Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

Văn tế tưởng niệm 74 chiến sĩ hy sinh bảo vệ quần đảo Hoàng Sa năm 1974

 Nguyễn Khắc Mai
Theo Viet- studies


Nỗi hận giặc sôi gan chiến sĩ, quyết hy sinh nào kể chi thân;
Lòng yêu nước nung chí anh hùng, trường tranh đấu chẳng chờ chi tuổi.
Quyết một phen phanh xác quân thù,
Liều trăm trận đền ơn sông núi.

Nhớ các anh xưa
Tuấn tú khôi ngôi,
Thông minh lanh lợi.
Ruộng đồng cùng nương rẫy, bờ tre xóm bãi, cày cấy sớm trưa;
Mấy trăm năm chuyên cần, hai vụ mùa màng, mở mang lễ nghĩa.
Trời biển Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,
Bao thế hệ, nguyện thề, giữ đất giữ biển, giữ chủ quyền người Việt.
Tình anh em mặn mà, đằm thắm, trông nước non vời vợi, hẹn ước đinh ninh;
Tuổi thanh xuân hăng hái, nồng nàn, nhìn tháng ngày tương lai, mong chờ phơi phới.
Rằng hay,
Hàng trăm năm giữ đảo, đào giếng, dựng chùa, lượm thu sản vật,
Chinh phu bao lớp, đem thân tạc định giữa thiên thanh.
Mấy người đi, được mấy kẻ về?
Linh thiêng hóa thành chim báo dữ.
Giặc cướp đảo lăm le, tấm thân này nào há tiếc,
Lũ bá quyền hùng hổ, mưu gian nọ hãy diệt trừ.
Sóng dâng trào, lao mình trong mưa đạn, hiến thân cho nước nào quản nguy nan;
Biển nổi giận, cản bước chiến hạm thù, quyết liệt tấn công, sá gì đêm tối.
Người xông lên đảo, nhảy vào vòng vây, xả súng chống trả, làn khói đạn che mặt trận
đen sì.
Người hướng mũi tàu, xông giữa quân giặc, ngang dọc tấn công, dòng máu đỏ thắm
loang miền biển cả.
Trúng thương, bị đạn, vẫn hiên ngang chống lũ hung tàn.
Hạm vỡ, tàu chìm, nghĩa khí quyết không rời trận địa.
Thân chiến binh, phơi xác bãi sa trường, khói sóng mù khơi mông mênh bể nội.
Hồn chiến sĩ chơi vơi miền u tịch, mây trôi gió nổi, lãng đãng quê hương.
Giận vì bọn xâm lược, để lại con thơ mẹ già, ưỡn ngực ra chống giữ;
Cảm thay lòng ưu ái, đem theo chí lớn súng gươm, sống mái với quân thù.
Giáp Dần 74, nhật nguyệt Hoàng Sa bi tráng đi vào lịch sử,
Giáp Ngọ hôm nay, Núi sông,Trời biển, hào hùng ghi nhớ công ơn.
Hỡi ôi!
Vì nước, vì non,
Không danh, không lợi.
Nam nhi đại chí, nghìn xưa chẳng thẹn với tiền nhân;
Dũng sĩ nêu gương, vạn kiếp còn soi cho hậu bối.
Bài văn khóc anh hùng, xót thương chiến sĩ, ngâm nga giảng đường, ngờ đâu hợp với
những người nay!
Cuốn sử Việt vẻ vang, Văn Thà,Thành Trí , giảng mãi không thôi, oanh liệt sẽ thêm
vào nhiều trang mới.
Cuộc đời tuy ngắn ngủi, danh trượng phu còn mãi với giang sơn,
Công nghiệp chưa hoàn thành, nợ nam tử đã đền cho đất nước.
Nay xin truy điệu, 74 chiến sĩ Hoàng Sa, ngậm ngùi bấy: họp trước hương trầm,
Rày đã thương cuộc,40 năm là một chốc, cảm phục thay: ghi trong tim óc.
Cuộc đấu tranh còn đương tiếp diễn, khôn thiêng phò đất mẹ, giữ vững chủ quyền,
nền độc lập, cảnh vinh quang chắc chắn sẽ thành…
Khúc khải hoàn chưa biết sớm hôm, linh ứng gíúp giang sơn, nâng cao khí phách,
cuộc tự do, dân cường thịnh, thật không mấy nỗi.
Ô hô!
Thương nhớ mãi ngàn năm,
Bao chiến binh giữ đảo Hoàng Sa,
Những linh hồn Việt Nam bất tử !


Phước Thu –Khắc Mai phụng soạn, GS Vũ Khiêu hiệu chỉnh.

DANH SÁCH LIỆT SĨ HY SINH TRONG TRẬN HOÀNG SA 1974

T/T Chức vụ và họ Tên Đơn vị
1 Tr/sĩ CK Trần Văn Ba HQ 10
2 HS/CK Phạm Văn Ba HQ 10
3 HQ đại-úy Vũ Văn Bang HQ 10
4 HS/CK Trần Văn Bảy HQ 10
5 Th/sĩ nhất quản nội trưởng TP Châu HQ 10
6 Tr/sĩ nhất VT Phan Tiến Chung HQ 10
7 HS/GL Nguyễn Xuân Cường HQ 10
8 HS/ÐK Trần Văn Cường HQ 10
9 Tr/sĩ BT Trần Văn Đàm HQ 10
10 HS1 vận chuyển Nguyễn Thành Danh HQ 4
11 HS vận-chuyển Trương Hồng
Đào HQ 10
12 HS1/DV Trần Văn Định HQ 10
13 Trung-úy NN Lê Văn Đơn Người Nhái
14 HS/CK Nguyễn Văn Đông HQ 10
15 HQ tr/úy Phạm Văn Đồng HQ 10
16 HQ trung-úy Nguyễn Văn Đồng HQ 5
17 Tr/sĩ TP Đức HQ 10
18 TT1/TP Nguyễn Văn Đức HQ 10
19 Tr/sĩ TX Lê Anh Dũng HQ 10
20 HS/QK Nguyễn Văn Duyên HQ 16
21 Th/sĩ ÐT Nguyễn Phú Hào HQ 5
22 HS/ÐK Nguyễn Ngọc Hòa HQ 10
23 HS/GL Nguyễn Văn (nhỏ tuổi nhất) Hoàng HQ 10
24 HQ trung-úy CK Vũ Ðình Huân HQ 10
25 HS/TP Phan Văn Hùng Hùng HQ 10
26 Th/sĩ nhất ÐK Võ Thế Kiệt Kiệt HQ 10
27 Th/sĩ vận-chuyển Hoàng Ngọc (nhiều tuổi
nhất)
Lễ HQ 10
28 TT1/TX Phạm Văn Lèo HQ 10
29 Th/sĩ nhất CK Phan Tấn Liêng HQ 10
30 HS/TP Nguyễn Văn Lợi HQ 10
31 TT1/CK Dương Văn Lợi HQ 10
32 HS/NN Ðỗ Văn Long Người Nhái
33 Tr/sĩ ÐK Lai Viết Luận HQ 10
34 HS1/CK Ðinh Hoàng Mai HQ 10
35 HS1/TP Nguyễn Quang Mến HQ 10
36 HS1/CK Trần Văn Mộng HQ 10
37 Tr/sĩ TP Nam HQ 10
38 TT1/TP Nguyễn Văn Nghĩa HQ 10
39 Tr/sĩ GL Ngô Văn Ơn HQ 10
40 HS/PT Nguyễn Văn Phương HQ 10
713
T/T Chức vụ và họ Tên Đơn vị
41 TT1/PT Nguyễn Hữu Phương HQ 10
42 TS1/TP Nguyễn Ðình Quang HQ 5
43 TT1/TP Lý Phùng Quy HQ 10
44 Tr/sĩ CK Phạm Văn Quý HQ 10
45 Tr/sĩ TP Huỳnh Kim Sang HQ 10
46 HS1/vận chuyển Ngô Sáu HQ 10
47 Tr/sĩ CK Nguyễn Tấn Sĩ HQ 10
48 TT/TP Thi Văn Sinh HQ 10
49 Tr/sĩ Vận chuyển Ngô Tấn Sơn HQ 10
50 HS1/Vận-chuyển Lê Văn Tây HQ 10
51 HQ trung tá HT Ngụy Văn Thà HQ 10
52 HQđại-úy HH/TT Huỳnh Duy Thạch HQ 10
53 HS/TP Nguyễn Văn Thân HQ 10
54 TT/DT Thanh HQ 10
55 HQ tr/úy Ngô Chí Thành HQ 10
56 HS/PT Trần Văn Thêm HQ 10
57 HS/PT Phan Văn Thép HQ 10
58 HS1/vận-chuyển Lương Thanh Thi HQ 10
59 Th/sĩ DT Thọ HQ 10
60 TT1/VT Phạm Văn Thu HQ 10
61 TT1/DT Ðinh Văn Thục HQ 10
62 Tr/sĩ GL Vương Thương HQ 10
63 TT/NN Nguyễn Văn Tiến Người Nhái
64 HQ thiếu-tá HP Nguyễn Thành Trí HQ 10
65 Tr/sĩ TP Nguyễn Thành Trọng HQ 10
66 HS vận-chuyển Huỳnh Công Trứ HQ 10
67 TS/NN Ðinh Hữu Từ Người Nhái
68 Tr/sĩ QK Nguyễn Văn Tuân HQ 10
69 TT1/CK Châu Túy Tuấn HQ 10
70 Biệt hải Nguyễn Văn Vượng HQ 4
71 HQ trung-úy Nguyễn Phúc Xá HQ 10
72 Tr/sĩ TP Nguyễn Vĩnh Xuân HQ 10
73 Tr/sĩ ÐT Nguyễn Quang Xuân HQ 10
74 TS/ÐK Xuân HQ 16

Ghi chú của Blog:
HQ Trung Úy Nguyễn Văn Đồng HQ5 là nhà thơ Trầm Kha (có vài bài thơ trên tạp chí VĂN trước 1975)


 

Tưởng nhớ Trầm Kha Nguyễn Văn Đồng
1948 - 1974

TÀN CUỘC

khi về bóng lạ tên người

trong mê hoang đã lạnh vùi xương da

khói sương riêng bóng với ta

nghe hờ điệp khúc quân qua mặt thành

bỗng xa, rồi bỗng mông mênh

mới hay hồ điệp bồng bềnh năm canh

say hồn theo ánh trăng xanh

ngẩn ngơ trong cõi phù vân một mình

cỏ hoa đắp đổi cuộc tình

chút riêng tư đã hết đành nhớ quên.

( VĂN số 181 ngày 1 tháng 7 năm 1971 )

(Tư liệu ảnh do người thân của bạn Nguyễn Văn Đồng cung cấp)

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

Ảnh quý hiếm về “Huế, Sài Gòn, Hà Nội”

Dưới đây là những tư liệu hiếm hoi được các nhiếp ảnh gia nước ngoài ghi lại- hình ảnh phố phường Hà Nội, Huế, Sài Gòn… từ những thế kỷ trước.
Ảnh quý hiếm về “Huế, Sài Gòn, Hà Nội”
Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, buôn bán hàng rong trên khắp các ngõ phố trở thành một nét văn hóa của người Việt lúc bấy giờ. Phố phường Việt Nam trong những năm 1930, 1940 thế kỷ trước gắn liền với hình ảnh những gánh hàng rong trên khắp các con phố, ngõ nhỏ. Từ người già đến trẻ nhỏ ai cũng có thể bán hàng.
Đâu đó trên khắp hè phố Sài Gòn là những quán hủ tiếu, đồ giải khát. Trên các ngõ nhỏ Hà Nội là những gánh phở, hàng cắt tóc dạo… Những người Việt nhỏ bé, tần tảo cười tươi chào bán các mặt hàng luôn là hình ảnh quen thuộc, gần gũi.
Bộ ảnh dưới đây sẽ đưa đến cho độc giả những hình ảnh, những góc nhìn thân quen, giản dị nhất về phố phường Việt Nam- những năm thế kỷ trước.
 

Gánh phở dạo trên phố Hà Nội
Gánh phở dạo trên phố Hà Nội

Hàng quán ven đường phố Hà Nội

Hàng quán ven đường phố Hà Nội

Hàng quán ven đường phố Hà Nội
Hàng quán ven đường phố Hà Nội

Một góc khác của Hà Nội. Ảnh chụp bởi Firmin – André Salles

Một góc khác của Hà Nội. Ảnh chụp bởi Firmin – André Salles
Một góc khác của Hà Nội. Ảnh chụp bởi Firmin – André Salles
 
Hàng cắt tóc dạo trên đường Hà Nội
Hàng cắt tóc dạo trên đường Hà Nội
 
Gánh hàng rong trên bờ Sông Hồng
Gánh hàng rong trên bờ Sông Hồng
 
Một gánh phở ở chợ Hải Phòng.
Một gánh phở ở chợ Hải Phòng.

Một em bé bán bánh đa nướng
Một em bé bán bánh đa nướng
 
 
 
 
Một quầy bán đồ giải khát trên đường phố Huế
Một quầy bán đồ giải khát trên đường phố Huế
 
Gánh phở dạo trên đường phố Huế
Gánh phở dạo trên đường phố Huế
 
Một quầy bán hủ tiếu góc đường Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực, Sài Gòn
Một quầy bán hủ tiếu góc đường Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực, Sài Gòn.

Người bán dạo trên bùng binh trước chợ Bến Thành, Sài Gòn
Người bán dạo trên bùng binh trước chợ Bến Thành, Sài Gòn
Một cậu bé bán bóng bay dạo trên phố Sài Gòn cười tươi, tạo dáng trước ống kính
Một cậu bé bán bóng bay dạo trên phố Sài Gòn cười tươi, "tạo dáng" trước ống kính

Những đôi quang gánh quen thuộc tại một góc chợ Sài Gòn
Những đôi quang gánh quen thuộc tại một góc chợ Sài Gòn

Ảnh chụp gánh hàng rong tại Chợ Lớn, cách đây 130 năm
Ảnh chụp gánh hàng rong tại Chợ Lớn, cách đây 130 năm 
 
Theo Phan Hạnh -  Dantri
Chép lại từ tapchisonghuong.com.vn

Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

Đời người quá ngắn mà Proust... quá dài


 
Có lẽ, mãi tới khi xuống mồ, Proust cũng sẽ không bao giờ quên được lời bình luận đầy mỉa mai của ông chủ một nhà xuất bản: "Dù có chịu tiếng là người ngu dốt đến đâu chăng nữa thì tôi cũng vẫn cứ muốn nói với ngài, rằng tôi không hiểu tại sao ngài lại có thể bỏ ra tới 30 trang giấy chỉ để miêu tả cách thức một người trằn trọc xoay đi xoay lại trên giường trước khi chìm vào giấc ngủ"...
Ngày 19/11 vừa qua, tại Trung tâm văn hóa Pháp L'Espace ở Hà Nội đã diễn ra cuộc tọa đàm về cuốn sách "Bên phía nhà Swann" (tập đầu tiên trong bộ tiểu thuyết đồ sộ "Đi tìm thời gian đã mất" của văn hào Pháp Marcel Proust). Tham dự cuộc tọa đàm này là các dịch giả: Đặng Thị Hạnh, Dương Tường, Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào. Cuộc tọa đàm nằm trong chương trình kỷ niệm 100 năm ra đời của bộ tiểu thuyết trứ danh nói trên. Đây cũng là dịp để các độc giả cùng ôn lại những tình tiết liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của một trong những nhà văn được cho là có ảnh hưởng sâu rộng nhất tới nền văn học thế giới thế kỷ XX.
Cách đây 100 năm, vào ngày 14/11/1913, ở tuổi 42, nhà văn Marcel Proust (1871-1922) đã cho công bố tập đầu tiên trong bộ tiểu thuyết kỳ vĩ nhưng không hề "dễ đọc" của mình. Trước đó, tập sách đã nhiều lần bị từ chối khi tác giả của nó mang tới chào hàng tại một số nhà xuất bản, trong đó có những nhà xuất bản nổi tiếng là "tinh tường" như nhà xuất bản Nouvelle Revue Fran#aise (sau này đổi tên là nhà xuất bản Gallimard).
Có lẽ, mãi tới khi xuống mồ, Proust cũng sẽ không bao giờ quên được lời bình luận đầy mỉa mai của ông chủ một nhà xuất bản: "Dù có chịu tiếng là người ngu dốt đến đâu chăng nữa thì tôi cũng vẫn cứ muốn nói với ngài, rằng tôi không hiểu tại sao ngài lại có thể bỏ ra tới 30 trang giấy chỉ để miêu tả cách thức một người trằn trọc xoay đi xoay lại trên giường trước khi chìm vào giấc ngủ". Không có cách nào để xoay chuyển thái độ đối với tập sách của các ông chủ xuất bản, Proust quyết định bỏ tiền ra tự xuất bản lấy tác phẩm của mình. Nhờ vậy mà thế giới đã biết đến một cuốn tiểu thuyết mang nhiều dấu ấn cách tân.
Tiếp sau "Bên phía nhà Swann", 3 tập nữa đã được xuất bản khi Proust còn sống và 3 tập cuối cùng phải tới các năm 1923, 1925 và 1927 (khi tác giả qua đời đã được 5 năm) mới được xuất bản hết. Năm 1919, Proust đã được trao giải thưởng Goncourt danh giá cho tập hai của bộ tiểu thuyết (có tên gọi "Dưới bóng những cô gái tuổi hoa").
"Đời người quá ngắn mà Proust lại quá dài" - Đây không chỉ đơn thuần là cách chơi chữ của văn hào Anatole France, gợi nhắc hai chữ "thời gian" trong tên gọi "Đi tìm thời gian đã mất" mà Proust đặt chung cho bộ tiểu thuyết. Với cả thảy tới hơn 3.000 trang in khổ lớn, quả là bộ tiểu thuyết của Proust dài thật. Bộ tiểu thuyết có tới hơn 200 nhân vật và môi trường được phản ảnh kéo dài khoảng ba phần tư thế kỷ (quãng từ 1840 đến 1915). Trong khi, để "đi qua" từng trang chữ của Proust đâu có phải là việc dễ dàng?
Bìa cuốn "Bên phía nhà Swann" của Proust vừa được dịch in ở Việt Nam.
Để có thể hoàn thành được bộ tiểu thuyết đồ sộ như "Đi tìm thời gian đã mất", Marcel Proust đã bỏ ra một khoảng thời gian kéo dài tới mười mấy năm trời. Đã vậy, ông gần như ép mình trong một thứ "kỷ luật sắt". Từ năm 1909, ông chọn cho mình một cuộc sống khép kín, hầu hết thời gian sống ẩn dật trong phòng và tập trung vào việc viết. Một ngày, ông chỉ dành ra đúng một tiếng, từ 6 tới 7 giờ chiều để tiếp khách. Trong phòng ông lúc nào cũng nồng nặc mùi thuốc xông và thuốc trị suyễn.
Ở thời kỳ sức khỏe suy sụp, khi tiếp bạn bè, ông thường nằm trên giường, ăn mặc chỉnh tề, thắt cà vạt, đi găng tay. Năm 1910, có những tháng ông không một lần bước ra khỏi phòng và ngay cả ở trong phòng, ông cũng chỉ một, hai lần bước ra khỏi giường. Xung quanh ông là ngổn ngang các cuốn vở và một dãy dài lọ mực. Ông không cho phép những người phục vụ dọn dẹp cho gọn vì nó đang phải phục vụ nhà văn trong cuộc chạy dài hơi cho một tác phẩm lớn.
"Đi tìm thời gian đã mất" mang đậm dấu ấn tự truyện, với việc nhân vật chính trong vai người kể chuyện và xưng "tôi". Bộ tiểu thuyết dài nhưng nội dung khá đơn giản, kể chuyện tác giả ngày còn nhỏ, với những ước mơ, những câu chuyện tình. Bao nhiêu lọc lừa, giả trá trong cuộc sống diễn tiến nơi giới thượng lưu. Từ đó, tác giả đã tìm ra lẽ sống của mình, cao hơn hết là dâng hiến cho nghệ thuật. Tuy nhiên, đúng như Proust từng phát biểu: "Một cuốn sách là tác phẩm của một cái tôi khác cái tôi hàng ngày, thường biểu hiện trong thói quen xã hội và chứng tật", đọc bộ tiểu thuyết trứ danh của Proust, ta thấy đó là một xã hội hư ảo với những nhân vật hư ảo - nó không chỉ đơn thuần là nhân vật mà là những hình tượng nghệ thuật. Bởi vậy, bức tranh "hiện thực xã hội" mà Proust đưa ra không phải là hiện thực xã hội kiểu Balzac, kiểu Zola và cách tiếp cận của các tầng lớp độc giả cũng khác nhau. Đó là lý do dẫn tới việc, có một thời gian, để tìm được "đầu ra" cho bộ tiểu thuyết, tác giả của nó đã gặp rất nhiều khó khăn.
Như ở phần đầu bài đã nói, Proust buộc phải tự bỏ tiền in "Bên phía nhà Swann" năm 1913. Theo cách đọc thông thường, nhất là trong thời đại công nghiệp hiện nay, không phải ai cũng đủ đức kiên trì để thưởng thức cái hay, cái đẹp mà bộ tiểu thuyết của Proust đem lại. Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa bộ tiểu thuyết của Proust không có những yếu tố "hút khách". Vấn đề chỉ là do cái "tạng" của từng người.
Walter Benjamin, dịch giả tiếng Đức các tác phẩm của Proust đã thổ lộ rằng: Càng đọc Proust, ông càng thấy mình như "con nghiện" của nhà văn này, và đã có lúc, ông sợ sự "nhập đồng" ấy trở thành một trở ngại cho quá trình sáng tác của mình. Nhà văn Genet thì kể rằng, trong thời gian ở tù, một lần ông được tiếp xúc với tác phẩm của Proust. Sau khi đọc trang mở đầu, Genet đã lập tức gập cuốn sách lại…để dành. Ông nhủ thầm: "Bây giờ, mình cần một nơi tĩnh lặng, từ từ nhấm nháp từng trang sách để được đi từ sự ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác".
Bộ tiểu thuyết "Đi tìm thời gian đã mất" của Proust đã chứng minh cho chân lý: Một kiệt tác không nhất thiết phải liên quan đến một đề tài lớn. Nhiều sự việc diễn ra trong bộ tiểu thuyết của Proust thoạt nghe chỉ là những chuyện vặt, những sự việc tầm thường, song cách nhấn nhá của ông nhiều khi đã tạo nên được sự ám ảnh dai dẳng trong tâm trí người đọc.
Sinh thời, nhà văn Anh Graham Green (tác giả "Người Mỹ trầm lặng") từng nhận định: "Proust là tiểu thuyết gia vĩ đại nhất thế kỷ XX, giống như là Tolstoy của thế kỷ XIX". Còn nhà văn Pháp Andre Gide - khi làm cố vấn cho một nhà xuất bản từng từ chối không in "Bên phía nhà Swann", sau này đã rất…ăn năn về "sai lầm đáng tiếc" của mình và cho rằng, đó là một trong những điều ân hận lớn nhất trong đời ông.
Cùng với Kafka và Joyce, Proust được coi là một trong ba nhà văn đã khởi xướng nên cuộc cách mạng tiểu thuyết trong thế kỷ XX. Ông được coi như một Einstein trong khoa học. Người ta nói đến tiểu thuyết trước Proust và sau Proust.
"Đi tìm thời gian đã mất" có tên trong hầu hết các cuộc bình chọn "100 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại" và luôn giữ thứ hạng cao trong danh sách các tiểu thuyết hay nhất thế kỷ XX do các tờ báo lớn như Time, Le Monde bình chọn.
Nói vậy không có nghĩa là bộ tiểu thuyết của Proust không phải không gặp cản trở đối với các độc giả đương đại, nhất là vào thời mà mọi thứ trở nên "tốc độ" như hiện nay. Hiện ở Việt Nam, mặc dù được nhắc tới rất nhiều, song trọn bộ tiểu thuyết vẫn chưa đến tay độc giả. Việc các dịch giả đầy uy tín như Đặng Thị Hạnh, Dương Tường, Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào cùng tham gia dịch bộ sách đã cho thấy họ coi trọng và yêu mến bộ sách này đến chừng nào, mặc dù, như cách nói vui của dịch giả Đặng Thị Hạnh: "Mình ra bộ tiểu thuyết này quá chậm. Những độc giả có thể thưởng thức Proust không khéo chết cả rồi".
Theo tiết lộ của dịch giả Đặng Hồng Sâm, từ đây tới khi trọn bộ tiểu thuyết được chuyển ngữ sang tiếng Việt, hẳn số dịch giả tham gia  dịch bộ sách có thể tăng lên. Trong đó, nhiều khả năng có hai nhóm dịch tham gia. Nhóm "già" sẽ dịch từ tập đầu trở đi, và nhóm "trẻ" sẽ dịch từ tập cuối trở lại. Đến lúc nhóm già dừng lại thì nhóm trẻ sẽ tiếp tục. Thoạt nghe thông tin này, có thể bạn đọc sẽ ngạc nhiên, không hiểu sao việc dịch bộ sách lại "nhiêu khê" vậy.
Ở đây, xin các bạn nhớ cho, ở Mỹ, cách đây 4 năm, một tác giả tên là Patrick Alexander đã cho xuất bản một cuốn sách có cái tên thật dài "Tìm lại thời gian đã mất" của Marcel Proust: Hướng dẫn độc giả tìm lại những gì đã mất". Trong cuốn sách này, tác giả đã tóm tắt cốt truyện, điểm tên 50 nhân vật quan trọng nhất, vẽ sơ đồ hệ thống nhân vật và in tranh minh họa. Chỉ riêng những việc làm này cũng đã khiến cuốn "hướng dẫn" có độ dày lên tới… 402 trang


  Trần Trọng Nghĩa
Chép lại từ http://viet-studies.info/culture.htm 

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

CHIA BUỒN


ĐƯỢC TIN
THÂN MẪU BẠN TRƯƠNG VĂN TRI


VỪA QUA ĐỜI TẠI HUẾ VÀO LÚC 12 GIỜ NGÀY 6,1.2014 (NHẰM NGÀY 6 THÁNG CHẠP NĂM QUÝ TỴ )
HƯƠNG THỌ 93 TUỔI
LỄ VIẾNG 7 GIỜ NGÀY 8.1.2014
LỄ ĐỘNG QUAN VÀO LÚC 4 GIỜ 30 NGÀY 11.1.2014
AN TÁNG TẠI NGHĨA TRANG QUÊ NHÀ TẠI LÀNG SƠN QUẢ, XÃ PHONG SƠN, HUYỆN PHONG ĐIỀN, THỪA THIÊN HUẾ
THÀNH KÍNH CHIA BUỒN ĐẾN BẠN TRƯƠNG VĂN TRI VÀ GIA ĐÌNH
CẦU NGUYỆN HƯƠNG HỒN CỤ BÀ SỚM VỀ NƯỚC CHÚA

viêm tịnh - nguyễn miên thảo - hà thúc huy ngô văn giáo - từ hoài tấn - trần thế châu - đặng khắc nhu - lê anh luân - trần văn thuận - trần việt cảnh - vương từ - trần ngọc bảo - trần ngọc dũng - hoàng hữu cải - lê di - đỗ phụng - đỗ lập ...và thân hữu

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

TƯỞNG NHỚ CA SĨ HÀ THANH

Ôi tiếng cười như trẻ thơ ban trưa tắt lịm khi chiều 1 tháng 1- 2014 hay tin ca sĩ Hà Thanh mất

Đinh Cường

ha_thanh_3
Hà Thanh
(tư liệu Liên Như)

Sao lại vậy. tôi mới cười tươi như trẻ thơ khi trưa
rồi khi trời vừa tối xuống hay tin chị mất. ngày đầu
tiên của năm 2014 [1]. thì ra có khi nụ cười là nước mắt.

Chị Hà Thanh ơi. Trần Thị Lục Hà ơi. lâu rồi không gặp chị
những hôm chị ghé qua Virginia hát ở chùa Hoa Nghiêm
nhớ buổi cơm chay ngày giỗ anh Võ Đình, chị Trần Thị Lai Hồng
mời ở chùa Giác Hoàng trên Hoa Thịnh Đốn, chị kéo tôi ngồi
bên chị, nói xin lỗi Cường. hồi đó nhận bức tranh Biển Nhớ
Trịnh Công Sơn và Cường đem tặng. lúc nhà ở đường Huyền Trân Công Chúa.
khúc sông Bến Ngự. trước mặt trường Pellerin. nơi một thời Hàn Mặc Tử học
mà cứ chê hoài tranh chi lạ rứa. cái cổ chi mô mà dài. thời tôi mê Modigliani…

Chị Hà Thanh ơi, nhận e-mail chị Lai Hồng fw cho biết tin
mà sao lòng tôi chùng xuống. chiều nay tuyết lại rơi trắng xóa.
chiều nay chị đang nằm ở bệnh viện nào ở Boston để chờ khâm liệm
có Sư Cô Giới Châu và các Sư Cô Huê Lâm hộ niệm
cho tôi chắp hai bàn tay tôi niệm với. đêm nay đã là ngày 2 tháng 1.

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Cứu Khổ Cứu Nạn.
tôi cứ lâm râm niệm hoài niệm mãi. nhiều người cùng niệm cho chị
chị ngủ yên thanh thoát nghe chị Hà Thanh. tôi vừa tin cho Bửu Ý
ở Huế hay. một thời biết bao là kỷ niệm. một thời Huế như mơ.
mơ theo tiếng hát Hà Thanh trên Đài Phát Thanh Huế. Chiều mưa
biên giới anh đi về đâu … nhớ Nguyễn Văn Đông

và những chiều Sơn ghé lên đàn cho chị hát Ướt Mi…
tôi vừa lục tìm tấm hình polaroid đã vừa nửa thế kỷ
và nhớ những ngày anh Mai Thảo ra Huế tìm thăm chị
cả Bùi Giáng cũng có câu thơ gì kêu Hà Thanh hay lắm…

ôi ánh nến. sẽ nhiều ánh nến lắm sưởi ấm quan tài chị
chị ngủ yên. như Sơn ngủ yên. như Việt Dzũng vừa ngủ yên.


Virginia, Jan. 2, 2014
Đinh Cường

[1] Hà Thanh, tên thật Trần Thị Lục Hà
pháp danh Tâm Tú
sinh ngày 25 tháng 7 năm 1937 tại Huế
mất ngày 1 tháng 1 năm 2014 tại Boston

ha_thanh-trinh_cong_son
Hà Thanh – Trịnh Công Sơn
Huế 1965 (tư liệu DC)
nhung_ni_co_ao_lam-dinh_cuong
Những ni cô áo lam
sơn dầu trên bố 100 cm x 200 cm
đinhcường – huế 1972

Nguồn: SANGTAO.ORG

ĐỌC THÊM : http://art2all.net/nhac/hathanh/hathanh.html


Ca sỹ Hà Thanh vừa qua đời
08:15 | 03/01/2014
(SHO) Ca sĩ Hà Thanh vừa mất lúc 7g27 đêm 1-1 (giờ địa phương, tức sáng 2-1 giờ VN) tại TP Boston, tiểu bang Massachusetts (Mỹ) sau thời gian mắc bệnh ung thư máu.
Ca sỹ Hà Thanh vừa qua đời
Ảnh: internet
Ca sĩ Hà Thanh, quê quán Liễu Cốc Hạ, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà. Tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh năm 1939 ở Huế, nữ sinh Trường Đồng Khánh.
Giữa thập niên 1950, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà đã đạt giải nhất với sáu bài hát khó, trong đó có bài Dòng sông xanh , và nghệ danh Hà Thanh xuất phát từ bản nhạc này. Hà Thanh được xem là nữ ca sĩ tiêu biểu nhất của Huế thế kỷ 20. Tên tuổi của ca sỹ Hà Thanh gắn liền với nhiều ca khúc bất hủ của VN như Hoa xuân (Phạm Duy), Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ), Từ Đàm quê hương tôi (Văn Giảng), Khúc tình ca xứ Huế (Trần Đình Quân), Ai lên xứ hoa đào Tà áo tím (Hoàng Nguyên), Cô nữ sinh Đồng Khánh (Thu Hồ), Tiếng xưa, Đêm tàn Bến Ngự (Dương Thiệu Tước), Suối mơ, Bến xuân (Văn Cao), Đêm đông (Nguyễn Văn Thương), … 
Tại Boston, Hà Thanh chủ yếu hát nhạc Phật giáo, đặc biệt có đĩa Phật ca Nhành dương cứu khổ được cộng đồng người Việt ở Mỹ đón nhận.
SH xin chia buồn cùng gia đình và quý bạn đọc. Cũng nhân dịp này, xin giới thiệu bài viết về Ca sỹ Hà Thanh của nhà văn Trần Kiêm Đoàn, người gọi ca sỹ là “bà chị” trong dòng họ Trần Kiêm nổi tiếng ở Liễu Cốc Hạ
SH
HÀ THANH TIẾNG HÁT CỦA DÒNG SÔNG XANH
Trần Kiêm Đoàn

     
 
 

Gọi tên hoa súng: LỤC HÀ
Gọi thôn LIỄU HẠ: quê nhà bên sông
Gọi TRẦN KIÊM: họ sắc... không
Gọi HÀ THANH: tiếng hát dòng Hương Giang
Có hai gã Trần Kiêm lang bạt xa quê gặp nhau bên trời Tây cùng nói về một nhân vật. Thi sĩ Kiêm Thêm nói về "mụ O" và tôi nói về "bà Chị" nghệ sĩ của mình là ca sĩ Hà Thanh bằng một mẫu "sơ yếu lý lịch" hợp soạn hòa âm rất chơn chất và... nên thơ như thế đó.
Thuở nhỏ ở làng Liễu Hạ, tôi thường lên mặt hãnh diện khi cuối tuần ngồi quanh cái "Ra-dô" ở làng với bọn nhóc tì trong xóm nghe chương trình ca nhạc của ban Việt Thanh[1] ở đài phát thanh Huế, mà trong đó, Hà Thanh, bà chị họ của tôi, là ca sĩ... hát hay nhất. Nhóm bình luận gia âm nhạc chân đất làng tôi từ sáp nhỏ cho đến người lớn chẳng biết có mang hội chứng "trái ấu" [2] hay không nhưng ai cũng xuýt xoa khen giọng hát Hà Thanh thuở đó là "hay nhứt xứ."
Làng Liễu Hạ và họ Trần nhà tôi -- có lẽ luôn cả Huế -- hầu hết là những rặng thông già kẻ sĩ không lớn kịp với mùa Xuân nghệ sĩ đang lên. Đó là hiện tượng nghịch lý rằng, ai cũng mến mộ giọng hát của Hà Thanh, nhưng lại ái ngại khi một cô nữ sinh xinh đẹp xứ Huế, ái nữ của một gia đình nho phong "êm đềm trướng rủ màn che" trở thành ca sĩ. Nhất là dòng họ Trần Kiêm chúng tôi có bác Trần Kiêm Phổ làm trưởng tộc thì lại càng quan tâm nhiều hơn. Bác "Trợ Phổ", thân phụ của chị Hà Thanh, với dung mạo uy nghi, thường cầm cân nẩy mực cho cả dòng họ, nay lại cho phép chị Hà đi hát công khai trên đài phát thanh, thì quả là một cuộc "đại cách mạng" trong quan niệm truyền thống còn mang nhiều định kiến của đất lề quê thói rất Huế đương thời.
Ngày đó, khu nhà vườn cổ kính ở mé này nhánh sông Hương nối liền với sông An Cựu nắng đục mưa trong; ngó qua mé bên tê sông là trường Pellerin vẫn thường được giới nam nhi Huế ròng và Huế "bậu" -- bắt chước Lan Đình gọi là "Vườn Thúy Hạnh"[2*] -- vì một nhà mà có nhiều hơn cả "ngũ long công chúa", đều mang tên chữ có bộ thảo và rất chi là... tường Đông ong bướm đi về mặc ai: Tố Cần, Hà Thanh, Phương Thảo, Liên Như, Thúy Vy, Bạch Lan, Hoàng Mai.
Đời nghệ sĩ của Hà Thanh bắt đầu từ năm 1953, lần đầu đài Phát Thanh Huế mở một cuộc tuyển lựa ca sĩ với quy mô lớn. Anh Trần Kiêm Tịnh biết cô em gái mình có giọng hát hay quá nên đã dắt em đi thi. Điều kiện ghi danh dự thi là phải từ 15 tuổi trở lên. Ngày đó, Lục Hà, cô nữ sinh áo trắng nón bài thơ Huế mới 14 tuổi, nên phải "kiếm thêm một tuổi trời cho" nữa mới đủ tuổi dự thi và kết quả đứng đầu cuộc thi. Tuy ông cụ thân sinh chị Hà Thanh là người theo Tây học với tinh thần cởi mở phương Tây, nhưng "phương Tây Huế" thuở đó cũng vẫn còn trong mẫu mực nho phong. Nhạc sĩ Ngô Ganh là giám đốc đài phát thanh Huế đương thời, phải dùng uy tín của mình đến nhà năn nỉ, rằng: "Học hành thì đứa nào học chẳng được, nhưng còn cái tài của cháu Hà Thanh là một tài năng độc đáo, có giá trị trong cả nước Việt Nam. Nếu không cho đi hát thì tài năng sẽ bị mai một đi, uổng lắm." Ông cụ nghe lời minh giải hợp lý nên cho đi hát ở đài phát thanh mà thôi, không hát ở phòng trà hay sân khấu. Từ đó, tiếng hát Hà Thanh đã vọng ra xa hơn bên ngoài rào dậu Vườn Thúy Hạnh.
Người ta vừa thưởng thức giọng hát thanh thoát, mượt mà (uyển thanh) như tiếng sông Hương đang lên của Hà Thanh; nhưng đồng thời cũng vừa quan sát nàng ca sĩ xứ Huế đó như một hiện tượng.
 
Nói về giọng hát thiên phú của Hà Thanh đã có rất nhiều văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ... nhiệt thành khen tặng. Một vị thầy âm nhạc của tôi ở trường Hàm Nghi Huế là nhạc sĩ Văn Giảng (cũng ký tên là Thông Đạt, tác giả Ai Về Sông Tương...) đã cho rằng, Hà Thanh là một ca sĩ tiêu biểu của Huế. Chị có một giọng hát thanh tao, quý phái với mức thể hiện cường độ và trường độ âm thanh vừa vặn, diễn cảm tuyệt vời. Đặc biệt là những luyến láy mềm mại rất có hồn và gợi cảm trong tiếng ca.
Luyến láy mà không làm điệu tới mức uốn lượn quanh co thành ra làm dáng trình diễn là nét độc đáo nhất trong tiếng ca Hà Thanh.
Nhân dáng, điệu bộ trình diễn và phong cách sinh hoạt đời thường cũng như trong hội diễn vẫn bị xem là một "đại nghiệp dĩ" của người ca sĩ. Nếu như nói theo Đào Uyển Minh, nhà phê bình nghệ thuật Đài Loan khi nhận định về Quỳnh Dao, thì phong thái của một nghệ sĩ là "sự biểu hiện cụ thể của một chuỗi phản ứng tâm lý có điều kiện khi tài năng thiên phú đối mặt và tương tác với trình độ giáo dục, hoàn cảnh xã hội và xu hướng nghệ thuật của thời đại"[3] thì quan niệm nầy có vẻ sát hợp với Hà Thanh. Chị sinh ra và lớn lên ở Huế. Huế được người đời nhớ nhung và yêu thương không chỉ vì Huế đẹp, Huế thơ mà còn vì Huế là vùng đất của nhiều tai trời ách nước; chịu nhiều oan khiên và đổ vỡ tan tác từ thuở công chúa Huyền Trân đổi mình cho Huế, áo xiêm phiêu bạt về Chiêm quốc. Cho nên, hầu như tất cả nghệ sĩ xứ Huế đều không có sự biểu hiện táo bạo, vỡ bờ, chinh phục để cuốn hút khách thưởng ngoạn qua dáng vẻ bên ngoài. Đấy cũng là cảm nhận của Thu Bồn, một nhà thơ xứ Quảng: "... sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu."
Nhà thơ Nhất Tuấn, tác giả "Chuyện Chúng Mình" vang tiếng một thời, nói về Hà Thanh như sau: "Tôi có dịp gặp Hà Thanh khi làm quản đốc đài Phát Thanh Quân Đội (1968) tại Sài Gòn. Hà Thanh lúc đó hát rất hay và xuất hiện thường xuyên trên các đài VOF, Mẹ Việt Nam, đài Sài Gòn, đài Quân Đội. Hà Thanh càng ngày càng nổi tiếng. So với những ngày còn ở Huế, sự giao thiệp của Hà Thanh có phần bạo dạn hơn đôi chút, nhưng vẫn còn dè dặt và giới hạn lắm. Thời này Hà Thanh hát nhiều bài của Nhất Tuấn do Phạm Duy, Đan Thọ, Hoàng Lan phổ nhạc. Đặc biệt là Hà Thanh hát rất nổi tiếng những nhạc phẩm của Nguyễn Văn Đông và nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn, Từ Linh. Bài nào Hà Thanh hát lên cững làm người nghe rung động vì khi hát nàng để hết tâm hồn vào lời thơ, ý nhạc của tác giả muốn gởi gắm trong bài. Hà Thanh như 'nhập' vào bài hát để diễn tả, để làm toát lên giọng Huế rất dễ thương."[4]
Tác giả Chuyện Chúng Mình mô tả Hà Thanh: "Dáng người thanh tú, cao cao, nụ cười vui tươi luôn nở trên môi với nét mặt rạng rỡ. Tính nết Hà Thanh nhu mì, hiền dịu, khác biệt trong giới nghệ sĩ."[5]
Và nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đã "phong Huế" cho Hà Thanh, rằng: "Dáng nhỏ nhắn, thanh thoát, dịu hiền, khiêm tốn; tuy tươi mát, thân tình nhưng cũng rất e dè và chừng mực của Hà Thanh là nét tiêu biểu cho con người và phong thái của 'vùng đất khó'... Huế."[6]
Những góc nhìn và cách nhìn có thể khác nhau về một Hà Thanh ca sĩ, nhưng hình ảnh và nhận định về một Hà Thanh hiện thực vẫn là chung nhất. Đó là một Hà Thanh mà về hình tướng cũng như về phong cách sinh hoạt và trình diễn văn nghệ rất tiêu biểu cho "tính Huế" đã ăn sâu trong từng nỗi niềm nhớ Huế: Sâu lắng, nồng nàn, trang trọng, tài hoa.
Chị Hà Thanh sang Mỹ năm 1984. Có những cây cầu đã gãy trong chiến tranh và những mối tình gãy đổ sau cuộc chiến. Trong cảnh "trải qua một cuộc bể dâu", Hà Thanh tìm về với thiền học, thiền định và thiền ca. Những bản nhạc Thiền do Hà Thanh hát hoặc vừa phổ nhạc thơ thiền, vừa ca mang âm hưởng thâm trầm, gợi cảm mà gần gũi của nước "sông An Cựu Nắng đục mưa trong" và sự lắng đọng thấm vào lòng người của hồi chuông Thiên Mụ. Những khi buồn nhất và lắng lòng chiêm nghiệm từng vọng âm suy tưởng từ tâm mình, tôi lại thích nghe thiền ca do Hà Thanh hát. Giọng hát đậm đà còn mang cái gốc thanh âm giọng Huế của chị làm cho người nghe có cảm tưởng như đang nghe những lời tự tình của Huế. Nghe Hà Thanh hát thiền ca, người ta bỗng quên đi sự hiện hữu của thời gian đã làm cho đời phôi pha và quên luôn khoảng cách thời gian làm nên tuổi tác của chị. Một cảm giác thanh tân, tươi mát và lắng đọng đầy ắp lòng người chợt đến, chợt đi hay thấm đượm vào trong cảm xúc.
Khán giả ái mộ Hà Thanh liên tưởng đến nguồn Thiền đang tưới tẩm bản chất nghệ sĩ của chị khi chị xuất hiện gần đây trong các cuộc trình diễn và thu băng gây quỹ từ thiện, cũng như trong các chương trình nhạc hội Asia, Paris by Night với dáng vẻ trẻ trung, tươi mát như cả mấy mươi năm về trước. Trong thế giới ca sĩ trẻ đang lên, Hà Thanh không bị chiếc cầu thế hệ ngăn cách; trái lại, chị đã làm cho khán giả ái mộ cảm động và thưởng thức giọng hát vẫn trong ngần, quý phái của chị trên nẻo về gần "thất thập cổ lai hy."
Hà Thanh có một chỗ đứng riêng trong lịch sử tân nhạc Việt Nam và một vị trí độc sáng trong lòng người yêu nhạc xứ Huế.
Nửa thế kỷ, những dòng sông xanh vẫn luân lưu chảy. Tiếng hát vượt thời gian của Hà Thanh vẫn còn xanh mát như tên chị, như những dòng sông xanh mà muôn đời con nước vẫn đang về, đang tới. Và, nói thêm bằng những nét chấm phá thi vị như một nhà thơ nào đó, "...có một chút gì rất Huế, rất thương... Có một chút gì rất Huế trang đài..." trong tiếng hát Hà Thanh.
 

[1] Ban Việt Thanh do nhạc sĩ Văn Giảng -- cũng là Thông Đạt tác giả Ai Về Sông Tương -- thành lập và điều khiển; chuyên trình diễn tân nhạc tại đài phát thanh Huế.
[2]" Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo". Tục ngữ dân gian [2*] Lan Đình. Uyển Thanh. Văn Mới; 3 -1958:
"Soi bóng bên tê Vườn Thúy Hạnh
Tương tư rêu phủ mái Bình Linh"
[3] Quỳnh Dao Vấn Lục. Đào Uyển Minh. Trung Văn; Taiwan, 2001
[4] Nhattuan-TCM [5] Tdd - Footnote # 4
[6] Tôn Nữ Hỷ Khương. VN, 2006
 

 
HÀ THANH & HOA XUÂN CỦA PHẠM DUY
HÀ THANH & ĐÊM TÀN BẾN NGỰ CỦA DƯƠNG THIỆU TƯỚC
HÀ THANH & TÀ ÁO TÍM CỦA HOÀNG NGUYÊN
 
http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p9/c30/n13846/Ca-sy-Ha-Thanh-vua-qua-doi.html

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Albert Camus : Đam mê viết báo và “4 phẩm chất của một nhà báo tự do”

 
Albert Camus
Albert Camus
Minh Anh
Giả như Albert Camus vẫn còn sống, thì hôm 07 tháng Mười Một vừa qua, ông có lẽ đã tròn 100 tuổi. Từng đoạt giải Nobel Văn học năm 1957, thế mà sinh nhật năm nay của đại văn hào diễn ra trong bầu không khí tĩnh lặng, “không trống, không kèn” như nhiều nhà văn lớn khác của Pháp. Kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Albert Camus chỉ gói trọn trong một cuộc triển lãm nhỏ với chủ đề “Albert Camus, công dân thế giới” tại Aix-en-Provence, một thành phố thuộc tỉnh Bouches-du-Rhône, miền nam nước Pháp. Triển lãm kéo dài từ ngày 05/10/2013 cho đến hết ngày 04/01/2014.
Thế nhưng, ít ai biết được rằng ngoài thiên phú văn chương và triết học, Albert Camus còn có một biệt tài khác đó là viết báo. Đối với giới chuyên môn, nghệ thuật viết báo của Camus có thể được xếp vào hàng thượng thặng. Trong suốt ba giai đoạn 1938-1939, 1944-1947 và 1955-1956, Albert Camus lần lượt trải nghiệm tài năng của mình tại nhiều tòa soạn với nhiều bài viết và bài xã luận nổi tiếng. Ngay từ những ngày đầu mới bước chân vào nghề, Albert Camus đã tự đặt ra cho mình những tiêu chí “tâm” và “đức” của một nhà báo tự do.
Báo Le Monde số ra ngày 18/03/2012 đã cho đăng một bản tuyên ngôn do chính Albert Camus soạn thảo, ba tháng sau khi Đệ nhị Thế chiến bùng nổ. Lúc ấy, ông chỉ mới 26 tuổi. Camus viết rằng: “Mọi sự ràng buộc của thế giới sẽ không buộc được một người khiêm nhường chấp nhận làm một kẻ bất lương”. Nghĩa là, “không nên đồng lõa với sự dối trá”. Ông còn nói thêm rằng: “Một tờ báo tự do biết cân nhắc cả về những gì mình nói lẫn những gì mình không nói”.
Bản tuyên ngôn này của Camus đáng lẽ ra phải được phát hành vào ngày 25 tháng Mười một năm 1939 trên tờ Le Soir Républicain, một tờ tin tức hàng ngày chỉ có bán tại thành phố Alger, nước Algeri. Lúc ấy, Albert Camus vừa là tổng biên tập vừa là cộng tác viên duy nhất của Pascal Pia, chủ bút tờ nhật báo. Thế nhưng, bài viết này đã bị kiểm duyệt và không bao giờ xuất hiện. Mãi cho đến gần đây các phóng viên của nhật báo Le Monde lục tìm thấy được bản thảo này trong Kho lưu trữ hải ngoại tại Aix-en-Provence và cho công bố chính thức trong ấn bản ngày 18/03/2012.
Thật ra việc Albert Camus đến với nghề báo cũng rất tình cờ. Trước khi đến với công việc này, Albert Camus dấn thân như là một nhà đấu tranh chống bất bình đẳng. Năm 1935, ông tham gia Đảng Cộng sản Algeri để đòi hỏi quyền bình đẳng giữa người Ả Rập và người châu Âu, trước khi chấp nhận bị khai trừ Đảng vào mùa thu năm 1936. Tên tuổi của ông cũng đã được biết như là một nhà văn và kịch tác gia. Trong quãng thời gian tham gia đảng cộng sản, Albert Camus thành lập nhà hát kịch Lao Động (Théâtre du Travail) và cho dựng vở Le Temps du Mépris (1935), do nhà văn André Malraux sáng tác. Năm 1936, Albert dựng vở kịch đầu tiên do ông biên soạn chung cùng với mấy người bạn “Révolte dans les Asturies”. Thế nhưng, vở kịch đã bị Augustin Rozis, đô trưởng thuộc phe hữu cực đoan tại Alger cấm diễn. Một năm sau tức năm 1937, Albert Camus ra mắt tiểu luận L’Envers et l’Endroit (Mặt trái và Mặt phải).
Năm 1938, Albert Camus được một người bạn cũ của văn hào André Malraux, Pascal Pia, tuyển về làm phóng viên phóng sự cho tờ Alger Républicain. Tờ nhật báo này có lập trường tách biệt với nhiều tờ báo đương thời, vốn đa phần ủng hộ chính quyền thực dân. Tờ nhật báo Alger Républicain muốn bảo vệ các giá trị của Mặt trận nhân dân. Lúc đầu Albert Camus nghĩ rằng chỉ nhận làm vì “miếng cơm, manh áo” và ông có một cái nhìn không mấy thiện cảm với công việc này. Albert Camus từng thổ lộ với Jean Grenier- giáo sư đại học và cũng là bạn - rằng “nghề này thật là nhàm chán”.
Bốn phẩm chất quan trọng của một nhà báo tự do
Nhưng nhà văn cũng dần nhanh chóng thay đổi quan điểm sau mỗi thành công của những loạt bài viết phóng sự và xã luận. Khi quan sát phản ứng của độc giả, Albert Camus hiểu rằng các bài viết của ông có thể tác động lên công luận. Cũng từ đó ông rút ra một hướng đi, một niềm hy vọng, một giá trị đạo đức. Theo quan điểm của Camus, một nhà báo tự do cần hội đủ bốn phẩm chất: “Sáng suốt, kháng cự, châm biếm và bướng bỉnh”. Bốn giá trị này đã được Camus trình bày rất cặn kẽ trong bản tuyên ngôn và cho đến giờ vẫn còn giữ nguyên giá trị, trở thành một ‘‘cẩm nang’’ cho nghề báo chí tại Pháp.
Sự sáng suốt đòi hỏi khả năng kháng cự lại những lôi kéo của sự hận thù và tôn sùng số mệnh […] Thấu đáo sự việc giúp gạt bỏ sự thù hằn mù quáng và để nỗi tuyệt vọng choán chỗ. Một nhà báo tự do, vào năm 1939, không thất vọng và chiến đấu cho những gì anh ta tin là đúng cũng như hành động của mình có thể ảnh hưởng đến quá trình sự kiện. Anh ta không đăng tải bất cứ điều gì có thể kích thích sự thù hận hoặc gây thất vọng. Tất cả điều này là trong tay của nhà báo’’.
Về phẩm chất thứ hai, Albert Camus cho rằng một nhà báo tự do cũng phải biết “kháng cự”. Ngoài việc phải đảm bảo tính chính đáng của nguồn tin, nhà báo phải biết cân nhắc giữa những gì có thể nói và những gì không thể nói. Một nhà báo tự do phải biết kháng cự, tức là đầu tiên hết không được đồng lõa với sự dối trá.
Từ đó, đi đến phẩm chất thứ ba, phải có khiếu ‘‘mỉa mai’’. Albert Camus cho rằng, ‘‘mỉa mai’’ là một “vũ khí vô song chống lại những cường hào ác bá”. “Óc ‘châm chọc’ hỗ trợ cho sự khước từ trong một chiều hướng mà nó cho phép, không những gạt bỏ những gì sai trái, mà thường nói lên được những gì là đúng. Một nhà báo tự do năm 1939, nhất thiết phải biết mỉa mai, mặc dù nó thường là trái với ý muốn của mình”. Albert Camus còm hóm hỉnh cho rằng : “Sự thật và tự do như là những cô tình nhân đỏnh đảnh dù là có rất ít người yêu họ”.
Dĩ nhiên, tất cả những đức tính đó phải được sự bướng bỉnh ‘hỗ trợ’. Trên thực tế có rất nhiều cản trở cho tự do ngôn luận. Ở đây, tính bướng bỉnh là một đức tính quan trọng. Bởi có một nghịch lý kỳ khôi nhưng rất rõ ràng, nó giúp mang lại tính khách quan và sự độ lượng.


Tính chính xác sự việc là tiêu chí hàng đầu
Suốt quãng thời gian làm nghề viết báo, Albert Camus xem đấy như là một cuộc đấu tranh cho sự thật và cho sự độc lập. Khi mới bước chân vào nghề nhà báo, Camus đã đặt vấn đề “nguồn tin” lên hàng đầu. Các cuộc điều tra ngay tại địa bàn cho phép một cách tiếp cận thực tế các sự kiện. Ông nói: “Đi đến xem là việc đầu tiên cần phải làm. Tiếp đến, nhất thiết phải thẩm định các hướng đi khác nhau có thể bằng cách trao lời cho tất cả mọi người. Không cần thiết cứ phải làm sáng tỏ quan điểm của đối thủ, nhưng ngược lại phải biết lắng nghe và phân tích chúng. Nhà báo trẻ cần phải có một sự công minh không thể nào xâm hại được”.
Ông Jeanyves Guerin, tác giả của quyển “Dictionnaire Albert Camus” (tạm dịch là Tự điển về Albert Camus), giải thích rõ “Khi nói đến bài diễn văn, tính ‘trung thực’ và ‘lương tri’ đòi hỏi rằng những lời nói đó không được cắt ngắn, rằng các câu dẫn không được tách rời ngữ cảnh”. Đối với Albert Camus, sự thật phải là tâm điểm của cuộc tranh luận và để đạt được điều đó, nhà báo phải cố gắng “đặt tính chính xác và tìm hiểu các sắc thái lên hàng đầu”. Những trải nghiệm này được thể hiện rõ nét trong loạt bài phóng sự điều tra “Misère de la Kabylie” (Sự khốn cùng tại Kabylie), đăng trên tờ Alger Républicain vào năm 1939. Trong 11 loạt bài điều tra, ông miêu tả không chút khoan nhượng nạn đói mà vùng này đã gánh chịu. Một sự kiện mà không một tờ báo thân chính quyền thực dân lúc bấy giờ đề cập đến.
Nhận định về tư cách nghề báo của Albert Camus, ông Jean Daniel, nhà sáng lập tuần san Le Nouvel Observateur nói như sau: “Camus rất yêu thích công việc đó (viết báo), một công việc ông rất am tường và có những công thức riêng cho mình. Nhưng trước tiên hết, Camus là một người theo chủ nghĩa thuần túy. Ông rất ghét việc khai thác các tin vặt vãnh gây ồn ào và ghét cay ghét đắng lối sử dụng thì điều kiện (đó là điểm khởi nguồn của một sự dối trá). Ông có một ý tưởng cực kỳ hiếm hoi trong nghề này: Ta có là người đầu tiên hay không điều đó không quan trọng, nhưng cần phải là người (đưa tin) tốt nhất”.
Cũng trong thời gian này, Albert Camus phụ trách mục thời luận pháp lý trên tờ Le Soir Républicain, do ông mở ra cùng với Pascal Pia vào ngày 15/09/1939. Chính công việc này đã cung cấp cho nhà văn những kinh nghiệm mà sau này ông có dịp sử dụng để dựng lại phiên xử nhân vật Mersault trong tác phẩm L’Étranger (Kẻ xa lạ) (1942). Trên tờ báo này, Albert Camus để lại nhiều bài bình luận pháp lý nổi tiếng như vụ án Hodent. Albert Camus đã tìm cách chứng minh sự trong sạch của một người quản lý trang trại bị một tên thực dân giàu có vu khống tội ăn cắp. Nhất là, trong vụ án một người Ả Rập bị buộc tội giết người, Albert Camus đã chứng minh được rằng chính quyền lúc bấy giờ kết tội ông ta chỉ vì mục đích chính trị.
Albert Camus : Một nhà báo dấn thân
Lẽ đương nhiên là những bài viết trên của Albert Camus đã không làm hài lòng chính quyền thực dân lúc bấy giờ. Kết quả là cả hai tờ Alger Républicain và Le Soir Républicain đều có cùng số phận với các tờ báo đến từ Pháp, bị đặt dưới sự kiểm duyệt. Nhưng không vì vậy mà Albert Camus tỏ ra chùn bước. Kiên định với chính kiến của mình, Camus kiên quyết từ chối thông báo trước nội dung các bài viết trước khi lên trang. Nhóm làm báo của ông thà để nhìn thấy những khoảng trắng, những đoạn văn bị cắt xén. Đến mức mà có một số ngày, tờ Alger Républicain và Le Soir Républicain được phát hành với những cột trắng xóa.
Báo Le Monde số ra ngày 18/03/2012, trong một bài viết có tựa đề “Các bổn phận của nhà báo theo quan điểm Albert Camus” có nhắc lại một sự việc khá khôi hài lúc bấy giờ. Đại úy Lorit, trưởng ban kiểm duyệt báo chí đã có những nhận xét khá gay gắt về cấp dưới của mình khi để lọt những lời bàn bị cho là khó có thể chấp nhận. Trong bài viết đề tựa “Hitler và Staline” đăng ngày 18/10/1939 ký tên Albert Camus, viên đại úy này đã nhận xét như sau: “Rất đáng tiếc tác giả thiếu sự sáng suốt”. Ba ngày sau đó, trên đài phát thanh Radio-London (phát bằng tiếng Pháp), thính giả có thể nghe những lời như sau: “Việc gạt bỏ sự thật, trên tất cả các báo chí Đức, là nét đặc trưng của chế độ Đức quốc xã”.
Hay như vào ngày 24/11 cùng năm, Camus có ghi những dòng sau đây, và đã bị cắt xén: “Chúng ta thấy rõ là một nhà báo Anh, ngày nay, vẫn cảm thấy tự hào về công việc của mình. Một phóng viên Pháp, dù là độc lập, không thể không cảm thấy xấu hổ nơi mà người ta khư khư ôm chặt lấy giới báo chí Pháp. Đến khi nào mới có cuộc chiến thông tin tại Pháp?
Khi chiến tranh bùng nổ, do không thể cầm súng ra trận vì căn bệnh lao phổi, Albert Camus đã dùng ngòi bút đả kích mạnh mẽ vào giới cầm quyền và những kẻ trục lợi nhờ chiến tranh. Trong bài viết khác có tựa đề “Những kẻ buôn tử thần”, ông quy trách nhiệm cho các nhà sản xuất vũ khí. Ông cho rằng “việc quốc hữu hóa hoàn toàn ngành công nghiệp vũ khí, sẽ giải thoát chính phủ khỏi tầm ảnh hưởng của giới tư bản đặc biệt vô trách nhiệm, chỉ bận tâm đến việc tạo ra những khoản lợi nhuận lớn” (bài viết đăng ngày 29/11/1939).
Albert Camus cũng không quên thân phận bọt bèo của những người dân bản xứ dưới chế độ thực dân trong thời kỳ chiến tranh. Ông tố cáo cách “đối xử tàn nhẫn” của một nhóm thiểu số và chính phủ, những kẻ “cố chấp tìm cách đàn áp những đối tượng không may có cái mũi chẳng nên có, hay nói thứ ngôn ngữ chẳng nên dùng”.
Đối với Albert Camus, nghề nhà báo là tiếng nói của nhân loại. Trong công cuộc tìm kiếm này, tự do ngôn luận là điều chính yếu. Các áp lực tài chính hay chính trị không nên can dự vào việc phát hành. Ông luôn chiến đấu chống lại kiểm duyệt, như là những gì Camus đã làm tại Le Soir Républicain vào năm 1939. Trong suốt thời kỳ chiến tranh, cuộc chiến này mỗi lúc mỗi mạnh mẽ. Nhà báo Camus có một thái độ cứng rắn không gì lay chuyển: “Chúng ta tình nguyện chấp nhận kiểm duyệt quân sự về những tin tức có thể có lợi cho kẻ thù. Nhưng chúng ta không chấp nhận ở bất cứ lúc nào sự kiểm duyệt chính trị”.
Mặc dù có nhiều lời đe dọa đóng cửa tòa soạn, nhưng cặp bài trùng Albert Camus – Pascal Pia vẫn không chùn bước. Sự cứng đầu cứng cổ của họ đã gây bực tức cho chính quyền sở tại. Kết quả là sau 117 số phát hành, tờ Le Soir Républicain đã bị đóng cửa vào ngày 10/01/1940, theo lệnh của thống đốc Alger.


Albert Camus : Báo chí phải độc lập với quyền lực và tiền bạc
Thất nghiệp, dưới áp lực của chính quyền sở tại, Albert Camus không được một tòa soạn nào dám tuyển dụng. Sau đó, ông còn bị chính quyền thực dân trục xuất khỏi Alger. Thế là nhà báo quyết định đến Paris. Tại đây, nhờ Pascal Pia, ông tìm được một chân thư ký cho tòa soạn báo Paris Soir. Thế nhưng, tài năng của nhà báo Albert Camus thật sự nở rộ khi ông đến làm việc cho tờ Combat (Chiến đấu). Một tờ báo hoạt động bí mật của quân Kháng chiến. Số báo miễn phí đầu tiên phát hành vào ngày 24/08/1944. Và chính trên tờ báo này tài viết báo của Albert Camus đã phát triển tốt nhất. Ông đầu tư triệt để cho thể loại “cao cấp” nhất là “xã luận”. Để làm được điều này, Camus đề xuất ba chiêu thức: “một ý tưởng, hai ví dụ, ba tờ giấy” (une idée, deux exemples, trois feuillets).
Vào ngày 08/08/1945, khi quả bom nguyên tử được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản, Albert Camus là người đầu tiên tại Pháp đã có phản ứng, quan ngại cho “những triển vọng khủng khiếp đang mở ra cho nhân loại”. Nhà báo viết: “Nền văn minh cơ khí vừa chạm đến cực điểm của sự dã man. Trong một tương xa hay gần, cần phải biết lựa chọn, giữa sự tự sát tập thể hay việc sử dụng khôn ngoan các hiểu biết khoa học”.
Với 48 ấn bản bí mật tại tờ Combat, Albert Camus trở thành một nhà báo tiếng tăm. Tuy nhiên, yêu nghề viết báo đến chừng nào thì Camus lại ghét giới báo chí đến ngần ấy. Cuộc phiêu lưu tại Combat thể hiện rõ chữ ‘tâm’ và ‘đức’ của Albert Camus, muốn nhìn thấy một nghề viết báo trung thực, chính xác và độc lập với các thế lực của tiền bạc cũng như là quyền lực chính trị. Chính vì thế, Albert Camus thường xuyên lên án mặt trái của giới báo chí. Nhất là trong bài xã luận đăng ngày 31/08/1944 trên tờ Combat. Qua việc chỉ trích ‘thói ham tiền và thái độ thờ ơ của bọn quyền thế”, Albert Camus chỉ ra rằng bọn họ chỉ tìm cách “làm hài lòng hơn là soi sáng”. Ông đã kêu gọi các đồng nghiệp hãy cắt đứt mối liên hệ mà ông cho là “loạn luân” giữa nghề nghiệp với sự cám dỗ của đồng tiền.
Nếu như đối với độc giả Algeri, đầu tiên hết Albert Camus giải thích rõ bổn phận làm sáng tỏ và cẩn trọng là thuộc phận sự của một nhà báo, chống lại sự tuyên truyền và sự “nhồi sọ”, thì tại Combat, Camus tiếp tục đưa ra một hiến chương về thông tin, đảm bảo cho nền dân chủ, sao cho những thông tin đó được giải thoát khỏi vấn đề tiền bạc. Camus viết: “Thông tin chính xác thay vì thông tin nhanh, nói rõ ý nghĩa của mỗi tin tức bằng một bình phẩm tương thích, xây dựng một ngành báo chí chỉ trích và, hơn cả mọi thứ, không nên chấp nhận đặt chính trị lên trên cả đạo đức cũng như là để đạo đức rơi vào chủ nghĩa giáo điều”.
Nhà báo Laurent Joffrin đã tóm lược lại như sau: “Albert Camus đã xây dựng một mô hình mà tất cả các nhà báo đúng với tên gọi này sẽ phải đi theo. Ông đã thể hiện và hình thành lý thuyết đạo đức nghề nghiệp. Nhà báo phải tham chiếu vào những giá trị đạo đức chứ không phải là giá trị chính trị. Đó là những gì Camus đã làm. Đó cũng là lý do vì sao ông thường đi ngược lại với trào lưu. Cần phải có sự can đảm để bất đồng với xã hội, để nói không với một chủ nghĩa theo thời nào đó. Hơn nữa, Albert Camus cũng như Jean Daniel đã đưa ra ý tưởng : Dù có một chính kiến hợp lý và có sắc thái riêng về một sự kiện cũng không gạt bỏ được một lập trường”.
Tóm lại, đối với Albert Camus, ngành báo chí từng là một cộng đồng người ở đó ông cảm thấy được nuôi dưỡng. Đó giống như là một trường đời và đạo đức. Ở đó, ông thấy được sự cao cả. Có thể nói Albert Camus là một trong những tiếng nói hay nhất trong lãnh vực này, góp phần hình thành nên cái khung của một quy chế nghiêm ngặt cho ngành báo chí.

Nguồn trích:  http://viet-studies.info/culture.htm