Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2014

Chọn người xông đất năm Giáp Ngọ

Xông đất là tục lệ lâu đời của người Việt mỗi dịp Tết đến, xuân về. Việc này xuất phát từ mong muốn sang năm mới sẽ gặp nhiều may mắn, suôn sẻ.

Xông đất hay còn gọi mở hàng là tục lệ lâu đời trong dân gian. Trước đây, người Việt quan niệm người xông đất phải là đàn ông khỏe mạnh, trụ cột trong gia đình, như thế gia chủ mới được một năm tràn đầy may mắn, tài lộc. Giờ đây, nhiều gia đình không còn nặng chuyện xông đất, nghiễm nhiên người đầu tiên đến xông nhà, dù là bà già, trẻ con, phụ nữ, kể cả người trong nhà ra ngoài sau đêm giao thừa mới trở về đều là người xông đất.
tuoi-hop-xong-nha-9191-1389889134.jpg
Ảnh: Chucmungnammoi.
Trái lại, một số khác lại quan trọng hóa người xông đất. Trước Tết, gia đình đó phải đi chọn/thuê người hợp tuổi, hoặc hứa hẹn mời ai đó về xông đất cho nhà mình.
Thực tế, điều quan trọng nhất khi chọn người xông nhà đầu năm, đó phải là người vui vẻ, rộng rãi, hạnh phúc (dân gian gọi là người nhẹ vía) thì gia đình được họ "xông" sẽ luôn may mắn, sung túc trong năm mới.
Còn nếu không, kể cả có hợp tuổi, nhưng khó tính, bủn xỉn thì chưa chắc năm mới đã gặp may. Nên chọn người thân, họ hàng, hay đối tác làm ăn mà ngoan ngoãn, hiền lành, làm ăn tốt. Tuyệt đối tránh thuê người đến mở hàng, xông đất chỉ để hợp tuổi mà không biết tính cách, năng lực... của người ta.
Về tuổi xông đất thích hợp: Dân gian sáng tác ra đủ loại xem xung hợp như phải hợp can, hợp chi, hợp ngũ hành, rồi hợp cả can chi, càng có vẻ chi tiết thì càng kỳ bí, nhằm tăng "tính chính xác", nhưng thực tế đều không phải cầu kỳ như vậy. Chỉ cần xem đơn giản theo tam hợp, lục hợp hoặc chọn người thân vui vẻ, nhẹ nhàng như đã nói ở trên.
Hướng dẫn chọn người xông đất hợp tuổi theo tam hợp, lục hợp năm Giáp Ngọ:
- Người tuổi Tý: Chọn người xông đất tuổi Sửu, Thân, Thìn.
- Người tuổi Sửu: Chọn người xông đất tuổi Tý, Tỵ, Dậu.
- Người tuổi Dần: Chọn người xông đất tuổi Hợi, Ngọ, Tuất.
- Người tuổi Mão: Chọn người xông đất tuổi Tuất, Hợi, Mùi.
- Người tuổi Thìn: Chọn người xông đất tuổi Dậu, Thân, Tý.
- Người tuổi Tỵ: Chọn người xông đất tuổi Thân, Dậu, Sửu.
- Người tuổi Ngọ: Chọn người xông đất tuổi Mùi, Dần, Tuất.
- Người tuổi Mùi: Chọn người xông đất tuổi Ngọ, Hợi, Mão. 
- Người tuổi Thân: Chọn người xông đất tuổi Tỵ, Tý, Thìn.
- Người tuổi Dậu: Chọn người xông đất tuổi Thìn, Tỵ, Sửu. 
- Người tuổi Tuất: Chọn người xông đất tuổi Mão, Dần, Ngọ.
- Người tuổi Hợi: Chọn người xông đất tuổi Dần, Mùi, Mão.
Nguyễn Mạnh Linh
Trưởng Phòng Phong thủy Kiến trúc
Viện Quy hoạch & Kiến trúc Đô thị - ĐHXD


Ngày đẹp để xuất hành, mở hàng đầu năm Giáp Ngọ

Mùng 3 và mùng 5 Tết năm nay là ngày đẹp có thể đồng thời xuất hành, mở hàng, đi lễ.

Đầu năm mới, người phương Đông thường có xu hướng chọn ngày tốt giờ tốt để làm những việc thuận lợi như mở hàng, đi lễ, hay chỉ đơn giản là xuất hành trong ngày, với ngụ ý đầu xuôi đuôi lọt, đầu năm thuận lợi để cả năm làm việc, học tập... được dễ dàng hơn.
Ngày Tết, nhiều sinh hoạt thường nhật đều tạm gác lại, nhà nhà kiêng không quét nhà và đổ rác vì sợ sẽ đổ hay vứt bỏ những sự may mắn tốt lành tới nhà mình. Thường người ta phải đợi đến sau mùng 3, hoặc đến mùng 5 - ngày phá trừ, tức ngày bỏ đồ cúng, quét dọn nhà. Thực tế do nhu cầu sinh hoạt, ngày mùng 2, mùng 3 nhiều nhà đã đổ rác, miễn hạn chế việc quét dọn là được.
Nếu nhà ai có tang thì không nên đi xông nhà hay đi mừng tuổi người khác để tránh cho người khác không bị xui như mình. Cũng như vậy, phụ nữ có thai thường kiêng không đi đâu trong những ngày đầu năm mới vì tục ngữ có câu "sinh dữ, tử lành".
Lưu ý ngày đẹp xuất hành, đi lễ dịp Tết:
- Mùng 1 Tết (31/1, thứ sáu, Nhâm Dần): Có thể xuất hành, mở hàng, không lợi đi lễ. Xuất hành chọn hướng Tây.
- Mùng 2 Tết (1/2, thứ bảy, Quý Mão): Có thể mở hàng, đi lễ, không lợi xuất hành, nếu cần xuất hành chọn hướng Tây.
- Mùng 3 Tết (2/2, chủ nhật, Giáp Thìn): Có thể xuất hành, mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng Đông Nam.
- Mùng 4 Tết (3/2, thứ hai, Ất Tỵ): Có thể mở hàng, đi lễ, không lợi xuất hành, nếu cần xuất hành chọn hướng Đông Nam.
- Mùng 5 Tết (4/2, thứ ba, Bính Ngọ), ngày lập xuân: Có thể xuất hành, mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng Đông.
Ảnh: chinesenewyearin.com.
yearOfTheHorse2_1388478927.jpg
- Mùng 6 Tết (5/2, thứ tư, Đinh Mùi): Có thể đi lễ, không lợi xuất hành, mở hàng. Nếu cần xuất hành chọn hướng Đông.
- Mùng 7 Tết (6/2, thứ năm, Mậu Thân): Có thể đi lễ, không lợi xuất hành, mở hàng. Nếu cần xuất hành chọn hướng Bắc.
- Mùng 8 Tết (7/2, thứ sáu, Kỷ Dậu): Có thể đi lễ, không lợi xuất hành, mở hàng. Nếu cần xuất hành chọn hướng Nam.
- Mùng 9 Tết (8/2, thứ bảy, Canh Tuất): Có thể mở hàng, không lợi xuất hành, đi lễ. Nếu cần xuất hành chọn hướng Tây Nam.
- Mùng 10 Tết (9/2, chủ nhật, Tân Hợi): Có thể mở hàng, đi lễ. Không lợi xuất hành. Nếu cần xuất hành chọn hướng Tây Nam.
- 11 Tết (10/2, thứ hai, Nhâm Tý): Có thể mở hàng, đi lễ, không lợi xuất hành. Nếu cần xuất hành chọn hướng Tây.
Chú ý: Hướng tốt cho xuất hành là hướng Tài thần, nhiều người không hiểu lấy hướng Hỷ thần (lợi cho cưới gả), là nhầm lẫn cơ bản trong chọn ngày giờ.
Qua những ngày trên có thể thấy:
- Ngày tốt cho xuất hành, gặp mặt đầu năm: Mùng 1 (31/1), mùng 3 (2/2), mùng 5 (4/2).
- Ngày tốt cho mở hàng, giao dịch ký kết đầu năm: Mùng 1 (31/1), mùng 2 (1/2), mùng 3 (2/2), mùng 4 (3/2), mùng 5 (4/2), mùng 9 (8/2), mùng 10 (9/2), 11 (10/2).
- Ngày tốt cho cúng tế, đi lễ đầu năm: Từ mùng 2 (1/2) đến mùng 8 (7/2), mùng 10 (9/2), 11 (10/2).
Nguyễn Mạnh Linh
Trưởng Phòng Phong thủy Kiến trúc
Viện Quy hoạch & Kiến trúc Đô thị - ĐHXD

Theo  http://doisong.vnexpress.net

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Thư mời tham dự buổi gặp gỡ và giới thiệu tập san QUÁN VĂN SỐ 20

 

 

Đại hồng chung chùa Thiên Mụ được công nhận bảo vật quốc gia

(SHO) - Ngày 30/12, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 2599/QĐ-TTg về việc công nhận bảo vật quốc gia cho 37 hiện vật, nhóm hiện vật. Trong đó có Đại hồng chung chùa Thiên Mụ.
Đại hồng chung chùa Thiên Mụ được công nhận bảo vật quốc gia
Đại hồng chung chùa Thiên Mụ
Đại hồng chung chùa Thiên Mụ được đúc từ thời Chúa Nguyễn Phúc Chu (năm 1710) để cúng cho ngôi Quốc tự, nặng hơn 2.000kg, hiện đặt tại chùa Thiên Mụ. Chuông này cũng đã xưa đến gần 300 năm. Chuông rất lớn và đẹp, chiều cao 2,5m, đường kính miệng 1,40m, nặng 1.986 kg. Trên chuông có khắc bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu “chú nguyện mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an”. Chuông này hiện nay chỉ được đặt như một pháp khí của chùa mà không đánh.
Hoa văn trình bày trên chuông rất phong phú, trình độ mỹ thuật cao. Những nhóm chấm trình bày mỹ thuật, cành lá uốn tiếp theo nhau như những đợt sóng lượn. Các mô-típ long phụng rất linh động, có bốn con rồng quẫy mình, bốn con phượng bay đuôi rất dài. Tiếng của đại hồng chung này đã ngân vang trên đô thành Phú Xuân từ năm 1710 tây lịch cho đến năm 1815 tây lịch thì được chuông Gia Long thay thế. Chuông đã trở thành bảo vật của Phật giáo Thuận Hoá.
37 bảo vật quốc gia vừa được công nhận gồm:
1. Trống đồng Đền Hùng (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
2. Trống đồng Cẩm Giang I (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa).
3. Mộ thuyền Việt Khê (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).
4. Thạp đồng Hợp Minh (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Yên Bái).
5. Bộ khóa đai lưng bằng đồng (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
6. Kiếm ngắn Núi Nưa (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa).
7. Bia “Xá Lợi Tháp Minh” (Niên đại: năm 601, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh).
8. Bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc (thời Lý, hiện lưu giữ tại chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang).
9. Bia Sùng Thiện Diên Linh (thời Lý, hiện lưu giữ tại chùa Long Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam).
10. Bia chùa Sùng Khánh (thời Trần, hiện lưu giữ tại chùa Sùng Khánh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang).
11. Bia Vĩnh Lăng Lam Kinh (thời Lê, hiện lưu giữ tại Khu di tích lịch sử Lam Kinh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).
12. Chuông chùa Bình Lâm (thời Trần, hiện lưu giữ tại chùa Bình Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang).
13. Chuông chùa Vân Bản (thời Trần, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).
14. Đại hồng chung chùa Thiên Mụ (thời Nguyễn, hiện lưu giữ tại chùa Thiên Mụ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế).
15. Rồng đá (Xà thần) (thời Lý, hiện lưu giữ tại đền thờ Lê Văn Thịnh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh).
16. Tượng Phật A Di Đà (thời Lý, hiện lưu giữ tại chùa Ngô Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).
17. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (thời Lê Trung hưng, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam).
18. Ba pho tượng Tam Thế (thời Lê Trung hưng, hiện lưu giữ tại chùa Linh Ứng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
19. Tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (thời Lê Trung hưng, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam).
20. Bộ chân đèn và lư hương gốm men (thời Mạc, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Nam Định).
21. Vạc đồng (thời Lê Trung hưng, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa).
22. Súng thần công (thời Nguyễn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh).
23. Bia Võ Cạnh (Văn hóa Chămpa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).
24. Tượng Avalokitesvara Hoài Nhơn (Văn hóa Chămpa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).
25. Tượng Avalokitesvara Đại Hữu (Văn hóa Chămpa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).
26. Tượng động vật Dốc Chùa (Văn hóa Đồng Nai, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bình Dương).
27. Tượng Phật Bình Hòa (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).
28. Tượng Phật Sa Đéc (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).
29. Tượng Thần Visnu (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp).
30. Tượng Thần Visnu  (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Long An).
31. Tượng Nữ Thần Durga (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).
32. Tượng Avalokitesvara (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).
33. Bộ sưu tập hiện vật vàng (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Long An).
34. Tranh “Vườn Xuân Trung Nam Bắc” (tác phẩm mỹ thuật của họa sĩ Nguyễn Gia Trí, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh).
35. Tranh “Hai thiếu nữ và em bé” (tác phẩm mỹ thuật của họa sĩ Tô Ngọc Vân, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam).
36. Tranh “Em Thúy” (tác phẩm mỹ thuật của họa sĩ Trần Văn Cẩn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam).
37. Tranh “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” (tác phẩm mỹ thuật của họa sĩ Nguyễn Sáng, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam).

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

Sài Gòn, mùa Xuân

 
năm tháng sẽ làm đẹp cho mùa màng
những ngày đông sắp hết
hoa lá trở lại
mới tinh khôi
như tình em
vừa được tân trang lại
ấy là nụ hôn vào buổi sáng gặp nhau ở một lề đường vắng
(không thể hôn nhau giữa chốn đông người)
 
có một vài chiếc lá không muốn rời đi
vẫn đu đưa bài hát muộn màng với gió
tôi sẽ về đâu sẽ về đâu
hoá vàng bay hoá vàng bay
vực thẳm đời tan nát
 
có một vài búp hoa nghẹn nở
vẫn nuối thời sơ sinh
tôi không muốn đâu không muốn đâu
là một sớm rực rỡ
để rồi đêm tăm tối tàn phai
 
có một tấm lòng ước vọng trinh nguyên
như tuổi xanh như chồi biếc
tôi sẽ không dậy lớn với thời gian
sẽ không thành lá xanh trên ngọn
để cuối con đường vật vã biệt tăm
 
có một vài ngày trong một tháng
một vài tháng trong một năm
là mùa Xuân
ở lại cùng cỏ cây hoa lá
cùng sự bất diệt
của niềm vui
 
TỪ HOÀI TẤN

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

những ngày tháng chạp

cơn gió lắt lay
ngày se se hơi thở của mùa màng cuối năm
đi trên đường hay ghé vào vỉa hè
tìm hơi ấm nóng của ly cà phê đầu ngày
nghĩ ngợi gì đó

cuối năm lỡ một cuộc hẹn về
những năm tuổi trẻ ngoài ấy
dòng sông, cây cầu và giấc mộng lãng mạn ở cố cung
thiếu nữ khuôn mặt trầm buồn thiên cổ

ta sống với quá khứ như lời tưởng niệm về một thời hối tiếc
ví dụ không kịp một lời tỏ tình khi em ra đi
như không kịp yêu một lần đã qua thời tuổi trẻ
ví dụ như không kịp được nhờ hơi ấm của người mẹ sớm ra đi
không nghe được lời di ngôn của người cha sắp mất
khi tháng chạp về mỗi năm lại đi qua
cuộc sống vẫn không ngừng
mà lòng ta chưa nguôi nỗi ngậm ngùi tìm thời gian đã mất

những ngày tháng chạp
có ai đi qua không ngoái lại nhìn

TỪ HOÀI TẤN

Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

Nhà thơ LÂM ANH vừa qua đời


Nhận được tin buồn từ nhà thơ Phương Tấn:

Nhà thơ LÂM ANH
vừa qua đời tại Lâm Đồng
hưởng thọ 72 tuổi

Thành thật chia buồn cùng gia đình
và nguyện cầu linh hồn người quá cố
sớm an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng

Viêm Tịnh - Từ Hoài Tấn - Nguyễn Miên Thảo - Phạm Tấn Hầu - Lê Ngọc Thuận - Nguyên Quân - Phương Tấn - Lê Ký Thương và bằng hữu văn nghệ


Ghi chú :
THI SĨ LÂM ANH,
TÊN THẬT NGUYỄN LÂM ANH,
CÁC BÚT HIỆU KHÁC: NGUYỄN BA LA, LÂM ANH NGUYỄN BA LA..., SINH NĂM 1942 TẠI QUẢNG NGÃI, ĐI KINH TẾ MỚI SỐNG TẠI CÁT TIÊN LÂM ĐỒNG SAU NĂM 1975, TÁC GIẢ THI PHẨM QUÁ GIANG THUYỀN NGƯỢC.  NHÀ THƠ TRẦN HOÀI THƯ ĐÃ VIẾT: " THƠ ÔNG CHÍNH LÀ HƠI THỞ. VÀ HƠI THỞ CHÍNH LÀ THƠ ÔNG. ÔNG GÁNH GIÙM KHỔ NẠN. ÔNG CHỞ GIÙM HẠNH PHÚC. ÔNG MANG GIÙM QUÊ HƯƠNG. ÔNG TẢI GIÙM MỒ HÔI VÀ NƯỚC MẮT. ÔNG HÍT THỞ GIÙM SƯƠNG MÙ, SƯƠNG MUỐI VÙNG HEO HÚT CÁT TIÊN. ÔNG HỨNG GIÙM BÁT TRĂNG TRÊN VÙNG NÚI ĐỒI TRÙNG ĐIỆP. ÔNG MẶC GIÙM CHIẾC ÁO CŨ TANG THƯƠNG..." ĐÃ QUA ĐỜI LÚC 13 GIỜ 00 NGÀY 12 THÁNG 01 NĂM 2014.
Mời đọc 1 bài thơ chép từ facebook của Huỳnh Lê Nhật Tấn

Cố hương
Lâm Anh 


Xếp cánh bên em từ buổi đó
Bao năm tôi như bài thơ Đường
Sáng nay tháng chạp về báo Tết
Cánh xòe ngùi ngậm nhớ cố hương

Cố hương có tích vua Quang Chiếu
“Phù Thủy Cao Biền trảm huyệt Long”
Một thuở mẹ qua cầu Trà Khúc
Nhón chân cũng ngại vấy máu Rồng

Một thuở cha ngồi bên núi Ấn
Ngắm dùm thiên hạ bóng bể dâu
Nghiên mực sông Trà ai đập bể ?
Để nước ra khơi phải đục ngầu

Một thuở em rời xa Thạch Bích
Tà dương cũng chia biệt dương tà
Tà dương mắc bận về Thiên Bút
Để tiễn những người con mất cha

Một thuở tản cư thành cư tản
Nên đành quên Cổ-Lũy-cô-thôn
Đành như Thôi Hiệu nằm trong mộ
Đắp thơ Đường trên mặt cô đơn

Đành như Thạch-Trận-La-Hà ngủ
Để thức Bàu Giang chảy nước bùn
Mẹ đã sinh tôi từ Quảng Ngãi
Nên hồn tôi đâu khác hồn cố hương

Cát Tiên 1990

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

Nhớ học giả Nguyễn Duy Cần: Giờ đọc sách cũng như giờ cầu kinh

(Thethaovanhoa.vn) - NXB Trẻ vừa tái bản hàng loạt sách của học giả Thu Giang - Nguyễn Duy Cần và chuẩn bị tổ chức cuộc tọa đàm về ông vào tháng 2/2014, tại Trung tâm Văn hóa Pháp (Hà Nội). Là một trong những người cùng thời với Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Hoàng Xuân Việt, Phạm Cao Tùng…, Nguyễn Duy Cần đã và vẫn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ người đọc qua các cuốn sách được liệt vào dạng “gối đầu giường” của ông.Cụ Nguyễn Duy Cần (1907 - 1998), bút hiệu Thu Giang, Hoàng Hạc, Bảo Quang Tử, sinh tại Mỹ Tho - Tiền Giang, cả đời ông là một tấm gương tự học. Trong hồi ký của mình, học giả Nguyễn Hiến Lê nhận định: “Những người đã chịu đọc sách ông (Thu Giang), thì luôn thuộc lòng từng câu chữ, vanh vách từng câu cốt lõi, những tư tưởng luận điểm chính của sách ông… Điều này không tìm được ở những dòng sách khác”.
Một đời tự học
Trong cuốn Tôi tự học, Nguyễn Duy Cần viết: “Tác giả là người đã vất vả rất nhiều trong con đường học vấn. Trước đây, tác giả là người rất kém về trí nhớ, lại cũng kém cả thông minh và sức khỏe… Sở dĩ sau này có được chút ít học vấn, dù nông cạn đến đâu, cũng đều nhờ công phu tự học cả”.
Cách tự học của Nguyễn Duy Cần đều nhờ đọc sách mà thành, như chính ông thừa nhận: “Người biết đọc sách phải biết dành cho mình một buổi nào để đọc sách trong yên lặng và cô tịch… Suốt một đoạn đời từ 21 tuổi đến nay, tôi đã dành cho mỗi buổi tối ít nhất là hai giờ đồng hồ để đọc sách, khoảng từ 20 - 22 giờ, không bao giờ sai chạy. Giờ ấy đối với tôi cũng như giờ cầu kinh, nhất định không để cho ai quấy rầy”.
Học giả Thu Giang - Nguyễn Duy Cần, ảnh chụp năm 1993
Dù chỉ tốt nghiệp Thành chung (tương đương lớp 9 bây giờ), nhưng nhờ tự học nên cụ rành tiếng Pháp, Anh và chữ Hán. Trước 1975, cụ Nguyễn Duy Cần làm giáo sư ở ĐH Vạn Hạnh, Trưởng ban Triết Đông ở ĐH Văn khoa Sài Gòn. Đời ông gắn với các nghề: viết sách, dạy học, lương y, nghiên cứu Đạo học và Kinh dịch.
Cuốn sách đầu tay Duy tâm và duy vật của Nguyễn Duy Cần viết năm 1935, một thời gây ra nhiều cuộc bút chiến xung quanh tác phẩm này. Cụ Nguyễn Duy Cần có hàng chục cuốn sách đủ các thể loại để lại cho đời, có rất nhiều cuốn tái bản liên tục với số lượng in khổng lồ.
Viết sách vì đạo
Sách bán nhiều là vậy, nhưng cả đời cụ Nguyễn Duy Cần vẫn sống ở nhà thuê; khác với nhiều người viết sách cùng thời, nhờ sách mà mua nhà, sắm xe.
Quan điểm viết sách của Nguyễn Duy Cần được ông thể hiện rõ: “Văn chương là một món sản vật của tinh thần thuộc về phần thiêng liêng cao trọng nhất mà người ta cũng đem nó làm món hàng ‘làm tiền’, xúm nhau quảng cáo với những mánh khóe con buôn trăm phần trăm, thật là hèn hạ quá - trích “Cái dũng của thánh nhân” in lần đầu năm 1951).
Với Nguyễn Duy Cần, điều ông quan tâm nhất khi viết sách là người đọc có cần tác phẩm của mình hay không. Luật sư Võ Văn Quới, một học trò của cụ Nguyễn Duy Cần kể lại mối quan tâm của thầy mình khi được thầy hỏi: “Sách của thầy thời đại này còn cống hiến được gì cho đời không?”, “Sách của thầy trước năm 1975 có những ai đọc? sau năm 1975 sẽ có những ai đọc?” và “Giới trẻ như con có ai đọc sách của thầy không?”.“Những năm 1990, sách của cụ bị in lậu rất nhiều nhưng cụ không hề kiện tụng những đơn vị kinh doanh trái phép đó để đòi bản quyền, mà chỉ nói rằng: “Chắc vì họ cần nên mới làm vậy”. Và cụ nhờ người nhà đi mua những quyển sách đó về xem, rồi sửa lỗi những đoạn in sai, in thiếu. Điều này thể hiện tính rộng lượng, phóng khoáng trong con người cụ, đối với cụ sách là tài sản chung của mọi người chứ không phải của riêng một cá nhân nào cả”. - theo lời luật sư Võ Văn Quới.
Độc giả của cụ Nguyễn Duy Cần thường có hai loại: muốn tìm kiếm thông tin, kiến thức thông qua sách hoặc những người hâm mộ, muốn sống theo cách của cụ. Học trò trực tiếp của ông có thể kể: nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, bác sĩ - nhà thơ Trương Thìn, lương y Bùi Quốc Châu...
Thông tin từ NXB Trẻ cho biết, hiện ở Hà Nội có một CLB Đạo học miền Bắc lấy sách của Nguyễn Duy Cần làm sách giáo khoa, do một bạn thế hệ 9X chủ trì.
Tọa đàm về sách của Nguyễn Duy Cần
Tháng 2/2014, tại Trung tâm Văn hóa Pháp (Hà Nội) sẽ diễn ra buổi tọa đàm về sách của cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần do NXB Trẻ tổ chức. Khi viết sách, cụ Thu Giang quan niệm: “Đào một cái lỗ và đào sâu xuống nữa”. Buổi tọa đàm nhằm trả lời câu hỏi: muốn đọc sách của Nguyễn Duy Cần thì nên bắt đầu từ cuốn nào? Vì khi viết sách, cụ có chủ ý cuốn này bổ sung cho cuốn kia nên đọc “đâm ngang” sẽ không hiểu. Nhân dịp này, NXB Trẻ sẽ lần đầu tiên ấn hành “Di cảo Thu Giang Nguyễn Duy Cần”.
Một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Duy Cần: Cái dũng của thánh nhân, Thuật xử thế của người xưa, Cái cười của thánh nhân, Thuật yêu đương, Óc sáng suốt, Tôi tự học, Thuật tư tưởng, Phật học tinh hoa, Tinh hoa Đạo học Đông phương, Nhập môn triết học Đông phương, Lão Tử Đạo Đức Kinh, Lão Tử tinh hoa, Trang Tử tinh hoa, Trang Tử Nam Hoa Kinh, Chu Dịch huyền giải, Dịch học tinh hoa…
Hoàng Nhân
Thể thao & Văn hóa