vua trước đây ở trong nước và nước ngoài do việc tề gia không tốt nên đã sinh ra tranh chấp quyền hành trong nội bộ hoàng gia dẫn đến ngai vàng bị sụp đổ, triều đình nát tan. Vì thế, ông lo lắng cho cơ nghiệp nhà Nguyễn. Nếu không tìm cách tề gia cho nghiêm chỉnh thì cũng dẫn đến số phận như thế thôi. Cho nên Minh Mạng đã nghĩ ra nhiều cách để duy trì đế nghiệp của mình và con cháu kế tục lâu dài về sau. Trong đó có một cách mang đậm sắc thái văn hóa, tâm lý xã hội. Đó là cách đặt tên kép. Nghĩa là bên cạnh tên chính, phải ghép thêm một tên phía trước theo phân định bắt buộc để biết vị trí, thứ lớp của mình trong hàng ngũ của hoàng tộc. Nhưng trình bày việc đó như thế nào cho tế nhị với các hoàng tử anh em để họ dễ chấp thuận là việc không dễ dàng. Minh Mạng biết rằng anh em mình ai cũng yêu thích thơ văn nên ông bèn nghĩ ra cách tạo ra những bài thơ có ý nghĩa xã hội - nhân văn thâm thúy. Nhà vua đã sáng tác ra 11 bài thơ kiểu “ngũ ngôn, tứ cú” để dễ đọc, dễ nhớ. Trong đó có một bài gọi là “Đế hệ thi” và 10 bài gọi là “Phiên hệ thi”.

Bài “Đế hệ thi” dùng để đặt tên kép cho các con cháu nội nhà vua từ vua Thiệu Trị trở về sau theo thứ tự với các chữ trong bài thơ. Đó là:

Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh.
Bảo Quý Định Long Trường.
Hiền Năng Kham Kế Thuật.
Thế Thoại Quốc Gia Xương


Bài thơ này trong Thế tộc phả Nguyễn Phước đã dịch nội dung ý nghĩa thành thơ như sau:

Huấn nghiệp lớn do Tổ Tiên gầy dựng
Gắng giữ gìn cho xứng ân sâu
Phồn vinh thịnh đạt dài lâu
Anh tài hiền đức cùng nhau bảo toàn
Đời đời nối nghiệp tiền nhân
Nước nhà hưng thịnh muôn phần phát huy.


Bài thơ này gồm 20 chữ. Từ chữ đầu tiên cho đến chữ cuối cùng, mỗi chữ có một ý nghĩa sâu xa. Người ta đã truyền lại lời giải thích của vua Minh Mạng theo từng chữ thành câu thơ như sau:

1.MIÊN: Trường cửu phước duyên trên hết.
2.HƯỜNG: Oai hùng đúc kết thế gia.
3.ƯNG: Nên danh xây dựng sơn hà.
4.BỬU: Bối báu lợi tha quần chúng.
5.VĨNH: Bền chí hùng anh ca tụng.
6.BẢO: Ôm lòng khí dũng bình sanh
7.QUÝ: Cao sang vinh hạnh công thành.
8.ĐỊNH: Tiên quyết thi hành oanh liệt
9.LONG: Vương tướng rồng tiên nối nghiệp.
10.TRƯỜNG: Vĩnh cửu nối tiếp giống nòi.
11.HIỀN: Tài đức phúc ấm sáng soi.
12.NĂNG: Gương nơi khuôn phép bờ cõi.
13.KHAM: Đảm đương mọi cơ cấu giỏi
14.KẾ: Hoạch sách mây khói cân phân.
15.THUẬT: Biên chép lời đúng ý dân.
16.THẾ: Mãi thọ cận thân gia tộc.
17.THOẠI: Ngọc quí tha hồ phước lộc.
18.QUỐC: Dân phục nằm gốc giang san.
19.GIA: Muôn nhà Nguyễn vẫn huy hoàng
20.XƯƠNG: Phồn thịnh bình an thiên hạ.


Khi đặt tên kép cho cháu chắt của vua Minh Mạng thì cứ lấy tên chính của người đó ghép với một chữ trong bài thơ “Đế hệ thi” theo thứ tự từng đời từ cao xuống thấp, mỗi đời một chữ. Khi có tên kép rồi thì có thể không cần ghi họ (họ coi như được ẩn) người ta vẫn hiểu đó là thuộc họ tộc Nguyễn Phước. Thí dụ: Miên Tông là vua Thiệu Trị (con vua Minh Mạng). Ghi đầy đủ là Nguyễn Phước Miên Tông; Vua Tự Đức là Hường Nhậm (Hường hoặc Hồng đều như nhau), là con vua Thiệu Trị; Ưng Chân là vua Dục Đức (con nuôi của vua Tự Đức, con đẻ của Nguyễn Phước Hồng Y); Bửu Lân là vua Thành Thái, con vua Dục Đức, tức NP. Ưng Chân); Vĩnh Thụy là vua Bảo Đại (con vua Khải Định tức là NP Bửu Đảo).

Những người không làm vua nhưng thuộc dòng đế hệ của vua Minh Mạng cũng được đặt tên kép (theo hàng từng đời, từng chữ) và được ẩn họ như thế. Thí dụ: Nhà thơ Ưng Bình (hiệu Thúc Dạ Thị) là con cụ Nguyễn Phúc Hồng Thiết, cháu nội cụ Nguyễn Phúc Miên Trinh (Nhà thơ Túy Lý Vương). Nhà Hán học: Vĩnh Cao là con cụ Bửu Kế.

Như vậy bài “Đế hệ thi” của vua Minh Mạng chỉ mới thực dụng được câu đầu tiên “Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh” thì đã hết chế độ nhà vua ở Việt Nam. Tuy vậy, sự ảnh hưởng của tục lệ này khá đậm nét ở Huế nên trong thực tế xã hội hiện nay vẫn còn nhiều người ở thế hệ sau của Hoàng tộc Minh Mạng vẫn thích đặt tên kép để kỷ niệm nguồn gốc tổ tông là con cháu nội nhà vua nhưng vẫn kèm theo họ Nguyễn Phước.

Theo Thế phả của Nguyễn Phước tộc có ghi thêm rằng:

“Bài Đế hệ thi được khắc trong một cuốn sách bằng vàng (kim sách), cất trong hòm vàng (kim quỹ) để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; Các bài Phiên hệ thi cũng được khắc trong các cuốn sách bằng bạc. Có tư liệu cho rằng tới thời Vua Tự Ðức, chúng đã bị nấu ra để trả nợ chiến phí bốn triệu đồng cho Pháp và Tây Ban Nha theo Hiệp ước Nhâm Tuất (1862). Không ai biết sự thật ra sao, vì đến lúc Ngài Bảo Ðại - vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn thoái vị, các loại kim sách này đã không còn nữa.

Nói chung, con cháu các hệ Chánh từ vua Minh Mạng trở về sau, kể cả các Phòng thuộc hệ Chánh, đều đặt họ tên kép theo cách nói trên”.

Ngoài ra, Minh Mạng còn quy định cách viết chữ Hán theo từng bộ đi kèm với mỗi chữ trong bài Đế hệ thi là một bộ Ngự Chế Mạng Danh Thi:

Miên (có bộ miên chữ Hán), Hồng (bộ nhân), Ưng (bộ thị), Bửu (bộ sơn), Vĩnh (bộ ngọc), Bảo (bộ phụ), Quý (bộ nhân), Định (bộ ngôn), Long (bộ thủ), Trường (bộ hòa),

Hiền (bộ bối), Năng (bộ lực), Kham (bộ thủ), Kế (bộ ngôn), Thuật (bộ tâm),

Thế (bộ ngọc), Thoại (bộ thạch), Quốc (bộ đại), Gia (bộ hòa), Xương (bộ tiểu),


Nghĩa là anh em ruột của vua phải đặt tên có cùng một bộ:

Ví dụ: Vua Thiệu Trị, có chữ lót là Miên, và tên là Tông (thuộc bộ “miên”: (宀) và tất cả các anh em của Vua Thiệu Trị cũng đều phải có tên chữ Hán có bộ Miên như thế cả, còn các con của vua Thiệu Trị thì tên đặt theo chữ Hán phải có bộ “nhân” (亻), con kế ngôi của vua Thiệu Trị là vua Tự Đức (Hồng Nhậm) có bộ nhân (亻) trong tên chữ Hán, nhưng con của các vị Hoàng Tử anh em ruột của vua Thiệu Trị thì phải đặt tên không được có bộ nhân (亻), trừ con vua Thiệu Trị).

Bài “Phiên hệ thi” là gồm 10 bài thơ dùng đặt tên kép cho các con cháu những ông hoàng anh em với vua Minh Mạng (vua Gia Long có 13 người con, 2 người con cả và con thứ mất sớm, người con thứ 3 được phong là Hoàng Thái tử, nhưng về sau do sức khỏe yếu nên không thay vua cha lên ngôi vua được. Vì vậy, vua Minh Mạng là con thứ 4 được chọn lên ngôi vua, nên còn lại 10 anh em. Do đó, Minh Mạng đặt 10 bài thơ ngũ ngôn tứ cú. Mỗi bài tặng cho mỗi ông để buộc con cháu phải đặt tên kép theo quy định thứ tự các đời như các chữ kế tiếp nhau trong từng bài thơ.

Bài 1: Tặng cho TĂNG DUỆ (Hoàng tử thứ 3 - Anh Duệ hệ)
Mỹ Duệ Anh Cường Tráng.
Liên Huy Phát Bội Hương.
Linh Nghi Hàm Tốn Thuận.
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang.


Bài 2: Tặng KIẾN AN VƯƠNG (hoàng tử thứ 5) (Kiến An hệ)
Lương Kiến Ninh Hòa Thuật.
Du Hành Suất Nghĩa Phương.
Dưỡng Di Tương Thực Hảo.
Cao Túc Thể Vy Tường.


Bài 3: Tặng ĐỊNH VIỄN QUẬN VƯƠNG (Hoàng tử thứ 6 - Định Viễn hệ)
Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái.
Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha.
Nghiễm Cách Do Trung Đạt.
Liên Trung Tập Cát Đa.


Bài 4: Tặng DIÊN KHÁNH VƯƠNG (Hoàng tử thứ 7 - Diên Khánh hệ).
Diên Hội Phong Hạnh Hiệp.
Trọng Phùng Tuấn Lãng Nghi.
Hậu Lưu Thành Tứ Diệu.
Diễm Khánh Thích Phương Huy.


Bài 5: Tặng ĐIỆN BÀN CÔNG (Hoàng tử thứ 8 - Điện Bàn hệ).
Tín Điện Tự Duy Chánh.
Thành Tồn Lợi Thỏa Trinh.
Túc Cung Thừa Hữu Nghị.
Vinh Hiển Tập Khanh Danh.


Bài 6: Tặng THIỆU HÓA QUẬN VƯƠNG (Hoàng tử thứ 9 - Thiệu Hóa hệ).
Thiên Thiệu Kỷ Tuần Lý.
Văn Tri Tại Mẫn Du.
Ngưng Lân Tài Chế Lạc.
Địch Đạo Doãn Phu Hưu.


Bài 7: Tặng QUẢNG OAI CÔNG (Hoàng tử thứ 10 - Quản Oai hệ).
Phụng Phù Trung Khải Quảng
Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ.
Điển Học Kỳ Gia Chí.
Đôn Di Khắc Tự Trì.


Bài 8: Tặng THƯỜNG TÍN QUẬN CÔNG (Hoàng tử thứ 11 - Thường Tín hệ)
Thường Cát Tuân Gia Huấn.
Lẫm Trang Túy Thạnh Cung.
Thận Tu Di Tấn Đức.
Thọ Ích Mậu Tân Công.


Bài 9: Tặng AN KHÁNH VƯƠNG (Hoàng tử thứ 12-An Khánh hệ).
Khâm Tùng Xưng Ý Phạm.
Nhã Chánh Thủy Hoằng Quy.
Khải Đế Đằng Cần Dự.
Quyến Ninh Đặng Tập Hy.


Bài 10: Tặng TỪ SƠN CÔNG (Hoàng tử thứ 13 - Từ Sơn hệ).
Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm.
Phu Văn Ái Diệu Dương.
Bách Chi Quân Phụ Dực.
Vạn Diệp Hiệu Khuôn Tương.


Từ khi có quy định của vua Minh Mạng về việc đặt tên kép theo “Đế hệ thi” hay “Phiên hệ thi” thì người đặt tên đều có thể chỉ ghi theo tên kép mà không ghi họ cũng được (ẩn họ). Chính nhờ đó mà người ta dễ nhận ra con cháu của Minh Mạng.

Việc đặt tên kép theo 10 bài thơ trong “Phiên hệ thi” như trên với 200 chữ thì bà con nội thân nhà Nguyễn cũng khó nhớ để biết chính xác người mang tên kép có đúng là con cháu của các ông Hoàng trong phiên hệ hay không? Tuy vậy, người ta cũng có cách để tìm ra gốc tích thuộc dòng chi nào, phòng nào trong phiên hệ. Đương nhiên trước hết là người mang tên kép đó phải có gốc là họ tộc Nguyễn Phước (hay Phúc cũng như nhau). Đối với các con cháu trai của các ông Hoàng anh em vua Minh Mạng thì phần lớn lấy họ Tôn Thất.

“Họ” Tôn Thất bắt đầu xuất hiện từ năm 1822. “Họ” này áp dụng cho con cháu của anh em vua Minh Mạng; khi đặt có thêm chữ lót theo thế thứ của bài phiên hệ thi dành cho dòng họ mình.

Ví dụ: ông Tôn Thất Cường Để (thường gọi giản lược là Cường Để) là dòng dõi con trưởng vua Gia Long (Hoàng tử Cảnh); ông Tôn Thất Dương Kỵ là dòng dõi con thứ 13 của vua Gia Long là Hoàng tử Từ Sơn. Mặt khác, phải xem tên kép của đời cha, ông cũng phải phù hợp với thứ tự các từ đã được đặt ra trong từng phiên hệ. Thí dụ: Ông Tôn Thất Viễn Bào (GV. Môn tiếng Anh, Trường ĐH Ngoại ngữ Huế) đúng là người thuộc phòng Định Viễn Quận Vương. Bởi vì ông Viễn Bào là con cụ Chiêm Tấn; GS.TSKH. Nguyễn Viễn Thọ là con của cụ Nguyễn Phước Chiêm Tế.

Thực ra 10 bài thơ của “Phiên hệ thi” có một số chữ vua Minh Mạng đã dùng lúc đầu có khác với sau này (như đã ghi ở trên). Về sau vì do một số chữ bị phạm húy nên đã thay đổi lại. Gồm có 11 chữ thay đổi như sau (chữ trong ngoặc đơn là chữ gốc lúc đầu): Kiến (Cẩn), Ninh (An), Trọng (Nguyên), Tuấn (Thái), Thỏa (Kiến), Kỳ (Thuần), Du (Cầu), Cát (Hổ), Tòng (Hoa), Dương (Hoàng), Quân (Giai).

Vấn đề đặt tên kép của vua Minh Mạng còn nhiều ý nghĩa sâu sắc, thâm nho lắm. Chúng tôi không thể giải bày thêm nhiều nữa. Hy vọng rằng những điều đó được nêu ra ở trên có thể giúp cho bạn đọc phần nào hiểu được về cách đặt tên kép ngày xưa của vua Minh Mạng.

Ngoài việc đặt tên kép cho con cháu trai của Hoàng tộc như quy định theo 11 bài thơ trên thì cũng có quy định đặt tên kép cho con cháu chắt gái theo cách riêng.

Đối với nữ, việc đặt chữ lót khác hẳn. Trước tên kép của từng người thì phải thêm các tên lót theo quy định là: đối con gái của vua gọi là Công chúa đi đôi với tên kép. Ví dụ như Công chúa An Đông, Công chúa Ngọc Tây... Cháu gái nội của vua lấy chữ lót trước tên kép là Công Nữ, chắt gái nội của vua thì chữ lót trước tên kép là Công Tôn Nữ; tiếp tục các cháu chắt những đời sau với các chữ lót trước tên kép lần lượt là: Công Tằng Tôn Nữ (thuộc cháu 4 đời), Công Huyền Tôn Nữ (thuộc cháu 5 đời), Lai Huyền Tôn Nữ” (thuộc cháu 6 đời).

------------
Lưu ý: Có tài liệu đã nói rằng 11 bài thơ này không phải chính vua Minh Mạng sáng tác, mà là Đông các học sĩ Đinh Hồng Phiên (người quê ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), có tài liệu ghi là Nguyễn Đình Phiên là tác giả của 11 bài thơ ấy. Chuyện này tôi cho rằng đây là một sự ngộ nhận của ai đó mà thôi, chưa có tài liệu thật chính xác để khẳng định điều đó. Vì vua Minh Mạng là một ông vua sành thơ và cũng thông thái chữ Hán, không lẽ nào nhà vua không sáng tác được bài “Đệ hệ thi” và “Phiên hệ thi” hay sao mà lại nhờ người khác sáng tác rồi lấy tên cho mình? Thật là vô lý!

Theo tôi nghĩ rằng 11 bài thơ ấy là do vua Minh Mạng đưa ra nội dung, mục đích, ý tưởng và giao cho một vị quan chịu trách nhiệm soạn thảo ra rồi trình lên nhà vua xem xét, sửa đổi cho hoàn chỉnh rồi mới chính thức ban hành để làm Ngọc phả Hoàng tộc nhà Nguyễn.

Năm Minh Mạng thứ nhất, ngày 20 tháng 11 năm 1820, Nguyễn Đình Phiên đã tâu lên vua Minh Mạng: “Bề tôi Đông các học sĩ Nguyễn Đình Phiên cúi đầu, rập đầu trăm lạy kính tâu về việc: Nay kính vâng chủ kiếm soạn các chữ trong Ngọc Phổ. Hãy kính đấy. Kính cẩn xếp thành 11 bài 4 câu 20 chữ, tổng cộng 220 chữ. Kính cẩn trình bày theo thứ tự. Kính chờ Thánh thượng xét đoán” (bản dịch từ chữ Hán, Châu bản triều Nguyễn, tờ 223 đến 235).

Bài “Đế hệ thi”, Đinh Hồng Phiên viết:

Miên hồng khai bửu tộ
Bảo định ứng trinh tường
Toản tự di nhân viễn
Gia hy tích dận trường
.

Đọc bài thảo, vua Minh Mạng ban đầu sửa chữ Khai thành chữ Ưng. Câu thứ hai vua sửa lại là Long quý định bảo trường. Câu ba, Toản tự di nhân viễn, vua sửa lại là Hiền năng kham kế thuật. Câu bốn: các chữ hy tích dận trường vua sửa thành Thụy Quốc gia xương. Rồi vua lại sửa câu bốn một lần nữa, thành Thế Thọ Quốc Gia Xương. Sau đó vua chỉnh lại Thế Thụy. Rồi vua tham khảo ý kiến anh em mình và các trí thức trong triều, một lần sửa nữa mới chính thức thành: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh/ Bảo Quý Định Long Trường/ Hiền Năng Kham Kế Thuật / Thế Thụy Quốc Gia Xương.

Như vậy chúng ta cũng đủ hiểu rằng bài “Đế hệ thi” không phải là hoàn toàn do Đinh Hồng Phiên sáng tác.

Có lẽ vì người hậu duệ của cụ Phiên là ông Đinh Văn Niêm đọc một tài liệu chữ Hán lưu trữ tại thư viện Quốc gia Việt Nam có ghi bút tích của cụ Phiên nói rằng cụ viết bài “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi” để làm kim sách cho nhà vua.

Bởi vì cụ Phiên là người văn hay chữ đẹp nên vua Minh Mạng mới sai lo việc soạn thảo để nhà vua xem xét sửa chữa rồi mới chính thức ban hành, chứ không do cụ Đinh Hồng Phiên sáng tác hoàn toàn 11 bài thơ đó. Thế nhưng báo Văn hóa Nghệ An cũng như một số bài viết trên báo chí đã có người vội vàng đưa lên bài “Tìm lại tác giả bài “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi”.

Nội dung bài đó nói rằng bài “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi” là của tác giả Đinh Hồng Phiên người Nghệ An. Một số cứ liệu nêu ra trong bài đó là không chứng minh được là cụ Phiên là tác giả độc nhất của 11 bài thơ đó. Chắc cụ Phiên ở thế giới âm cũng phải chạy đến và lạy vua Minh Mạng mà tạ lỗi đã phạm Thượng vì để cho lớp hậu duệ tâng bốc mình quá đáng!...

N.H.T
(SDB8/3-13)


Tài liệu tham khảo:

1.Nguyễn Phước Tộc Thế phả. Nxb Thuận Hóa, Huế 1995.
2.Niên biểu lịch sử Việt Nam. Nxb. Văn hóa Thông tin. Hà Nội 1999.
3.Kim sách và ngân sách triều Nguyễn Tg: Tôn Thất Thọ (Đã đăng trên X&N số 342 - tháng 10/2009 ký là Tôn Châu Quân) 4. “Nghiên cứu Huế” do Nguyễn Hữu Châu Phan chủ biên, tập 8, do Nxb. Thuận Hóa ấn hành, QI/ 2012.



http://tapchisonghuong.com.vn

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

Khổng Đức THI TÍNH TỰ DO



        
Tự do là vô hạn, nhưng không phải là vô ảo. Nó không chỉ thể hiện sự tồn tại trong triết học và thi học, mà còn biểu hiện trong văn học phê bình của chủ nghĩa tồn tại, Heidegger và Sartre đều là những nhà phê bình tài hoa, có không ít những bản văn để đời; các ông ấy cho rằng thi tính tồn tại trong văn học, nhưng phản đối chủ nghĩa hình thức và nội dung duy mỹ. Họ phê bình thi tính nhưng vẫn quán triệt tư tưởng tự do hóa không thể nào dừng lại được; phản ánh  khuynh hướng tự do hóa triệt để của khẩu hiệu “Không tự do thà chết còn hơn”. Phê bình thi tính tự do, tức là phê bình tư tưởng chủ đạo của chủ nghĩa tồn tại và đây cũng là phương pháp đặc sắc và là qui luật.

       “… Nên thơ thay, con người cư trú trên tinh cầu này.”(c’est poétiquement pourtant, que l’homme  habite sur cette terre).

Đó là câu thơ hay của Holderlins (1770 – 1843) , một trong những thi nhân nổi tiếng ở Đức. Cũng là chủ đề trong tác phẩm “ Thi, ngôn ngữ, ý tứ” của Heidegger bình luận về Holderlins và bản chất thi ca. Chỗ cư trú của con người ở đây là thi ý. Thi ý kiến tạo bản tính đặc thù của nơi cư trú; thi ý và cư trú không hề bài bác lẫn nhau; trái lại nó cùng thuộc một vị trí hỗ tương hô hoán cho nhau. Thi ý là năng lực cơ bản nơi con người cư trú. Ý nghĩa của thi ý cư trú là gì? Nó có ý nghĩa là tự do thẩm mỹ. Heidegger chủ trương  “ thi ngôn chí “; phương pháp phê bình của ông là  đem thi, ngôn (ngôn ngữ) và chí (tư tưởng) phân chia ra để chúng “đối thoại” với nhau, rồi từ sự đối thoại của ba sự kiện đó mà hiển hiện tư tưởng ý nghĩa. Ông cho rằng “tính của nghệ thuật là thi tính”. Một trong những nhiệm vụ của thơ là bộc lộ ý nghĩa và chân lý, mà chân lý và ý nghĩa bị ẩn giấu  trong ngôn ngữ và thi ca. Phê bình là bài trừ sự che đậy, khiến cho tư tưởng và ý nghĩa phô bày ra, từ ẩn giấu đến phô bày triển hiện tư tưởng ý nghĩa của ngôn ngữ và thơ. Ông nói sở dĩ chọn thơ Holderlins làm đối tượng phê bình, không phải vì thơ của ông ấy được kể là nhiều nhất, mà chỉ là vì thơ của Holderlins là thơ kêu gọi của định mệnh, chứ không phải do chính bản thân biểu đạt tính chất của thơ. Điều đó giúp cho việc tìm kiếm yếu tố bản chất của bản chất tính.
Ông trích trong tập thơ  củ0a Holderlins 5 câu thơ quan thiết như sau :

 “ Trong tất cả hoạt động của con người làm thơ là chân thực nhất “
 “ Vì vậy con người có một thứ của cải nguy hiểm nhất là ngôn ngữ - nhưng chính điều đó lại chứng thực sự tồn tại của nó.’
 “ Từ khi con người có sự đàm thoại, có thể nghe được âm thanh người này người khác”
 “ Nhưng có được sự trường tồn ấy do thi nhân đạt được thần tứ.”
 “ Con người có đầy đủ tài đức, nên thi ý được cư trú trên mảnh đất này.”
Rõ ràng là ông ta  quan tâm đến thơ và lịch sử ngôn ngữ, chủ nghĩa tồn tại, và phương thức suy luận. Cho rằng lãnh vực hoạt động của thơ là ngôn ngữ. Do đó bản chất của thơ cần phải thông qua bản chất của ngôn ngữ để hiểu rõ. Cơ sở “hiện thế” của con người là đối thoại, ngôn ngữ trong sự đối thoại mới chân chính thành hiện thực. Holderlins đi thẳng vào sự suy luận bản chất của thơ, từ chỗ tối cao của  ý nghĩa  mà nhìn thì đó là lịch sử, vì nó là thời đại chuẩn bị lịch sử, nhưng kể như là bản chất của lịch sử thì nó là bản chất của bản chất tính.
Sao lại gọi là bản chất của bản chất tính? Sartre cho rằng, đó là tự do, Theo quan điểm của ông “vũ khí phê phán không thể quay lại phê phán vũ khí”; thi tính triển khai tách rời nội dung của tự do, thì nó sẽ biến thành ngôn ngữ học, tu từ học, phù hiệu học, ngữ nghĩa học, tự thuật học, và đối tượng tư duy, không thể nào thành  bình  luận tự do của phản tỉnh. Vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20, văn đàn Tây phương đã biểu hiện sự lầm lẫn về phê bình, quá thiên về phê bình hình thức mà quá ít phản tỉnh tự do, văn học đánh mất bản chân tự do, phê bình thành ra giảng giải và chính là đánh mất  giá trị tồn tại. Đối với văn học Pháp cũng như Âu Châu từ thế kỷ 17 trở lại đây, theo Sartre đó là thời đại triển khai dạng thức phê bình thi tính tự do hóa của Hegel. Ông giống như Hégel triển khai sự thăng trầm tiêu trưởng của lý niệm, biểu hiện một thứ cuồng nhiệt  mãnh liệt phê bình tư do hóa thi tính, phác họa gần 200 năm cái quỹ tích vận động tự do hóa văn học.
Ông cho rằng thế kỷ 17, giữa tác giả và độc giả có sự đồng nhất tính, chức trách của tác gia rõ ràng, đối tượng tả tác là có những sự giáo dưỡng, giới định nghiêm túc, độc giả tích cực, những độc giả đối với tác giả cùng tiến hành coi ngó chăm sóc tác gia không có đầy đủ khả năng  diễn đạt quá tự do. Chủ nghĩa văn học cổ điển không có sức lực biểu hiện tinh thần tự do; tác giả chủ nghĩa cổ điển là một thứ giai cấp ký sinh, họ không vì đại chúng lao động mà thuyết thoại, nỗ lực làm cho tác phẩm tận thiện tận mỹ, hợp với đạo đức luân lý và qui phạm của xã hội, chỉ làm vui thích tầng lớp quí tộc và vua chúa. Tác phẩm miêu thuật nhiều sự thể nghiệm, hòa hài mà xung đột thích ứng đối với phê phán. Ý chí tự do  không được phô bày đúng mức. Văn học thế kỷ 18, thời kỳ cao độ của giai cấp tư sản, đó là thời đại có hương vị, tính chính trị, tính dân chủ và tính tự do được triển khai, tác giả không chỉ được giai cấp lãnh đạo nuôi dưỡng, mà còn được giai cấp tư sản cùng dân chúng duy trì; sự tả tác của tác gia xuất hiện đối tượng phục vụ và đa nguyên hóa, như Kant, J.J. Rousseau có thể biểu đạt trực tiếp sự thể nghiệm và cảm tưởng đối với vấn đề tình dục, thống khổ, tự do v..v… Tinh thần tự do của thế kỷ 18 là thời kỳ có thể đưa đến sự phản ứng của công chúng, nhưng cũng là thời kỳ của lịch sử lý tính, lịch sử của quyền lực.. Sự lưu hành văn học giáo hội, sự hoằng dương tinh thần lý tính đến một trình độ nào đó chắc chắn sẽ ức chế tinh thần tự do văn học.
 Đối diện với văn học thế kỷ 19 trở lại đây, Sartre căn cứ theo quan điểm tự do của giai cấp tư sản tiến hành phân tích thí tính tự do hóa. Giai cấp tư sản coi văn học như là công cụ, mà văn học tự thân thì khát khao độc lập, văn học khát khao đập phá hàng rào của giai cấp tư sản để hướng về tự do, sự mâu thuẫn của nó sinh ra trương lực. Một mặt khác văn học mang tính dân chủ, tự do, nhất là văn học bình dân đạt đến sự phát triển, sụ tự do của nhân tính đạt đến trình độ biểu đạt; văn học thương nghiệp chiếm cứ bộ phận thị trường, nó cởi mở sự ràng buộc của tư tưởng  tôn giáo, cự tuyệt hình thái ý thức phục vụ giai cấp tư sản; nhưng sự độc lập của văn học cũng như sự tự do bị sự dẫn dụ của kim tiền. Dòng văn học chủ lưu chậm chạp và hình thức uốn cong  hướng về  trường phái văn học hiện đại. Nó lại một lần nữa bị nhóm người thiểu số cầm nắm, không thể nào tiếp thu được với nhân dân đại chúng. Văn học chuyển vào giai đoạn phản tỉnh, nhắm đả phá các hình thức cũ và tôi luyện một thứ kỹ xảo tả tác nhằm nỗ lực kiến lập tiêu chuẩn thẩm mỹ của chính mình. Kết quả là văn học độc lập tính tăng gia, tự do tính lại không được duy trì một cách rộng rãi. Sau thế kỷ 19, và sau hai cuộc thế chiến, giai cấp vô sản được phát triển, văn học giai cấp tư sản cùng với giai cấp vô sản, về phương diện tự do cái nầy tiêu thì cái kia trưởng tạo cho văn đàn có hai khuynh hướng chủ yếu: phủ định tự do và tự do phủ định tạo thành nền văn học đang biến chuyển chưa biết về đâu ?  

Khổng Đức

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Xem tranh Bùi Xuân Phái - Thơ Hồ Xuân Hương

Những ý thơ gợi tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương được khắc họa sinh động qua nét bút phóng khoáng của cố danh hoạ Việt Nam. 

Đó là bộ tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ theo ý thơ của Hồ Xuân Hương, được cố danh họa thực hiện từ năm 1982 đến 1986. Bộ tranh này hiện do người con trai của ông là họa sĩ Bùi Thanh Phương lưu giữ. Gầy đây, nhiều tác phẩm trong bộ tranh đã được giới thiệu trên mạng. 

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu...
(Đèo Ba Dội - Hồ Xuân Hương).

Lắt lẻo cành thông cơn gió thổi
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo
(Đèo Ba Dội - Hồ Xuân Hương).

Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dầy
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay
(Quả mít - Hồ Xuân Hương).

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn...
(Tự tình - Hồ Xuân Hương).

Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
(Tự tình - Hồ Xuân Hương).

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh
(Tranh hai Tố nữ - Hồ Xuân Hương).

Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm...
(Hang cắc cớ - Hồ Xuân Hương).

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Ṿây mà chút tẻo tèo teo
Thuyền cừ cương muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn leo
(Kiếp Tu Hành - Hồ Xuân Hương).

Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông
Giếng ấy thanh tân, giếng lạ lùng...
(Giếng nước - Hồ Xuân Hương).

Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nuớc trong leo lẻo một dòng thông...
(Giếng nước - Hồ Xuân Hương).

Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
Giếng ấy thanh tân ai đã biết?
Đố ai dám thả nạ rồng rồng
(Giếng nước - Hồ Xuân Hương).

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long...
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương).

Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông..
.
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương).

 
 .
 
.
 
.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở, ở không xong
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương).

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay...
(Vịnh cái quạt (1) - Hồ Xuân Hương).

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này
(Vịnh cái quạt (1) - Hồ Xuân Hương).

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dán tự bao giờ
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa...
(Vịnh cái quạt (2) - Hồ Xuân Hương).

Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa...
(Vịnh cái quạt (2) - Hồ Xuân Hương).

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
(Vịnh cái quạt (2) - Hồ Xuân Hương).

Của em bưng bít vẫn bùi ngùi
Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi...
(Trống thủng - Hồ Xuân Hương).

 
.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!
(Đánh đu - Hồ Xuân Hương).

Quả cau, nho nhỏ, miếng trầu ôi
Này của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
(Mời ăn Trầu - Hồ Xuân Hương).

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau...
(Dệt vải - Hồ Xuân Hương).

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết...
(Đánh cờ - Hồ Xuân Hương).

Vũ Trọng Quang sưu tầm và gởi