Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Từ Hoài Tấn trượt dài cơn khát

Đặng Châu Long


tu_hoai_tan
Nhà thơ Từ Hoài Tấn


Đêm qua chưa những đêm
Ôi những đêm
Đên rạch mặt kêu thương
Đên ngủ ngồi trên gai lửa
Đêm la hét cầu cứu dưới vực sâu
Đêm dài trong bóng tối
….
Những đêm thâu trên xứ sở tôi
Chỉ còn đêm
Tiếng hú của đêm
Tiếng mừng vỡ của đêm
Đang ngậm mòn tuổi trẻ
Khuôn mặt thù của đêm ngày ngày vẫn đối diện nhau
Trong hầm chông cuộc chiến

(Từ Hoài Tấn, Những đêm chờ bình minh)

Có biết bao đêm dài như thế ở quê hương ta từ những ngày mới lớn. Những đêm dài rền vang bom đạn trên mọi chốn mọi nơi đả phô bày vô vàn cảnh tượng tang thương trước mắt mọi người như cảnh báo một con đường dài không có bình minh. Tương lai nào cho anh, tương lai nào cho tôi giữa cơn biến loạn này. Chẳng ai tự nhận là tác giả những bi thương đó và con người trong vòng xoáy đã cũng cơn lốc dữ trầm luân. Bài thơ đầu tiên của quyển thơ Phục sinh tôi & em của Từ Hoài Tấn đã đưa chúng ta về lại một thời. Thời của những hoang mang, cùng cực, nghi ngại và đổ vỡ niềm tin.

bia_phuc_hung_toi_va_em
Tập thơ Phục hưng tôi & em của Từ Hoài Tấn ra mắt tháng 10-2013 là tập họp của sự chọn lọc ba quyển thơ chép tay từ năm 1967 đến năm 1974. Một trăm chín mươi bốn trang chứa đựng chín mươi chín bài thơ một thời là tất cả những chắt chiu gìn giữ của tác giả và của anh bạn Trần Đình Sơn suốt hơn 40 năm qua.
Tác giả phân thành 3 phần : Bão vọng, Hãy lay tỉnh thức dậy và Ngợi ca mây trắng.
Tôi đặc biệt chú ý phần 1, là phần phơi bày tâm trạng của Từ Hoài Tấn , nỗi niềm và hoài vọng của người trong cuộc chiến.
Trong cuộc sống, Từ Hoài Tấn là một người trầm lặng tuy sẵn sàng hòa với mọi người nhưng trong anh dường như có một khuôn thước không thể vượt qua, như một thầy giáo hay công chức mẫu mực, không như một Phù Hư với ánh mắt láu lỉnh nhanh nhạy, hay một Nguyễn Miên Thảo với cái miệng biết cười hóm hỉnh trong những câu chuyện bỡn đời. Anh là một giòng Hương giang trầm mặc, nhẹ bước theo đời trôi, từng bước nhẹ nhàng.
Bước trong cuộc chiến, nhìn nhận ra cuộc tang thương để rồi cảm thấy mình như một người lỗi nhịp
Người anh em ơi người anh em
Gióng trống rung chuông reo lời tự sát
Cây cỏ trăm đường ứa máu lem chân
Ta vác thập tự qua mấy nghìn năm tìm đất trú

(THT, Niềm im lặng kinh hoàng)

Và phân vân đặt câu hỏi cùng mình. Chiến tranh là cái gì để nhọc nhằn bi thảm cứ đeo đuổi từng thân phận người. Anh gọi tên nó là niềm im lặng kinh hoàng. Lầm lũi bước đi. Ngậm tăm không nói. Bước tới, bước tới như một định mệnh an bài.
Khi chúng ta lớn khôn, phải chăng
Lịch sử là tập giấy trắng
Khi chúng ta hiểu biết, phải chăng
Lịch sử là gỗ mục
Khi chúng ta ước mơ, phải chăng
Lịch sử là trái đắng
Khi chúng ta chết đi, phải chăng
Lịch sử là quên lãng

(THT, Niềm im lặng kinh hoàng)

Trong tăm tối anh bước tới, trong giông bão anh bước tới, nghe ra như giận cuộc đời quá đỗi đa đoan nhưng chỉ lại im lặng thả tiếp cho đời. Trước năm anh nhập ngũ, anh nhìn lại nỗi đời:
Những năm đã trôi qua
Xô lăn ta về bờ vực
Những tháng ngày đã trôi qua
Đưa gần ta nơi cõi diệt
Bầy thú hoang thả xuống đồng bằng
Reo hò lời tự sát
Sông nước chiều thu
Lời ca vang đau đớn người sống sót
Ngón tay bị chặt cụt đưa mãi lên không
Lời hối tiếc
Đêm lăn xuống
Những thi hài lộ thiên

(THT, Nhìn lại 1969)

Anh tự nhìn nhận nỗi bất lực của mình như một lời thú tội với nhân sinh. Mà anh còn có thể làm gì trước những nỗi đau thương mát mát diễn ra hàng giờ trên quê hương tan nát này ? thôi cũng đành thân thả niềm đau vào trong chờ đợi, chờ một cuộc phục hưng giữa bộn bề hổn độn này:
Tôi sống như một gã thợ săn
Dương cung bắn nát từng ngày
Nếu có ai hỏi tôi vì sao
Tôi sẽ không bao giờ nói
Bởi tôi cũng chẳng biết vì sao tôi sống
Được đến ngày nay
Như gã thợ săn cùng quẫn
Trở về tự mình làm con thú
Dang hai tay trên vách tường
Dây cung bật mũi tên
Tôi xót thương tôi
Gã thợ săn khốn khiếp

(THT, Là một người)

Ôi đời sống đâu phải lò sát sinh
Hãy móc trái tim quay về bể lớn
Và hãy sống
Dựng thời phục sinh
Hay hãy chết vô tâm
Trong máng cỏ êm ấm

Hãy cât lên lời ăn năn
Như chúng ta có đáng được mang trái tim tươi thắm
Chúng ta có đáng được làm người

(THT, Nhìn lại 1969)

Chúng ta có đáng được làm người ? lời đay nghiến nói cùng tâm thức này có lẽ sẽ theo Từ Hoài Tấn dai dẵng trong nhiều năm, rất nhiều năm khi những hệ quả của cuộc chiến vẫn diễn ra trước mắt anh và những thế hệ nối sau anh
Cho tôi quên
Cái chết mẹ
Thân thể tan nát giữa buổi mai nào trên cao nguyên
Mỗi thước đất tôi sống có phải là một tai họa
Cho tôi được đổi thay định mệnh oan khiên
Đã cướp mẹ tôi ra khỏi đời sống
Lũ em buồn khổ của tôi ơi
Chúng ta khóc được bao nhiêu ngày cùng nhau
Trước khi khôn lớn chia tay

(THT, Gởi các em tôi)

Có một quyển thơ anh đặt tựa Đi, đứng và chạy…với thời gian như muốn khẳng định thái độ của anh với đời. Bước vào đời, dừng lại ngắm và nghĩ để rồi dứt áo ra đi. Ngay cả trong những cuộc tình của anh cũng vô định như thế. Sự tử tế xui bạn bè và các nàng thơ đến cùng anh, nhưng cũng chính cái tử tế đó làm anh cuối cùng phải dang xa để hoài niệm những ngày tháng tốt đẹp và vẫn mãi đẹp vì chưa từng kết thúc dù đã chia xa
Chờ em tôi đứng bên ngàn
Trăm năm rồi nữa trăm năm một mình

(THT, lục bát)

Và cuộc sống vẫn bềnh bồng trôi dù đôi lúc anh như Diogènes mãi thắp đèn soi rọi giữa ngày tìm cho ra con người đích thực, dang tay hô hào giữa sa mạc người một cuộc phục sinh
Ta đi cùng một hồi chuông đổ
Dồn dập nhiều năm cái chết hư không
Ta đi cùng một dòng máu đỏ
Chảy dầm dề tràn ngập con sông

(THT, Trên đường tới một mái nhà)

Tuổi trẻ lên đường dấn tới tương lai bằng lối rẽ của mình. Quá nửa đời, bên giòng nhìn lại đời đôi khi cũng phân vân xen lẫn băn khoăn. Có đúng chăng, có phải chăng con đường ta đã quyết định dấn qua. Ngại ngần chi con đường trước mặt, khi con tim ta đã chọn thì đó chính là con đường thập giá mà ta sẽ phải qua. Bước tới và không hối tiếc. Có chăng là chút ngậm ngùi
Đêm nay rồi một đêm mai nữa
Chỉ còn bầu rượu cạnh thắt lưng
Trên dặm đường xa thương bạn hữu
Mời hư vô một chén rưng rưng

(THT, Một thoáng đời nồng)

Đặng Châu Long
03-12-2013

Ghi chú: Tập thơ Phục hưng tôi & em của Từ Hoài Tấn xuất bản 10/2013. Do nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành.

Nguôn: Tác giả gửi 

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

Ngắm tuyệt phẩm tái hiện chân dung các vị vua triều Nguyễn

Chân dung các vị vua triều Nguyễn được khắc họa qua những họa phẩm tuyệt đẹp, được đăng tải trên website ABS Travel.
Gia Long (1762 – 1820) là vị Hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh), trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.
Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mệnh (1791 – 1841), tức Nguyễn Thánh Tổ, là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn, Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán,Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao, trong đó có việc ngăn chặn quyết liệt ảnh hưởng phương Tây đến Việt Nam.
Vua Thiệu Trị (1807 – 1847) là vị Hoàng đế thứ ba của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1841 đến 1847. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Miên Tông, ngoài ra còn có tên là Nguyễn Phúc Tuyền  Dung. Ông là con trưởng của vua Minh Mạng và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa.
Vua Tự Đức (1829 – 1883), là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn. Ông tên thật làNguyễn Phúc Hồng Nhậm hay còn có tên Nguyễn Phúc Thì, là con trai thứ hai của vị hoàng đế thứ 3 triều Nguyễn, Thiệu Trị. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Trong thời gian trị vì của ông, nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp.
Hiệp Hòa (1847 – 1883) là vị vua thứ sáu của vương triều nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Tên thật của ông là Nguyễn Phúc Hồng Dật, còn có tên là Nguyễn Phúc Thăng, là con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị và bà Đoan Tần Trương Thị Thuận. Ông lên ngôi tháng 7/1883, nhưng bị phế truất và qua đời vào tháng 10 cùng năm.
Kiến Phúc (1869 – 1884), tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, thường được gọi làDưỡng Thiện, là vị vua thứ bảy của vương triều nhà Nguyễn. Ông là con thứ ba của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, được vua Tự Đức chọn làm con nuôi. Kiến Phúc lên ngôi năm 1883, tại vị được 8 tháng thì qua đời khi mới 15 tuổi.
Hàm Nghi (1871 – 1943) là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Nguyễn, là em trai của vua Kiến Phúc. Năm 1884, Hàm Nghi được đưa lên ngôi ở tuổi 13. Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra ngoài và phát hịch Cần Vương chống thực dân Pháp. Phong trào Cần Vương kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị bắt. Sau đó, ông bị đem an trí ở Alger (thủ đô xứ Algérie).

Vua Đồng Khánh (1864 – 1889), miếu hiệu Nguyễn Cảnh Tông, là vị Hoàng đế thứ chín của nhà Nguyễn, tại vị từ năm 1885 đến 1889. Tên húy của nhà vua các tài liệu ghi khác nhau, nơi thì ghi là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, Nguyễn Phúc Ưng Thị, Nguyễn Phúc Ưng Biện, Nguyễn Phúc Chánh Mông, ngoài ra còn có tên Nguyễn Phúc Đường. Ông là con trưởng của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, được vua Tự Đức nhận làm con nuôi năm 1865.
Vua Thành Thái (1879 – 1954) là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Bửu Lân, còn có tên là Nguyễn Phúc Chiêu. Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Từ Minh Hoàng hậu (Phan Thị Điểu). Do chống Pháp nên ông bị đi đày tại ngoại quốc.
Vua Duy Tân (1900 – 1945) là vị vua thứ 11 của nhà Nguyễn (ở ngôi từ 1907 tới 1916), sau vua Thành Thái. Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông bất hợp tác với Pháp và bí mật liên lạc với các lãnh tụ khởi nghĩa Việt Nam. Vì lý do này, ông bị người Pháp đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.
Vua Khải Định (1885 – 1925), hay Nguyễn Hoằng Tông là vị Hoàng đế thứ 12 nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ 1916 đến 1925. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, còn có tên là Nguyễn Phúc Tuấn, con trưởng của vua Đồng Khánh và bà Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu Dương Thị Thục.
Bảo Đại (1913 – 1997) là vị Hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, còn có tên là Nguyễn Phúc Thiển , tục danh "mệ Vững" là con của vua Khải Định Từ Cung Hoàng thái hậu. Đúng ra "Bảo Đại" chỉ là niên hiệu nhà vua nhưng tục lệ vua nhà Nguyễn chỉ giữ một niên hiệu nên nay thường dùng như là tên nhà vua.
Theo Kiến thức

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Cao Thoại Châu: “THIỂU…NHẤT LÃM” VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM TRƯỚC 1975


    Hồi vào sống ở Sài Gòn tôi mới 15 tuổi, học hành, kết bạn, tập tành đọc sách và đam mê cái việc nghiệt ngã nhất trần đời là viết lách, cũng có thể nói tôi là người lớn lên và sống bằng văn chương miền Nam. Đó là thứ thực phẩm chẳng khác chi nước và cơm và những thứ linh tinh khác cần thiết cho một con người. Đó còn là bàn tay vỗ về, là niềm kiêu hãnh mỗi khi lòng tôi rung rinh chao đảo, mãi đến hôm nay.
    Văn chương ấy là văn chương của một bối cảnh lịch sử mới, trong đó có sự cuốn đi của hệ thống cai trị của Pháp chấm dứt một trang sử đen tối trăm năm nô lệ thay vào đó là sự Mỹ hóa nhanh và cụ thể. Cảm hứng sáng tác của người cầm bút có một bước nhảy vọt từ mô típ cái tâm với những phận nghèo cổ điển chuyển dần sang văn chương của cái Tôi tiểu tư sản trẻ hiện sinh có góc cạnh, đôi khi có một chút rườm rà cồng kềnh nhưng không trụi lủi như con chim bị vặt hết lông cánh nhìn đã phát khiếp, nói chi ăn. Cái Tôi, trong thứ văn chương mà tôi tắm mình trong đó đến già cũng chưa lên bờ, là to lớn lắm, nó đôi khi bệ vệ ngồi hay hiên ngang đứng như pho tượng bốn mặt nhìn cho đủ bốn hướng. Tức là không phiến diện, không lép kẹp kiểu con cá khô. Con người nhìn ra phía trước và nhìn bốn hướng để tìm và chọn lấy cái không có sẵn hoặc bị lùa vào là thân phận. Và văn chương miền Nam là văn chương mang thân phận con người hết sức đa dạng. Tính nhân bản vì thế mà là cái chất bao trùm lên, chảy lênh láng ra trong dòng văn chương này? Đặt thành thể nghi vấn cho thay đổi nhịp câu viết chứ không phải một hoài nghi cần tìm câu trả lời.
    Khi nhà thơ và cũng là người thầy dạy học của tôi, Nguyên Sa, tung ra hình ảnh này“Hôm nay Nga buồn như con chó ốm/ Như con mèo ngái ngủ trong tay anh” là ông đã tham gia vào lớp người mở một khu vườn mới cho thơ tình giai đoạn đất nước vừa chia cắt, cái Tôi trong thơ rất rõ nét và đậm nét, rất thơ và rất… người! 
     Trong trí nhớ tôi, mấy câu “Đời sống ôi buồn như cỏ khô/ Này anh, em cũng tợ sương mù/ Khi về tay nhỏ che trời rét/ Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ” (Nhã Ca) như một chút “nổi loạn” của giọng thơ nữ hiện nguyên hình tâm trạng bơ vơ rất có thực trong những năm cuối thập kỷ 50 thế kỷ trước mà bấy giờ nỗ lực phá dỡ khuôn thước ước lệ của thân phận đang bắt đầu.
       Đất nước bị chia cắt, chẳng bao lâu thì chiến tranh bùng phát ngày một khốc liệt và dai dẳng. Nguyễn Bắc Sơn thật tình và ngay thẳng: “đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm línhmang trong đầu những ý nghĩ trong veo /xem cuộc chiến như tai trời ách nước” thì đấy là tiếng nói thực của nhiều người lứa tuổi tôi khi đó.
     Rồi “Mai anh về em sầu thê thiết/ Kỷ vật đây viên đạn màu đồng/ Cho em làm kỷ niệm sang sông/ Đời con gái một lần dang dở” (Linh Phương) như một tâm trạng chung của nhiều thanh niên cùng thời với tôi. Quà tặng này đưa trước hay đưa sau, khi người tặng còn hay mất là một xúc động rất khác nhau về bề sâu cả bề rộng!     
     Thơ thuở ấy có nội hàm là những khát vọng ẩn tàng một tuyệt vọng “... bởi ngày mai anh trở ra mặt trận/ ở đó, anh không thiếu một thứ gì/ kể cả máu/ chỉ duy có thứ này/ hãy viện trợ cho anh/ đó là giọt lệ em xanh biếc...” nhà thơ bị mất một chân vì mìn nổ Luân Hoán đã viết như tiên tri thế ấy. Những thứ dùng để hạ sát được nhà thơ mang làm tặng vật như tặng cho nhau một tâm trạng thừa mứa những vô vọng nghịch lý của một thời: “Tặng cho em trái lựu đạn cay/ Hạch nước mắt của thời đại mới/ Tặng cho em cuộn dây thép gai/ Thứ dây leo của thời đại mới/ Đang leo kín tâm hồn ta hôm nay/ Đó là tình yêu anh, em nhận đi đừng hỏi” (Trần Dạ Từ).       
    Thân mình mỏng manh như sợi chỉ mà thân phận lại nặng nề như cái ba-lô trên lưng, Trần Hoài Thư viết: Đêm xuống đồi gặp con nước nổi/ Súng đưa khỏi đầu/ Từng con một vượt sông…/ Anh lạc trên cánh đồng trăng mênh mông/ Không biết nơi nào là cõi dữ/ Trên đôi vai anh nặng nề lịch sử/ May mà còn em/ vầng trăng mười sáu/ anh giữ/ ở đáy ba-lô… Đáy ba-lô thì chứa được bao nhiêu? Cả một gia tài gom lại còn có bấy nhiêu? Chiếc ba-lô là ẩn dụ cõi sống và lỡ có sao thì đó là cõi chết hình như được báo trước! Nhà thơ vốn là người bén nhạy hơn dân thường: “Và có thể nào đêm nay không còn tiếng súng/ Không còn nghe tiếng còi hụ giới nghiêm/ Ba giờ sáng xuống Ngã tư quốc tế/ Ăn một tô mì thơm ngát bình yên” (Phạm Cao Hoàng). Thật tuyệt vời cho tô mì ăn vào phút đầu tiên của hòa bình! Thời chiến tranh là nền cho nhiều bài thơ tình mang dấu ấn của nó, có điều là tính hùng tráng hay bi tráng mà thôi. Và tôi (CTC) trong một bài thơ của mình cũng góp một bộ trang phục riêng do tự mình may đo lấy theo kích cỡ riêng mình: “Tôi là chiếc xe bò đã cũ/ Đường gập ghềnh tôi chở tôi đi/ Đường gập ghềnh tôi chở tôi về/ Trên một chiếc xe bò đã cũ.
     Trong dòng thơ 20 năm ấy sừng sững hiện tượng thơ Bùi Giáng độc đáo có một không hai trong thi ca VN.  “rong chơi, lãng mạn, tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ sinh tồn, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn khuất khía cạnh dục tình khép mở. Tạo nên một mô-típ bạc mệnh hiện đại, có màu sắc siêu thực có chất hoang mang của con người bất khả tri về mình, về người khác trong cuộc sinh tồn hiện hữu...”.
      Ngay từ thuở đầu thơ ấy tôi vẫn tự hỏi nên đọc thơ Bùi Giáng vào lúc nào để thâu tóm được tinh túy của nó? Và câu trả lời là... không biết, không thể biết, cần gì phải biết:  “Về cổ lục cũ rồi câu chuyện cũ/ Và cảo thơm không mới nữa bên đèn/ Và sương sớm hay chiều buông liễu rũ / Biết thế nào mà nói lạ hay quen”. Và đây nữa cũng là Bùi Giáng: “Gặp Bồ Tát cười vui như nắc nẻ/ Một hôm nào nương tử bước hai chân/ Vén xiêm áo cho tượng thần mở hé/ Tòa thiên nhiên ngồi xuống cỏ vô ngần”.
     Những bài thơ đấy của chúng tôi như một sự bột phát cá nhân, không một định hướng nào, một sự khích lệ cũng không. Chỉ là sự đối mặt một cách rất cá nhân giữa con người với chính thân phận của mình!
     Bây giờ tôi nói đến truyện ngắn gây cho tôi ấn tượng nhất trong 20 năm văn chương miền Nam. Vào năm 1965 khi truyện ngắn “Dọc Đường” của nhà văn Thanh Tâm Tuyền ra đời thì cũng là khi các thành thị lớn nhỏ của Sài Gòn bị lọt thỏm trong chiến cuộc mà ngày và đêm trở thành ranh giới cho không ít những phận người.
      Không gian và cảnh tượng chỉ là một buổi chiều chạng vạng ở một dãy phố chợ tạm bợ không có tên nằm dọc quốc lộ chạy qua một khu rừng cao su cũng không được tác giả chỉ định một cái tên. Và cũng như thế, những nhân vật của “Dọc Đường” cũng chỉ được gọi theo giới tính, độ tuổi... hoặc một nét nhận dạng bất kỳ nào đó. “Ba người đàn ông ngồi quay xung quanh cái bàn gỗ tròn trong quán và cùng hướng về phía quốc lộ. Quán bằng lá nằm cuối dãy phố mươi lăm chiếc, sát cạnh con đường đất xe hơi có thể vào ngăn phố với rừng cao su. Đầu trên dãy phố là đồn Dân vệ rào ba lần thép gai trên treo lủng lẳng những ống lon rỉ”.
     Đấy là nơi chốn và đây là những con người của nơi chốn đó: “Người đàn ông ngồi ngoài cùng kế cây cột chống, mặc áo lá quần xà lỏn, một chân co lên ghế, tay bưng ly cà phê uống từ hớp nhỏ. Người đàn ông liền bên vận quần áo kaki sờn rách, đầu đội nón bẻ vành, chân đi giày không vớ, cầm chiếc muỗng nhỏ xíu gõ nhịp lên bàn. Người ngồi tách riêng một phía già hơn hết, tóc tiêu muối, vận quần lãnh đen bám bụi đỏ, áo túi trắng ngả màu.”
     Sống ở cái nơi như thế, trong bối cảnh cuộc chiến tranh đã tới hồi gay cấn, điều quan tâm của nhóm người này là một... con đường có những chuyến xe đủ loại chạy qua biểu hiện của sự thông suốt liền lạc mà bất cứ lúc nào cũng có thể không còn như thế. Vào thời buổi ấy, trời càng về chiều xe càng chạy bán sống bán chết cho kịp tránh bóng đêm khi đường, rừng được “bàn giao”. Và sự quan tâm đến dòng xe của những người này là để đánh bài bằng biển số.
       - Nè, trả tiền ly cà-phê. Tao về cho sớm. Tối nay thế nào cũng có hành quân.
      Không khí chiến tranh được dẫn vào chuyện đơn giản như một thói quen chờ đợi như vậy. Nghệ thuật hiển thị sự việc của Thanh Tâm Tuyền là rất điêu luyện, chúng cứ lộ diện từ từ từng chút một, từ câu nói vu vơ “Tối nay thế nào cũng có hành quân” đến “Đậu cái này rồi về tía” ,“Tụi bay tuột dù hết rồi. Máy bay trực thăng đó.” Toàn là những lời vô tư ngắn gọn phục vụ đánh bài như thế. Vài phút sau, tiếng động cơ nổi rõ hơn, tới gần... Chiếc trực thăng bay sà thấp ngang qua quán. Hai người dân vệ từ trong lối xóm trở ra, chân mang giày bó túm ống quần bám sình vì bụi đất: một người đeo súng hai tay bưng trên miệng huýt vào chiếc lá tre non kêu chít chít từng hồi như tiếng chim, một người quàng hai tay trên hai đầu súng đặt nằm ngang cần cổ ngó phía trước, cả hai mặc đồ đen đội những chiếc nón vải đen có lưỡi. Lính chuẩn bị co rút vào đồn vì đã tới giờ bóng đêm không là của họ, còn một số người dân thì sửa soạn về ngủ tạm tại một thành phố gần đó, như loài chim di trú trốn tuyết. Người đàn bà không có cái ưu tiên... được sợ chết này, nói với chồng:
            - Mấy cha chỉ bầy chuyện đi chơi không à!
         - Mầy không thấy trực thăng quần nãy giờ sao mầy. Bộ mầy muốn tao chết…
         - Còn tôi dễ không chết hả.
        - Tao là đàn ông mầy nghe chưa? Ở nhà để lỡ như lần trước... Tao ở nhà… Đ. m. thứ đàn bà ngu!
Ngay lúc ấy một chiếc xe có thể là cuối cùng từ từ đi qua hết đoạn đường rào kẽm gai đậu trước quán hớt tóc. Người lơ xe nhảy xuống đất kêu vô trong:
           - Xuống lẹ lên cha nội. Một người đàn ông tay ôm bọc giấy dầu, lom khom bước xuống. Tới đất, người đàn ông lại muốn trở lên, nói:
           - Không phải đây…
Vậy là đâu? Và chuyện bắt đầu hé lộ ra.
Chiếc xe rồ ga chạy thẳng vào. Người đàn ông đứng lại bên đường ngơ ngác. Hắn vận bộ bà ba đen, chân đi săng-đan, tóc cắt ngắn, mặt mũi gồ ghề xanh xao. Hắn ngửa mặt nhìn lên trời trông chiếc trực thăng từ phía rừng cao su bay tới, đứng im rồi hạ thấp trên bãi trống bên kia đường. Một vài người nhìn thấy người đàn ông bận bà ba đen ôm bọc giấy dầu đứng trước quán hớt tóc.
     Anh ta đi dần và dừng lại trước nhiều căn nhà mong tìm một chốn nương thân qua đêm. Trước tiệm sửa xe máy, cố gắng cười gượng gạo hỏi:
          - Giờ này còn xe trở xuống không anh?
          - Có lẽ hết.
Và người đàn ông lại bước đi.... Hắn đứng ở đầu đường đất ngó mông vào xóm, nhìn con lộ chạy ẩn giữa hai hàng cao su tối. Hắn bước vô quán, ngồi bàn phía ngoài, đặt gói đồ lên một cái ghế. Người đàn bà mập từ sau bếp bước ra nói:
           - Hết trơn nước đá rồi, cà phê cũng hết…
           - Thím cho ngồi nghỉ đỡ đón xe.
Người đàn bà ngó khách từ đầu tới chân. Lắng nghe khách nói và bảo:
           - Có xe be tới đó.
Người đàn ông vội ôm gói đồ chạy ra lề đường. Hai chiếc xe be kềnh càng rần rần từ trong rừng cao su, xe chạy chậm. Người đàn ông đưa tay lên cao vẫy kêu: Cho quá giang… Hai người tài xế đưa tay vẫy chào và xe vẫn chạy. Người đàn ông thất vọng lầm lũi trở vô quán. Người đàn bà chủ quán hỏi:
             - Chú ở đâu tới?
         - Tôi đi kiếm thằng em của tôi làm đồn điền cao su. Nhưng cái khổ là anh ta không nhớ tên nơi mình muốn đến.
         - Chú nói chuyện trời đất không à. Bộ khi không chú ngồi đó không cho tôi đóng cửa tiệm đi ăn cơm hả? Chú tính chuyện gì?
Người đàn ông sửng sốt, giật hai tay ôm gói đồ vào bụng ngó trân người đàn bà:
            - Thím cho tôi ngủ đậu. Thím làm phước. Người đàn bà kêu lên:
         - Đâu có được chú... Biết chú là người thế nào mà cho ngủ đậu. Lỡ đêm chú cắt cổ tôi sao? 
Người khách lạ, nhìn mọi thứ, là một người lương thiện bị đánh đồng với những kẻ bất lương bởi người ta sợ hãi hơn là dành chỗ cho lòng nhân ái
         - Tôi đi đâu? Thím nghĩ coi…
         - Tôi không biết. Mấy người rắc rối lắm.
Người đàn ông ngập ngừng bước ra khỏi quán tiến tới bên cửa một tiệm sửa xe. Và điệp khúc lặp lại:
          - Anh Hai cho tôi ngủ đậu. Dưới đất cũng được. Mơi tôi đón xe về sớm.
    - Bộ anh cho là tôi khùng hả. Cha này kỳ quá…
      Ngoài rừng trời chạng vạng nhá nhem. Người đàn ông đi tới bên lề đường. Một vài tiếng đại bác nổ ầm ở xa. Hắn gõ nhẹ lên cánh cửa rồi nghe ngóng... Trời cứ tối dần. Người đàn ông cúi nghiêng xuống ngang mặt với lỗ hổng:
           - Tôi lỡ độ đường.(CTC nhấn mạnh)
           - Thôi mà chú, chú kiếm nơi khác. Tôi tu hành mà.
        - Không đâu họ chịu cả. Bác làm phước thương con. Bỗng trong nhà có tiếng thiếu nữ ngắt ngang:
           - Bà tôi nói thiệt mà.
          - Tôi thiệt tình mà cô Hai.
          - Thiệt hay không thiệt cũng không ai chứa người lạ trong nhà.
      
Một tiếng nổ ầm rung chuyển đất. Lỗ hổng đóng sập lại và tiếng chân chạy trong các nhà. Mọi cửa đều đóng vội. Những tiếng nổ tiếp theo còn cách xa. Người đàn ông dáo dác ngó ra đường. Trên trời phía rừng cao-su trái hỏa pháo bắn vọt lên lơ lửng vài phút rồi tắt. Tiếp theo một trái hỏa pháo khác. Người đàn ông đứng ôm bọc giấy bên lu nước...
     Đêm, súng nổ, nơi tạm yên ổn là mái nhà và người đàn ông không có được. Anh ta không khùng khùng, anh ta lỡ độ đường, một mình đứng giữa bóng đêm!
    Thân phận con người càng đa dạng bao nhiêu thì nỗi cô đơn của nó càng lớn bấy nhiêu. Và người viết truyện ngắn này – người làm văn chương nói chung - lúc đó đã nhanh chóng và trung thực phản ánh trong tác phẩm của họ.   
      Sau này khi mọi sự đã lắng xuống, tôi cũng có lúc thử tìm nhưng quả thật không thể nào nhìn thấy bộ đồng phục trong dòng văn chương mà tôi viết ở đây. Tìm ra nguyên nhân thì đó là... việc của người thưởng ngoạn hoặc của những nhà nghiên cứu có cái đầu tỉnh táo!

http://caothoaichau.blogspot.com/

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

ĐỖ HỒNG NGỌC và những câu hỏi về Thiền



Bs Đỗ Hồng Ngọc


Thời gian gần đây, thiền đang trở thành một trào lưu trong xã hội. Nhiều người tìm đến với phương pháp thiền dù còn khá mơ hồ về… thiền. Để giúp độc giả có cái nhìn cụ thể và khoa học về thiền, Nhà thơ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vừa phát hành cuốn “Thiền và sức khỏe”. Theo bác sĩ Đỗ Ngọc Ngọc: “Ở góc độ người thầy thuốc, tôi quan tâm đến thứ thiền đơn giản mà hiệu quả trong giữ gìn sức khỏe, nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Đó là thứ thiền trong đời sống hằng ngày. Nó liên quan đến sức khỏe, đến khoa học y học, được nghiên cứu và ứng dụng khá rộng rãi hiện nay. Nó đã mang lại những hiệu quả rất bất ngờ, chữa được nhiều căng thẳng (stress), lo âu, nhiều bệnh lý do hành vi lối sống gây ra mà thuốc men không thể chữa dứt. Thiền giới thiệu trong cuốn sách này là thiền “Quán niệm hơi thở”, nghĩa là quan sát, dõi theo và nhớ, nghĩ (niệm) về hơi thở vào, hơi thở ra của chính mình”


Thiền và… những câu hỏi


@ Thiền học khác Phật học như thế nào? Zen là gì? Học thiền mà không theo đạo Phật được không?
Đỗ Hồng Ngọc
: Được chứ! Nên nhớ Thiền đã có từ ngàn xưa trước khi có Phật giáo. Nhiều tôn giáo cũng ứng dụng thiền vào việc tu tập như định tâm, cầu nguyện, đọc kinh, “thần chú”... tất cả đều có mục đích thanh lọc thân tâm, từ đó mà tuệ giác (huệ) sẽ bừng sáng. Tuy vậy, thiền Phật giáo có những sắc thái riêng, con đường dẫn tới giải thoát rốt ráo. Thiền học là một phần của Phật học, nhưng là phần cốt lõi. Phật học có nhiều tông phái như Nguyên thủy, Đại thừa, Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông v.v... nhưng nguồn gốc vẫn là một.  Thiền ứng dụng vào y học, vào tâm lý học hiện đại còn có những sắc thái khác nữa. Hiện nay có nhiều trung tâm thiền không tôn giáo mọc ra khắp nơi trên thế giới. Nhiều người hướng dẫn thiền tập bằng rất nhiều cách khác nhau, nên rất cần phải “tỉnh táo” để chọn lựa cách nào phù hợp nhất với cá nhân mình, có cơ sở khoa học, để không gây hoang mang, thất vọng hoặc gây những “side-effects” không hay khác. Zen có gốc từ chữ Dhyana (Sanskrit) hay Jhana (Pali), được dịch âm thành Chan (Hoa) rồi Zen (Nhật) Thiền (Việt) v.v... Tây phương dịch là Meditation. Các từ khác liên quan đến thiền nên biết để tiện tra khảo: Niệm, chánh niệm (Sati) là Mindfulness; Quán niệm hơn thở hay An-ban thủ ý (Anapanasati) là Mindfullness of breathing...

@ Nghe Thiền sao thấy có vẻ cao siêu, huyền bí quá?
Đỗ Hồng Ngọc: Quả có những thứ thiền “cao siêu huyền bí”. Đó là thứ thiền dành cho các vị tu sĩ, ngồi tĩnh lặng trên đỉnh núi tuyết cao, trong hang động sâu, xả ly, xa lánh bụi trần, hòa nhập vào vũ trụ mênh mông… Đó là thứ thiền của những vị Alahán, Bồ-tát, nhà tu khổ hạnh, người bình thường chúng ta chỉ biết kính nhi viễn chi. Ở góc độ người thầy thuốc, tôi quan tâm đến thứ thiền đơn giản mà hiệu quả trong giữ gìn sức khỏe, nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Đó là thứ thiền trong đời sống hằng ngày. Nó liên quan đến sức khỏe, đến khoa học y học, được nghiên cứu và ứng dụng khá rộng rãi hiện nay. Nó đã mang lại những hiệu quả rất bất ngờ, chữa được nhiều căng thẳng (stress), lo âu, nhiều bệnh lý do hành vi lối sống gây ra mà thuốc men không thể chữa dứt. Thiền giới thiệu trong cuốn sách này là thiền “Quán niệm hơi thở”, nghĩa là quan sát, dõi theo và nhớ, nghĩ (niệm) về hơi thở vào, hơi thở ra của chính mình. Đi từ phương pháp “thở bụng” giản đơn – nhưng đã có hiệu quả tốt đối với sức khỏe- đến thiền quán niệm hơi thở là một bước tiến xa, từ đó có thể đi sâu đến “thành tựu chánh trí”, đến tuệ giác về vô thường, về duyên sinh, về không, về vô ngã v.v…

@ Xin vui lòng cho biết ngoài cách thiền Phật giáo ra thì còn bao nhiêu cách thiền khác nữa? Cách thiền đơn giản nhất có phải là ngồi kiết già nhắm mắt và không suy nghĩ để cho tâm lặng phải không?

Đỗ Hồng Ngọc
: Thiền Phật giáo như đã nói có hai cách: Thiền chỉ (Samatha) và Thiền quán (Vipassana). Kinh Viên Giác hướng dẫn 25 cách thiền. Hiện nay có tài liệu đưa ra 112 cách. Y học cũng đang nghiên cứu ứng dụng để từ đó tìm ra những “bằng chứng” cụ thể, và “liều lượng” thích hợp trong chữa trị và phòng ngừa bệnh tật nên còn hứa hẹn nhiều phương pháp thiền tập nữa. Nhưng nên nhớ, đó chỉ là phương tiện...  “Ngồi kiết già nhắm mắt và không suy tưởng” không phải là điều đơn giản nhất đâu mà thực sự là một điều cực kỳ khó. Ngồi kiết già đã khó, nhiều người không thể ngồi được - nên ta có thể chọn cách ngồi bán già, thậm chí quỳ trên gối, ngồi lên gót chân, ngồi trên ghế… đều thiền được. Nhắm mắt là cách để không bị ngoại cảnh chi phối, nhưng có người không cần phải nhắm mắt, có người lim dim… sao cũng được, tùy thói quen của mỗi người. Tâm trí ta như khỉ như ngựa (tâm viên ý mã) nhảy nhót lung tung, “gom” lại được không dễ. Vì thế mà phải tìm cách nào đó để gom tâm trí lại một nơi. Có thể là tiếng đọc kinh, có thể là tiếng mõ, tiếng chuông, có thể là một “câu thoại đầu” bí hiểm, có thể là tràng hạt… và tốt nhất là “chánh niệm” vào hơi thở vào hơi thở ra, vì nó trung tính và có đầy đủ những tính chất của một “pháp” để mà suy gẫm, “quán niệm”. Nếu “dừng” được tâm thì đã ở giai đoạn thiền chỉ (samatha) rồi vậy.

@ Đâu là bài tập thiền đơn giản nhất mà tất cả mọi người có thể luyện tập được?
Đỗ Hồng Ngọc
: Theo tôi, thiền “Quán niệm hơi thở” (Anapanasati), còn gọi là An-ban thủ ý hay Nhập tức xuất tức niệm (meditation of breathing) là cách thiền đơn giản mà hiệu quả nhất, được Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthanasutta) và được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần : “Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn…”. Đây là một phương pháp rất “khoa học thực nghiệm”, áp dụng được cho tất cả mọi người. Bắt đầu bằng tập thở bụng rồi tập đặt chánh niệm vào hơi thở, từng bước đi sâu vào định và huệ. Hơi thở gắn với cảm xúc, lại gắn với hoạt động của cơ bắp. Hơi thở là cầu nối giữa thân và tâm. Nhờ đó, ta có thể “can thiệp” vào hơi thở để bình ổn thân tâm như đã trình bày trên.

@ Trở ngại lớn nhất trong việc tập thiền là gì?
Đỗ Hồng Ngọc
: Là mất chánh niệm. Đang “chánh niệm” vào hơi thở thì có một ý tưởng (niệm) nào đó chen vào, rồi lôi kéo theo vô số nhũng ý tưởng này khác, dẫn đi một lúc không trở về được với hơi thở. Nào dĩ vãng, nào tương lai, nào lòng tham, sân trổi dậy, cứ hết ý này đến ý kia, tràn ngập, một lúc hơi thở “mất kiểm soát”, cơ thể căng cứng, bứt rứt (gọi là trạo cử), hoặc có khi ngược lại buồn ngủ, ngủ gà ngủ gật, gọi là hôn trầm, thụy miên. Vậy là hỏng bét. Nhưng không phải vì thế mà sợ. Ý tưởng cứ đến. Kệ nó. Một lúc nó thấy không ai thèm quan tâm, chán, bỏ đi. Rồi ý khác lại đến. Lại kệ nó. Ta không cần cố gắng xua đuổi. Càng xua đuổi, nó càng quấn quít. Cứ để tự nhiên. Đến, chán rồi đi. Người mới tập, ý tưởng đến vô số và ở lại lâu lắc, không chịu đi. Càng về sau, khi “thiện xảo” rồi (có kỹ năng rồi) thì những người khách không mời mà tới này sẽ lẳng lặng bỏ đi, đi sớm. Vậy là thành công rồi! Còn để cho được hoàn toàn không có một vị khách nào thì… còn lâu! Đừng nôn nóng. Ta đang luyện tập mà! Cái khoảng thời gian để trở về với hơi thở càng ngắn càng tốt, chứng tỏ ta đã thành công từng bước.
Một trở ngại lớn nữa là sự nôn nóng, mong đợi, kỳ vọng…! Nôn nóng, kỳ vọng thì dễ nản lòng, bỏ cuộc… Cần chú ý không để bị thầy, bạn, “cưỡng ép” mình phải giống như họ, trong khi về tâm lý, sinh lý, tuổi tác, hoàn cảnh… mỗi người mỗi khác. Ráng bắt chước y chang sẽ rất nguy hiểm! Cho nên Phật mới dạy: Hãy quay về nương tựa chính mình!
@ Thiếu không gian tĩnh lặng, lại luôn bị áp lực bên ngoài làm mất tập trung?
Đỗ Hồng Ngọc
: Thiền không phải tập trung mà ngược lại, là thả lỏng. Không gian chỉ cần  vài mét vuông là đủ. Cần một chỗ yên tĩnh, khi quen thì ở đâu cũng “thiền” được. Đi đứng nằm ngồi gì cũng “thiền” được. Có người ngồi thiền dưới gốc cây, bên bờ sông, giữa công viên, có người thiền ngay trên bàn làm việc, sau giờ giao ban ở cơ quan hay sau buổi họp ở công ty... Không mất thì giờ nhiều đâu. Tùy hoàn cảnh mỗi người mà thu xếp. Áp lực bên ngoài tác động không đáng sợ bằng áp lực bên trong. Chính những nỗi mong cầu, lo âu, bực dọc, sợ hãi… (tham sân si) trong tâm tưởng mới làm cho ta bấn loạn, bứt rứt… Dĩ nhiên ở giai đoạn đầu mới thực hành thiền thì ta dễ bị áp lực bên ngoài chi phối, dễ bị mất “chánh niệm”, cho nên phải luôn tỉnh giác và tinh cần.  “Tinh cần - Tỉnh giác - Chánh niệm”  (Atapi Sampajano Satima) là những đức tính cần thiết cho người thiền tập vậy.

@ Việc tập thiền giữa phụ nữ và đàn ông có khác nhau không?
Đỗ Hồng Ngọc: Không. Phụ nữ dẻo dai, bền chí hơn đàn ông. Phụ nữ hiện đại càng cần thiền vì đời sống quá nhiều stress. Thiền giúp cân bằng cuộc sống. Thiền đúng, sẽ ít đau ốm lặt vặt, tươi trẻ hơn và nói chung, hạnh phúc hơn. Nhưng cẩn thận. Đừng đi vào mê tín dị đoan, bỏ nhà bỏ cửa rồi đổ thừa tại thiền!
                                     
@ Kiếm hiệp hay nói “đưa hơi xuống huyệt đan điền” là sao?
Đỗ Hồng Ngọc
: Đó chính là cách thở bụng. Khi hít vào, ta đẩy cơ hoành xuống càng sâu càng tốt, xuống tận huyệt “đan điền”. Huyệt đan điền nằm dưới rún ba lóng tay, khoảng 4cm. Đan là thuốc, điền là ruộng. Đan điền là ruộng thuốc. Có nghĩa là “linh đan diệu dược” nằm ở đó. Người xưa coi thở bụng là phương pháp luyện công tốt nhất, được sử dụng trong võ thuật và phép tu tiên để trường sinh bất lão. Thực ra như ta biết cơ hoành là một cơ lớn, rất mạnh, vắt ngang (hoành) giữa bụng và ngực, chịu trách nhiệm chính trong sự hô hấp, di chuyển lên xuống chỉ được tối đa khoảng 7 cm thôi, chưa quá rún. Nhưng khi ráng hết sức thở sâu ta tưởng tượng như khí đã di chuyển đến tận huyệt đan điền. Huyệt đan điền còn gọi là “khí hải” (biển khí) là vậy. Nhưng, cần để ý, nếu ráng sức thở sâu quá lâu ta sẽ dễ bị chóng mặt, choáng váng. Đừng ráng quá. Cứ thở bụng bình thường thôi, thấy sảng khoái, dễ chịu là được. Có thể nói phương pháp thở bụng (đưa hơi xuống huyệt đan điền) tự nó đã có ý nghĩa là một thứ “linh đan diệu dược” dùng để chữa bệnh và nâng cao sức khỏe. Nếu có thêm “quán niệm hơi thở” nữa ta đã bước vào lãnh vực thiền Anapanasati rồi vậy. Thực tế khi đi sâu vào thiền, nhu cầu Oxy giảm đáng kể, hành giả đạt đến tứ thiền (xả niệm thanh tịnh) có thể gần như không cần thở và hoàn toàn không chú ý đến chuyện thở nữa!

@ Dùng ý dẫn khí đến những nơi mình muốn có được không? Chẳng hạn đến tận ngón tay, ngón chân, các khớp đang đau nhức?
Đỗ Hồng Ngọc
: Về sinh học, hệ thống mao mạch trong cơ thể ta dài đến 100.000 km (hai vòng rưỡi xích đạo quả đất!). Hồng cầu di chuyển chầm chậm trong hệ thống đó mang Oxy đến từng tế bào trong cơ thể. Mỗi tế bào thực chất là một… sinh vật, chúng hấp thu Oxy để tạo ra năng lượng mà sử dụng. Dùng ý dẫn khí là một cách nói, nhấn mạnh khả năng đưa khí lưu chuyển toàn thân, đến từng tế bào nhờ hệ thống mao mạch này. Hiện tượng viêm trong y học - sưng, nóng, đỏ, đau - chính là cơ thể đưa máu dồn về nơi có bệnh để chữa trị, tập trung Oxy nhiều đến đó để tăng cường sản sinh năng lượng tại chỗ. Ta biết “Ý dẫn các pháp”, nên ở đây có thể tin được là dùng ý dẫn khí đến tận nơi cần thiết, những vùng đang đau nhức. Ở đây, nếu chiêm nghiệm được phần sâu sắc hơn như duyên sinh, không, vô ngã… sẽ càng thấy hiệu quả rõ ràng hơn.

@ Tôi học cách thở âm và thở dương. Thở dương là đưa hơi qua mũi, theo nhâm mạch xuống đan điền, hậu môn, rồi nhíu hậu môn lại; thở âm là đưa hơi lên đỉnh đầu, theo đốc mạch đến hậu môn, nhíu hậu môn lại… để chữa trị các trạng thái âm và dương của thân tâm đúng không?
Đỗ Hồng Ngọc: Có lẽ bí quyết nằm ở chỗ “nhíu hậu môn”.!Những thứ khác thực chất vẫn là thở bụng, thở sâu xuống huyệt đan điền và dõi theo hơi thở, khi thì dõi theo ở phía trước (nhâm mạch) khi thì dõi theo ở phía sau (đốc mạch). Ta biết một khi vỏ não tập trung vào điều này thì không thể cùng lúc tập trung vào điều khác. Hai người gây gổ sắp đánh nhau mà nghe kêu cháy nhà hay động đất sợ quá bỏ chạy thì quên chuyện đánh nhau ngay. Cái “sợ” đã thay chỗ cho cái “giận” ở vỏ não. Một người ở trạng thái buồn bã (âm) hay  kích động (dương) mà biết tập trung vào hơi thở sâu, lại tập trung vào chuyện “nhíu hậu môn” thì “công tắc” đã chuyển sang hướng khác ở vỏ não, nhờ đó mà chữa được các trạng thái “âm dương” là vậy. Thử “nhíu hậu môn” xem nhé.





@ Tôi không phải là một doanh nhân, cũng không là một công chức. Từ khi thất nghiệp đến giờ, dù không làm gì nhiều tôi vẫn bị stress. Tôi nghĩ thiền không chỉ cho những người bận rộn mà cho cả những người như tôi, bị rối trí vì không có việc gì làm cả.
Đỗ Hồng Ngọc
: Thất nghiệp là một trong những nguyên nhân gây stress trầm trọng nhất.  Bạn nên thiền để giải stress, cho tâm được an, sức khỏe được bền bỉ, ổn định và tranh thủ thời gian “thất nghiệp” này rèn luyện kỹ năng đang có hoặc tự học thêm một kỹ năng mới, nhờ đó, dễ tìm việc làm sau này hơn. “Nhẫn nhục” và “tinh tấn” là những đức tính cần thiết của người tập thiền bạn ạ.

@ Khi thực hành thiền, có phải kiêng cữ chuyện quan hệ vợ chồng không? Bụng tôi hơi bự, liệu ngồi thiền có làm bự hơn không?
Đỗ Hồng Ngọc
: Các vị tu sĩ xuất gia mới phải “kiêng cữ” chứ. Còn ta thực tập thiền để có sức khỏe, dẻo dai, để nâng cao “chất lượng cuộc sống” mà!  Bụng bự đâu mắc mớ gì tới thiền. Bụng bự thường do bia rượu, ít tập thể dục, ít vận động và ăn quá nhiều dầu mỡ, chất béo! Trái lại, nhờ thiền tập, dần dần sẽ ăn uống đơn giản hơn và nhờ đó giảm bụng bự! 

@ Giờ nào thực hành thiền tốt nhất? Khi thực tập thiền thì hít vào bằng mũi thở ra bằng miệng hay hít vào và thở ra đều bằng mũi? Để tới đích mau lẹ thì chỉ cần thực tập theo sách hay vừa thực tập vừa nghiên cứu kinh sách?

Đỗ Hồng Ngọc
: Giờ nào thuận tiện thì đó là giờ tốt nhất cho ta. Có người thiền vào buổi sớm, buổi trưa, có người giữa đêm khuya và có người vào buổi tối, trước khi đi ngủ. Có người thực hành cả 3 “thời”, nghĩa là cả 3 buổi như thế. Không cần theo một lịch trình cứng nhắc. Mỗi người có điều kiện riêng, giờ giấc riêng. Chỉ nắm lấy nguyên tắc chung thôi rồi áp dụng cho phù hợp với mình là được. Đừng để bị gò bó thúc bách, căng thẳng không nên. Tuy vậy, nếu tìm được một thời điểm phù hợp thì cố gắng duy trì để thành một thói quen, tới giờ đó mà không “thiền” thì thấy thiếu, thấy ghiền, thấy nhớ, vậy là tốt. Thở dĩ nhiên phải bằng mũi chứ! Mũi làm ra để thở mà. Ở mũi có hệ thống mao mạch dày đặc để sưởi ấm không khí, có lông mũi để chặn bụi bặm… Chỉ khi nào hai mũi bị nghẹt cả thì đành thở bằng miệng chứ sao! Những khi leo cầu thang, chạy bộ… thì cũng phải thở bằng miệng ( Bài vè thở bụng có câu Bình thường qua mũi/ Khi gấp qua mồm là vậy!). Không có chuyện “tới đích mau lẹ” ở đây! Tới đích mau lẹ là tới đâu? Tới để làm gì? Nôn nóng chính là yếu tố thất bại trong thiền tập. Nghiền ngẫm, nghiên cứu kinh sách là điều rất cần thiết để ta có cái nhìn, cái thấy đúng, đặc biệt cần thiết trong thiền quán (vipassana). Nhưng kinh sách mênh mông, đọc phải có chọn lọc để tránh trở thành cái “đẫy sách”, tránh thành kẻ “cuồng thư”. Cái chính ở thiền tập là thực hành chớ không phải ngàn chương khảo luận để trở thành “hí luận”. “Văn tư tu” là cách học Phật: văn là nghe, là đọc; tư là suy nghĩ, nghiền ngẫm và tu là thực hành, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn...
@ Người ta nói thiền không đúng cách sẽ bị “tẩu hoả nhập ma”?
Đỗ Hồng Ngọc
: “Tẩu hỏa nhập ma” nói lên việc tập không đúng cách, hoặc quá nôn nóng của người thiền tập gây tai biến đáng tiếc. Chẳng hạn khi ta ráng sức thở nhanh quá, sâu quá, tích tụ khí Oxy hoặc Carbonic nhiều quá thì thay vì dễ chịu, sảng khoái, sẽ thấy bị chóng mặt, choáng váng, có thể ngất đi! Cũng có trường hợp bị các tai biến khác trầm trọng hơn. Với phương pháp “quán niệm hơi thở” thì nhờ tính khoa học, sinh y học của nó, có thể an tâm trong thực hành. Thiền là một phương pháp tịnh, tự mình mình biết, tự mình mình hay, không phải như tập thể lực hay chơi thể thao, có kế hoạch và chỉ tiêu phấn đấu. Không bao giờ nên ganh đua,  thi đua để lập thành tích này nọ trong “thiền”.
@ Tôi thử  áp dụng cách thở bụng theo bác sĩ hướng dẫn trên báo thì thấy có kết quả, ít ra là khi bà xã nhà tôi nói dai, nói dài, nhờ thở bụng mà tôi… không còn thấy mệt như xưa! Nhưng thở sao cho “êm chậm sâu đều” thì làm không được? Còn “thả lỏng” là sao? Xin nói rõ thêm…
Đỗ Hồng Ngọc: Êm, chậm, sâu, đều là chuyện không dễ. Phải từ từ mới được. Đừng nóng vội. Như đã nói, phải chừng 6 tháng mới quen, mới thành phản xạ thở bụng. Mới tập thế nào nó cũng “nhộn nhạo” vì chưa quen, khó chịu! Cứ tự nhiên. Bình thường giai đoạn thở ra bao giờ cũng dài hơn giai đoạn thở vào. Các phương pháp khí công dạy nhiều cách thở, nào hai thì, ba thì, bốn thì, nào nín hơi, ém hơi… rất phức tạp, nhất là đối với người có tuổi. Ta tập thở theo sinh lý hô hấp để nâng cao sức khỏe chớ không phải để luyện “cửu âm chân kinh”! Thở êm là thở không có tiếng phì phò phì phèo như kiểu tập thể dục, quơ tay, quơ chân thế thôi. Còn thở chậm mà sâu thì rõ ràng lợi hơn thở nhanh mà cạn. Để ý xem, khi ta vui vẻ, bình tĩnh, ta thấy ta luôn thở nhẹ nhàng, chậm rãi, thoải mái. Còn khi ta có chuyện bực mình, căng thẳng hay sợ hãi, lo lắng… ta đều thở nhanh mà cạn, thở cà giựt, thở cà hước…! Do vậy nếu ta tập trung chú ý vào thở bụng, theo dõi, quan sát hơi thở vào ra thế nào, ta sẽ bớt căng thẳng, và nhờ đó, hơi thở cũng sẽ chậm lại và sâu hơn. Tóm lại, lúc mới tập thở bụng, không cần phải “êm, chậm, sâu, đều” chi cả đâu! Trái lại, “Thả lỏng” toàn thân là một yếu tố rất quan trọng. Thả lỏng là không để thân thể căng cứng, các cơ bắp không bị gồng lên. Như vậy, cả thân thể đều được nghỉ ngơi, trừ cái bụng phình ra xẹp vào thôi! Bình thường, hệ cơ bắp của ta luôn có độ căng gọi là trương lực cơ (tonus musculaire) tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Thả lỏng là buông xả, là làm cho toàn thân dịu lại. Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức đã giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi. Trước khi bước vào buổi thiền tập cần thả lỏng toàn thân và hít thở sâu vài ba hơi. Sau buổi thiền tập cũng phải từng bước hít thở nhẹ nhàng và từ từ duỗi tay chân để trở lại trạng thái ban đầu. Không nên hấp tấp, vụt chạc.
@ Thời gian tập bao nhiêu là đủ? Ngày phải tập mấy lần? 
Đỗ Hồng Ngọc: Như đã nói, tùy mỗi người. Có người mỗi ngày tập một lần vào buổi sáng, có người buổi trưa hay buổi tối. Có người thiền cả 3 thời như vậy, thậm chí chọn “giờ tí canh ba”!  Lúc mới tập, nên ít ít thôi, đừng gắng quá dễ mệt, dễ chán, tê tay chân… khi quen dần sẽ kéo dài thêm, nhưng trung bình chừng 30-45 phút cũng đủ. Các vị tu sĩ xuất gia thì khác. Chương trình tùy mỗi chùa, thường thiền vào giờ khuya, ngồi hai ba tiếng đồng hồ. Nhiều nơi mỗi người còn phải ngồi trong mùng để tránh muỗi đốt. Có vị Thầy cho biết đã ngồi thiền 6 tiếng. Cũng có những vị Thầy “thiền định” suốt cả tuần khi nhập thất. Tóm lại, với thiền “quán niệm hơi thở” nhằm tăng cường sức khỏe, nâng cao sức khỏe, cải thiện chất lượng cuộc sống nói đây thì ở đâu và lúc nào cũng được cả vì ở đâu và lúc nào mà chẳng phải thở? Có khi giữa hai buổi họp, giữa lúc đợi xe, trễ chuyến bay hoặc giữa giờ ra chơi với 5-10 phút cũng tốt rồi!
@ Với tôi thì khi nằm tôi thở thoải mái hơn khi ngồi. Vậy có tốt hay chăng? Và thiền ngồi mình để tay lên đầu gối và hai chân xếp bằng song song với nhau vì tôi không thể ngồi kiết già bán già được.
Đỗ Hồng Ngọc: Thuận theo cơ địa của mình là tốt hơn cả. Nằm thở bụng cũng tốt quá đi chứ! Đặt tay lên bụng, ngay trên rún, mỗi khi hít vào thấy tay nhô lên, khi thở ra thấy tay xẹp xuống là được. Khi quen, không cần phải đặt tay lên bụng như vậy nữa. Bụng sẽ tự động phình lên xẹp xuống đều đều theo hơi thở. Lúc đó, đặt tâm vào hơi thở sẽ dần dần thấy những “chuyển biến” ở thân tâm. Xưa có vị thiền sư bảo Thiền là “phình xẹp, phình xẹp, phình xẹp…” là ý vậy.  Cũng có một câu chuyện thiền thú vị: Một thiền sư cùng đệ tử đang bơi thuyền dạo chơi trên sông. Đệ tử theo thầy đã lâu vẫn chưa biết thiền là gì bèn hỏi: Thưa thầy, thiền là gì ạ? Thiền sư ngay tức khắc lật úp chiếc thuyền khiến đệ tử loi ngoi trong nước gần chết đuối, thầy vớt lên bảo: Đó là Thiền đó! Bài học hay quá chớ! Thiền chính là… thở và không phải bận tâm đến bất cứ chuyện gì khác! Ngay lúc thuyền bị úp, vị đệ tử kia chỉ có mỗi việc là tìm cách... thở và không nghĩ gì khác hơn! Dĩ nhiên câu chuyện còn hàm chứa nhiều ý bên trong “không thể nghĩ bàn”.  Krishnamurti từng nói: cái gì có định nghĩa thì đều thiếu sót. Còn ngồi thì kiểu nào thuận tiện cũng là được cả. Người Tây phương thường ngồi thiền trên một cái ghế thấp. Người Tây Tạng ngồi xếp bằng, hai chân song song. Người Nhật quỳ trên gối. Hai tay buông lỏng là được, có thể đặt trên đùi, có thể xếp chồng lên nhau.
@ Có mối liên hệ nào giữa thiền và sinh lý (tình dục) con người không? Tập thiền về lâu dài có giúp người ta cải thiện về chuyện riêng tư hay không?
Đỗ Hồng Ngọc: Đời sống đầy căng thẳng, lo âu, sợ hãi… chính là nguyên nhân làm cho kích thích tố sinh dục DHEA giảm sút đi, đưa đến tình trạng “yếu sinh lý”, “liệt dương”, “lãnh cảm”… phải cậy nhờ tới thuốc men này nọ… Thiền là cách giải stress tốt nhất nên có thể sẽ giúp cải thiện được “chuyện riêng tư” lắm đó chứ sao không? Như đã nói, thiền giúp thân tâm an lạc, sức khỏe dẻo dai, trí huệ sáng suốt, không bị “tham sân si” lôi cuốn…. chẳng phải có ích lắm sao?

Đỗ Hồng Ngọc

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

CHÍNH DANH VÀ HÁO DANH

NVTPHCM- Cách nay khoảng 5 năm, có một người theo học một khóa ngắn ngày do Trung tâm bồi dưỡng viết văn (Hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức, khi phát biểu trước các học viên, để gây sự chú ý đã không dưới ba lần nhắc đi nhắc lại: "Tôi là hội viên Hội Nhà văn". Đã có không ít người phì cười, vì thấy người này đã quan trọng hóa một việc không nên quan trọng hóa.

Nêu thế để thấy: Lâu nay, vẫn còn không ít người quá coi trọng danh hiệu "nhà văn hội viên" và cũng còn một số người coi danh hiệu này là độc quyền của gần 1.000 ông bà hội viên.
Bên cạnh đó, cũng vẫn còn một ít người (con số này là đơn lẻ và không đáng kể) vẫn không có ý định gia nhập Hội Nhà văn. Trong số này, có người thích là nhà văn tự do, có người hoặc quá tự tin hoặc quá ngộ nhận về "tài năng" của mình. Hãn hữu, cũng có người mới nộp đơn gửi về số 9 Nguyễn Đình Chiểu (Hà Nội) được một năm thôi, đã vội vã rút đơn vì... tự ái cao độ.
Âu cũng là chuyện bình thường, có thể lý giải được. Đơn giản vì Hội Nhà văn có thể là một sân chơi lớn, mang tính tự nguyện cao, ai thích thì chơi, không thích thì thôi và cũng không có ai ép buộc ai cả. Và dù nói ra hay không nói ra, nhiều người cũng thầm hiểu: Nghề viết văn, làm thơ không phải của riêng ai. Cả tài năng cũng thế. Không cứ phải là hội viên thì chắc chắn sẽ viết hay hơn người không phải hội viên. Và ngược lại. Danh hiệu hội viên cũng không phải là thước đo duy nhất cái nghiệp của người cầm bút.
Nhiều người làm thơ ở mức ê a vần điệu cũng làm đơn xin vào
Hội Nhà văn. Cũng có người trở thành hội viên rồi ngừng sáng tác.

Một nhà văn sau 8 - 9 năm kiên trì viết, kiên trì chờ đợi, mới trở thành hội viên Hội Nhà văn năm 2010, nói: "Sở dĩ tôi vẫn thiết tha vì vẫn coi trọng nó và vẫn coi nó là thiêng liêng. Mà chẳng riêng gì tôi, cả nhà tôi và nhiều bạn bè của tôi cũng quan niệm như vậy. Tôi nghĩ sẽ có nhiều đồng nghiệp chia sẻ với tôi. Ngoài ra, tôi cũng muốn được "chính danh" hơn".
Một tân hội viên Hội Nhà văn nói: "Tôi nghĩ tôi đã đạt nguyện vọng. Rồi cũng nhờ vậy mà tôi có thêm cơ hội để giao lưu, gặp gỡ, học hỏi những người đi trước".
Trong khi ấy thì sau khi "đạt nguyện vọng" đã có một số người vội vã "rửa tay gác kiếm". Thậm chí, có người còn không bao giờ bén mảng đến Hội Nhà văn trong bất cứ kỳ cuộc nào. Điều này cho thấy: Tính mục đích của những người này hơi… cao và dường như việc họ đến với Hội Nhà văn chỉ là để giải quyết khâu "oai" là chính.
Nhân đây, tôi xin kể một chuyện để minh họa cho cái sự háo danh. Chuyện này xảy ra vào năm ngoái, ở một tỉnh nọ. Lần ấy, trong lúc vui vẻ ở một quán bia cùng một số người, một người nói riêng với tôi: "Tôi là doanh nghiệp. Ông kia cũng là doanh nghiệp. Tôi kinh doanh một mặt hàng. Ông ta kinh doanh một mặt hàng. Nhưng tôi và ông ta lại rất khác nhau đấy. Ông ta chỉ là một doanh nghiệp thuần túy. Còn tôi là doanh nghiệp - nhà thơ". Ngừng một lát, "doanh nghiệp - nhà thơ" lại thì thào một cách quyết liệt hơn: "Tôi nghĩ rồi, sang năm tôi sẽ tìm cách "nâng cấp" mình từ hội viên địa phương lên hội viên trung ương. Nhờ đó chắc chắn tôi sẽ oách hơn bây giờ nhiều và biết đâu, cũng vì thế mà tôi nổi đình đám hơn trong đám doanh nghiệp".
Giở cuốn "Nhà văn Việt Nam hiện đại" ra, tôi giật mình. Trong số gần 1.000 hội viên cũng có nhiều người từ lâu không còn liên can đến văn chương nữa. Tôi đem vấn đề này hỏi một nhà văn có tuổi: "Vậy, nhiều năm nay, ở Hội ta, chỉ có "vào" mà không có "ra", anh nhỉ? Anh có thể phân biệt chút ít về "chính danh" và "háo danh" được không ạ?". Nhà văn cao tuổi cười cười: "Nói "vào" với "ra", cũng như "chính danh" và "háo danh" làm gì cho chuyện thêm nghiêm trọng. Cần phải nhìn nhận chuyện này một cách rộng lòng hơn. Cậu hiểu chưa?".
NGỌC TRẢN/VNCA
Trích lại từ:  http://nhavantphcm.com.vn/doc-duong-van-hoc/chinh-danh-va-hao-danh.html

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Giới thiệu Thơ Lữ Quỳnh



Nhà xuất bản Văn Mới, California, 2013.
Phát hành : Tháng 7- 2013.
Giá : 15 mỹ kim (bao gồm cước phí).


Liên lạc NXB : P.O.BOX 287-Gardena, CA 90248
                         Tel : (310) 366- 6867
Email tác giả : songsuongmu@yahoo.com




    Lữ Quỳnh


Đinh Cường vẽ Lữ Quỳnh,  1979

1)
Lữ Quỳnh là bút hiệu của Phan Ngô, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên-Huế. Thân phụ mất sớm, lúc một  tuổi. Tuổi nhỏ phần lớn sống tự lập. Học sinh Quốc Học-Huế năm 1959-1962. Dạy học, trường Bán công Vinh Lộc 1962-1963. Cựu Sĩ Quan VNCH (Khóa 19 Trường Bộ Binh Thủ Đức, ngành HC Quân Y) Đơn vị phục vụ : *Tổng Y Viện Duy Tân - Đà Nẳngnăm 1965-66. *Tiểu đoàn 22 Quân Y (SĐ22BB) -Bình Định, năm 1967-70, *Quân Y Viện Quy Nhơn, năm 1971-75.  Có mười năm sống ở Quy Nhơn. Tại thành phố này, trong một số sinh hoạt, được gặp các anh Quách Tấn, Võ Phiến; các bạn văn Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Mộng Giác, Doãn Dân, Trần Hoài Thư, Lê Văn Ngăn, Võ Chân Cửu....
Sau 1975, “Học tập cải tạo” ở trại Cồn Tiên, Ái Tử (Quảng Trị).
2)
Là một trong ba sáng lập viên (gồm Ngy Hữu, Lữ Kiều) đầu tiên của tạp chí Ý Thức, hậu thân tờ Gió Mai ở Huế 1958. Ý Thức qua nhiều giai đoạn in ấn từ roneo, typo đến offset, tòa soạn di chuyển theo chân Ban biên tập. Cho đến 1970, Ý Thức được cấp giấy phép xuất bản tại Sài Gòn, trở thành Tạp chí Bán nguyệt san Văn Học Nghệ Thuật, với số ra mắt phát hành rộng rãi bởi nhà Đồng Nai, số lượng lên tới 7.000 bản. Lúc này, Nguyên Minh là chủ báo với sự cộng tác của: Châu Văn Thuận, Trần Hoài Thư, Nguyên Thạnh, Đỗ Nghê, Nguyễn Lệ Uyên, Nguyễn Mộng Giác, Ngụy Ngữ, Trần Nhựt Tân, Nguyễn Ước, Võ Tấn Khanh, Phạm Ngọc Lư, Bửu Chỉ, Huỳnh Hữu Ủy, Trần Hữu Lục, …..Tạp chí Ý Thức ra được 24 số thì đình bản.
3)
Từng cộng tác : Tạp chí Mai (1961), Phổ Thông (1960), Bách Khoa (1962), Khởi Hành, Thời Tập (1972), Ý Thức (1970), Nhật báo Công Dân-Huế (1960-61) mà tiền nhuận bút đã trở thành sinh hoạt phí của tác giả trong những năm cuối trung học[Ở trong nước]. Và Văn Học, Hợp Lưu, Khởi Hành, Tân Văn…[Ở hải ngoại,từ 2001]
4)
Tá c phẩm đã xuất bản :
- CÁT VÀNG, Tập truyện (NXB Ý Thức, Sài Gòn 1971; NXB Văn Mới tái bản, Calif. 2006)
- SÔNG SƯƠNG MÙ, Tập truyện (NXB Ý Thức, Sài Gòn 1973)
- NHỮNG CƠN MƯA MÙA ĐÔNG , Truyện vừa (NXB Nam Giao, Sai Gòn 1974; NXB Thư Quán Bản Thảo tái bản, NJ. 2010)
- VƯỜN TRÁI ĐẮNG, Truyện dài (Đăng nhiều kỳ trên tạp chí Ý Thức, Sài Gòn 1971-1972)
- SINH NHẬT CỦA MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN TRẺ, Tập thơ (NXB Văn Mới, Calif. 2009).
- ĐI ĐỂ THƯƠNG ĐẤT NƯỚC MÌNH, Ký (NXB Văn Mới, Calif. 2012)

5)
Đến Hoa Kỳ năm 2000,  Hiện định cư cùng gia đình ở San Jose, California./.



Bài tháng tư / Giấc mơ

Kỷ niệm chín năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.VCV giới thiệu hai bài thơ  của Lữ Quỳnh ,một người bạn thân thiết tưởng nhớ anh .

Bài tháng tư
                          
Ngày tôi về không còn anh
Chỉ gió lang thang
Trên vòm sấu già
Con đường Duy Tân khô khốc
Ánh đèn đêm.

Vỉa hè âm u tiếng giày
Lạ lẫm
Chẳng bóng ai.

Có tiếng lá rơi như lời hát
Vỗ về tôi trong giấc mơ
Cô đơn thắp sáng
Nỗi tuyệt vọng cuối cùng
Nắng tháng tư
Hóa thân anh
Nơi nghìn trùng con gió.

Ở chốn xa có mưa hồng
Cho đở nhớ trần gian.

Hai chiếc ly thủy tinh
Lóng lánh rượu vàng
Giữa sương khói – khói hương
Đêm tĩnh lặng
Nhẹ nhàng cụng ly
Mơ hồ nghe cổ đắng.

Anh bên kia núi
Gõ nhịp lãng du
Hát mệt nhòai cát bụi.
          

Giấc mơ  
           
Chiếc piano treo ngược trước khán phòng
Hòang tử bé một mình trên sân khấu
Hát trường ca Dã Tràng

Có tiếng vỗ tay râm ran
Trên từng hàng ghế trống
Lạnh lẽo gió thiên đường

Những ngọn nến thắp bằng ánh sao
Soi trái tim khô
Đang nẩy mầm bất tử

Bầy quạ giăng hàng trên giây thép
Những nốt nhạc đen giữa hòang hôn
Chập chờn trùng vây mộ địa

Sao em giờ đây phố thị
Một mình cười nẻ răng
Với giọt nước mắt hồng ?


 Nguồn : vanchuongviet.org