Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

Phân tâm học trong tiểu thuyết đô thị miền Nam: Trường hợp Thanh Tâm Tuyền

Lời dẫn của dịch giả Cao Việt Dũng:
Đã đến lúc, văn học miền Nam cần được thực sự nhìn nhận và đánh giá. Năm 2013 này sẽ là năm của nghiên cứu văn học miền Nam.
Cùng vài đồng nghiệp, chúng tôi đi vào một số vấn đề của văn học miền Nam, những vấn đề văn học sử, hoặc sẽ là tiểu luận chi tiết như bài dưới đây về văn xuôi Thanh Tâm Tuyền của nhà nghiên cứu Đoàn Ánh Dương (bản thảo ban đầu xem ở đây), hoặc những sưu tập và chỉ dẫn về tư liệu. Rất mong được giúp đỡ thêm từ phía các nhà sưu tầm và nhất là những người từng có trải nghiệm trực tiếp với văn học miền Nam 1946-1975.
Trang phebinhvanhoc.com.vn do nhà nghiên cứu Trần Thiện Khanh chủ trương cũng sẽ hỗ trợ thêm. Hiện nay trang “Phê bình văn học” cũng đã đăng tải một khối lượng tư liệu lớn.
Các nghiên cứu sẽ dựa trên tư liệu thực tế, sục vào các kho tư liệu công hoặc tư, sử dụng các công trình từng có của các nhà nghiên cứu đi trước với tinh thần cầu thị nhưng không dễ dãi chấp nhận mọi thứ.
Mở đầu bằng Thanh Tâm Tuyền và Sáng tạo hẳn là một khởi đầu hợp lý, nhấn mạnh vào tầm quan trọng của một nhóm văn chương từng có tầm quan trọng và tầm ảnh hưởng lớn trong văn học miền Nam trước 1975; cùng vệt này có thể tìm được một số tư liệu có sẵn trên blog http://nhilinhblog.blogspot.com, đặt ở các label thanh-tam-tuyen, mai-thao, sang-tao.
*
Phân tâm học trong tiểu thuyết đô thị miền Nam: Trường hợp Thanh Tâm Tuyền

Nguyễn Thị Bình – Đoàn Ánh Dương

Phân tâm học được biết đến ở Việt Nam khá sớm, ngay từ văn học tiền chiến, ở cả trong sáng tạo và diễn giải văn học(1). Tuy nhiên, thời kì đất nước bị phân đôi, phân tâm học được nhìn nhận cơ bản không giống nhau ở hai miền Nam, Bắc. Văn học cổ vũ kháng chiến, xây dựng hình mẫu con người xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tỏ ra hoài nghi các tư tưởng của phân tâm học, xem nó như điểm tựa cho nghệ thuật suy đồi hoặc tự nhiên chủ nghĩa. Ở miền Nam, có lúc phân tâm học được hiểu như một khoa học phân tích tâm lý, có giá trị thao tác nhiều hơn suy tư. Nhìn vào danh mục các công trình dịch thuật và nghiên cứu dễ thấy điều này, và cũng phải đến giai đoạn sau của quá trình văn học đô thị Sài Gòn phân tâm học mới thực sự được chú ý(2). Vì vậy, tìm một phả hệ của sự hồi ứng từ trí thức Sài Gòn với phân tâm học, nhất là trong điều kiện tư liệu khó khăn như ngày nay, là việc không dễ dàng. Các cách thức dựng cây phả hệ, có thể trên mấy nhánh: 1/ Dựa vào dấu vết của việc tiếp nhận (nhà văn nhắc đến phân tâm học và/hoặc các nhà lập thuyết của lý thuyết này) trong tác phẩm hay trong các bài viết; 2/ Các công trình phân tâm học trên ấn phẩm của các nhóm báo chí, nhà xuất bản (tư nhân) mà nhà văn đó, tuy không trực tiếp để lại dấu vết tiếp nhận trực tiếp như (1), nhưng gián tiếp tiếp xúc với phân tâm học khi là thành viên của nhóm; và 3/ Theo các chủ đề của phân tâm học (như tính dục ấu thời, mặc cảm thiến hoạn, mặc cảm Œdipe, xung năng sống và chết;…) khi nhà văn hoạt động độc lập, không có sự truyền dẫn trực tiếp (1) hay gián tiếp (2) với phân tâm học, mà theo đó, sự hồi ứng với phân tâm học chỉ được xét trên khía cạnh không gian văn học đương thời đã mang chứa phong khí phân tâm học, như đã được chỉ ra ở trên và tiếp tục được trình bày sau này, một cách khá đậm đặc, nhất là trong mối tương tác với chủ nghĩa hiện sinh.
Chúng tôi cho Thanh Tâm Tuyền cơ bản thuộc nhánh thứ nhất. Thậm chí, có thể coi là nhà văn có mối quan tâm đặc biệt đến phân tâm học, cùng với chủ nghĩa hiện sinh (vốn có ảnh hưởng khá sâu rộng ở miền Nam), và chủ động kết hợp hai nguồn ảnh hưởng này để thiết tạo quan niệm nghệ thuật, phổ vào trong các sáng tác, nhất là tiểu thuyết. Con đường văn xuôi của Thanh Tâm Tuyền có mấy cột mốc đáng chú ý: thời Người Việt Sáng tạo (31 số, 1956-59) với một tiểu thuyết đầu tay: Bếp lửa (Nguyễn Đình Vượng xuất bản, S., 1957)(3); khúc quành Sáng tạo (bộ mới, 7 số, 1960-61) với một tiểu thuyết in phơi-ơ-tông (feuilleton) dở dang trên tạp chí: Thềm sương mù (tạp chí Sáng tạo, s.4, tháng 10/1960 + s.5, tháng 11/1960 + s.6, tháng 12/1960-01/61 + s.7, tháng 9/1961) mà sau này sẽ được tu chỉnh để trở thành tiểu thuyết đáng kể thứ hai của Thanh Tâm Tuyền: Cát lầy (Giao Điểm xuất bản, S., 1967)(4); và hậu Sáng tạo với các tiểu thuyết: Tiếng động (Hiện đại xuất bản, S., 1970), Mù khơi (Kẻ Sĩ xuất bản, S., 1970), Một chủ nhật khác (Khai hóa xuất bản, S., 1975), trong đó rất đáng chú ý là tiểu thuyết Mù khơi(5).
Từ “nỗi buồn trong thơ” đến văn xuôi “dục tình bi đát”: quan niệm nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền
Những biến chuyển trong quan niệm văn xuôi của Thanh Tâm Tuyền gắn bó mật thiết với sự tục bản của tạp chí Sáng tạo. Chính trong không khí thảo luận thẳng thắn và cởi mở của các thành viên nhóm Sáng tạo trên bốn số đầu tiên của Sáng tạo (bộ mới) nhằm chỉ ra và xóa đi tàn dư của nền văn nghệ cũ và suy tư về các vấn đề cần có của nền văn nghệ mới(6), Thanh Tâm Tuyền đã thể hiện một phần các quan điểm cơ bản của mình về nghệ thuật, mà cùng với đó, ông cũng trình bày một tiểu luận công phu, có giá trị như một tuyên ngôn: Nghệ thuật đen (Sáng tạo, bộ mới, s.3, tr.35-48).
Trong các cuộc thảo luận của nhóm Sáng tạo, khi bàn về “nhân vật trong tiểu thuyết”, Thanh Tâm Tuyền đã viện dẫn tới phân tâm học của Freud như một kích thích tới nghệ thuật hiện đại. Nhận định về tiểu thuyết, ông cho rằng cần phải xác định chính xác thế nào là nhân vật và vị trí của nó trong tiểu thuyết. Theo ông, “đường lối chung của tiểu thuyết gia hiện thời” (ở đây ông muốn nhấn mạnh đến tiểu thuyết mới, vừa trong ý đối lập với “tiểu thuyết truyền thống” và cả trào lưu tiểu thuyết Mới của Pháp, bởi trong thảo luận ông có nhắc đến một đại diện của trào lưu này là Michel Butor), “là tác giả chú trọng tạo cái không khí cho toàn thể tác phẩm. Không khí là chính. Nhân vật là phụ. Nhân vật giống nhau, nhiều khi chỉ còn là những tên gọi”(7). Điều này sẽ được ông thực hiện trong các sáng tác của mình (mà trường hợp Tiếng động là một ví dụ). Riêng về vấn đề nhân vật, sau này sẽ trở thành vấn đề con người trong tiểu thuyết Thanh Tâm Tuyền, ông phê phán xu hướng sử dụng tâm lý học cổ điển để dựng nhân vật và cổ vũ cho việc sử dụng tâm lý học hiện đại, ở đây là Freud: “Đặt vấn đề một cách cụ thể hơn; chúng ta có thể phân tích được rằng quan niệm về nhân vật thời xưa dựa vào tâm lý cổ điển. Trong tâm lý nhân vật có những thành phần riêng biệt và chia rẽ. Như đời sống tâm lý nhân vật cổ điển được chia làm ba phần: thông minh, cảm xúc và ý chí. Mỗi nhân vật được quy định cá tính về một trong những khuynh hướng căn bản kể trên. Bây giờ con người là một đồng nhất. Trong mỗi hành động đều bao gồm cả một đời sống tâm linh. Phải kể đến ở đây tâm lý học của Freud chú trọng khai triển con người ở bí mật tiềm thức hiện lên – chúng tôi nhấn mạnh”(8). Có lẽ đó cũng là lý do căn bản để đến cuộc trao đổi sau, khi thảo luận về “văn nghệ tiền chiến”, Thanh Tâm Tuyền đã cực lực công kích tiểu thuyết tiền chiến, nhất là kiểu tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Ông nói: “Theo tôi, tiểu thuyết tiền chiến nói chung đã lỗi thời về mọi phương diện. Có thể gọi chung tiểu thuyết tiền chiến là một thứ tiểu thuyết đơn giản. Trước hết, đề tài là một sự giản lược của đời sống. Cốt truyện cũng hết sức giản lược, có thể quy thành công thức sau này: một đàn ông + một đàn bà = một chuyện tình. Chuyện tình có thể chia rẽ hay hòa hợp, bởi trở ngại cũ, mới, luân lý, lý tưởng, v.v… Bố cục tiểu thuyết tiền chiến thì mạch lạc, đơn giản. Tâm lý hời hợt, bởi chỉ ngưng lại cái vỏ con người là tình cảm”; Để tỏ ra công bằng, ông nói thêm: “Qua tiểu thuyết tiền chiến, tôi chỉ có thể nhận được người như Vũ Trọng Phụng. Và tạm nhận được Nguyên Hồng qua Những ngày thơ ấu. Nhận ở cái ý thức mới so với thời đại của Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng. Nhưng phải công nhận rằng tiểu thuyết họ vẫn còn rất nhiều khuyết điểm kỹ thuật”(9). Với tất cả những kiểm thảo như thế, Thanh Tâm Tuyền đề xuất phải đổi mới tiểu thuyết: “Tiểu thuyết không phải chỉ là truyện. Như các nghệ thuật khác, nó phải là sự biểu diễn hết sức phức tạp của một nhận thức chủ quan về đời sống”(10). Ông đề cao ý thức của chủ thể sáng tạo, bắt buộc nhà văn phải chú ý đến quan điểm, đến kỹ thuật, với nhân vật, thì “dựng xong nhân vật rồi hãy tìm ở ngoài đời để kiểm chứng” chứ không phải “tìm ở ngoài đời để dựng nhân vật”, “và như thế người viết tiểu thuyết với đầy đủ ý nghĩa là một ông trời con”. Theo ông, “cái ý nghĩa chính là ảnh hưởng của tiểu thuyết trong đời sống. Sẽ có những người ngoài đời bắt chước sống theo nhân vật tiểu thuyết, và giá trị của tiểu thuyết chính ở chỗ nó tạo được một lối sống cho người đời”(11). Bằng cách lập luận ấy, ông đề xuất hình ảnh con người của văn học thời bấy giờ: “Ở những tác giả buộc chặt được với thời đại tôi thấy có thể quy định rằng: nhân vật thời nay là một người bước vào cuộc đời với một cặp mắt bỡ ngỡ kinh ngạc và đòi hỏi một sự đặt lại tất cả các vấn đề mà từ trước tới nay người ta coi như đã giải quyết ổn thỏa hay người ta đã làm lơ”(12). Nói như Tô Thùy Yên – người chia sẻ quan điểm với Thanh Tâm Tuyền khi thảo luận, thì đó là “nhân vật với con mắt người tiền sử”(13). Đây sẽ là một kiểu nhân vật trong sáng tác của Thanh Tâm Tuyền, và được ông minh định sáng rõ trong tiểu luận.
Một số ý kiến Thanh Tâm Tuyền phát biểu tản mát trong thảo luận của nhóm Sáng tạo đã hiện diện trở lại lớp lang và bài bản trong Nghệ thuật đen, bản tuyên ngôn về sự phản kháng nghệ thuật và nghệ thuật phản kháng. Tiểu luận cũng có những tiếp nối và triển nở quan niệm về thơ đã được trình bày trong tiểu luận Nỗi buồn trong thơ hôm nay được công bố trên Sáng tạo số cuối cùng của bộ cũ, khi ông viện dẫn cách phân chia của Nietzsche về hai dòng quan niệm nghệ thuật đối chọi: quan niệm kiểu Apollon và quan niệm kiểu Dionysos(14). Như sẽ thấy ở sau này, sự đối chọi ấy không chỉ được Thanh Tâm Tuyền viện dẫn cho sự phân biệt giữa “thơ xưa” và “thơ hôm nay”, mà còn trở thành cảm hứng cho những dấn thân về lý thuyết khi tiến hành phân biệt giữa “nghệ thuật đen” (nghệ thuật hôm nay) và “nghệ thuật xưa” (nghệ thuật truyền thống), để tìm cách ủng hộ nghệ thuật đen như cách Nietzsche đã ủng hộ nghệ thuật của những người mơ mộng theo Dionysos. Mở đầu tiểu luận, Thanh Tâm Tuyền đã dùng một lối văn hùng biện:
“Gọi nghệ thuật đen là thứ nghệ thuật bi đát phẫn nộ, thứ nghệ thuật dục tình xuồng xã [suồng sã], thứ nghệ thuật vô luân trắng trợn. Thứ nghệ thuật bị các nhà đạo đức lên án, bị con người văn minh chối nhận, bị những người mác-xít dè bỉu – những hạng người rất nghịch nhau lại gặp nhau ở điểm này.
Gọi nghệ thuật đen là nghệ thuật bị hắt hủi, một nghệ thuật “mọi” của những tên “mọi” trong xã hội. Nhưng hãy nhận lấy một sự thực: “mọi” cũng là người và nghệ thuật của “mọi” cũng là nghệ thuật của người. Và bọn “mọi” ấy cũng muốn được phát biểu ý kiến như các ngài vậy”(15).
Sau khi đã chỉ ra nguyên nhân ra đời nghệ thuật đen, phân biệt nghệ thuật đen với nghệ thuật xưa, phân tích phẩm tính của nghệ thuật đen, ông kết luận:
“Gọi nghệ thuật đen không phải vì những ý nghĩa suy đồi lầm lạc người ta gán cho nó. Gọi nghệ thuật đen bởi liên tưởng tới một màu da của nhân loại, màu da đen. Đen có thể là một màu đẹp như đêm tối trong suốt vô cùng, như tròng mắt của người thiếu nữ Á đông. Nhưng hiện thời đen tiêu biểu hết nghĩa cho một cảnh ngộ trong ấy con người chịu đựng sức nặng đè ép của sự vật, của một trật tự mấy nghìn đời.
“Cớ sao tôi xanh, tôi sần và tôi đen đến thế?”. Hãy nghe tiếng kêu ấy của chàng nhạc sĩ da đen, hãy nghe những âm thanh đổ vỡ lổng chổng hay mệt mỏi thê thiết của chàng như hình ảnh của một thế giới dục tình bi đát.
Danh từ nghệ thuật đen được tạo thành từ hình ảnh một màu da lại luôn luôn là thân phận của người, một thân phận mọi. Bởi thế nghệ thuật đen chính là nghệ thuật hôm nay vậy”(16).
Hướng lập luận của Thanh Tâm Tuyền trong tiểu luận này là tấn công vào quan niệm xem thường thứ nghệ thuật bị cho là tôi mọi, là “phản động, phản tiến hóa, phản nhân loại”, bởi các nhà bình luận chỉ vớt cái váng nổi trên bề mặt của lý do phát sinh nghệ thuật này: bình diện xã hội mà nghệ thuật hiện diện như một biểu thức. Thanh Tâm Tuyền muốn đi tìm căn nguyên “tiến bộ, tiến hóa, nhân loại (phổ quát)” của nó từ bề sâu sự sáng tạo tinh thần cá nhân. Với ông, “nghệ thuật trước hết là một lối nhận thức đời sống. Nhận thức nào cũng bắt đầu bằng sự chia lìa cần thiết giữa một ý thức và đối tượng của nó. Cấp độ của sự nhận thức cao thấp tùy theo sự chia lìa ấy sâu xa hay hời hợt”(17). Nên trong sự so sánh với lối nhận thức đời sống ở nghệ thuật xưa và lối nhận thức triết lý, ông thấy tính cách mạng của nghệ thuật đen nằm chính ở cấp độ của sự chia lìa ấy, một “chia lìa ghê gớm” như là “khởi nguyên của ý thức là mầm mống của thay đổi, của sáng tạo”. Bởi theo ông, “triết lý luôn luôn là một sự khởi đầu, kẻ tới sau muốn lật đổ áp lực người thuở trước. Nghệ thuật đối với các tác giả lớn cũng là một khởi đầu”(18). Ở đây, chúng ta thấy phảng phất cái quan điểm đã được Thanh Tâm Tuyền nêu ra trong cuộc thảo luận về “nhân vật tiểu thuyết” đã được nhắc đến trên kia, trong việc đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo nên những nhân vật bỡ ngỡ kinh ngạc trước thực tại với ý thức lật lại mọi vấn đề cố định thực tại ấy.
Chấp nhận nghệ thuật là một ý thức siêu hình về đời sống, giống như triết lý, nhưng nghệ thuật đen đã không bị “tha hóa” như nghệ thuật xưa, dù là những nghệ thuật lớn, khi chúng cố gắng “đồng hóa với triết lý”. Vì thế mà Thanh Tâm Tuyền tuyên chiến, “ngay trong lĩnh vực văn chương, cái tham vọng của nhà văn muốn đồng hoá văn chương với triết lý bao giờ cũng dẫn tới sự thất bại trên bình diện nghệ thuật – không kể đến thứ văn chương đồng hóa với luân lý hay với chính trị là thứ phản-văn-chương, bởi nó chẳng mang tới một nhận thức nào về đời sống, nó chỉ minh họa cho một nhận thức đã được quy định giản lược từ trước”(19). Tham vọng đồng hóa để hướng tới sự bất diệt của nhận thức văn chương theo mô hình triết lý là bất khả, mà phải đi theo con đường khác. Ông cho rằng nhà văn phải ràng buộc mật thiết với đời sống để “chụp lấy trong những tình thế nhất định bằng những kinh nghiệm độc nhất”, bởi “cái ý nghĩa vĩnh cửu của đời sống văn chương, nếu đạt tới, vẫn bị giữ rịt giữa một hiện tại rõ ràng hiển hiện, gọi nó là một hiện tại bất diệt vậy, không bao giờ nó là một thứ tuyệt đối khách quan như cái ý niệm của Platon, của Hégel, hay – Thượng Đế (hoặc sự Siêu hoá) của các nhà hiện sinh Công giáo như Kierkegaard, Jaspers, hay Tự Do (viết hoa) của Sartre”(20). Nghệ thuật đen không “tự vẫn trong triết lý” (ông mượn lại cách nói của Albert Camus), nên nó bất diệt và có sức mạnh.
Nghệ thuật đen – Thanh Tâm Tuyền viết, “chính là cái ý thức siêu hình trước những cảnh ngộ trong đời sống hôm nay, là biểu thị sự tự do của những con người bằng xương thịt trong những tình thế có thực của kiếp người, là lời kêu gọi cất lên cùng mọi người trong cuộc hành trình lịch sử phải sống.
Bởi đó nó bi đát phẫn nộ, nó xuồng xã [suồng sã] dục tình, nó vô luân trắng trợn”(21).
Chính từ nền tảng này, Thanh Tâm Tuyền chỉ ra tính chất của nghệ thuật đen, cái ưu thế cần thiết khiến nó trở thành nghệ thuật cần theo đuổi trong hiện tại. Ông khẳng định: “cái tính chất đen đầu tiên của nghệ thuật hiện nay là sự bi đát đến phẫn nộ ít thấy ngày trước”, “nghệ thuật đen đứng lại là một lời kêu gọi, ý thức siêu hình sáng tạo của nó cố gắng đạt đến một nhận thức càng rộng rãi đầy đủ bao nhiêu càng hay bấy nhiêu, phô bày qua tác phẩm những thực kiện phức tạp cho thật cụ thể chân xác, nỗ lực trong nhận thức triệt để về một cảnh ngộ là đã mở ra những tầm chân trời để tùy sự lựa chọn từng cá nhân đường lối thích hợp cho riêng mình giải phóng mình khỏi cảnh ngộ. Đối với xã hội, nghệ thuật đen giữ vai trò là một ý thức dò hỏi phát hiện những vấn đề có liên quan đến kiếp sống con người, một ý thức siêu hình luôn luôn thức tỉnh hoạt động trong phạm vi của nó, không có tham vọng giải quyết. Giải quyết thuộc phần vụ của các ngành hoạt động khác trong xã hội nhân loại, nói cho đúng là công trình của cả một xã hội trong sự vận dụng hết mọi khả năng của xã hội ấy”(22). Để đạt được mục đích ấy, nghệ thuật đen phải tạo cho mình nhiều phương cách, nhưng trội bật hơn cả là việc sử dụng dục tình. Ở đây, Thanh Tâm Tuyền đã tuyên bố một quan điểm khá mới mẻ về vấn đề dục tình trong văn nghệ, điều sau này sẽ trở thành một chủ đề rất đáng kể, luôn luôn dằn vặt và đòi hỏi được tái nhận thức, trong sáng tạo của ông. Ông viết:
“Dục tình trong nghệ thuật đen là một phương cách của nhận thức siêu hình, hiển nhiên không phải là phương cách độc nhất. Nếu nghệ thuật đen có thường dùng đến luôn chỉ bởi phương cách ấy từ xưa vẫn bị nghiêm cấm khinh rẻ, dục tình trong nghệ thuật ở xứ ta là một khu đất hoang chưa được khai thác trong khi thật sự nơi ấy, cũng như ở những hình thái sinh hoạt nhân loại khác, tiềm ẩn cái ý nghĩa siêu hình của kiếp sống mà nhận thức nghệ thuật có thể phơi mở. Không tuyệt đối tin theo Freud rằng cuộc sinh hoạt nhân loại bị quy định thầm kín bởi dục tình bởi bản năng – sự sai lầm hư hỏng của Freud là muốn biến khoa tâm phân bệnh học của ông thành một triết lý toàn diện giải thích tất cả – nhưng cũng không thể chối rằng bản năng, dục tình không giữ vai trò gì đáng kể trong cuộc sinh hoạt nhân loại. Nghệ thuật đen không ngoảnh mặt với đời sống, đối diện với nó trong mọi mặt xuất hiện để theo đuổi dò hỏi ý nghĩa của nó. Hơn nữa, dục tình lại là điểm phát khởi của đời sống nhân loại lúc sơ khai và còn dự phần mãi mãi trong đời sống ấy, trong nó có chứa đựng cái ý nghĩa siêu hình thiết thực của thế tục. Không nhận thức nào cụ thể mạnh mẽ hơn về sự sầu khổ hay hân hoan bằng sự sầu khổ, hân hoan hiển hiện trong da thịt của một người, người ta không còn thể chối cãi rằng đó chỉ là tưởng tượng. Đáng thương cho những kẻ mà sự nhận thức mới nằm trong địa hạt của lý tính trong con người, nó làm cho họ trở thành kẻ lạ mặt giữa cuộc sống, kẻ lạ mặt trong chính thân xác họ. Đối với một vài cảnh ngộ, dục tình còn có thể được coi như một nguyên lý phát khởi cùng một lúc sự chối từ tất cả và sự yêu mến tất cả. Trong dục tình người ta yêu cái chết cùng một lúc với sự sống. Nói như Sartre, “dục tình ném con người vào trong lòng sôi sục của tự nhiên và đồng thời nâng nó vượt khỏi tự nhiên do sự khẳng định cái quyền hạn của nó không được thỏa mãn”(23).
Tiếp nhận phân tâm học của Thanh Tâm Tuyền ở đây đã mang một tinh thần phản biện rõ ràng. Ông đồng tình với Freud ở chỗ dục tình được hiểu như là một phương cách tư duy siêu hình của nghệ thuật, nhưng ông phản đối Freud ở chỗ ông ta đã đẩy những suy tư phân tâm học từ lĩnh vực tri nhận của một ngành bệnh lý, sự phát hiện tính chất khởi điểm của dục tình như là khởi điểm của nghệ thuật, dấn sâu vào không gian suy tư triết lý, tưởng làm giàu sang nó nhưng thực chất làm nghèo nàn nó. Vì vậy, Thanh Tâm Tuyền muốn kết tập phân tâm học của Freud và tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh, để đề xuất một mô hình nghệ thuật mới, “nghệ thuật đen chính là nghệ thuật hôm nay”, mang thế giới quan hiện sinh (nhà văn dấn thân, văn nghệ phản kháng,…) và thao tác luận phân tâm học (vai trò của tiềm thức, vô thức; của dục tình;…). Tất nhiên, trong sáng tác của Thanh Tâm Tuyền về sau này, mô hình nghệ thuật đen được thi triển với nhiều biến hóa, cung cách ứng xử với những luồng ảnh hưởng triết mỹ Âu Tây cũng có nhiều biến đổi; dù ngay lúc ấy tiểu luận đã được hồi ứng đáng kể(24). Có thể do nghiệm trải của nhà văn, cũng có thể do không gian văn học đô thị miền Nam có nhiều chuyển động phong phú và đa dạng. Nhưng ở ngay năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ XX, quan niệm văn học của Thanh Tâm Tuyền nói riêng và của nhóm Sáng tạo nói chung, có tính cách đột phá, có nhiều tác động tới đời sống văn học đô thị miền Nam(25).
Từ tiếp nhận đến biến cải: phân tâm học trong tiểu thuyết Thanh Tâm Tuyền
Bếp lửa là sáng tạo văn xuôi đáng kể đầu tiên của Thanh Tâm Tuyền. Đó không phải là một cuốn tiểu thuyết đầu tay, như ông xác nhận trong lời tựa bản in lần thứ tư (Kẻ Sĩ xuất bản, S., 1973)(26), bản in mà ông muốn là bản in chung quyết để bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết khác, không phải cố công tìm cách viết lại chính nó nữa. Tại sao lại phải viết lại? Vì tiểu thuyết đầu tay đã bị tác giả hủy bỏ, nó trở thành “cuốn tiểu thuyết thứ nhất” dù không phải là “tiểu thuyết đầu tay”, một cuốn tiểu thuyết “được viết một hơi – khoảng đâu hai ba tháng – được in ngay sau khi viết – không có một quãng cách nào để kịp lùi, nhìn lại”, “quyển duy nhất của tôi chỉ có một lần bản thảo”. Nó có nhiều yếu tố tự truyện, từ nhân vật Tâm mang tên cúng cơm của tác giả đến nhiều sự kiện có thật khác, như đã được Thanh Tâm Tuyền nói trong cuộc thảo luận về “nhân vật tiểu thuyết”, tức nó là một ký ức, thứ ký ức nhuốm màu hư cấu, mà nói như Nabokov, “sự khai thác thực tại riêng cá nhân được tiểu thuyết hóa say sưa mãnh liệt hơn trong lời tự thuật tỉ mỉ trung thực” đến mức sau đó nhà văn “không hề cảm thấy chút nào ngượng ngùng thú nhận rằng sự gắn bó của tôi – như một vết thương sâu – đối với quyển sách đầu đời”, khi ông so sánh tiểu thuyết đầu tay Mashenka (1926) với tự truyện Nói đi, hồi ức (1969) trong lời tựa Mary (1970), bản dịch tiểu thuyết ấy sang Anh ngữ. Vậy là, lại là trong một lời tựa, và về một cuốn tiểu thuyết đầu tiên, không phải là cuốn xuất sắc, càng không xuất sắc so với Lolita (1955) đã được biết đến rộng rãi trên toàn thế giới và trong đô thị miền Nam, song đã được Thanh Tâm Tuyền chọn dịch dưới tiêu đề Tình một thuở(27). Có một sự chia sẻ đáng kể giữa Thanh Tâm Tuyền với Nabokov, mà chúng tôi sẽ trở lại ở phần sau của tiểu luận này. Viện dẫn Nabokov, và những lời tự bạch của Thanh Tâm Tuyền, để thấy rằng, Bếp lửa là cội nguồn tình yêu văn chương và sự sống của ông, ý thức trách nhiệm trong sáng tạo và trong đời sống của ông. Bởi như lời nhân vật chính của tiểu thuyết gửi người yêu, “anh yêu quê hương vô cùng và anh yêu em vô cùng”, và như lời tác giả của nhân vật tự truyện ấy “mỗi nhà văn là một kẻ sống sót” để truyền lưu sự thật và sự lựa chọn, trong lời tựa của bản in lần thứ 2 (Sáng tạo xuất bản, S., 1965)(28). Bếp lửa, nói như Nabokov, cũng là “một vết thương sâu” nuôi dưỡng tình yêu văn chương và niềm tin sống của Thanh Tâm Tuyền.
Sau Bếp lửa, Thanh Tâm Tuyền không còn viết một cách giản đơn như thế. Dù tự bạch về việc muốn viết lại cuốn tiểu thuyết ấy chắc hẳn không phải vì sự phức tạp hóa của ông ở giai đoạn sau. Gần như để minh chứng cho những công kích của mình với sự giản đơn của tiểu thuyết tiền chiến, trong Sáng tạo (bộ mới), ông cho in phơi-ơ-tông Thềm sương mù(29), một tiểu thuyết có cấu trúc phức tạp, và không ít giễu nhại, được tái xuất trong một hình hài khác dù vẫn dưới dạng in phơi-ơ-tông, để phải đến bảy năm sau, tiểu thuyết mới xuất hiện ở dạng ấn bản sách, dưới tiêu đề Cát lầy của lần tái xuất phơi-ơ-tông thứ hai như đã nói đến ở trên. Thềm sương mù/ Cát lầy dùng nhiều tuyến truyện xen gài với nhau giữa hàng loạt các nhân vật: Hiệp – Nhàn – Khuyến – Tạo – Bằng – Khôi – Lucie – Khản – Hoa – Kim – Hồng – Trí – Diệp – …, trong đó có hai mạch chính là các mối tình giữa Hiệp – Nhàn – Khuyến – Kim – Hoa và Trí – Nhàn – Diệp. Ở đấy, Nhàn yêu Khuyến, (hay yêu cả Khuyến và Hiệp?), nhưng lại rời Sài Gòn ra Thủ Dầu Một để sinh sống với Hiệp; Hiệp ở với Nhàn nhưng vẫn vào Sài Gòn dan díu với Hoa, người tình của anh bạn tên Kim mà y đã bỏ rơi; Trí yêu Diệp, nhưng cũng đơn phương yêu Nhàn, dù tình cảm anh em bạn bè giữa bốn người là gần gũi, thân thiết. Nếu như dấu vết hiện sinh hiện diện trong lối sống thì phân tâm lại hiện diện trong cách thức xây dựng tâm lý nhân vật (chứ không đơn thuần chỉ là dấu vết vật chất, khi trong truyện, nhà văn để cho Khản đề nghị Hiệp viết một cuốn sách về Freud với nhận định chắc chắn của một người xuất bản: “Thiên hạ bây giờ đang refoulé tợn lắm”)(30). Sự phức tạp trong tâm lý và tính cách của Trí, cái sự điên và ý thức về sự điên ấy, có dấu vết rõ ràng của phân tâm học với việc khai thác phần tiềm thức và những ẩn ức ấu thời của nhân vật(31).
Song tham vọng của Thanh Tâm Tuyền hình như không chỉ dừng lại ở đấy. Ông nỗ lực hiện đại hóa nghệ thuật tự sự, từ đơn tuyến thành đa tuyến, từ đơn giản thành phức tạp. Cùng với hiện đại hóa, ông công kích tiểu thuyết tiền chiến, bằng cách trưng ra mối tình “lãng mạn hiệp sĩ” của Hiệp với Hoa, và để cho Hoa, trong lúc đắm đuối thụ hưởng tình yêu của Hiệp, tán nhảm về cuộc tình của mình thời thơ ấu, một cuộc tình thấm đẫm màu sắc Tự lực văn đoàn và Thơ mới, mà cô không ngần ngại nhại: Ngày mai anh bỏ làm thi sĩ/ Em lấy chồng rồi hết ước mơ; hay để người tình bé bỏng của cô làm thơ: Tôi khóc vì mình sắp biệt ly/ Hoa ơi đâu có hẹn ngày về… Tuy nhiên, sự giễu nhại này hầu như rất ít xuất hiện trong các sáng tác sau đó của Thanh Tâm Tuyền. Có thể vì trong khúc ngoặt những năm 60 của thế kỷ trước, khát vọng khẳng định của một thế hệ trẻ trước gánh nặng quá khứ và sự trỗi dậy của quá khứ ấy trong một bộ phận không nhỏ các nhà văn thế hệ tiền chiến di tản vào Sài Gòn, khiến phản ứng của họ trở nên mạnh mẽ và quyết liệt, mà trong sự đa dạng và cởi mở ở giai đoạn sau, vấn đề xung khắc thế hệ trở nên bớt gay gắt hơn. Sáng tác của Thanh Tâm Tuyền khi ấy, chủ yếu hướng về phía hiện đại hóa văn học.
Năm 1970 đánh dấu sự trở lại ấn tượng của Thanh Tâm Tuyền với việc nguyệt san Tân văn (s.23, tháng 3/1970) tái bản tập truyện ngắn Dọc đường, và các cơ sở xuất bản khác nhau cho ấn bản ba tác phẩm khác: Hiện đại với Tiếng động, Kẻ Sĩ với Mù khơi, và Chiêu Dương với Tạp ghi. Ngoài Tạp ghi là tạp văn sưu tầm trên nhật báo Tiền tuyến, hai tác phẩm còn lại, dù Tiếng động được ghi là “truyện tình”, vẫn được xem là hai tiểu thuyết độc đáo của Thanh Tâm Tuyền, ở hai phương hướng thể nghiệm nghệ thuật khác nhau. Tiếng động, chỉ gồm hai chương, dưới hình thức nhật ký và thư từ, như đã nói từ trước, chủ yếu hướng tới việc tạo dựng không khí tiểu thuyết. Một bút pháp tiểu thuyết vạm vỡ, với con người và đời sống vây bọc nó, hiện diện đủ đầy trong Mù khơi. Chúng tôi sẽ không nói về tất cả những đổi mới về mặt thi pháp của Mù khơi mà chủ ý đi tìm cách thức mà phân tâm học đã để lại dấu vết, còn nhà văn thì kháng cự lại nó, như là một biểu hiện của tinh thần “nghệ thuật đen”. Chúng tôi muốn nói đến một nỗ lực phản-phân tâm học trong tiểu thuyết này.
Mở đầu tiểu thuyết, Thanh Tâm Tuyền đã nêu rõ cái ý tưởng ấy. Cái ý tưởng mà chỉ một lần duy nhất, ông công nhận công trạng của phân tâm học khi nó phát kiến ra thế giới của tiềm thức, vô thức (trong cuộc thảo luận về “nhân vật trong tiểu thuyết”), còn các lần khác đều chủ yếu là công kích nó, đúng hơn, công kích nỗ lực phổ quát hóa nó như một triết lý toàn diện, một phương pháp vạn năng, một chủ đề đầy đủ(32). Trong những trang đầu của tiểu thuyết, tác giả để cho nhân vật xưng tôi quả quyết:
“Tôi biết, tôi dư sức biết, mối tình cảm của tôi có thể được giải thích bằng cái lý thuyết gọi là tâm phân của Freud. Ôi, cái mặc cảm gọi là Œdipe kia lồ lộ trong cái khuynh hướng sát phụ. Mọi người muốn hiểu thế cũng được. Riêng tôi, tôi không muốn…
Phải, mối tình cảm của tôi đối với người đàn ông ấy không giản dị là của đứa con chống lại với bố nó. Không giản dị thế đâu. Còn cái gì hơn nữa kìa, cái gì mạnh mẽ buộc chặt tôi vào người khiến tôi nổi điên vùng vẫy. Cái gì buộc chặt tôi? Và bây giờ cái chết cởi thoát cho tôi, với sự tự do vừa tìm thấy, tôi sẽ… phải, tôi sẽ sung sướng hơn”(33).
Để trả lời cho được định đề khởi điểm ấy, nhà văn đã dẫn dắt người đọc qua biết bao con đường lắt léo, bố cục trôi nổi, mạch truyện khi căng khi chùng khiến cho nhiều lúc, câu chuyện tưởng đã đi đến hồi chung cục, lại rẽ quành theo ngả khác. Nhân vật xưng tôi, trải qua bao biến cố, bao cuộc tình, tuy hình hài không thay đổi nhưng tên tuổi và lai lịch lại thay đổi thường xuyên, chẳng vì một lý do nào cả, ngoài lý do cần thấy thay đổi và xóa nhòa dấu vết, ngược hẳn với cái lai lịch dẫu được huyền thoại hóa vẫn ít nhiều cố định của người cha và người bạn gái (vừa của người cha vừa của người con) bởi những hoạt động mang tinh thần tranh đấu của họ. Phải đến hai chương áp chót của cuốn tiểu thuyết, Thanh Tâm Tuyền mới hé lộ câu trả lời cho cái câu hỏi bóp nghẹt nhân vật chính. Một câu trả lời giả, sau đó mới đến câu trả lời thật.
Trong chương 12, tác giả để cho Trường, lúc này đang mang tên Phúc, có một cuộc làm tình bẽ bàng với người phụ nữ của cha mình – ông Nguyễn – dù hai người thực sự đã vượt qua được cái bóng phủ trùm của ông ta. Trong im lặng của buổi chiều, một hình ảnh của người bạn gái đã kéo Trường về với thời quá khứ, để đem lại lời giải đáp cho nỗi trớ trêu của cuộc tình ấy:
“Hồng nghiêng mặt nhìn tôi dịu dàng thân ái, môi dưới trề thêm theo thói quen mỗi lần phát biểu kín đáo mối bất bình trước đám bạn trai ngày nào trong sân trường đại học hay trong các buổi hội họp khi mọi người quá ồn tranh giành thủ thắng với lý lẽ cù nhầy. Hồi đó, bọn con trai gọi Hồng là “bà già khó tính” và trêu tôi “cậu gánh dùm bà già khó tính cho em nhờ”.
Tôi bỗng nhớ đến những ngày trôi nổi của đời sinh viên, nhớ đến hình như trong một giấc mơ nào, tôi đã hôn Hồng và tưởng tượng người bạn gái đã nói: “Anh Phúc ơi, đứa nào xúi anh hôn tôi… Anh coi chừng…” Bản năng làm mẹ của Hồng quả là mạnh, nàng đứng vững chân trên mặt đất cứng. Tôi xẹp xuống, mềm nhão trong cái cảm tưởng chúng tôi đã lìa bỏ cơn lốc mù bước vào vùng bình yên thoáng khí.
Tôi bạo dạn quàng tay ôm ngang ngực người bạn gái và Hồng tụt dần ra khỏi gối tựa vào tay tôi. Chưa khi nào tôi hưởng được những giây phút thanh thản đến như thế. Tôi muốn thiếp ngủ bên cạnh Hồng với sự trống trải của chúng tôi ủ dưới lần chăn mỏng. Thân nhiệt ở Hồng điều hoà bình tĩnh như làn nước dưới mặt hồ phẳng. Có lẽ sự căng thẳng trong ngày đã giựt đứt mọi giây trói quấn bây lâu ở nàng và lúc này chỉ còn sự tả tơi mơ mộng ở lại trên da thịt nàng”(34).
Một câu trả lời với đầy đủ các bước của một trị liệu tinh thần, có một hình ảnh bất ngờ gợi về ký ức, có giấc mơ dục tình, để nhận ra sự chi phối của bản năng làm mẹ nơi Hồng, xóa đi khoảng cách giữa hai người để họ có thể sống thanh thản trong một “vùng bình yên thoáng khí”. Câu chuyện tưởng cũng có thể dừng lại tại đấy, khi đôi tình nhân đã nếm trải quá nhiều thử thách trên đường đời. Nhưng với Thanh Tâm Tuyền, từng ấy là chưa đủ. Nó là lý do để ông lật lại phân tâm học, hay vì muốn lật lại phân tâm học như một triết lý trọn vẹn, mà xuất hiện tiếp tục những dữ kiện phân tâm ở chương kế tiếp.
Chương 13 tiếp tục ca trị liệu theo phương pháp phân tâm ấy. Sự kiện chia sẻ thân xác lần đầu tiên tạo đủ sự tự tín cho Hồng thổ lộ với người yêu  quá khứ của mình. “Hôm nay tôi sẽ nói hết cho anh nghe. Tôi nói với tôi hoài vô ích. Tôi là con bệnh, anh cứ coi tôi là con bệnh. Anh thử đóng vai psychanalyste hộ tôi. Biết đâu, anh chẳng phát giác giúp tôi chữa khỏi… Biết đâu?”(35). Và một câu chuyện theo lối phân tâm được kể ra: tình yêu ấu thời cùng lần chung đụng thể xác từ tấm bé với người anh họ xa đã theo Hồng đến mãi sau này, không thể nguôi ngoai, không thể dứt bỏ, và càng không thể thổ lộ. Những cứ liệu chính xác và trùng khít lý thuyết đến mức tạo ra sự… hoài nghi nơi Trường.
“- Chị Hồng, chị thử nhớ kỹ lại xem chị đã đọc Freud trước hay sau khi chị nhớ lại cái biến cố thời thơ ấu… Chị nhớ kỹ lại xem.
- Trước hay sau, làm sao tôi nhớ? Nhưng điều ấy có quan hệ gì?
- Tôi nghĩ là quan hệ. Câu chuyện của chị có thể đã không sống lại, không ám ảnh chị nếu chị không đọc Freud. Chị sẽ không thấy gì cả. Mọi sự rồi trôi qua tự nhiên. Nhưng vì chị đã đọc tâm phân và chị nhiễm bệnh. Chị không còn thấy tự nhiên nữa… Rất có thể chuyện đó không hề bao giờ xảy ra và chị đã phải cố tìm, tìm cho ra một điều gì… điều gì đó phải có để biện minh cho một sự trục trặc hiện thời… Cái việc không là biến cố hoá thành ra biến cố trọng đại, có thể là vết trầy xước sơ xịa bị khoét moi móc thành vết thương… Sự trục trặc có thể qua khỏi nghiễm nhiên trở thành tật chứng có căn rễ sâu xa…, chị sẽ nhìn thấy những vực thẳm nơi mình, vực thẳm không đáy… Làm gì có vực. Chỉ có ảo tưởng của chính mình thôi”(36).
Trước sự khăng khăng của người bạn gái, “có Freud hay không có Freud thì tình trạng của tôi vẫn rõ ràng… làm sao tôi chối được?”, Trường tiếp tục phân giải, nhưng lần này không hề giống tư cách một bác sỹ tâm lý: “Chị thử nghĩ mà xem, nếu tôi nghĩ như chị thì tôi sẽ khổ đến chừng nào… Có lẽ không sống nổi… Chị thử nghĩ lối đó xem thì tôi là cái giống gì? Mình đang nằm đây, tôi với chị này, là cái sự thể gì vậy? Comlexe d’Œdipe chứ còn gì nữa. Tôi thù ông bố tôi, chiếm đoạt người yêu của ông bố… Chúng ta vừa đi thăm mộ ông về rồi thì… Chị thấy không, tôi bệnh, đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì nữa… Như thế thì chị là hình ảnh của người mẹ đối với tôi, chị không còn là Hồng nữa… Chị nghĩ thử xem”; “Chị Hồng, chị cứ muốn đóng vai người mẹ… nhưng rốt cuộc chị vẫn là trẻ con như chị thú nhận đấy phải không nào? Tại sao mình không nghĩ ngược lại là chị từ trong tiềm thức, chị đi tìm tôi qua ông Nguyễn chẳng hạn, nghĩ thế cũng có thể đúng chứ sao… Nhưng thật ra nào có gì, chẳng là cái gì ráo… Mình vẫn là bạn, chỉ là bạn thôi, chị Hồng ạ”(37). Đến đây, cái ám ảnh phân tâm đã bị giải thể, bởi nó không tạo được niềm tin, nó dễ dàng bị tháo dỡ và hoán đổi. Song đòn kết liễu của một niềm tin phân tâm, ở đây được hàm ngụ qua nhân vật Hồng, lại nằm ở chính lời thú tội sau rốt của chị: “Anh biết không, tôi còn nói chưa hết… Lầu đầu tiên, tôi như thế này… nhưng không phải là lần đầu tiên… Hồi tôi bị bắt, phải hồi đó… Anh hiểu tôi định nói gì chứ… Bọn công an chúng cười vào mặt tôi: tưởng thế nào, tưởng mấy cố thế nào… không ngờ… không ngờ… Chúng tưởng tôi là con gái trong trắng… Và tôi đã là đàn bà… Anh hiểu chứ, một người đàn bà…”. Cái lý do đích thực làm khô héo con tim của Hồng là ở đấy, một nguyên nhân hoàn toàn xã hội. Nó làm cho Trường nhận ra: “Không hề có xâu chuỗi như người ta mơ màng quàng quấn trên cổ mình và gọi tên bằng Định mệnh. Định mệnh cũng là thứ hạnh phúc trang điểm cho đời người thêm rực rỡ”(38). Phần còn lại của tiểu thuyết, chương 14, là dư âm của niềm vui được trút bỏ gánh nặng, không phải để làm lại một cuộc đời tươi mới, cuộc đời đã bỏ lại đằng sau biết bao đắng cay. Chi tiết Trường chối bỏ không nhận người bạn cũ, cảm giác an nhiên khi gặp lại Hằng, người con gái được miêu tả ở những trang đầu tiểu thuyết, trong buổi hẹn hò mà Trường nghĩ mình đã dứt khỏi sự trì níu của người cha bằng cái chết của ông ta để đến được với người mình yêu, người con gái đã để lại sự thương tổn sâu sắc khi bỏ Trường ở lại trơ trọi với mối tình của mình, báo hiệu sự lãng quên toàn triệt, mà trước đó cũng ít nhiều đã được Trường hé lộ cho Hồng khi cô quyết định xuất ngoại. Tiểu thuyết dừng ở đấy, như một cố gắng không “tự vẫn trong triết lý”. Mù khơi là cái khoảng không hỗn mang của con người bị buộc phải đứng trước sự đổ nát của đời sống, nghiệt ngã và phi lý, nhưng không cùng đường và cũng không có con đường vượt thoát được vẽ ra, dù bằng ý chí hay niềm tin vào định mệnh. Tiểu thuyết không vạch mây để thấy mặt trời, nhà văn càng không xé toang lồng ngực lấy trái tim thắp sáng dẫn lối, mà chỉ gióng lên một tiếng chuông tan trong mây, hay lan lan rồi hòa vào khói sương trên mặt hồ đã kịp trở nên tĩnh lặng.
Những nhận thức bước đầu khép lại vấn đề
Một quan điểm triết mỹ, hay một lý thuyết Âu Tây, khi vào Việt Nam thường được tiếp nhận nhưng cùng với đó là quá trình tự điều chỉnh. Luôn chịu sự chi phối của tâm lý đám đông, khả năng vượt thoát để tạo nên một thế đứng điềm tĩnh trong tiếp nhận là không dễ dàng. Bằng những dấu vết văn tự, dễ thấy Thanh Tâm Tuyền có thể đại diện cho một dòng chảy của sự tiếp nhận phân tâm học vào trong sáng tạo văn học. Tuy vậy, tiến tới một lối viết phản-phân tâm là một nỗ lực riêng của nhà văn. Ở đây, có lẽ Thanh Tâm Tuyền cũng tâm đắc với nhiều quan niệm của nhà văn lưu vong Nabokov, trong việc đọc và chuyển ngữ sáng tác của ông sang tiếng Việt, và trong cả sự tiếp nhận Nabokov ở môi trường văn nghệ đô thị miền Nam. Như đã nói ở trước, sự chia sẻ ấy ít nhất ở hai điểm: sự tương đồng trong niềm trăn trở về những sáng tác mang dấu tích hư cấu hóa cá nhân ở giai đoạn đầu; và, tinh thần phản-phân tâm như một phương cách chống lại sự áp chế của triết lý khoa học vào triết lý văn chương, trong khi nhà văn được/bị chung sống với các lý thuyết và kỹ thuật văn nghệ.
Ở đô thị miền Nam, cùng với Thanh Tâm Tuyền, nhiều nhà văn cũng tiếp nhận phân tâm học như Duyên Anh, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, nhất là các nhà văn nữ như Nguyễn Thị Hoàng, Thụy Vũ, Túy Hồng, Nhã Ca, Trần Thị Ng.H.,… tất nhiên với mức độ cùng sự thi triển khác nhau trong sáng tác. Họ là chủ nhân của các cách tiếp nhận phân tâm thứ hai và thứ ba được nêu ra từ đầu tiểu luận này, và làm nên dòng văn chương đậm màu sắc tính/tình dục trong văn xuôi đô thị miền Nam. Chẳng hạn, một dấu vết gián tiếp của việc tiếp nhận phân tâm học, sẽ dễ tìm thấy ở trường hợp Nguyễn Thị Hoàng, khi nhà xuất bản Hoàng Đông Phương của nhà văn, ở giai đoạn phát triển về sau, từ giữa thập niên 60, xuất bản đồng thời những tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng cùng với nhiều dịch phẩm phân tâm học. Các không gian văn học được cố kết bởi các tạp chí (thiên hướng) văn chương như Sáng tạo, Bách khoa, nhất là Văn, cũng là cầu nối để phân tâm học đến với đông đảo nhà văn và bạn đọc. Nguồn cội của tiếp nhận ấy xuất phát từ sự giao lưu văn hóa tương đối dễ dàng, từ sự phổ cập của báo chí và dịch thuật, cũng từ sự tương đồng trong mối quan tâm tới các chủ đề văn học nữa. Ở đấy, sự tương tác giữa việc tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh và phân tâm học trong đô thị miền Nam càng khiến cho những chủ đề văn học kiểu như tình/tính dục trở nên phổ biến. Tuy vậy, vẫn cần phải có những phân định cần thiết chủ đề tình/tính dục với việc tiếp nhận chủ đề tình/tính-dục-qua-lăng-kính-phân-tâm-học và/ hoặc tình/ tính-dục-qua-lăng-kính-thuyết-hiện-sinh (được tiếp nhận) ở văn học đô thị miền Nam(39). Trường hợp dòng văn học dục tình chẳng hạn, với các tác giả nữ, có lẽ cũng không thể chỉ xem xét ở khía cạnh tiếp nhận phân tâm hay hiện sinh: sự bắt nối vào thân thể người nữ vừa như chủ thể vừa như đối tượng của sáng tạo nghệ thuật luôn mở ra nhiều hơn một cánh cửa phân tâm học hay hiện sinh chủ nghĩa. Bởi có một thực tế đáng được quan tâm là thực sự cũng không có nhiều nhà văn chuyên tâm vào việc định hình một lối viết có bệ đỡ triết mỹ, như hiện sinh với Dương Nghiễm Mậu, hiện tượng học với Thế Nguyên, và ở đây là Thanh Tâm Tuyền với phân tâm học. Cách Thanh Tâm Tuyền dùng từ refoulé cho thấy tâm lý đám đông đã tác động đến việc hình thành các mốt trong tiếp nhận và sáng tạo văn chương thế nào. Nó khiến cho hầu như ở tác phẩm nào cũng có ít nhiều dấu vết của các trào lưu triết mỹ đang được nhập khẩu nhanh mạnh vào đô thị Sài Gòn, khiến việc quy chiếu vào một ý thức triết mỹ luôn trở nên khiên cưỡng. Soi chiếu từ một góc độ, vì vậy, luôn phải tính đếm đến những dấu vết khả tín từ trong quan niệm của chủ thể tiếp nhận đến cả nguồn tư liệu đang dần trở nên khan hiếm. Đó cũng chính là lý do khiến sự khảo sát ở đây, liên tiếp phải thu vào các giới hạn, để khả tín nhiều nhất trong khả năng có thể, về mặt tư liệu và theo đó, khả tín về sự miêu thuật, tạo bệ đỡ cho việc tái dựng và diễn giải các vấn đề văn học sử. Một hình dung cơ bản về dấu ấn phân tâm học trong sáng tạo văn học đô thị miền Nam còn cần tiếp nối thêm nữa những sự mở rộng khai thác tư liệu và những tiếp cận trường hợp cụ thể, để thấy cho được phân tâm học đã “du hành” tới Việt Nam, phát triển và biến cải thế nào trong một môi trường mới. Theo góc nhìn đó, thì với Thanh Tâm Tuyền, việc tiếp nhận phân tâm học đã thực sự tạo được những ham muốn sáng tạo, và cả hiệu quả của ham muốn sáng tạo ấy nữaq
_____________
(*) Tiểu luận này được phát triển trên cơ sở một chuyên đề khảo sát việc tiếp nhận phân tâm học ở đô thị miền Nam trước 1975 của đề tài cấp Bộ tìm hiểu sáng tác văn xuôi đô thị miền Nam do PGS.TS. Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm, khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội chủ trì. Chúng tôi nhận được sự giúp đỡ về mặt tư liệu của TS. Đỗ Hải Ninh, ThS. Cao Việt Dũng, ThS. Nguyễn Mạnh Tiến, nhà sưu tầm sách Vũ Hà Tuệ. Văn bản đầu của bản thảo này cũng đã được các anh Dũng, Tiến và Mai Anh Tuấn đọc góp ý. Xin được gửi lời cảm ơn.
([1]) Có thể kể đến trong các sáng tác của Vũ Trọng Phụng (Làm đĩ, Giông tố, Số đỏ; 1936), trong nghiên cứu văn học của Nguyễn Văn Hanh (Hồ Xuân Hương – Tác phẩm, thân thế, văn tài, 1936), Trương Tửu [Nguyễn Bách Khoa] (Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương, 1936; Kinh thi Việt Nam, 1940; Nguyễn Du và Truyện Kiều, 1942), Kiều Thanh Quế [ký tên Tô Kiều Phương] (Học thuyết Freud, 1943).
(2) Có thể kể đến: Về dịch thuật, Vũ Đình Lưu dịch: Thăm dò tiềm thức (của C. Jung; Hoàng Đông Phương xuất bản, S., 1967), Nghiên cứu phân tâm học (của S. Freud; An Tiêm xuất bản, S., 1969), Tìm hiểu nhân tính (của A. Adler; Hoàng Đông Phương xuất bản, S., 1969); Trí Hải dịch Tâm phân học và tôn giáo (của E. Fromm, Viện Đại học Vạn Hạnh, S., 1968); Tuệ Sỹ dịch Tâm thức luyến ái (của E. Fromm, Ca dao xuất bản, S., 1969); Nguyễn Xuân Hiếu dịch Nhập môn phân tâm học (của S. Freud, Khai trí, S., 1970); Lê Thanh Hoàng Dân dịch Phân tâm học (của J.P. Charrier, Nxb. Trẻ, S., 1972); Hoàng Thiên Nguyễn dịch Dục tính văn minh (của H. Marcuse, Kinh Thi xuất bản, S., 1973)… Về thực hành nghiên cứu: Lê Tuyên thực hành phê bình từ quan điểm của G. Bachelard từ những năm 60 của thế kỷ trước, sau được tập hợp và tái bản trong: Thể tánh của thi ca (SEACAEF xuất bản, USA, 2000) và Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày (Nxb. Văn nghệ, USA, 2000); Đàm Quang Thiện: Ý niệm Bạc mệnh trong đời Thúy Kiều (Nam Chi tùng thư xuất bản, S., 1965); Phạm Công Thiện: Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (Lá Bối xuất bản, S., 1965); Hoàng Vũ Đức Vân: S. Freud tình yêu và tính dục, tạp chí Văn học, s.40/1965; Thanh Lãng trong một số bài viết về Nguyễn Du trên các tạp chí Văn, Nghiên cứu văn học; Nguyễn Văn Trung: Lược khảo văn học III (Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, S,. 1968), tập hợp các bài phê bình từ quan điểm phân tâm học Freud, đã được công bố trước đó trên các tạp chí: Văn, Văn học, Nghiên cứu văn học; Vũ Đình Lưu: Hành trình vào phân tâm học (Hoàng Đông Phương xuất bản, S., 1986), Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn (Tổ hợp Gió xuất bản, S., 1969);… Nhiều công trình ở đây được chúng tôi bổ sung từ thư mục cá nhân về phân tâm học ở Việt Nam của Nguyễn Mạnh Tiến, xin được gửi lời cảm ơn.
(3) Về vấn đề tuần báo Người Việt và sự cộng tác của Thanh Tâm Tuyền cũng như những nhà văn trong bộ biên tập tạp chí Sáng tạo sau này, như một lý do để gắn nối Người Việt với Sáng tạo (số 4 bộ mới của Người Việt là số đặc biệt với chủ đề Sáng tạo), xin xem: Dương Nghiễm Mậu: Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trước khi có nhóm Sáng tạo, tại http://www.hopluu.net/D_1-2_2-95_4-1594.
(4) Thực ra, sự tu chỉnh tiểu thuyết dang dở Thềm sương mù với tên mới là Cát lầy, đã được Thanh Tâm Tuyền thực hiện trước đó, và công bố dưới dạng in phơi-ơ-tông trên tạp chí Bách khoa [thời đại/ giai phẩm] [bán nguyệt san, do Huỳnh Văn Lang chủ trương, về sau là Lê Ngộ Châu, ra được 426 số, s.1 ra ngày 15/1/1957, s.426 [G**/IVoXXVI], ra ngày 15/4/1975, là tờ tạp chí dung hòa về quan điểm, đăng tải nhiều sáng tác và biên khảo văn học nghệ thuật], liên tiếp từ s.193+194, ra ngày 15/1/1965 đến s.217, ra ngày 15/1/1966. Đây có lẽ là tác phẩm duy nhất Thanh Tâm Tuyền công bố trên Bách khoa. Chúng tôi không tìm được cứ liệu Thanh Tâm Tuyền sử dụng bút danh khác để công bố tác phẩm trên Bách khoa. Các thành viên khác của Sáng tạo cũng ít xuất hiện trên tạp chí này, và cũng phải khá nhiều thời gian sau khi Sáng tạo (tục bản) đình bản. Giống như Võ Phiến, tác giả thân thiết của Bách khoa, chỉ xuất hiện hai lần trên Sáng tạo, với truyện ngắn Kể trong đêm khuya, in hai kỳ trên s.20, tháng 5/1958, s.21, tháng 6/1958 và hai đoản văn Dừng chân, Tâm sự, trên s.27, tháng 12/1958. Việc các thành viên [và các tác giả thân thiết] trong hai tạp chí rất đáng kể ở miền Nam những năm đầu đất nước phân chia này ít cộng tác với nhau, ngoài việc Bách khoa cho in thư ngỏ của Nguyễn Văn Trung gửi nhóm Sáng tạo, sẽ được chúng tôi đề cập ở sau, chắc còn có nhiều vấn đề quan thiết tới văn học sử, rất đáng được để tâm tìm hiểu.
(5) Bên cạnh những dấu mốc văn xuôi này, Thanh Tâm Tuyền đã sớm xác lập vị trí hàng đầu với thơ tự do bằng hai tập Tôi không còn cô độc (Người Việt xuất bản, S., 1956) và Liên đêm mặt trời tìm thấy (Sáng tạo xuất bản, S., 1964); cùng một tập thơ dư hưởng, xuất bản khi ông sang Hoa Kỳ định cư theo diện H.O.: Thơ ở đâu xa (Cali.: Trầm Phục Khắc xuất bản, 1990). Thanh Tâm Tuyền cũng là tác giả của hai tập truyện ngắn: Khuôn mặt (Sáng tạo xuất bản, S., 1964), Dọc đường (Sáng tạo xuất bản, S., 1966), một tập kịch: Ba chị em (1967), một tập tạp văn: Tạp ghi (Chiêu Dương xuất bản, S., 1970 [tập hợp các bài viết trên nhật báo Tiền tuyến, khoảng 1968-69, dưới bút hiệu ký giả Ba-Tê]); cùng nhiều sáng tác, tiểu luận, phê bình khác, trong đó rất đáng kể là Nghệ thuật đen (tạp chí Sáng tạo, s.3, tháng 9/1960, tr.35-48), sẽ được chúng tôi đề cập sâu hơn ở phần sau khi tìm hiểu về quan niệm sáng tạo của Thanh Tâm Tuyền. Ngoài ra, ông cũng cho in phơi-ơ-tông tiểu thuyết Ung thư trên tạp chí Văn, rất tiếc trong điều kiện tư liệu hạn hẹp, chúng tôi chưa khảo sát được sáng tác này.
(6) Các cuộc thảo luận chuyên đề trên Sáng tạo gồm: Nhân vật trong tiểu thuyết (s.1, tháng 7/1960), Nói chuyện về thơ bây giờ (s.2, tháng 8/1960), Ngôn ngữ mới trong hội họa (s.3, tháng 9/1960), Nhìn lại văn học tiền chiến ở Việt Nam (s.4, tháng 10/1960).
(7), (8) Mai Thảo ghi: Nhân vật trong tiểu thuyết. Nói chuyện giữa Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Thái Tuấn, tạp chí Sáng tạo (bộ mới), s.1, tháng 7/1960, tr.6, 7.
(9), (10) Duy Thanh, Mai Thảo, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp: Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam, tạp chí Sáng tạo (bộ mới), s.4, tháng 10/1960, tr.8, 8.
(11), (12), (13) Mai Thảo ghi: Nhân vật trong tiểu thuyết. Bđd, tr.14, 16, 16.
(14) Thanh Tâm Tuyền: Nỗi buồn trong thơ hôm nay, tạp chí Sáng tạo, s.31, tháng 9/1959, tr.1-6.
(15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (22) Thanh Tâm Tuyền: Nghệ thuật đen, tạp chí Sáng tạo (bộ mới), s.3, tháng 9/1960, tr.35, 48, 36-37, 37, 38, 39, 40, 42.
(23) Thanh Tâm Tuyền: Nghệ thuật đen, Bđd, tr.46-47. Với nhận định của Sartre, Thanh Tâm Tuyền chú: “… Du désir qui (…) replonge l’homme au sein bouillonnant de la Nature et l’élève en même temps au-dessus de la Nature par l’affirmation de son Droit à l’insatisfaction (Situations, trang 255). Chữ “dục tình” ông dùng trong bài cũng là chữ được ông dùng để dịch chữ “désir” của Sartre, mà trước đấy ông cũng chú rõ: Chữ Dục tình hiểu theo nghĩa rộng như chữ Désir của tiếng Pháp.
(24) Ngay trên Sáng tạo các số sau, đã có ý kiến chia sẻ của Thạch Chương (Cung Thúc Tiến) và Dương Nghiễm Mậu. Xin xem: Thạch Chương: Giới thiệu một nhận thức siêu thực về nghệ thuật, tạp chí Sáng tạo (bộ mới), s.5, tháng 11/1960, tr.97-102; Dương Nghiễm Mậu: Buồn vàng, tạp chí Sáng tạo (bộ mới), s.7, tháng 9/1961, tr.59-64. Cũng tham khảo: Dương Nghiễm Mậu, Dương Nghiễm Mậu: Thanh Tâm Tuyền và những người bạn, Bđd.
(25) Dư luận sau này để ý nhiều đến những cách tân về thơ và quan niệm thơ của nhóm, nhất là thơ tự do Thanh Tâm Tuyền, nhưng thực tế thì bên cạnh một Thanh Tâm Tuyền thơ, còn có một Thanh Tâm Tuyền văn xuôi rất đáng kể. Để có được những bước vững chãi như vậy, hiệu ứng được tạo bởi không gian của Sáng tạo là rất quan trọng. 15 năm sau ngày Sáng tạo ra đời, năm 1970, khi nguyệt san Tân văn xuất bản Tuyển truyện Sáng tạo, trong lời mở sách, nhìn lại chặng đường đã qua, Mai Thảo nhận định: “Sự có mặt ấy [của tác tác giả truyện ngắn và của tạp chí Sáng tạo] có thể xem như một đánh dấu, định nghĩa như một mở đường, chuyên chở trong nó đầy đủ yếu tính của một cuộc vận động văn học tiền phong, hàm chứa hẳn hoi trong nó một ý hướng cách mạng nghệ thuật nồng cháy. Đó là những ánh lửa thắp lên trong đêm nhận đường, những hòn đá ném xuống một ao tù bất động, những đợt xung kích đầu tiên mở màn một chiến dịch cho tới bây giờ đang được tiếp tay hào hứng trên nhiều diễn đàn, trên nhiều mặt trận. Trước sau, đối tượng của trận đánh lớn vẫn là một: phá đổ cái cũ, tạo dựng cái mới. Nói một cách khác, đó là kết thành của hoài bão và khát vọng chân thành nơi một lớp người muốn tạo dựng một nền văn học nghệ thuật của chính mình, và thời đại mình. Gọi lên đường ấy là trở lại đời sống, thoát ly quá khứ, thức tỉnh ý thức, thế nào cũng được. Điều đáng ghi nhận là lên đường ấy đã có. Có với sự có mặt của một lớp người viết mới. Tạp chí Sáng tạo là một trong những diễn đàn đã được dự phần vào lên đường này”. (Mai Thảo: Đứng về phía những cái mới, trong Duy Thanh, Dương Nghiễm Mậu, Mai Trung Tĩnh, Phạm Nguyên Vũ, Song Linh, Thao Trường, Thạch Chương: Tuyển truyện Sáng tạo, nguyệt san Tân văn, s.29, tháng 9/1970, tr.12). Nhận xét như vậy là khách quan và trung thực. Trong sự vận hành của văn học miền Nam, sự phổ biến của các tư tưởng triết mỹ Âu Tây, những di chỉ trên các tạp chí văn nghệ trong những năm đầu đất nước bị phân đôi cho thấy chúng vừa như là nguồn cội (của sự vận hành và tiếp nhận) vừa như là cơ sở của sự phát tán ảnh hưởng của sự vận hành và tiếp nhận ấy.
(26) Có thể đọc ấn bản điện tử của tiểu thuyết này tại http://www.talawas.org, lên mạng các ngày 4/11/2006-6/11/06.
(27) Vladimir Nabokov: Tình một thuở [Mary], Từ Trí dịch. Nxb. Đồng Nai, 1989. Tiếc rằng, chúng tôi không biết chính xác được thời điểm Thanh Tâm Tuyền dịch cuốn này, [Từ Trí là bút danh của Thanh Tâm Tuyền, chúng tôi xin cảm ơn Cao Việt Dũng về chỉ dẫn này], để có thể tìm biết được những dấu vết của Nabokov đã xuất hiện từ lúc nào trong sự nghiệp sáng tạo của nhà văn. Dấu vết tiếp nhận Nabokov ở đô thị miền Nam đã thấy trong sáng tác của Võ Hồng in trên tạp chí Văn, xin xem: Võ Hồng: Con suối mùa xuân, tạp chí Văn: Giai phẩm Xuân Ất Tỵ, [s.26+27, ra ngày 15/1/1965], tr.43-59. Trên số này, Thanh Tâm Tuyền cũng cho in truyện ngắn đề tặng Trần Ngọc Chất: Cuộc gặp gỡ, tr.93-109.
(28) Cũng có thể đọc lời tựa này trên ấn bản điện tử tại http://www.talawas.org đã dẫn.
(29) Thềm sương mù trên Sáng tạo (bộ mới) không ghi thể loại, 4 kỳ liên tiếp, mỗi kỳ in một chương đánh số thứ tự La Mã; phần quảng cáo sẽ xuất bản của Kẻ Sĩ trong Mù khơi, ghi thể loại là truyện dài (Sđd, tr.194). Cho đến nay, chúng tôi không tìm thấy bản in theo quảng cáo này. Và nhiều khả năng sách đã không được Kẻ Sĩ xuất bản. Bởi Thềm sương mù là một tác phẩm còn dang dở, vì chưa chạy hết phơi-ơ-tông thì Sáng tạo đã đình bản. Trong khi trước lời quảng cáo của Kẻ Sĩ dăm năm, một ấn bản khác của Thềm sương mù, với những tu chỉnh, như đã nói ở trước, xuất hiện ở dạng phơi-ơ-tông trên Bách khoa dưới tên Cát lầy, cũng là tên được Giao Điểm xuất bản lần đầu dưới dạng sách năm 1967. Qua so sánh, chúng tôi nhận thấy trong Cát lầy, Thanh Tâm Tuyền đã có những chỉnh sửa với phần in phơi-ơ-tông trên Sáng tạo, hầu như tác giả giữ nguyên cốt truyện, song nhân vật, kết cấu và ngôn ngữ thì đã có nhiều thay đổi. Xin cảm ơn anh Vũ Hà Tuệ vì những đối chiếu văn bản và sự chia sẻ tài liệu về Thanh Tâm Tuyền từ bộ sưu tập cá nhân.
(30) Thanh Tâm Tuyền: Thềm sương mù, tạp chí Sáng tạo (bộ mới), s.5, tháng 11/1960, tr.67.
(31) Tiểu thuyết Cát lầy còn miêu tả nhiều sự phi lý của đời sống, nhiều cái chết. Nó cho thấy, bên cạnh những chủ đề ẩn ức ấu thời, chủ đề bản năng sống (eros) và bản năng chết (thanatos) của phân tâm học, vì vậy, cũng được hiện diện. Song hình như Thanh Tâm Tuyền cũng bộc lộ sự hoài nghi về “triết lý” này. Có thể tìm lời giải đáp cho lựa chọn những cái chết trong Cát lầy từ trong lời tựa ấn bản lần thứ 3 tiểu thuyết Bếp lửa đã dẫn ở trước, tức cái quan niệm chỉ xuất hiện hai năm trước khi Cát lầy được ấn hành và năm năm sau khi nó được khởi thảo dưới hình thức của Thềm sương mù, khi Thanh Tâm Tuyền biện luận về cái chết của Vũ Đạo Ánh, người bạn đã được tác giả trân trọng đề tặng cuốn tiểu thuyết Bếp lửa. Với Thanh Tâm Tuyền, để đáp lại các nhà phê bình phê phán về sự bi quan tiêu cực, sự yếm thế của các nhân vật trong Bếp lửa, ông tuyên bố: “ở đây, trong xứ sở khốn nạn này, cuộc chiến phải chấp nhận không phải là lối phiêu lưu trốn chạy ngông cuồng”, và các nhân vật của ông, trong “thống khổ của lịch sử” đã lựa chọn cái chết không như “một huyền thoại” mà như “một sự từ chối quyết liệt”, bởi “cái chết lựa chọn không phi lý, nó sẽ làm nảy sinh sự thật, sự thật của những người chết truyền lưu cho kẻ sống sót.” (Bếp lửa, bản in lần thứ 4, Sđd). Đến tiểu thuyết cuối cùng của ông, Một chủ nhật khác, chủ đề bản năng chết lại được tái lặp, trong Kiệt và Ly, nhưng cuối cùng không ai tự hủy cả, chỉ có Kiệt hiện bắt gặp cái chết như một nạn nhân của lịch sử. Phân tâm học hình như chỉ là cái cớ cho những phiêu lưu tiểu thuyết của Thanh Tâm Tuyền, chứ không phải đích đến của sáng tạo nghệ thuật. Điều này sẽ được chúng tôi phân tích kỹ lưỡng qua và trong tiểu thuyết Mù khơi ở phần tiếp sau.
(32) Ngoài hai lần đã được nhắc tới ở trên, trong Nghệ thuật đen và trong Thềm sương mù, thái độ tiếp cận phân tâm học khá trung tính ở lần trước, bắt đầu có ý mỉa mai ở lần thứ hai (có lẽ là sự mỉa mai sự “sính” phân tâm đương thời chứ không phải bản thân triết thuyết), khi dùng chữ refoulé (ẩn ức). Ông cũng lặp lại thái độ này trong một tạp văn: “Chửa hay không chửa? – that is the question!”, bàn về vấn đề “kế hoạch hóa” gia đình đang được bàn luận sôi nổi ở Sài Gòn sau 1968, ông viết: “Một lý do nữa cũng được viện dẫn để bênh vực cho công cuộc “giải phóng” nữ giới dưới chiêu bài “kế hoạch hóa” gia đình là tình thương yêu và bổn phận giáo dục đối với con cái. Thế thì nên gọi luôn là “kế hoạch hóa” tình cảm và bổn phận để mưu cầu tự do, cho rồi. Sợ rằng đẻ nhiều sẽ phân phát tình yêu không đồng đều, quả là một lý luận “đặc Tây”. Duy lý cực điểm. Chẳng có bà mẹ nào lại nghĩ đến như thế cả. Nếu có cảnh “con yêu con ghét” trong gia đình ấy là vì nguyên nhân nào khác chứ không phải vì con cái quá đông. Và mối quan hệ mẹ con, trong gia đình ít con, không ắt hẳn là sự thương mến gần gũi. Nhiều khi lại nhiễm luôn những bệnh dịch “Tây” như “Complexe d’Œdipe” là khác nữa (chúng tôi nhấn mạnh). Các vị chủ trương đẻ ít con để có đủ khả năng hoàn tất bổn phận giáo dục con cái, gián tiếp đã thú nhận cái khả năng làm tròn trách nhiệm của mình được bao nhiêu rồi… “Kế hoạch hóa” gia đình, nghĩa là “kế hoạch hóa” tình cảm và bổn phận. Ở Sài Gòn này, chỉ là biểu thức của “kế hoạch hóa” tự do cá nhân. Ấy vậy thôi” (Thanh Tâm Tuyền, Tạp ghi, Chiêu Dương xuất bản, tr.133-134). Không khó để nhận thấy những thông tin ngoài văn bản ấy đã ảnh xạ vào sáng tác, mà những ghi chú về chủ đề bản năng sống và bản năng chết trong Cát lầy Một chủ nhật khác đã chỉ ra ở trên, là những minh chứng.
(33), (34), (35), (36), (37), (38) Thanh Tâm Tuyền: Mù khơi, Kẻ Sĩ xuất bản, S., tr.9-10, 157-158, 162, 166-167, 167-168, 174.
(39) Việc không phân biệt rành rẽ khiến những tiếp cận văn học sử về sau trở nên chồng chéo và thiếu tính chính xác, như trong hai công trình: Nguyễn Tiến Dũng: Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam. Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2006; Trần Thanh Hà: Học thuyết S. Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 2008. Đấy là chưa kể sự bất khả tín bởi sự thiếu chính xác về tư liệu được sử dụng và trích dẫn.


Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 2 – 2013. Bản tác giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn. Copyright © 2013 - PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Giới thiệu tập thơ Hạc Thành Hoa

Mới nhận được tập thơ của bạn hiền từ Cao Lãnh.
Tập thơ dày 128 trang, trình bày trang nhã, bìa tranh của Đinh Cường, phụ bản màu tranh của Vũ Thanh Hằng, Đinh Cường, trang ghi nhận của bạn bè.
79 bài thơ man mác của "nỗi buồn vàng" giữa cõi bờ kì ảo mộng và thực ...


Trân trọng giới thiệu cùng thân hữu, bạn đọc
Liên hệ với tác giả:
Nguyễn đường Thai
                              57 Trương Định,Phường 1 thành phố Cao Lãnh
                                                                tỉnh Đồng Tháp

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Chứng từ Thanh Tâm Tuyền (1 và 2)

Thanh Tâm Tuyền là một trong những nhà thơ tiên phong đổi mới tư duy thơ, một nhà thơ lớn có bóng bao trùm một miền thơ rộng của thế kỉ XX. Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, cho đến nay, cả văn bản thơ và những suy tư về lối viết… của Thanh Tâm Tuyền chưa được giới thiệu rộng rãi. Đọc Thanh Tâm Tuyền có thể nhận thấy một bằng chứng khá thuyết phục rằng: kẻ làm thơ muốn đổi mới thơ cần có một quan niệm mới, một suy tư thật mới, một cách nghĩ khác, một tiếng nói khác. Nhận thấy việc cung cấp ít nhiều những “chứng từ tinh thần” của Thanh Tâm Tuyền (đã đăng trên Khởi hành với tên gọi là Âm bản) cho độc giả lúc này thích hợp và có nhiều ý nghĩa.
Dưới đây, http://phebinhvanhoc.com.vn xin trân trọng giới thiệu những suy tư giàu tính lí luận, độc đáo và sâu sắc của Thanh Tâm Tuyền về việc làm thơ, và viết văn…
 Trần Thiện Khanh sưu tầm và giới thiệu
Chứng từ Thanh Tâm Tuyền (phần 1/2)

1. Đã lâu lắm tôi không làm thơ. Có đến mười năm. Tập thơ cuối cùng đã làm hồi 59 – 60. Không làm thơ mà cũng không đọc thơ. Nói cho đúng, xem rất nhiều nhưng đọc rất ít. Mà thơ làm ra không để xem mà để đọc. Đọc thầm một mình, đọc cho một người, hay đọc cho nhiều người nghe. Đọc là có tiếng, nghe tiếng dội của những tiếng.
Có lẽ nên phân định xem sách, xem tiểu thuyết và đọc thơ, đọc kịch. {Kịch trong cái nghĩa độ căng thẳng chông chênh của những phút sống lìa tách mù tít là thơ – người ta gọi les poètes dramatiques những Sophocle, Eschyle, Shakere, Racine tán rộng ra Vương Thực Phủ, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du cũng có thể gọi như thế (Nguyễn Gia Thiều, nhà thơ bị hắt hủi, sẽphải nói đến – như một đỉnh tót vời của thơ Việt Nam ngang Nguyễn Du) xem kịch là chuyện khác} như trong ngôn ngữthường ngày người ta đã phân biệt được một cách tinh tế: làm thơ và viết văn.
2. Anh có thấy không? Không ai nói viết thơ cả, viết thư thì có. Khi người ta nói làm văn, đó là có ý dè bỉu. Một nhà văn làm văn, thật không có gì miệt thị hơn lời ấy. Nhưng một người làm thơ lại là lẽ tự nhiên. Chỉ ngô nghê khi anh nói người làm thơviết thơ.
Như thế anh thấy gì?
Giản dị hết sức, làm không phải viết. Làm thơ không cần viết. Không cần viết nghĩa là không cần tờ giấy, không cần cây bút, hơn thế không cần cả chữ. Phụ tùng hết thẩy. Một anh chàng làm thơ đã hùng hồn tuyên xướng: nếu ai cướp mất bút tôi, tôi sẽ dùng dao khắc thơ lên đá … Nghe cũng rung đấy, nhưng cần gì phải thế. Anh chỉ cần đọc lên cho người khác nghe. Thế là xong. Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ. Thơ gốc như thế. Nó chỉ cần có tiếng nói, không cần chữ. Có chữ ghi chép lại càng hay.
3. Anh nhớ lại xem.
Một bài thơ được hoàn thành như thế nào? Khi không (tạm coi là khi không đi), anh đang đi, anh đang chơi, anh đang làm việc, anh bỗng nghe vang đâu đó (tuốt sâu trong, xa lắc ngoài) một hình tượng, một ngâm nga, một rung chuyển, một lượn lờ, một gì gì vô ngôn quái quỷ hay thánh thần (nói theo điệu Bùi Giáng), gì gì cũng được và anh bị đẩy bật, chới với, đuổi theo chụp bắt, nhốt vào trong lời, trong điệu, trong cách. Ở những nơi không bàn, không ghế, không đèn, không giấy bút – có khi có đủ thức anh cũng chẳng buồn chạm tới – anh vẫn có thể có một bài thơ như thường. Miễn là anh biết nói, biết đọc và biết nghe.
Nhưng anh không thể “làm” một quyển tiểu thuyết theo kiểu đó. Khởi sự một quyển tiểu thuyết có thể giống, nhưng bắt buộc anh phải ngồi vào bàn, để xấp giấy trắng trước mặt, cầm bút và viết. Anh bắt buộc phải viết, lầm lì, kiên nhẫn hết dòng này qua dòng khác, hết trang nọ qua trang kia, viết như tên tội khổ sai ngày lại ngày phải làm công việc ghi chép, chán mứa không được thôi.
Làm thơ, khi anh chán là rồi. Xong hay không xong cũng hết. Viết tiểu thuyết không thế được. Tôi nghe Mai Thảo hay nhắc một câu của Vũ Hoàng Chương nói trong lúc trò chuyện: không biết những người làm thơ trẻ bây giờ có thấy sướng không, chứ riêng tôi lúc tôi làm thơ tôi sướng lắm.
Đúng làm thơ là một hạnh phúc. Đọc thơ cũng là một hạnh phúc. Mười năm nay coi như tôi miệt mài viết, viết không biết bao nhiêu chữ nữa, hỏng được, được hỏng và bỏ quên những hạnh phúc gần gũi kia. Tại sao vậy?
4. Tại sao anh viết? Anh viết cho ai? Văn chương “làm” được gì?
Mấy câu hỏi ghê gớm kia là mấy câu hỏi đặc biệt dành riêng cho người viết, các nhà “làm” văn tự đặt với mình. Không bao giờngười làm thơ mất thì giờ hỏi mình những câu lẩm cẩm kiểu ấy. Chỉ có những người viết mới hay tra vấn hạch hỏi mình. Cớsao thế?
Cũng chỉ vì lẽ viết không phải là làm.
Trong khi người khác làm ruộng, làm thơ, làm nhà, làm cửa, làm bếp, làm cơm, làm chính trị, làm cách mạng, làm lịch sử… làm tình (hãy tạm chưa ghép làm thơ vào chỗ này) thì mình viết. Viết nghĩa là phải ngồi xuống (có người nằm) trước tờ giấy, tạm ngưng đời đang sống, hơn thế nữa tuổi đời sống bao quanh ra càng xa càng tốt (đóng chặt cửa buồng lại quên vợ cơn, quên tình nhân, quên bạn bè, càng quên càng hay). Đời sống của người viết đầy những quãng thời gian chết lịm thật dài. Đểlàm gì? Để có tác phẩm, những quyển sách. Ôi, những quyển sách “làm” được gì? Sua mà biết được, có phải không anh?

5.Ngày nay vì có chữ viết, có máy in làm thành những quyển sách, những người làm thơ cũng mang sao chép thơ lên giấy khiến người ta cứ xem thơ như xem sách, chẳng đọc thơ, chẳng nghe thơ và lần lần mang nhập thơ với văn chương. Và khi nhập thơ với văn chương thì thơ là thứ văn chương “cục kỳ”.
Ấy là phía người đọc.
Phía người làm thơ, cũng vì quen sao chép, tưởng thơ cũng là viết, quên khuấy mất nguồn thơ ban đầu. Người ta quên rằng thơ là làm. Làm, ở đây còn giữ nguyên vẹn cái ý nghĩa khởi thủy mà các triết gia mơ tưởng, là một hành vi của con người biến cải thiên nhiên đồng thời biến cải mình, tự nhiên thảnh thơi vui thú. Làm thơ là vừa làm vừa chơi, là sống đầy tràn. Những thời gian không phải lịm chết mà rung nhịp mạnh hơn, phơi phới rộng mở hơn. Anh hãy nhớ lại ca dao. Đã có một thời người ta làm đồng, làm ruộng, làm thơ.
Thơ khi nào cũng làm giữa trời; giữa mọi người, trong hoan lạc của đời sống đang đẩy tới miên man. Khi anh cắt lìa đời sống, anh bị giam nhốt hay tự giam nhốt, anh không làm gì được nữa, anh viết.
6. Không có câu nào đáng ghét bằng câu này: Mọi công trình đều được sáng tạo trong cô độc.
7. Một lần cách đây vài năm, khi nói thơ ngày nay đau yếu là tôi nghĩ những người làm thơ đã phải cố gắng để làm thơ. Làm giống như dân lao động bị đày ải. Không có sức xô của đời sống quanh mình, không có ngọn trào ập qua mình, mọi thiên tài đều hụt hơi trơ trẽn, tiếng nói ngắn ngủn như tiếng nấc cục.
8. Nietzsche đã từng báo động: La prose est une guerre contre la poésie. Quả tình càng ngày văn chương càng lấn lướt thơ. Từ trong mỗi người. Những người làm thơ phần lớn đều bị văn chương cám dỗ. Không ít thì nhiều.
Tôi vẫn thèm sự sung sướng của những người thuần nhất, khỏe mạnh, say sưa (giả hay thật?). Không làm gì khác hơn làm thơ, thèm và phục. Bởi viết là mỗi cám dỗ khốc liệt khó tránh (và tại sao lại tránh?)
9. Tôi muốn nhắc lại: viết đầu tiên phải ngồi xuống, phải cố định. Ngồi trước bàn, ngồi trong quán, trong vườn, trong nhà tù… Nhưng bắt buộc phải ngồi một chỗ. Phải ở lại một chỗ trong một thời gian. Những nhà văn “sống” nhất, phiêu lưu nhất, cũng thế thôi. Họ không thể viết khi đang đi. Người làm thơ có thể.
Khi anh cầm bút là anh đã có một chỗ để ngồi. Anh không lang thang nữa. Cái gì đã đẩy anh tới chốn đó? Sức mạnh nào cầm giữ anh ngồi hý hoáy trong một cơn mê tình thức anh cố kéo dài?Mỗi người đều có những câu trả lời riêng tư.
Tôi thì tôi nghĩ chúng ta đều bị cám dỗ. Văn chương là mối cám dỗ.
10. Như buổi sáng nay, đột nhiên anh thức sớm trước cả mặt trời. Anh đón xem mặt trời mọc. Anh yêu đời, anh đang bắt đầu một ngày tốt đẹp. Anh hát một mình, anh đọc một vài câu thơ. Anh hát bịa những lời bồng bột, anh ngâm nga những câu lăng nhăng. Chắc chắn anh chẳng điên gì lúc ấy mang sách ra mà xem. Những quyển sách không thể có mặt trong buổi sáng nay nếu anh không muốn phá hoại những giờ khắc tươi tốt của anh.
Nhưng những trưa, những chiều, những đêm trống rỗng lờ loãng thì những quyển sách có thể hút trôi đi cho anh. Những giòng chữ viết lổm ngỏm đen đặc có thể trút đầy, lấp liếm những nỗi thầm thì quạnh quẽ của anh.
11. Mọi nghệ thuật đều mời gọi tụ tập, đều mở một chốn họp mặt gặp gỡ. Văn chương không. Mỗi người mua lấy một quyển sách, tìm một xó khuất mà xem một mình. Hệt như người viết.
Dường như yếu tính của văn chương là ly cách. Biết bao nhiêu lý cách khốn khổ. Nhìn bằng con mắt xã hội văn chương là biểu thức của cá nhân chủ nghĩa, tiến hóa theo sự phát triển và suy tàn của khuynh hướng này.
12. Trong mọi nghệ thuật đều có hiện tượng thần đồng. Trong văn chương thì không. Không thể nào tìm thấy một tiểu thuyết gia mới mười lăm tuổi chẳng hạn.
Anh có thấy gì ở đây không? Văn chương không phải là trò đùa hồn nhiên, giản dị, ngây thơ. Văn chương là một trò dành cho “người lớn”, giữa một thế giới “người lớn”. Đó là niềm hạnh phúc và mối bất hạnh của “người lớn” viết. Văn chương không phải là chuyện “trẻ con”, không phải chuyện “rỡn”. Đó là một trò hết sức nghiêm trọng. Mối cám dỗ đã bắt đầu.
13. Kinh nghiệm thông thường: mới lớn anh làm thơ và sau đó trưởng thành anh mới viết văn. Có triết gia đã nêu thành nhưluật định mối quan hệ giữa sự sinh thành của các loại văn thơ và xã hội con người: tuổi thiếu niên là tuổi của thơ – xã hội đầu mùa tiến hóa – tuổi trưởng thành là tuổi của văn chương, tiểu thuyết – xã hội phải xây dựng một traath tự mới sau khi đã phá trật tự cũ – tuổi suy đồi là tuổi của kịch – mâu thuẫn nội tại đang thúc đẩy tiến tới một cuộc biến cải khác – tuổi tàn tạ là tuổi cười – cái cười cay đắng ngậm ngùi, cái cười tàn khốc dữ dội và cái cười xòa tận chung.
Thật thế chăng?Tôi đang viết văn, tôi đã trưởng thành, tôi đang xây dựng một cái gì đấy ư?Nghiêm trọng quá sức phải không anh? Còn nhiều điều khác nghiêm trọng hơn thế nữa kia…
14. Mỗi cám dỗ của văn chương, của sự viết là vẻ nghiêm trọng. “Dấn thân” hay “tháp ngà”, người viết đều từ chỗ ngồi chết cứng của mình gửi đi những “thông điệp”. Những “thông điệp” tư tưởng có chung một tham vọng “đổi thay đời sống”.
“Dấn thân” hay “tháp ngà”, người viết đều chỉ là một loại salaud – tiếng này do Sartre đặt để chỉ hoạt động sống cứng nhắc trong các vai trò và hãnh diện ngu ngốc, và Sartre chính là thứ salaud khủng khiếp nhất.
15. Trong xã hội này, nhà văn là kẻ có một chỗ ngồi hẳn hoi. Anh có thể ghi trong căn cước lí lịch của anh là nhà văn. Nhà văn cũng như nhà báo; ký giả, nhạc sĩ, ca sĩ, họa sĩ, kịch sĩ…v.v…là những thứ có chân trong xã hội, cần thiết được chứng nhận. Nhưng nhà thơ thì không. Nếu trong khoản nghề nghiệp anh ghi nhà thơ, chắc chắn người ta cười.
Người làm thơ là kẻ lêu bêu. Nhà văn là kẻ có chỗ ngồi được dành sẵn.
Nếu anh chưa dám ghi trong căn cước anh là nhà văn, ấy là vì có lẽ anh mắc cỡ. Anh còn mắc cỡ – mắc cỡ thật chứ không phải làm bộ – anh chưa thể trở thành nhà văn.
16. Thi sĩ. Đó là một loài mắc cỡ dễ thương nhất trên đời. Hắn lẫn trong đời, giữa mọi người, cùng sống với mọi người như một tên dại (anh nhớ là hắn dại, chứ không điên. Tôi bảo đảm với anh. Anh hãy đọc thơ của những người mà người ta bảo là điên xem. Tất nhiên, đừng đọc văn chương của họ).
Văn sĩ. Đó là tên khả ố dễ giận nhưng nên tội nghiệp.
17. Làm bộ mắc cỡ, bởi sáng suốt, anh sẽ đóng trò bằng cách khước từ vai trò. Anh là nhà văn không chịu làm nhà văn. Để“làm” gì? Anh vẫn là nhà văn như thường. Anh không thoát đâu. Thà là anh thôi mắc cỡ, còn hơn.
Sartre là tên salaud khủng khiếp nhất là ở đó.
18. Sự nghiêm trọng thành khẩn của những người viết sáng suốt thật đáng bái phục. Đó là thứ văn chương “thật văn chương”.Ở đây mối cám dỗ của sự viết không còn phải là vẻ nghiêm trọng được khoác lên, không còn phải cái kẻ lố lăng của tên – không dám làm hề,- một tên hề ôm bầu tâm sự bi đát rỗng tuếch.
Mối cám dỗ của sự viết là sự lý tán. Viết là buông mình vào sự ly tán thảm hại.
19. Văn xuôi. Tản văn.
Anh thấy gì ở đó chứ? Xuôi nghĩa là thuận chiều, không nghịch lại. Văn xuôi là văn thuận chiều. Tự trong hành vi của anh khi viết đã là tự thỏa thuận. Không thể khác. Anh phá phách trong sự thỏa thuận.
Tản văn. Nhưng chữ tản này mới thật đúng. Tản là ly tan. Tản văn là ly tan. Đó là ảnh tượng của thế giới ngày nay. Cái thếgiới của ly tan. Anh ngồi xuống viết, anh bắt đầu khởi cuộc sự ly tan. Và anh cầm bút viết…Anh hãy dòm lại xem?
20. Viết là đắm mình trong cuộc ly tan. Trong cuộc ấy anh hoàn toàn tự do quay múa, làm đủ mọi trò đều được. Anh thụđộng, anh chủ động, anh mê mẩn, anh sáng suốt, anh làm bộ làm tịch phô phang, anh giấu mặt thẹn thuồng. Cũng thế thôi, như nhau.
Văn chương, chốn ấy nơi chia lìa phân tán, là tấm gương soi mặt, soi đủ thứ mặt anh muốn (thời đại, xã hội, lịch sử, cá nhân… và cả cái mặt đang được nâng niu: Hư vô). Nhưng đó là tấm gương vỡ. Anh đừng quên đó là tấm gương vỡ.
21. Thụ động hay chủ động, mê mẩn hay sáng suốt, trước tiên viết chỉ là sự ghi chép. Anh ngồi lại một chỗ, tạm gác đời sống, ghi chép lại những gì đã sống qua. Không bao giờ anh viết được những gì đang ngọ nguậy sinh thành nơi anh. Không bao giờ. Thơ có thể.
22. Giả thiết như anh viết được: tôi đang sống như thế này đây. Anh thấy gì ở đó? Mộ thuật, chỉ là một thuật của văn chương:
Hãy coi như anh tin cậy thật sự vào những điều anh viết. Hãy coi như không có sự ly cách nào giữa anh và những chữ tuôi chảy dưới ngòi bút. Nhưng vẫn còn sự ly tán giữa những chữ, những câu, còn dấu phết, dấu chấm, dấu hỏi vân vân:
Quan trọng hơn cả đôi mắt mở trừng của người xem những giòng chữ ấy.
23. Thơ là những cách sống, những lúc sống. Văn chương không thể là một cách sống.
24. Sự thất bại của những người làm thơ trong văn chương là lầm tưởng văn chương cùng gốc với thơ. Trong thơ người ta sống, thở, phơi trải, bay nhảy, đùa rỡn, ca hát, ngông nghênh, cười cợt, nhập một và hòa tan mình. Người ta muốn văn chương cũng là chốn như vậy.
Văn chương khai chiến với thơ, lấn lướt thơ và muốn tiêu diệt thơ từ đấy.
25. Thơ nẩy ra, làm ra những nhịp thở, những phút sống ngay chính trong lúc đó. Văn chương không “làm” ra cái gì hết. Văn chương chỉ là sự ghi chép. Có chăng chỉ là những tín hiệu của một đời sống ở đâu ngoài những câu kệ tan nát.
26. Viết là nhận, chịu mối bất hạnh của người lớn (thường mà nói thi sĩ là đứa con nít, là đứa dại, văn sĩ là người lớn, người khôn. Con nít – người lớn, dại – khôn ở đây không hề có ý đánh giá – người viết ưa đánh giá lắm, chữ nghĩa chặt chẽ như mắt xích). Mọi người viết không ít thì nhiều đều than thở hoặc tự hào về mối này.
Mối bất hạnh có thể thâu tóm trong câu của một nhà văn: mới đầu tôi viết những điều tôi tin, sau tôi tin những điều tôi viết.
Trong bất hạnh, tìm hạnh phúc. Trong ly tan, tìm kết hợp. Trong riêng lẻ, tìm đám đông. Trọng lạc lõng, tìm chốn về. Trong xa cách, tìm gần gũi. Tìm và tìm, đó là nỗ lực của văn chương. Sự mệnh, chức năng, cứu cánh,… hay ảo tưởng nảy sinh từ đấy.
Thơ không tìm. Thơ thấy, thơ mở ra, thơ làm ra.
27. Anh ngồi trước trang giấy trắng. Anh đã lớn. Anh không mắc cỡ, không con nít, không dại nữa. Anh muốn làm nhà văn. Anh chấp nhận mối bất hạnh. Như mọi người đều phải sống, mỗi người một cảnh ngộ. Vì anh đã “trải qua mọt cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Anh muốn viết, anh muốn ghi chép (anh muốn làm nhân chứng đấy). Hơn thế, anh còn muồn tìm, muốn phát hiện nhiều điều khác nữa. Muốn thế anh phải ngồi yên vững trong nhiều ngày anh phải lì lợm, bướng bỉnh, cao ngạo.
Văn chương bao giờ cũng thực hiện như một tham vọng. Văn chương là tham vọng. Tham vọng đòi sự tin tưởng và bền bỉ. Đểviết nổi, anh phải tin vào những điều nào đó. Một chỗ, anh phải có một chỗ anh mới viết nổi.
Ngay cả khi anh khăng khăng, không chịu chọn chỗ, anh ngồi trong Hư vô, Hư vô cũng hóa thành một mặt ghế nâng đỡ anh.
Văn chương, là một niềm tin bắt buộc. Sống trong cuộc ly tan anh bắt buộc phải tin. Tin điều này hay tin điều nọ, không quan trọng.
28. Văn chương là biểu thức của cảnh phân tán trong kỷ nguyên này. Văn chương không là công trình gì, đó là những mảnh đời tan nát vương vãi, và có tham vọng trở thành một công trình. Bởi lẽ, nếu văn chương lấn lướt thơ thì chính nó lại bị triết lí lấn lướt.
29. Anh ngồi trước trang giấy. Anh có một điều tin và nhiều điều cần ghi chép. Anh sẽ phải hỏi: Bắt đầu từ chỗ nào?thế nào?Ghi chép những gì đây? Anh sexthaasy anh bắt đầu chỗ nào cũng được. Bắt đầu chỗ nào cũng chưa thấy thực sự là khởi điểm, anh sẽ luôn luôn phải trở lại, vẫn phải ngoái về và hơn nữa. Xa mãi.
Rồi anh cứ bắt đầu đại vì anh phải tiến tới. Tiến tới, anh viết tới và anh sẽ không thấy chỗ ngừng. Và anh ngừng chỗ nào cũng được. Chỗ ngừng thực sự không phải là kết thúc.
Anh phải bắt đầu, anh phải tạm dứt, không có gì là cần thiết, không có gì gọi là không thể khác. Anh có thể viết đi viết lại bao nhiêu lần tùy thích một chuyện đều được, trù phi anh chán
30. Một bài thơ không thể làm lại, không thể sửa đổi. Mọi công trình nghệ thuật đều không thể sửa đổi. Hỏng hoặc được. Bởi đó là những lúc cụ thể và nhất định. Văn chương không là nghệ thuật, không có tính thiết yếu của nghệ thuật. Tự trong nó là sự bời rời, nát bấy, di động, co rãn, dàn trải.
Anh có thể dùng văn chương vào bất cứ việc gì.
31. Một bài thơ tự đầy đủ, không khi nào cần kêu gọi đến những gì ở ngoài nó. Mỗi câu thơ cũng vậy. Rất thường là anh chỉthuộc và đọc vài ba câu thơ trong một bài, chăng cần nhớ đến câu trên câu dưới. Như anh ngắm một góc của bức họa hay nghe một hồi hay một đoạn nhạc.
Anh không thể tách rời những câu văn với nhau. Một đoạn văn trích không bao giờ ổn. Nó đòi có phía trước, có phía sau. Một quyển sách cũng vậy. Nếu nó không trỏ vào những quyển sách khác đã có, thì nó trỏ ra ngoài nó. Tự nó không đứng vững một mình, nó cần được biện minh.
32. Văn chương lúc nào cũng đòi biện minh. Cố gắng trở thành một công trình, một toàn thể và biết rằng thất bại. Cái giấc mơQuyển Sách (Le Livre) là hão huyền. Anh viết hoặc anh bị đầy viết mãi, viết dài dài theo đời quẩn quanh vài ba câu, có khi một câu. Viết mãi chẳng xong. Sự tan nát thật kinh khủng hay đầy hoan lạc, tùy anh.
Người viết nào cúng ống với một quyển sách sẽ viết, quyển sách không bao giờ viết được. Và đến cùng, thành thật đến cùng, là đối mặt với nỗi bất lực yếu nhược.
33. Tôi vừa đọc được một câu khá thú vị: Mỗi người suốt đời chỉ nói mỗi một câu và chỉ dứt khi chết.
34. Văn chương cần biện minh, chính nó là biện minh cho cái gì khác ở ngoài. Nhiễm văn chương là hiễm chứng biện minh. Anh có biết chứng bệnh văn chương không?Vì văn chương không phải là một công trình, nó thường cầu cứu đến những thứbên ngoài hỗ trợ, những thứ thật to tát ghê gớm để nuos bóng. Trong các lối biện minh, lối mang chính đời mình biện minh cho điều mình viết nguy kịch nhất. Người viết hóa tượng, đời hắn là chữ nghĩa là chữ nghĩa là gương soi bóng.
Không gì thê thảm bằng sống và hành động và chết trước tấm gương, phải không anh?
35. Có lẽ văn chương là sự quy chiếu. Trong văn chương có thể có một chút hơi thơ nào đó nhưng không bao giờ văn chương trở thành thơ như người ta thường mơ ước. Văn chương phát sinh để sống cuộc đời của riêng nó, nó có nghĩa của nó. Cái nghĩa của tấm gương vỡ, cái nghĩa của một tham vọng, cái nghĩa của niềm bất hạnh, cái nghĩa của một chứng bệnh….
Nói chung mắc văn chương là mắc chứng bệnh lèm bèm.
36. Chắc anh thấy, anh hiểu vì đâu mấy chục năm nay, chúng ta làm thơ nhiều hơn là viết văn hay ngược lại. Người làm thơ là kẻ ngậm miệng. Ngậm chặt để giữ hơi. Để không tan nát. Không bị lôi cuốn vào cuộc phân ly hủy hoại.
37. Văn chương không chỉ là căn bệnh của người viết. Đối với người đọc, người mê văn chương, mê sách, đọc văn chương ngày nay cũng đang trở thành một bệnh. Thật tình anh tìm kiếm gì khi mở quyển sách? Anh – người đọc sáng suốt thấu đáo mà mọi người viết đều ao ước có.
Anh biết rõ anh không tìm kiếm gì cả. Anh chẳng còn một ảo tưởng nào về quyển sách là một phòng gương lót tứ bề. Anh vàảnh tượng của sự vật trùng diệt quay mù. Anh cũng mê hoảng và sáng tỏ. Như một nhân vật của Cocteau anh có thể đi xuyên qua gương, đứng ở đằng sau tấm gương.
Người ta gọi anh đang ở cõi khác (anh cũng có thể gọi như người ta)nhưng anh thừa rõ đó là một phòng xếp đặt trong nhà chứa giữa một thành phố đang dấy loạn mà những kẻ bệnh hoạn lui tới (Le Balcon – J.Genet)
38. Văn chương như phương tiện trị liệu của người viết và của người đọc? Cũng được đi. Anh hãy tưởng tượng hai con bệnh đối đầu nhau trong phòng gương. Không đàn bà. (Hay người đàn bà là con điếm). (Hai tiếng đàn bà đây được dùng như một thuật cái của văn chương. Đàn bà, thiên nhiên, mây nước, hoa cỏ, đêm, sông, nụ cười, cánh đồng… Đàn bà như nữ tinh thiết yếu. Đàn bà chưa phải là một hóa phẩm, chưa phải là một thành phố rắc rối hư ngụy mà các tay kiến trúc đã đắp mô hình trước khi dựng…)
39. Hành trình của văn chương là sự tán vụn ý tưởng, mỗi ngày mỗi nhiễn như bụi và sự xum xuê của ngôn ngữ, mỗi ngày mỗi đâm tủa như cây nhiệt đới.
40. Bất cứ lúc nào anh cũng có thể gấp quyển sách lại, ném quyển sách vào sọt rác, đốt quyển sách đi. Nhưng anh không thể, có phải không? Người đọc đích thực của văn chương ngày nay là kẻ mắc chứng nghiền chữ. Hắn cần nuốt một lượng chữnghĩa nào đó như cần hút cần sa. Để thấy mình được “sống”. Chữ nghĩa thay thế cho sáng cho chiều, cho nắng, cho mưa, cho người tình, cho kẻ thù…
Anh có thể suốt đời không thèm đọc một câu thơ, chẳng sao. Anh không nghe thiếu thốn chút nào. Một bài thơ, một khúc nhạc, một bức họa rõ ràng là không cần thiết (không phải là một nhu yếu phẩm), chỉ là sự thêm thắt. Nhưng văn chương đối với anh – con người ngày nay đích thực – không thể thiếu.
41. Tôi có ý kiến: để chứng tỏ sự cần thiết của văn chương, vai tuồng quan trọng của người viết văn, những người làm sách trong xã hội này, người ta nên đình công xem sao. Anh hãy tưởng tượng thế giới không văn chương.
Nhưng cuộc đình công không thể xảy ra, không bao giờ có thể xảy ra. Chỉ giản dị là người ta không thể ngừng nói, dù người ra biết nói để chẳng làm gì. Chỗ chết của văn chương là nói, luôn luôn nói, nói nhiều quá. Tôi muốn nói với ai thật nhiều về sựnói này.
42. Nói.
Ngày trước văn chương phải “nói lên được một cái gì”. Ngày nay văn chương chán “nói lên cái gì”, bèn nói cái – không – là-cái-gì, nói-cái không-thể – nói, cái-không-thể-nghĩ. Nhưng trước hay nay, văn chương vẫn phải nói.
Viết để mà nói. Anh có thấy đáng buồn cười không? Tại sao muốn nói không nói, lại viết? Tôi nghĩ rằng người ta cho đến bây giờ vẫn nuôi ảo tưởng viết là hành động. Nói chỉ là tác động. Viết là tạo một tiếng nói, không chỉ khua động chốc lát ở một nơi chốn nhất định, một tiếng nói xóa nhòa cả người nói lẫn người nghe. Một tiếng nói muốn thoát lên khỏi mớ tiếng động thường nhật, một tiếng nói không chịu biết thân phận tự cho mình nhiều quyền uy phi thường.
43. Dù cho có nói: tôi viết để biết, tại sao tôi viết, cũng vẫn là ngầm bảo viết là một cái gì ghê gớm lắm đối với tôi, trong khi mọi cái gì khác đều đã hết ghê gớm. Có quả thật viết là một hành vi ghê gớm lắm không?
44. Anh hãy thử thí nghiệm như Svevo xem. Anh hãy tìm những người chịu ngồi nghe anh nói những điều anh định viết và anh nói, nói đi, nói hết, sửa chữa trong khi nói anh sẽ thấy anh say sưa, sung sướng hơn viết nhiều. Ham nói như Svevo, anh sẽhết ham viết. Nói, nói mới thật là trút hết. Anh thử xem. Tác phẩm mang nói hay hơn viết nhiều. Lúc ấy thật là văn chương, lời xuôi chảy, tan nát, nối kết, níu kéo, đẩy cao, chìm thấp rồi thoảng bay. Chẳng còn gì. Còn lại những âm ba của những lúc.
Các nhà văn lớn đều là những kẻ lắm mồm lắm miệng, nói hoài không biết chán. Không có ai để nói với thì nói một mình. Nói và thấm thía sự phân cách, ly tán từ mỗi lời.
Nhà văn: một sản phẩm đặc Tây. Hội họp, ngồi lê đôi mách, thảo luận, tranh luận, bút chiến, bút ký, nhật ký, thư từ… này nọđủ điều. Anh thử đọc lại nhật ký của các nhà văn. Đó là những quyển sách tệ mạt nhất, những quyển sách được sinh ra đểbảo vệ cho những quyển sách.
45. Chẳng bao giờ người ta thành thật nghĩ: nói láo mà chơi nghe láo chơi… Chỉ bởi người ta viết chứ không nói.
46. Có một thời người ta thích viết câu: tác phẩm nói lên… Người ta không chịu hiểu chỉ văn chương là thế. Người ta muốn mọi sự đều là thế. Văn chương xâm lăng thơ, ngấp ghé xâm lăng các nghệ thuật khác. (Tôi nhớ có đọc một quyển sách nói về nhạc dấn thân do ông Jean Paul Sartre đề tựa. Hết sức khôi hài. Henri Lefèbvre đã chê: khiếm khuyết lớn nhất của Marx là không biết nghe nhạc. Sartre thì thú nhận mình mù tịt). Người ta bịa ra đủ thứ ngôn ngữ: ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ âm nhạc, rồi đến cả ngôn ngữ của thời trang… Anh không nên lạ khi bây giờ khoa ngữ học đang nổi như cồn.
Cái gì cũng nói cả. Văn chương trùm lấp mọi thứ. Cái gì cũng nói hóa nên chẳng nói gì cả hay chỉ nói có mỗi một điều cũng thế. Chỗ này anh triết lí chơi khăm anh nhà văn. Vô ngôn ẩn ngữ, bất khả tư nghị vân vân và vân vân.
Anh cứ nói, nói chán chê đi. Rốt cuộc anh chỉ khua rộn như mọi tiếng động xung quanh. Những tiếng động buổi hoàng hôn kinh hãi. Hay buổi sáng tuyện không bóng người.
47. Mỗi năm hoa về đây
Hoa nói gì với người
Lòng đời chắc nặng lắm
Hoa nói hoài không thôi (H.C)
Hoa nói gì? Hoa nói hoài? Hoa nói thật ư? Anh văn chương, anh sẽ diễn thành tiếng nói miên man, luôn luôn hao hụt. Thơkhông “nói”, chẳng nói gì như hoa vậy.
Thơ ca hát.
Anh hãy nhớ: thi gắn với ca, văn gắn với vẻ
48. Nói nghĩa là có người nói, kẻ nghe (người nói kẻ nghe là một). Anh nói, anh dư biết anh đang nói với anh, cho ai nghe. Anh không sao chối được điều ấy. Dù sự kiêu ngạo nơi anh muốn loại trừ hết thảy mọi “tai tiếng” xung quanh (tai hứng đón, tiếng là nền).
Độ không của ngôn ngữ văn chương là ảo tưởng.
49. Anh đọc thơ, chẳng cần biết đến người làm. Không thiệt hại gì đến thơ. Người làm thơ không có tiểu sử (hay tiểu sử của mọi người – sinh ra, lớn lên, yêu đương, thù hận, chết…) người làm thơ chẳng cần tiểu sử, không viết nhật ký lẩm cảm, không tạc tượng, không ồn động (thơ – dại, thơ- ngây)
50. Văn chương không thế.
Lời nói buộc chặt người nói, lúc nói, chỗ nói. Khốn nạn cho văn chương, phải không anh?
Nhưng anh, anh đã nhiễm văn chương, anh đã nhận như mối bất hạnh phải sống, anh không thể giả tảng (Sự giả tảng như một trò của văn chương, như nhà ảo thuật vờ để hé cho thấy mánh khóe của trò biểu diễn, thì được) Văn chương không khi nào thơ ngây, chẳng bao giờ thơ ngây. Bởi văn chương đã xuất hiện như một tiếng nói đầy tham vọng quyền lực, người ta sẽ truy tầm đến bằng được tông tích của nó.
51. Thoạt đầu chỉ có sự tích, chưa có văn chương. Sự tích không của riêng ai. Sự tích như nơi chốn tụ họp của nhiều người, nhiều tuổi: cuộc chuyện trò trong những quãng nghỉ, quãng chờ (thường vào cuối ngày giữa người già và trẻ nít).
Khác với thơ ngay ở trong đời sống, sự tích ở bên lề (trên cao, đằng sau) đời sống.
52. Mỗi đời người chẳng cần bao nhiêu sự tích.
Những sự tích lặp đi lặp lại như thời tiết, khí hậu, cây cỏ, đất đai.
Điều quan trọng là trò chuyện. Nghe nói, kể và nghe nói. Những quãng thừa trống được chinh phục. Đêm tối bí ẩn tan nhòa vào trong giọng nói, tiếng nói, trong quây quần thân ái.
53. Nếu anh sống chỉ nói những thật cần thiết thôi, anh là con người cô độc đáng thương. Lời nói cho đi và nhận được, thừa thãi, còn là những vuốt ve trao đổi.
Sự tích là chốn dung túng cho thứ lời ấy. Anh lớn lên, anh có thể bất kể đến các bài học luân lí xử thế (anh khước từ) nhưng anh vẫn nhớ, vẫn mang theo những bóng vang chập chờn của giọng kể một đêm nào.
54. Văn chương cũng chỉ là cuộc trò chuyện, mỗi ngày mỗi hư hỏng vì sự nảy nở của cá nhân (Mỗi ý thức đều muốn sát hại ý thức khác – Hegel).
Mới đầu người ta lể về các sự tích. Vô số các sự tích khác nhau. Rồi tìm cách cách kể khác nhau. Dần dần người ta cũng nhận thấy sự tích chỉ là cái cớ để được nói, được nghe, người ta đi tìm những giọng nói khác nhau. Trong cuộc rượt tìm giọng nói, người ta đã quên lạc giữa thinh không một mình.
Văn chương ngày nay là giọng nói vọng về từ thing không. Giọng nghi hoặc tự chính trong mình…
55. Nói. Muốn nói, muốn được nghe. Trong tan tác thất thanh của mình, có phải không anh?
Nhà văn, xét cho cùng, là kẻ muốn được yêu nhưng lại chẳng yêu ai. Hắn muốn yêu hết thảy nên hắn chẳng thể yêu riêng ai. Trừ hắn. Nhưng rồi hắn cũng khinh bỏ, thù hận chính mình.
Giữa những mảnh gương vỡ, hắn chỉ nhìn thấy hình dung hắn quái quỷ.
56. Nhà văn: đó là chứng nhân của một kỉ nguyên cá nhân triệt để. Nhà văn, đó là một cá nhân tiêu biểu. Dù đó là một nhà văn xã hội.
57. Có một điều tôi đang cố hiểu: còn chút gì, ấy chỉ là văn chương. Lúc này tôi đang muốn hiểu điều ấy. Hơn lúc nào hết. Bởi lẽ tôi đang viết, tôi sẽ còn phải viết, tôi cũng không thể giả bộ. Phải không anh?
Tuần báo Khởi hành từ số 52,53,54,55,56,57,59, 62,63,63,64,65
20-7-1970
Trần Thiện Khanh sưu tầm và giới thiệu
TTTuyen 4 Dinh Cuong
Chứng từ Thanh Tâm Tuyền (phần 2/2)
Sau gần chục năm không làm thơ, Thanh Tâm Tuyền xuất hiện trở lại trên thi đàn bằng những ghi nhận, suy tưởng hằng ngày của ông về việc làm thơ, viết văn. Chúng tôi đã có dịp giới thiệu một trong những chứng từ ấy trên website phongdiep.net, lyluanvanhoc.com và báo Văn nghệ Trẻ. Lần này, chúng tôi xin gửi tới bạn đọc một phần khác của âm bản Thanh Tâm Tuyền, một tư duy thơ chịu ảnh hưởng nhiều  phương Tây. Hy vọng tư liệu này sẽ có đôi phần giúp ích cho những ai quan tâm đến một vùng văn học bị khuất lấp hay ít nhiều còn ở bên lề đời sống học thuật hiện nay….
Trần Thiện Khanh sưu tầm và giới thiệu
*
Gửi Mai Thảo
Văn chương đã chđâu mà ch thân*
Nguyễn Du

1.
Còn lại chút gì là văn chương.
Đó không còn phải là một tham vọng nữa. Mọi tham vọng chìm lặn tuyệt tích. Hết ngoi ngóp. Trên mặt hồ buổi sáng phẳng lặng không cả dấu sóng của bất cứ vật gì rớt. Tất không thể có bàn tay chết đuối chới với đã khuấy. Chỉ nổi là những búp khói trắng ùn trùng trùng như  một đám vườn trồng.
Văn chương không thể còn là tham vọng.
2.
Kể cả tham vọng gần gũi nhất. Lật mặt Tôi lên.
Không đúng. Phải nói mò mẫm, lần dò qua các đáy tầng. Hết tầng này qua tầng khác, miệt cùng. Đau thương và hớn hở. Mặt không sao nhìn lại mặt. Gọi đó là tình nhân (chắc là tình nhân chăng? Phải nhân một lúc nào, nhân trong kiêu hãnh đã qua hết mười cửa địa ngục hay nhân vì thấy cái này cũng như cái khác. Phải nhân vì một kiếp hay hằng hà sa sốkiếp, mười cửa hay mười mười cửa hay mười mười mười…cũng….) và dắt theo về dương thế với điều kiện không quay đầu ngó.
Đừng ngó lại. Anh hãy hân hoan trong hạnh phúc siêu phàm. Đừng ngó lại. Em van nài. Hãy hân hoan ngu muội, ngửa cao mặt, cúi thấp đầu nhưng cấm ngó. Vì em chỉ là chiếc bóng. Nếu anh ngó lại, anh thấy chính anh không thấy gì khác. Và anh đó, anh không thểnhận, anh vẫn đó. Vô lý. Mặt sao nhìn được mặt.
Ophec đã ngó. Muôn đời chàng phạm điều cầm kỵ. Sao vậy chàng?
3.
Tôi là cái gì khác. Đấy là Rimbaud.
Đấy cũng là Fauyt sau giao ước với méphisfo.
Cái gì khác là cái gì? Cái gì vẫn là cái gì. Cái gì ấy vô định hình, trôi chẩy, ngút cháy… Thì rốt cuộc vẫn là một cái. Mòng mòng, lập lờ, bập bềnh. Chiếc thuyn bào nh lô xô, bt trên b, bèo đầu bến, cái quay búng sn m m nhân nh
Tất cả chỉ vì một lời giao ước thôi ư?
Tôi – Cái gì khác. Tôi… Tôi… Tôi…Anh hãy đọc lớn lên, gào to lên cho đến khi trút cạn nghĩa chỉ còn âm, anh sẽ thấy. Anh có thấy không? Anh không thấy ư? Tôi- Ngã- Ego: con hồtinh tu vạn kiếp khoác hình dạng mỹ nhân anh hằng đêm trao tình.
4.
Ôn Như! Người điên bên Tây Hồ vì sự quý phái của người. Người điên như sự triệt hủy toàn vẹn. Điên lặng lẽ, điên mênh mông như mặt hồ thản nhiên. Người đã ngồi lâu, chỗnào trong cảnh nắng những buổi mai, những buổi chiều cuối đời. Nào ai thấy, Phạm Tháiđang rong ruổi,  nộ khí xung thiên “chiến tụng Tây Hồ”, Nguyễn Du lưu lạc ẩn lánh, vọng nghe bên hàng xóm nhịp xênh phách và âm thanh của đệ nhất Long Thành mãi giả ca trên tiệc mà hai mươi năm sau còn mơ tưởng. Hồ Xuân Hương thấy “Trấn Bắc sao mà cảnh vắng teo” và đến sau Bà Huyện Thanh Quan thấy “Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu” (những người đàn bà đã “thấy” chút nào)
Nào ai thấy mặt hồ thanh thản ngây dại sáng chiều. Nào ai thấy bóng Ôn Như vùi sâu trong khói sương. Một chiếc bóng không bóng. Một cơn điên thầm như gió thổi, mưa buông, nắng rực.
5.
Còn lại chút gì, ấy là văn chương.
Đó là niềm hy vọng ngạo ngược. Có thể ví như mũi dao nhọn tự mình thọc sâu vào vết thương ngoáy khoét. Có thể ví như luồng băng giá ôm bưng mặt mũi. Có thể ví như ủ dột. Có thể ví như một mối thắt của chuỗi đứt… Có thể ví tha hồ tùy thích
Có thể gọi đó là niềm hy vọng tuyệt vọng hay niềm tuyệt vọng hy vọng… Anh thấy không những chữ, những tiếng nhào lộn trong trò quỷ thuật? Văn chương đó
6.
Vậy còn lại chút gì? Và còn lại cho ai đây?
7.
Tham vọng, tuyệt vọng; hy vọng, điên mê, điên tỉnh… Còn lại, không còn lại, chút gì, không chút gì… Tôi…ta…ta tôi,….Những chữ nhào lộn trong trò quỷ thuật gọi là văn chương. Hơn thế: những môn vật khôn lường biến hóa trong tay, trong miệng, trong mắt, trong mũi nhà làm trò có tài trước mắt bầy con nít say sưa và dám người lớn khoái trá xem trò.
Những chữ và những chữ. Quá thừa thãi. Những chữ không làm cho ai sống, không làm cho ai chết. Như con chim móc từ ngực ảo đập cánh, như lưỡi dao cạo nhai ngấu nghiến, như cục lửa nuốt vào thổi ra…
8.
Ở một tuổi, người ta sống và chết trong vòng vây một vài tiếng, một vài chữ. Những tiếng âm u, thăm thẳm đi suốt từ quá khứ tới tương lại, nối người này với người kia, nối mình làm một. Những chữ rộng mở bao khắp một chân trời kêu người ta bước tới.
Bây giờ chữ nhiều quá, tiếng nhiều quá. Mỗi ngày chữ đẻ ra chữ, tiếng đẻ ra tiếng. Một chữ, sinh sôi nảy nở con đàn cháu đống, chi chít. Một tiếng đập vỡ ra vô vàn mảnh càng lúc càng ly ty tắt lặng. Tiếng chữ bâu bám khắp chốn, nồng nực, hôi hám, đám tởm nhưruồi nhặng (Người ta còn có thể chết vì những chữ, chết chùm vì bệnh dịch, nhưng chắc chắn không thể sống nhờ đám ruồi xanh hôi thối kia – đám ruồi bọ lúc nhúc trên những thây thối rữa).
Tại sao không im?
9.
Không nói gì hết (Lão Tử). Không nói được gì hết?Phải vậy chăng?
10.
Kẻ trí (I’intellectuel) là hạng người sống đời mình theo ý tưởng dù là một ý nhỏ mọn (Malraux). Ý nhỏ mọn? Mỗi ý là một cổ đại thụ rễ cái rễ con chằng chịt. (Bóng dâm mát có thể che khuất mặt trời – có thể là chốn ẩm ướt, lạnh lẽo, mủn rã).
Ý cũng bị phá vỡ theo tiếng, theo chữ đang bay tung như bụi cát trong trận nổ bão. Kẻ trí là kẻ vô trí. Trong trận bão lốc, mọi đường lối đều ngập lặn. Đi trong cơn bão mù điếc được gọi là đi trên nẻo vô định.
11.
Những chữ, những tiếng, những ý…
Người ta muốn vượt ngoài. Người ta muốn nói điều không thể nói. Điều không thể nghĩ.Đang thời của mật ngôn. Chữ, tiếng, ý như con lươn trơn trồi không thể nắm chắc.
Cũng không khác khi người ta quy lập nền tảng, ấn định hạn giới của các mệnh đề phát biểu. Ngôn ngữ như một hệ thống tín hiệu. Những biểu tượng như mọi biểu tượng khác. (Tôi cũng là biểu tượng – bào ảnh đấy – Tôi đã chết từ khuya khoắt trong mtôn giáo – Chếtđuối trong chữ, trong tiếng, trong ý.)
Trụ một chỗ, nhắm chặt mắt – nghe suốt qua trận bão, trong suốt ngoài trận bão – hay lúcđầu vẹt gió lảo đảo lang thang – không khác. Thế thôi. Cát cũng ngậm đầy trong miệng, bưng kín mắt mũi. Người ta cũng lúng búng trong cơn gió gào, tội nghiệp.
Trong trận bão, vẫn có một chỗ nín tuyệt không hề hấn. Con mắt bão đó anh. Con mắt bãoở đâu? Đông hay Tây? Nam hay Bắc?
12.
Tại sao không im? Tại sao khua động?
Không nói gì hết. Nhưng cũng đã nói rồi. Dù chỉ nói để mở sự nín thinh. Nói như thừa thãi, bằng sự thừa thãi của hết thảy. “Khéo dư nước mắt…” hay nước mũi hay gì gì; cũng thế.
Văn chương; những chữ, những tiếng, những ý thừa mứa vô tích sự.
13.
Những ý.
Và lý, và nghĩa của chúng. Người ta trở thành khốn nạn với những lý, những nghĩa. Nghĩa lý nào cũng được cũng không được. Tốt hơn hết là thoát khỏi mọi nghĩa lí, thoát khỏi mọi ý. Còn lại những chữ vô tội.
Có thể như chiếc ống rỗng suốt mặc gió thổi qua? Ngăn bít chút xíu đầu ống, khoét mấy lỗcách trên thân làm chiếc ống thành sáo. Cơn gió điên và ống sáo vi vu.
14.
Những chữ vô tội. Anh hiểu hơn ai hết những chữ ấy. Những chữ không chỉ dành, không phát hiện bất cứ sự thể nào. Những chữ không thể cô lập, chúng chen chúc bên nhau nương tựa vào nhau và xuôi chảy. Những chữ của tiếng nói, (không phải của ý) không thểtách riêng, không thể viết hoa, không thể in đậm. Còn trong sự mất. Nổi hiện trong lặn chìm dài. Những chữ bủa giăng như những chiếc võng treo đong đưa trên hai thành vực sâu. Anh hiểu chứ? Anh hiểu hơn ai hết.
Những chữ vô tội của tiếng nói vô tội không nghĩa, không lý. (Người ta thường viết NGHĨA, LÝ – những chữ này sừng sững chót vót một mình).
15.
Mai sau dù có bao gi
Còn lại chút gì trong câu ây? Một chữ: dù. Mai sau có bao giờ. Mai sau nếu có bao giờ. Mai sau lỡ có bao bao giờ. Mai sau hoặc có bao giờ. Mai sau chợt có bao giờ. Mai sau ngộcó bao giờ. Mai sau thoáng có bao giờ… Dù có bao giờ.
Để giảng nghĩa một chứ dù người ta kêu gọi rất nhiều chữ khác. Để tìm kiếm cái lí của chữdù người ta sẽ đè bẹp nó dưới những chồng chất của ý ghê gớm, ý khủng khiếp, ý ngu độn (ý không lời, ý không ý… mật ngôn, bất khả tư duy, bất khả tư nghị…)
Còn lại chữ dù vẫn vô tội.
16.
Mai Thảo, Cung Tiến.
Những trời muôn xưa, hồng bay mất lá năm hồ hết, tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm… là những ngu ngơ không nghĩa lí, những thoát khỏi sau một mùa ở địa ngục, những thoát khỏi nào tầm thường hằng ngày, hằng ngày còn lại như muôn xưa, như hồ hết, như lắm thầm thì như gió bảo rằng điên cũng được, bảo rằng không cũng được. Bảo tuyệt vọng, bảo hy vọng, bảo đang sống, bảo đang chết đều như nhau.
Tiếng nói vô tội. Địa ngục là ý, mọi thứ ý (hôi tanh/ tuyệt vời) Au Commencement, c’est Verb hayTruth is inexpresssible in Words hay Con người to thành t các tương quan đều là những nghĩa lí khốn khó, thứ nhạc tấu của cuộc cuộc khiêu vũ các thây ma trên sàn bóng trơn tuột của trí, của huệ, của khải thị, dưới một bức trần họa hình mênh mang của cõi trời. Người ta bay lượn vo ve như nhặng xanh theo ý, từ Đông sang Tây, từ Tây sang Đông, từ thấp lên cao, từ cao xuống thấp, người ta hóa thân thành ý, ý là một loài trùng.
17.
Những ý (những chữ của những ý) được sản xuất, đóng hộp cung ứng cho thị trường tiêu thụ mỗi ngày mỗi mở rộng. Đủ loại, đủ nhãn. Ý đã trở thành một nhu cầu, như L.S.D Marijnan. Bản công khai ở Super – Market, bán lén lút công khai ở chợ Trời. Các đại lý, các courtier, bọn thương nhân có môn bài hay lâu thuế đầy rẫy. Đó là một ngành đang phát triển mạnh, bởi số lượng tiêu thụ cần thiết cho mỗi người gia tăng cùng thời gian. Từnổi loạn đến cách mạng, từ thế tục đến siêu việt, từ cá thể đến nguyên tánh, từ cố định đến bất định, từ mỗi ngày đến mịt mùi, từ cái giống lên đến cái cùng thẳm thinh không, từ một cõi bay đến hạn trời,… Nuốt, hãy nuốt đi… anh cần sống, anh cần phá nổ tung hư ngụy là chính anh để gặp… Gặp cái gì đây? Điều quan trọng hãy nuốt đi đã, anh hãy tiêm vào mạch máu chất kích thích này đã… tự khắc anh sẽ thấu suốt. Bất khả thuyết mà. Cũng khắp là sự bất khả thuyết ấy, mọi lời rao giảng quảng cáo đều tận cùng bằng: hành động, thể nghiệm, tu chứng.
Hãy nuốt đi, anh sẽ thấy. Và anh sẽ không thấy sự độc địa của bọn thương nhân.
18.
Còn lại?
Nổi hiện như những dấu chân trên triền dốc, bên lề, dưới lăng. Quanh quẩn, mò mẫm giữa cảnh hoang vu. Thật bất ngờ. Bỗng thấy. Những dấu chân lẩn mất trong cảnh vật, ở đó và không thuộc vào. Một trận nưa sẽ tới xóa mau những dấu chân của ai? Nào ai biết và cũng chẳng quan trọng. Ai bắt gặp ở đó? Có cần phải trả lời không? Ai bắt gặp? Bỗng thấy…
19.
Chỉ là bỗng.
Bỗng những dấu chân. Bỗng mai, bỗng chiều, bỗng đêm. Bỗng mắt chạm, mắt đứng sững. Bỗng thấy, bỗng không. Bỗng cùng. Như cảnh tượng đó, ở đây, lúc này, như thế. Như thếthôi một nỗi buồn không.
Nỗi bỗng không trùm lấp hết thảy.
20.
Văn chương: những chút bỗng.
Những chút bỗng (bỗng, bổng, bọng, bóng, bồng…). Không đến đâu chênh chao. Trong một chữ, trong một câu. Bỗng lúc nào, rồi xong.
21.
Như đêm qua (anh có thấy quãng cách từ chữ qua với người viết, rồi từ chữ qua với ngườiđọc: đêm qua – còn lại gì đâu?), mưa lồng lộng. Cơn bão lướt ngang. Mọi cơn bão đều tại qua đây. Trong hành lang tối thẳm, ướt mem. Các cửa kính vỡ chưa sửa sang. Gió đập lùng bùng vào giấy nhựa dán bít. Đang xem và bỗng đọc thấy bài thơ của Lý Thương Ẩn
Quân vn quy k, vi hu ký
Ba Sơn d vũ trường thu trì
Hà đang cng tin tây song chúc
Khước thuyết Ba Sơn d vũ thì.
(Người hi ngày v, biết bui nào
Đêm thu mưa nút trút đầy ao
Bao gi đốđuc bên song thc
Cùng tán chuyn mưđêm núi cao)
22.
Trở lại với: xem và đọc
Người ta thường xem sách. Mở quyển sách xem – nghĩa  là lấy mắt trông nhìn – tò mò lướt qua các hàng chữ để muốn chứng kiến các cảnh tượng. Xem sách như xem các cảnh tượng biến hiện. Người ta bèn bảo sách vở là cửa ngõ phiêu lưu, mộng mị. Rồi người ta cũng bảo cuộc đời, thiên nhiên là quyển sách của những quyển sách. Chưa chắc người viếtđã trông ngắm được nhiều phong cảnh cho bằng người xem, chưa “sống” cho bằng người xem… Rốt cuộc sách để cho những người không sống, và hãy liệng quyển sách đi.
Đúng.
Văn chương nào có gì đâu, chỉ là “tán chuyện mưa đêm trên núi”. Người ta còn đòi xem,  “xem xem nó viết cái gì, nói cái gì “để mà thấy” chuyện cũ rích, nó mù tịt về chính trị, vềxã hội, về lịch sử, nó nói chuyện tào lao, nó ở trong tháp ngà, ngoảnh mặt với thực tại… vân vân”
Xem là lấy mắt làm chủ, xem cho biết. Văn chương không biết, bất biết.
23.
Hãy đọc. Văn chương cần được đọc
Đọc là chìm mắt. Mặc cho chữ nổi hiện, tiếng lời làm chủ. Đọc là buông thả và chăm chú. Như đứa trẻ chưa biết nói lắng nghe tiếng trò chuyện bông đùa của người lớn (người lớnđang quên mình là người lớn). Những chữ vô tội, những tiếng vô tội, không chỉ thị, không phát hiện, biểu diễn những bỗng – những chênh chao vang động của lúc, của thoáng.
Đọc để nghe, nghe tiếng, nghe lời, nghe giọng, nghe hơi của ai khác. Nghe qua mọi nghĩa lý những ba động, mở rộng đón những ba động ấy.
(Tuần báo Khi hành số 73, 74, 82)
Trần Thiện Khanh sưu tầm và giới thiệu
Chú thích:
* có bản chép là Trí thân – Thanh Tâm Tuyền

Nguồn :  http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=6961