Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Mối tình của nguyên mẫu tác giả tiểu thuyết "Người tình"


Những ai từng đọc tiểu thuyết nổi tiếng đoạt giải Gouncourt "Người tình" của nữ văn sĩ Marguerite Duras, hoặc từng xem bộ phim chuyển thể mang tên L'Amant, ít nhiều đều biết rằng, giống như trong truyện, ngoài đời, Marguerite Duras cũng có một chuyện tình đẹp và say đắm như thế với một chàng trai người Việt gốc Hoa.
Ngày nay, Marguerite Duras và chàng trai đã qua đời, nhưng chuyện tình của họ còn sống mãi trong các tác phẩm văn học, điện ảnh để đời.
Tại Việt Nam, chuyện tình ấy vẫn còn sức sống mạnh mẽ. Ai một lần đến chơi Sa Đéc, Đồng Tháp, thăm nhà cổ Huỳnh Thuỷ Lê và trường nữ học Trưng Vương, sẽ được nghe chính người Sa Đéc kể lại chuyện tình đã trở nên bất hủ ấy...

Chuyến phà khởi đầu một chuyện tình buồn

Huỳnh Thủy Lê là con trai của điền chủ Huỳnh Cẩm Thuận, giàu có nhất vùng Sa Đéc thời bấy giờ nhưng sống lương thiện và hay giúp đỡ người nghèo. Huỳnh gia là chủ chành gạo lớn nhất Sa Đéc.

Gạo Huỳnh gia không chỉ bán trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài. Phần lớn những căn hộ ở chợ Sa Đéc là của Huỳnh gia cho thuê. Ngoài chợ Sa Đéc, nhà họ Huỳnh còn có nhiều điền sản ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.

Dòng họ Huỳnh rất có thế lực nên nhiều người đã xin đổi sang họ Huỳnh để dễ làm ăn và được ông Huỳnh Thủy Lê chấp thuận, giúp đỡ mà không cần truy xét.

Tuy sinh ra và lớn lên trong một gia tộc có tiếng tăm, bề thế, nhưng không vì thế mà Huỳnh Thủy Lê xao nhãng chuyện học hành và làm ăn. Vừa giàu có lại được ăn học đến nơi đến chốn và không kém phần hào hoa, thanh nhã, Huỳnh Thủy Lê luôn là người tình, người chồng đáng mơ ước của bao cô gái thuở ấy.
Như một sự sắp đặt của duyên số, con gái nước Việt sống miền sông nước nức tiếng đoan trang, xinh đẹp bao đời nay lại không hề khiến Huỳnh Thủy Lê rung động. Mà trớ trêu thay ông phải lòng cô gái phương Tây da trắng vừa bước qua tuổi 15 từ lần gặp mặt đầu tiên còn nhiều bỡ ngỡ pha chút ngại ngùng.
Cô gái ấy không ai khác chính là nữ nhà văn Marguerite Duras thuở thiếu thời. Marguerite Duras tên thật là Marguerite Donnadieu. Marguerite Duras sinh năm 1914 tại Gia Định, Đông Dương (TP. Hồ Chí Minh ngày nay), trong một gia đình học thức cao khi cha là một giáo sư toán, mẹ là giáo viên tiểu học.
Mẹ bà là hiệu trưởng trường École de jeunes filles, tức trường Trưng Vương ngày nay ở thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Gia đình bà không sung túc lắm nếu không muốn nói là có phần túng thiếu và đó cũng là một trong những lí do khiến cho chuyện tình không môn đăng hộ đối giữa bà và Huỳnh Thủy Lê tan vỡ.

Năm Marguerite Duras vừa tròn 15 tuổi, gia đình bà dọn đến sinh sống tại Sa Đéc. Và trên chuyến phà Vĩnh Long - Sa Đéc, định mệnh đã cho Huỳnh Thủy Lê và Marguerite Duras thấy nhau.

Chính nét đẹp mong manh, trong sáng và lạ lẫm của Marguerite Duras khiến Huỳnh Thủy Lê phải rung động và ngập ngừng bước đến làm quen.
Kể từ giây phút ấy, cả hai chỉ biết đến sự tồn tại của đối phương mà không tiếc gì đến cái thoáng đãng, mênh mông và cái ồn ào của người dân trên chuyến phà định mệnh.

Tuy nhiên, những hủ tục xung quanh việc môn đăng hộ đối đã dựng lên bức rào cản và cố gắng tách rời hai trái tim đang khao khát, cháy bỏng yêu thương ra xa nhau.


Nữ nhà văn Marguerite Duras.
Mối tình lãng mạn và nồng cháy của nữ nhà văn với chàng công tử con nhà giàu đã vấp phải sự phản đối kịch liệt của hai gia đình do quan niệm môn đăng hộ đối cũng như sự khác biệt về giai cấp và sự cách biệt lớn lao về vật chất.
Cha Huỳnh Thủy Lê, ngoài là một người Hoa thuần túy, ông từng là một điền chủ có tiền có thế, ông không thể chấp nhận một cô con dâu ngoại quốc nghèo nàn. Trong khi đó, mẹ nàng thì cho rằng một gia đình thuộc về mẫu quốc không thể có chút dính líu gì với người thuộc địa chứ đừng nghĩ đến chuyện kết thân.

Mặt khác, lúc này, Huỳnh gia đang lâm vào cảnh nợ nần, làm ăn thua lỗ, chỉ có cuộc hôn nhân của cậu con trai Huỳnh Thủy Lê với người đẹp xứ Tiền Giang Nguyễn Thị Mỹ con gái của một người giàu có tiếng miền Tây mới có thể vực dậy gia thế Huỳnh gia.

Đó cũng là cô vợ mà cha ông đã âm thầm sắp đặt từ 10 năm trước mà anh không hề hay biết. Cuối cùng sau những lần kháng cự trong tuyệt vọng, Huỳnh Thủy Lê đành chấp nhận cuộc hôn nhân không tình cảm để cứu gia đình khỏi cảnh tán gia bại sản.

Nhưng đằng sau nguyên nhân hiển nhiên ấy, Huỳnh Thủy Lê còn có nỗi khổ khác. Cũng một phần vì gia đình Marguerite Duras, đặc biệt là mẹ bà không mấy thiện cảm với anh chàng công tử giàu sang, khiến anh nhận thấy mình khó có thể có một mái ấm bền lâu.

Có lần, cả gia đình Duras lên Sài Gòn, Huỳnh Thủy Lê niềm nở mời họ ăn uống tại một nhà hàng sang trọng bậc nhất Sài thành lúc bấy giờ. Lần đó, mẹ, hai anh và cả Duras đều không hề chú ý đến sự có mặt của chàng công tử họ Huỳnh.
Chính nữ nhà văn đã viết: "Họ ăn một cách ngấu nghiến như chưa từng được ăn... Họ đã đối xử với người tình của tôi như thế. Không một lời cảm ơn với người đã trả tiền bữa ăn ngon lành đó".
Điều này càng làm ông nản lòng và đành an phận cưới người vợ giàu sang, xinh đẹp mà trong tim vẫn cất giấu hình ảnh người con gái xứ Paris hoa lệ.

Những chứng tích xưa của cuộc tình không biên giới

Sau một năm rưỡi yêu nhau thắm thiết, Huỳnh Thủy Lê lấy vợ trong sự hoan hỉ của dòng họ. Riêng nữ nhà văn Duras ngậm ngùi, lặng lẽ, cô lên tàu về Pháp cùng gia đình khi 18 tuổi, kết thúc buồn cho một mối tình đẹp.

Ngày ra đi, cô cố nấn ná ở bến tàu để khắc khoải được gặp người tình lần cuối trước mắt cô, chẳng có gì ngoài khoảng không trống trải, vô định.

Huỳnh Thủy Lê lấy vợ sinh được 5 người con, sống trong cảnh giàu sang, êm ấm nhưng có lẽ không lúc nào ông nguôi ngoai nỗi nhớ người tình dù đã nhiều năm xa cách.

Khi gia đình chuyển lên Sài Gòn sinh sống, ông vẫn luôn đều đặn quay về chốn cũ về ngôi nhà xưa nơi gợi nhớ về người tình đầu tiên cho ông nhiều kỷ niệm.

Chàng công tử Huỳnh Thuỷ Lê.
Năm 1972, ông mất và theo di nguyện các con chôn cất ông trên mảnh đất Sa Đéc thân thương, nơi mang nhiều kỉ niệm về một cuộc tình đã xa.

Khi Marguerite Duras về Pháp, bà lao vào học tập nhưng những nỗ lực của bà không thể làm vơi đi nỗi nhớ người tình nơi đất Việt xa xôi. Bà kết hôn, làm nhiều nghề rồi dừng chân với nghề viết văn và ngập chìm trong rượu và thuốc lá.

Dường như mối tình dang dở đầu đời với người tình cũ quá lớn, nó đã choáng hết trái tim, tâm trí bà nên dù kết hôn với ai bà cũng không cảm nhận được hạnh phúc. Bà yêu và kết hôn dường như chỉ để tìm cách nguôi đi, tìm cách trốn tránh tình yêu đã gửi nơi đất Việt.
Do vậy, sau khi đã trải qua 2 cuộc hôn nhân không hạnh phúc, lúc cuối đời bà lại lao vào cuộc tình với một anh chàng yêu văn của bà và trẻ hơn bà 38 tuổi. Bà mất năm 1996 mà vẫn còn nhiều luyến tiếc mối tình năm cũ.

Suốt hơn 50 năm ôm ấp tình cảm xưa, bà viết ra tiểu thuyết "Người tình" bằng con tim và nước mắt. Đó là chuyện tình của chính bà và chàng công tử họ Huỳnh trên đất Sa Đéc.

Người tình được xuất bản năm 1984, cũng trong năm này nữ nhà văn Marguerite Duras được nhận giải thưởng Goncourt danh giá dành cho tác phẩm văn xuôi xuất sắc nhất trong năm của Pháp.
Sau đó, tiểu thuyết được dịch ra 43 thứ tiếng và dàn dựng thành phim L'Amant. Phim được khởi chiếu năm 1992 và nhận được nhiều sự tán thưởng của thế giới. Đây cũng là hai trong những minh chứng cho tình cảm nồng nàn của hai con người đến với nhau bằng tình yêu trong sáng, mãnh liệt.

Một chứng tích khác cho mối tình vượt thời gian này là ngôi nhà cổ tại số 225A Nguyễn Huệ, phường 2 thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Ngôi nhà do cha ông Huỳnh Thủy Lê xây cất cách đây 130 năm.

Hiện nay, ngôi nhà cổ này được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, được công ty du lịch Đồng Tháp và sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh quản lí. Mỗi ngày có rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan.
Du khách đến đây để được tận mắt nhìn thấy chân dung và nơi ở của người tình nữ nhà văn nổi tiếng người Pháp Marguerite Duras. Nơi đây có đầy đủ các tài liệu liên quan đến Huỳnh Thủy Lê và gia đình cũng như những hình ảnh gợi lại mối tình năm cũ.

Nhắc đến nơi Marguerite Duras đã qua thì không thể không kể đến ngôi trường École de jeunes filles nơi mẹ bà làm hiệu trưởng. Ngôi trường này cũng là nguyên nhân để bà về đây sinh sống và gặp gỡ Huỳnh Thủy Lê.

Trường giờ đã thay đổi phần nào nhưng lối kiến trúc Pháp vẫn còn in dấu, du khách Pháp rất thích thú khi đến tham quan ngôi trường này. Chuyện tình ấy giờ đã là tiểu thuyết là phim ảnh và hơn thế nó đã khắc sâu vào tâm trí người miền Tây như một di sản đẹp.
Theo Ngọc Nguyễn
Gia Đình và Xã Hội

Trích lại từ phongdiep.net

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

KỶ NIỆM NGÀY MẸ MẤT


NGÀY GIỖ MẠ
KỶ NIỆM 43 NĂM NGÀY MẸ QUA ĐỜI
25/6/MẬU THÌN (1928) - 13 GIÊNG TÂN HỢI (1971)

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Khi một nhà thơ xem tranh

Trịnh Cung

Trong bài viết “Xem Tranh” (trong cuốn Mỹ Thuật Việt Nam - Những Vấn Đề Xoay Quanh, trang 29-33), tôi có nêu một cách tượng trưng 3 trường hợp xem tranh: trường hợp một Đệ Nhất Phu Nhân của nước Nga thời Cộng Sản đến xem tranh trừu tượng của Soulages, một hoạ sĩ nổi tiếng người Pháp ở Paris, để cho thấy sự dẫn giải nội dung tranh trừu tượng của một người xem tranh thiếu cẩn trọng trong phát ngôn của mình khi đối diện với tác giả; trường hợp thứ 2 là một sự thách đố để nhận biết giữa 2 bức tranh thuỷ mặc đâu là thật đâu là giả, để cho thấy việc xem tranh cần có nhiều kiến thức; trường hợp thứ 3 rút ra từ hồi ký của bà Bill Clinton, về việc nhờ hiểu biết nghệ thuật mà ông Bill Clinton đã chinh phục trái tim của bà khi họ còn là sinh viên. Tôi đã từ 3 trường hợp ấy để đi đến nhận định rằng: việc xem tranh là một việc không thể dùng cảm tính để đánh giá, nhất là khi mình lại thiếu hiểu biết về nó và sự đánh giá đó lại được phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Tất nhiên, tự do phát biểu là quyền tối thượng của mỗi con người, nhưng không phải vì thế mà bất cứ ý kiến nào cũng đều có giá trị. Và hình như còn có một thứ quyền tối thượng hơn nữa, đó là quyền của mỗi cá nhân tự cân nhắc các ý kiến trước khi công bố nó để tránh phải nhận lãnh những hậu quả tai hại mà nó mang lại.
Ngay trong lãnh vực nghệ thuật – văn học, các nghệ sĩ, nhà văn, cũng không ai có thể am tường hiểu biết hết được mọi thứ trong lãnh vực của mình nếu không biết luôn tự mở rộng tầm nhìn bằng việc đọc thêm, nghe thêm, xem thêm các tác phẩm khác. Họ đều phải không ngừng cập nhật và nâng cấp hiểu biết của mình không chỉ trong riêng lãnh vực của mình, mà còn phải quan tâm đến các ngôn ngữ trong lãnh vực nghệ thuật khác, thậm chí soi rọi, đặt nó bên cạnh những màu sắc mang tính “bản địa” của các dân tộc khác, để tránh cái nhìn chủ quan, thiển cận sẽ làm tổn thương không chỉ các tác giả của những tác phẩm ấy, mà người đánh giá còn bị chính sự phê phán vội vã, xốc nổi của mình quay lại làm tổn thương mình.
Cụ thể của Câu Chuyện Nghệ Thuật trên Da Màu hôm nay, tôi muốn đề cập đến việc bức tranh sơn dầu Ngựa Tinh Sương của hoạ sĩ Đinh Cường đã được post trong Tác phẩm nghệ thuật của tuần hôm 28 tháng Giêng 2014, đã nhận được ý kiến đánh giá của nhà thơ Quỳnh Thi nguyên văn như sau: “Họa sĩ Đinh Cường là một họa sĩ có nhiều tranh đẹp, song. Bức tranh ”Ngựa và thiếu nữ” của Đinh Cường nhiều người xem có nhận xét rất “phản cảm”. Tranh khỏa thân thường là gợi cảm. Nhưng phải tự nhiên để phô bày cái đẹp. Tôi chưa thấy người đẹp ở truồng nguyên vẹn nào cởi truồng phi ngựa như vậy. Vì lông ngựa sẽ cọ vào ngứa lắm.”
Bằng nhận xét của mình, nhà thơ Quỳnh Thi đã bộc lộ không chỉ sự yếu kém trong trình độ “đọc” tranh của mình, mà còn cho thấy sự yếu kém về văn hoá phê bình nghệ thuật khi dựa lưng hiện thực chủ nghĩa để nhìn nhận đầy thô tục về hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm.


Ngựa và thiếu nữ tinh sương (1995)
sơn sầu trên giấy plast 26 x 16in

Trong khi tranh Đinh Cường từ hơn 5 thập niên qua vẫn đi theo con đường phi hiện thực, luôn mộng mị, nhẹ nhàng như thi ca lãng mạn. Anh luôn làm cho cuộc đời trong tranh anh bình an, đáng yêu, nhẹ tênh, dù cuộc đời của anh cũng trải qua không ít chìm nổi. Bức Ngựa Tinh Sương với một không gian sương hồng, mỏng manh cả người lẫn ngựa, đầy tính thơ và rất tượng trưng. Nó hoàn toàn phi hiện thực. Vậy mà một nhà thơ như Quỳnh Thi lại không nhìn ra vẻ thanh khiết của linh hồn bức tranh, lại dùng phương pháp liên tưởng hiện thực chủ nghĩa để đưa cái đẹp của bức tranh đi về hướng trần tục thô bỉ? Nếu coi đây là một lời bông đùa thì lời bông đùa không đúng chỗ này đã xúc phạm đến tác giả và nhiều người yêu nghệ thuật khác trên một trang bàn về nghệ thuật nghiêm túc và chuyên nghiệp như Da Màu.
May thay, có một nhà thơ khác, Hoàng Xuân Sơn, đã nhận ra ngay cái quá đáng trong lời bình của Quỳnh Thi, dù lời lẽ khá “hữu nghị”: “Trong sương hồng có ngựa hồng. Cỏ hồng, tóc và bờm quyện vào nhau một ma xát nhẹ nhàng e nảy sinh ra một tia mặt trời buổi hồng hoang chăng? Góp ý vui vui với anh Quỳnh Thi!”
Mong rằng, những gì tôi đề cập ở trên không làm mất đi tình cảm dành cho tác phẩm nghệ thuật của nhà thơ Quỳnh Thi cũng như “nhiều người xem” có cùng kiểu nhận xét “phản cảm” như trên mà Quỳnh Thi đã gom chung vào và thay mặt họ nhận xét.

Mùng 4 Tết con Ngựa 2014
Nguồn : tienve.org

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

NGUYỄN LƯƠNG VỴ - Năm Chữ Năm Câu

 


NĂM CHỮNĂM CÂU
Tập thơ thứ Tám của Nguyễn Lương Vỵ
Trình bày bìa: Lê Giang Trần
Trình bày trang trong: Tác giả
Chân dung tác giả: Họa sỹTrương Đình Uyên
Hình tác giả: Nguyễn QuếPhương
In tại nhà in: Number One Pringting
Wesminster - California - Tháng 01.2014
Copyright © 2014
by Vy Nguyen - Nguyen Que Phuong
Liên lạc tác giả: nguyenluongvy@yahoo.com

Trân trọng cám ơn Tác Giả gởi tặng

Căn phòng có ánh đèn vàng - Truyện dài NGUYÊN QUÂN


Căn phòng có ánh đèn vàng - Truyện dài NGUYÊN QUÂN
Tác phẩm thứ sáu của nhà văn - nhà thơ Nguyên Quân
Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn
Sách dày 160 trang
Giá bìa : 70.000 đồng

KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ TÌM ĐỌC

DU KHẢO PHƯƠNG BẮC của Trần Ngọc Bảo

Loạt bài DU KHẢO PHƯƠNG BẮC của Trần Ngọc Bảo  đã khởi đăng trên art2all.net với phần trình bày đẹp. Các bạn có thể click vào đường link dưới đây để xem.

http://art2all.net/chantran/chantran_tho/tranngocbao/dukhaophuongbac/dkpb1/dukhaophuongbac_1.html

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm: Sống để vẽ và yêu

Thethaovanhoa.vn) - Nguyễn Tư Nghiêm, người duy nhất đang còn sống trong bộ tứ "Nghiêm - Liên - Sáng - Phái", cựu sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông sinh năm Bính Ngọ 1918, năm Giáp Ngọ 2014 này, hoạ sĩ tuổi 96. Vẫn vẽ hàng ngày, đấy không phải là điều bất ngờ độc nhất của ông.
Nguyễn Tư Nghiêm cũng là hoạ sĩ hiếm hoi của nền mỹ thuật Việt Nam có bảo tàng riêng. Ông may mắn không chỉ vì sống thọ, minh mẫn khi tuổi gần thế kỷ, mà còn bởi 23 năm qua, Nguyễn Tư Nghiêm sống có đôi trong tình yêu bên bạn đời trẻ hơn gần 30 tuổi, đẹp và tận tâm. Chính nhờ bà mà ông duy trì được phong độ sáng tác bền bỉ.
Mối tình lớn của Nguyễn Tư Nghiêm
Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân (1910 - 1987) - bậc thầy tiếng Việt chơi với nhiều anh tài các lĩnh vực. Nguyễn Tư Nghiêm thường hay qua lại, chia sẻ tác phẩm mới, bà Vũ Thị Tuệ (1908 - 1996), phu nhân nhà văn, nấu món ngon lại mời "chú Nghiêm" đến.
Những năm bao cấp ấy, danh hoạ không có vợ, chẳng chú ý gì khác hơn quan hệ chú - cháu với Thu Giang. Ông bà Nguyễn Tuân sinh 8 con, 1 con trai mất lúc nhỏ, còn lại 3 trai, 4 gái. Cô út Thu Giang đẹp nhất, lại gắn bó bố mẹ nhất. Duyên mệnh nghệ thuật thật kỳ lạ. Bao thăng trầm, cuối cùng họ vẫn "tìm thấy nhau" tại Hà Nội - nơi họ đã gặp lần đầu, nơi bà Giang được sinh ra, là quê gốc.


Vợ chồng họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Thu Giang tại nhà riêng cuối tháng 12/2013. - Ảnh: Nguyễn Đình Toán  
Đó là mùa Thu 1991, Thu Giang trở ra Hà Nội, mùa đẹp nhất đất này là mùa có sinh nhật Nguyễn Tư Nghiêm. Thu Giang đến thăm, nhờ chú vẽ cho một bức chân dung. Và rồi nhiều chân dung ra đời, cả tranh nude.
Nguyễn Tư Nghiêm tỏ tình với Thu Giang: "Sinh lực tôi đã cạn kiệt, chỉ có tình cảm dành cho em".
Ông trao niềm tin khi thấy bà chăm chút tỉ mẩn cho bố mẹ, bố mất thì lại hầu mẹ già. Trong sự chịu thương chịu khó ấy, ông nhìn ra cả tính cách mạnh mẽ, quyết liệt. "Quanh tôi lúc nào cũng có nhiều phụ nữ, nhưng tôi chưa từng cưới và công nhận ai là vợ. Chỉ Thu Giang là vợ tôi". Hơn nửa thế kỷ sống độc thân tại gác 3 khu nhà nghệ thuật 65 Nguyễn Thái Học, Nguyễn Tư Nghiêm lọ mọ xách nước, tự mình bếp núc, ở và vẽ chật chội.
Cuối 1991, Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho cấp thêm nửa căn hộ tầng trệt nhà A1 khu tập thể Trung Tự (vốn là căn hộ của nhạc sĩ Trần Hoàn từng ở) để họa sĩ có không gian vẽ. Thu Giang bước sang quãng đời mới, là vợ danh hoạ, với trách nhiệm nặng mà chỉ ai rất can đảm mới dám dấn thân. Thu Giang thích hoa hồng, bà lãng mạn chải chuốt từ bé. "Thú chơi, ăn diện là do bố Tuân dạy tôi". Song Nguyễn Tư Nghiêm không tỏ tình bằng hoa hồng thường trực. Ông dồn tình cảm vào những bức tranh.
Năm 2003, cộng tiền bán hai căn nhà nhỏ ở Nguyễn Thái Học và Trung Tự, họ mua nhà ngõ phố Phan Bội Châu. Đây là nơi danh hoạ sống và vẽ.
Bảo tàng tranh Nguyễn Tư Nghiêm
Ngôi nhà 4 tầng kiến trúc Pháp ở 90 B2 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm là nơi gia đình nhà văn Nguyễn Tuân đã sống. Vợ chồng nhà văn đều từ trần mùa Hè, bà sau ông 9 năm. Con cháu trưởng thành đều có nhà riêng. Ngôi nhà gốc được gìn giữ làm nhà lưu niệm. Nguyễn Tuân biệt tài, kiêu bạc, khái tính, tinh sành, chết đi vẫn được nhắc nhớ bằng tác phẩm tinh hoa để lại. Ông "oách" cả khi "về cõi", bởi con rể là Nguyễn Tư Nghiêm. Họ cùng được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 1 (1996).
Theo quyết định thành lập do Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc ký, bảo tàng nhà văn Nguyễn Tuân ra đời ngày 29/12/2011, bảo tàng tranh Nguyễn Tư Nghiêm từ 18/1/2012 và họa sĩ Nguyễn Thu Giang là người phụ nữ duy nhất ở Việt Nam hiện nay là giám đốc 2 bảng tàng tư nhân. Bước qua 22 bậc thang gỗ sạm đen qua gần thế kỷ, người xem sẽ lên tầng 2. BT nhà văn Nguyễn Tuân gồm 2 phòng. Tường lối lên các tầng đều treo kín tranh Nguyễn Tư Nghiêm. Đối diện, gian nhỏ xíu bên trái, diện tích 6x9 ô gạch là phòng tranh mini như "bước đệm" để khách "trấn tĩnh" trước khi lên tầng 3 - BT tranh của danh họa. Gian nhỏ này vốn là... nhà tắm, bà Giang cho sửa lại. Nào hổ, ngựa, dê, chó, mèo, rắn... tranh con giáp là nét đặc sắc của hoạ tài Nguyễn Tư Nghiêm.

Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm tặng báo Thể thao & Văn hóa tranh ngựa bột màu trên giấy dó - giấy thủ công cổ truyền của Việt Nam. Trên tranh có dòng chữ: "Kì tư thiên thiếu âm quân hỏa sinh vận thái âm thấp thổ. Thuận hóa". Ông giải thích: Thấp thổ là màu vàng, ngựa là hỏa màu đỏ, hỏa thắng thổ, sinh thổ. Năm 2014 khí sinh vận là năm thuận hoá tốt lành.
Tại gian nhỏ này, hai bức tranh xác định được dấu mốc của đời ông. Bức vẽ Thu Giang với dòng đề "Kỷ niệm chỗ ở mới 1992" đánh dấu thời điểm ông có vợ và bìa cuốn Nghệ thuật vẽ tranh con giống cho Xưởng tranh nghệ thuật Việt Nam năm 1975 (trước đây đóng ở Tô Hiến Thành), đơn vị đặt ông vẽ 12 con giáp. Đây là dấu mốc của thể tài mà ông vẫy vùng, bung tỏa sáng tạo gần 40 năm nay.
Loạt tranh nude vẽ từ 1992 mang sắc thái mới đầy sức sống khoáng đạt. Người đàn bà một mình hay bầy thiếu nữ nude ở đầm sen - loài hoa ông thích - đều gây ấn tượng.
Từ tầng 2 lên, qua 10 bậc thang là "chiếu nghỉ", khách có thể dừng lại ngắm tranh. Lượng tranh nhiều đủ để quy mô BT rộng thêm 10 lần nữa.
Năm Ngọ, xin tranh Ngựa của Nguyễn Tư Nghiêm
Đến bảo tàng tranh Nguyễn Tư Nghiêm thì chỉ có tranh, không gặp được tác giả.
Ngôi nhà trong ngõ Phan Bội Châu bao bọc bằng những chậu cây xanh khuôn lại khoảng sân. Lạnh một chút thôi, vào phòng khách sẽ thấy ấm vì tình cảm của ông bà. Khoảng cách 28 năm giữa họ chưa khi nào là vấn đề. Vì bà sống với ông bằng sự trọng tài, tự nguyện gánh sứ mệnh bảo dưỡng tài năng lớn.
"Tôi không cho mình được phép ốm" - bà Giang cho biết... Nhà có cô giúp việc, bà vẫn trực tiếp nấu ăn, pha đồ uống cho ông. Hàng ngày, bà sang BT đến trưa về cho chồng ăn và dành buổi chiều ở nhà. Có sự kiện cần thiết, hay đặc biệt, bà mới đi, còn ông thì không.
Ông tránh đám đông, khách khứa, ẩn mình đến mức ngay trong giới mỹ thuật, không ít người nghe tên ông cứ tưởng “người muôn năm cũ”. Ông hạn chế tiếp khách tại nhà, ít ra ngoài, tuổi cao chỉ là một lý do "thông thường" như những lão niên hay đưa ra nhằm biện minh cho mọi sự. Cái chính là ông tiếc thời gian. Sự nghiệp đồ sộ danh tiếng thế mà ông vẫn "tham". Tham sống để có thêm thời gian vẽ. Sự tham ấy, ở tuổi 96, chất tụ cái ham sáng tạo và đam mê cống hiến. 


Người ta thường ví tuổi già là buổi chiều của cuộc đời. Tuổi của ông thì đã sang "buổi tối" lâu rồi, vậy mà ông vẫn vẽ mỗi chiều. Nếu có gì làm gián đoạn, mất hứng, không vẽ được thì ông sẽ cáu gắt.
Lên - xuống gác là chuyện thường với Nguyễn Tư Nghiêm. Ông bước đi dứt khoát, dù lưng hơi cong, không cần gậy. Da trắng hồng, tóc bạc trắng, hơi nặng tai song ông rất minh mẫn, hóm. Ông xưng "anh - em" dịu dàng với vợ và luôn tỏ rõ sự tin cậy, phó thác cho Thu Giang, tham vấn ý bà khi quyết việc gì.
Những bức tranh ông vẽ tặng hoặc đặc biệt thích, danh hoạ đề rõ góc trái, mặt chính tác phẩm, bằng bút vẽ: "Sưu tập Thu Giang". Đó vừa là khẳng định tình cảm sở hữu, vừa là "nhắc nhở" bà phải giữ, không được bán, dù ai trả giá nào.
12 con giáp của Nguyễn Tư Nghiêm

Nguyễn Tư Nghiêm vẽ con giáp theo năm và cảm hứng. Nhưng năm nào ông cũng có tranh "nghênh Xuân" từ đầu Đông trước. Lúc vẽ đơn, lúc vẽ nhóm, khi lại hoạ cả 12 con giáp, nên dù chuyên sâu thể tài, ông vẫn làm nên sự đa dạng, sinh động. Ưu ái tuổi cầm tinh, ông hay cho con ngựa đứng giữa tranh, các con khác quây quanh. Những bức vẽ ngựa năm 1966, Bính Ngọ, năm Nhâm Ngọ 2002 vẫn được giữ gìn ở Bảo tàng Nguyễn Tư Nghiêm.
Đất Nam Đàn tự hào sinh ra Nguyễn Tư Nghiêm. Chàng trai xứ Nghệ ra Hà Nội học và gắn với "đất thành" 80 năm. Ông không có con. Là con thứ 4 trong số 6 anh em, Tư Nghiêm là người duy nhất theo nghệ thuật trong dòng họ. Chị gái ông, bà Nguyễn Thị Thế (107 tuổi), đang sống cùng con cháu ở phố Đoàn Nhữ Hài. Giờ chỉ còn 2 chị em, chị vẫn thi thoảng qua thăm em Nghiêm. Còn em thì mong sẽ sống đến tuổi của chị.
Trên chiếc ghế mây có lưng tựa được kê gối, đệm, danh hoạ thường ngồi, mơ màng ngắm vườn hoặc vợ, hay xem ti vi lúc uống cà phê pha sữa Ensure. Bà cũng đích thân làm việc nhỏ nhất cho ông. Xưa cắt tóc tỉa râu cho bố (Nguyễn Tuân), thì sau này làm cho chồng. Lại thêm việc cắt móng, gội đầu, tắm, thay đồ. Cường độ lao động cao, bà vẫn mềm mỏng, ân cần. Mỗi chiều ông vẽ, bà đều chuẩn bị màu, giấy bút.
Người đầu tiên xem tranh ông là bà, từ khi họ chung sống. Chính bà bảo quản, lưu trữ, phân bố tác phẩm của chồng. Bà cho lắp máy hút ẩm, điều hoà nhiệt độ, camera ở tất cả các phòng tại nhà và bảo tàng. Tiền điện mỗi nơi luôn từ 4 triệu/tháng trở lên.
Hoạ phẩm ông dùng đều là hàng Pháp do bà Giang mua về. Danh hoạ ưa dùng màu mạnh, sử dụng nguyên bản. Ông điêu luyện vẽ nhưng "thơ ngây" với cuộc đời. Ví như cầm 100 USD ra đầu phố, gặp cô bánh mì, ông mua vài cái rồi... đi về, không lấy tiền trả lại.
Nguyễn Tư Nghiêm, bằng những gì tôi thấy, là người đàn ông yêu và được yêu. Ông đã có được điều quý giá như đại văn hào Victor Hugo quả quyết "Hạnh phúc lớn nhất trên đời là niềm tin vững chắc rằng chúng ta được yêu, được yêu vì chính bản thân ta, hay đúng hơn là bất chấp bản thân ta".
Bất chấp thời gian và thử thách, họ vẫn bên nhau. Nguyễn Tư Nghiêm có đùa là ông còn muốn vẽ tranh ngựa năm 2026.
Vi Thùy Linh
Thể thao & Văn hóa Xuân Giáp Ngọ