Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014

Marcel Reich-Ranicki, Một lời biện hộ cho thơ


(Chép lại từ trang : http://drtruong.wordpress.com/2002/09/03/marcel-reich-ranicki-mot-loi-bien-ho-cho-tho/)

Xin cứ nói thẳng: Thơ ư, có thật cần không? Hàng triệu người sống không thơ mà có sao đâu. Họ chẳng biết gì đến thơ mà vẫn hoàn toàn hạnh phúc. Họ chẳng thấy thiếu gì hết và còn tránh được khối điều phiền toái. Bởi thơ là một thể loại văn chương vô cùng đáng ngờ – và có đủ lí do để nhắc nhở ta hãy coi chừng nó. Trong văn xuôi người ta đánh bài ngửa, còn trong thơ nhiều khi lại đánh lận con đen. Thơ vốn luôn là chốn dung thân của những kẻ chẳng có gì đáng nói song lại thích được người khác nghe, những kẻ chuộng hát bởi không biết nghĩ, những kẻ buộc phải gieo vần bởi viết là thứ rào cản mà họ không sao vượt nổi.
Cái không tiêu thụ nổi trong văn xuôi lại được nhiều tác giả bày bán xổi trong thơ và cũng tìm được khách mua. Điều quá rồ dại để có thể nói xuôi thì họ lại thích đem ra để ngâm nga. Phải chăng thi sĩ là những ca sĩ giọng nam cao trong giới cầm bút? Có một điều chắc chắn là âm giai êm ái của ngôn từ – hay ít ra là cái được cho là êm ái – có thể dễ dàng che đậy sự nghèo nàn của trí tuệ. Ai trịnh trọng ngâm và xướng, kẻ đó không cần sợ bị chất vấn về ý nghĩa và mức độ thông minh trong lời lẽ của mình.Vâng, người ta yêu cảnh mờ tỏ và cái bí ẩn hơn là sự rõ ràng và tỉnh táo, tin vào bùa chú hơn vào phân tích. Những nhà tư tưởng ở đất nước này được đánh giá cao nhất khi họ làm thơ và những nhà thơ trước hết được ca ngợi khi họ không còn biết suy nghĩ. Việc lợi dụng hình thức thơ để lẩn tránh vào sự không rõ ràng và mơ hồ, để rút lui vào một tình trạng không thể kiểm soát và xa vời đến tận các huyền thoại về Đức Thánh mẫu đã và có lúc vẫn đang còn là một tai ương cố hữu trong nền văn học của chúng ta.Và như vậy, ở Đức, thơ là chốn ẩn mình của những tác giả có tài và bất tài, song đều chung nhau ở một điểm là ít dính dáng đến trí tuệ. Và của một công chúng dễ dãi chấp thuận yêu cầu: đến đây để hát theo, chứ không phải đến đây để cùng suy ngẫm! Sở dĩ chúng ta, dân tộc của các thi sĩ và các nhà tư tưởng, lại có được cái quan niệm rằng người ta chỉ có thể hoặc là thi sĩ, hoặc là nhà tư tưởng chứ khó lòng là cả hai, là do ảnh hưởng của một nhân vật lớn, người đã gieo rắc biết bao tai hoạ bằng vô số ý kiến của mình về văn chương, đặc biệt là về thơ và phê bình.

Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

Hai bài thơ tháng 7



Giả danh

Trùm đầu bằng sự ngu muội
Ký ức rêu xanh
Hàng ngày tôi hiện diện ở đây
Như kẻ đánh mất hình bóng

Ở cõi trên
Sự ám ảnh bất tận
Là nỗi lãng quên

Như được một lần bày tỏ cùng sự thật
Kẻ ẩn mình ăn năn

Không còn thời gian cho sự hối lỗi
Cuộc đời đắm mê ngoài tầm bắn của quá khứ

Trình bày tôi kẻ giả danh
Đội mũ xéo






Khi mùa thu


Khi mùa thu đi ngang qua lòng dửng dung
Lá vàng rơi mặc
Ẩn dấu trong tận cùng
Sự thèm thuồng thiếu nữ

Ngày nằm ngang khúc đường ray
Thưởng thức nỗi tàn hơi giờ chặp tối
Tung hết lên trời
Không đội mũ
Không che mặt
Đêm trần ai
Bẽ bàng sự giả tạo

Như lớp vôi trên mặt người đàn bà
Vỡ ra
Khi mùa thu tới


Từ Hoài Tấn

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Thơ LÊ VĂN NGĂN : Giây phút chạnh lòng


Về miền "ăn cay, nói nặng"


Chiều trên sông Hương.
Cố đô Huế trong tôi như một giấc mơ về quê hương, một miền đất mộng mơ, "ăn cay, nói nặng" giữa miền trung nhiều phong ba, bão táp; giàu tình, giàu nghĩa. Cuộc sống, con người nơi đây khắc nghiệt mà vẫn giữ vẹn nguyên nét thơ trữ tình, hút hồn lữ khách như thi sĩ Hàn Mặc Tử từng phải ngẩn ngơ: Sao anh không về chơi Thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên...
"Ðặc sản" đất cố đô
Người ta vẫn dùng nhiều ngôn từ để nói về Huế, nhưng có lẽ cái tên "miền mộng mơ ăn cay, nói nặng" (tên một tập tản văn) vẫn đem lại cách nhìn trọn vẹn hơn cả về Huế và "chất Huế". Nguyễn Minh Lan, cô sinh viên đang tuổi đôi mươi, chào đời ở cố đô nhưng lớn lên tại Hà Nội vẫn nhớ mãi những câu chuyện lắng đọng nỗi nhớ quê hương: "Huế rất lạ, khác xa với những miền quê khác trong ký ức tôi. Bà nội lúc còn sống vẫn nói dân xứ tôi ăn cay nên nói cũng "cay", cũng "nặng" - không phải nặng ở cái giọng mang ngữ điệu địa phương mà nặng về nghĩa, về tình". Khách vãng lai đến Huế vẫn thường rỉ tai nhau một câu chuyện vui về giọng Huế - thứ ngôn ngữ "như một tiếng nước ngoài nào đó": Một bà hàng xóm báo tin dữ với người khách đến thăm nhà: "Cấy dôn nó mới đánh chắc ngoài cươi" - người nọ ngớ người không hiểu gì. Mãi sau mới biết: hai vợ chồng nhà nọ cãi nhau và va chạm ngoài sân, thế là khách đành ngậm ngùi đi về. Tản văn của Trần Tuyết Hoa cũng từng viết: Giọng Huế là một thứ giọng đặc biệt, khó nghe nhưng khi nghe được có người lại thích. Thậm chí còn hơn cả thích. Các cô gái Huế khi thỏ thẻ thì ngọt ngào đến nỗi "Học trò trong Quảng ra thi, nghe cô gái Huế chân đi không rời!". Nhiều người còn hay tếu táo đùa nhau: "Chọc các cô gái Huế mắng nghe sướng tai, vì họ mắng mà cứ như là hát".

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

MAI THẢO : Một Vài Kỷ Niệm Với Bùi Giáng







 

Nhiều buổi chiều Sài Gòn, tôi chẳng còn có thể nhớ đích xác vào những năm nào, đâu như năm 1962, đâu như năm 1965 (nếu sai, nhờ hai anh Cung Tiến, Phạm Công Thiện nhớ lại dùm cho), tôi thường được mời tới những họp mặt ăn nhậu trên căn lầu ngăn nắp, thoáng mát của thầy Thanh Tuệ ở đường Lý Thái Tổ. Mỗi họp mặt với Thanh Tuệ, hồi đó là giám đốc của nhà xuất bản An Tiêm và còn là nhà sư trẻ tươi tắn chưa cởi áo hồi tục, thường vì một cuốn sách. Một cuốn sách mới, vừa in xong chưa ráo mực. Và trước khi gởi sách vào nắng mưa đời, họp mặt An Tiêm với thân hữu là một tiệc rượu lạc thành cho sách. Những họp mặt vì sách và do sách đó thường có tôi, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Công Thiện, đôi khi Nguyễn Ðình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, và đương nhiên nhân vật chủ chốt là tác giả sách là Bùi Giáng.

Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ vì một tấm lòng liên tài đặc biệt, chỉ mê thích thơ văn Bùi Giáng, chỉ in Bùi Giáng, dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản trước mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đã in đêm in ngày, in mệt nghỉ, vì những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của Bùi Giáng, cõi văn cõi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm, ngôn ngữ và tư duy của Bùi Giáng bấy giờ hiển lộng tới không bến không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng ông cũng vậy.



Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

NHỮNG TÌNH KHÚC ĐỊNH MỆNH CỦA NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG

Nhạc sĩ Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Ông sanh năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) ở vùng hạ lưu sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam. Cha ông là một nhà giáo sống thầm lặng và nghiêm khắc. Nhưng tâm hồn của chàng trai Thiện Lộc thì rất lãng mạn, yêu thích văn nghệ nên đã tự học nhạc, và bắt đầu sáng tác những bài hát đầu tiên lúc vừa 15 tuổi.
Xung quanh nhà ông có trồng rất nhiều tre trúc, nên từ nhỏ ông đã yêu mến những âm thanh kẽo kẹt của tiếng tre va chạm với nhau và sau này đã chọn tên là Trúc Phương để nhớ về thời thơ ấu của ông với những cây tre trúc. Cuối thập niên 1950, ông sinh hoạt văn nghệ với các nghệ sĩ ở ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Bình một thời gian ngắn, rồi lên Sài Gòn dạy nhạc và bắt đầu viết nhạc nhiều hơn. Bài hát “Chiều Làng Quê” được ông sáng tác vào thời gian này để nhớ về khung cảnh thanh bình ở làng xóm của ông ,một bài khác cũng rất nổi tiếng với giai điệu trong sáng, vui tươi là “Tình Thắm Duyên Quê”.
Không tiền bạc và không một ai thân quen ở đô thành Sài Gòn, ban đầu Trúc Phương ở trọ trong nhà một gia đình giàu có bên Gia Định và dạy nhạc cho cô con gái của chủ nhà. Không bao lâu sau thì cô gái này đã yêu chàng nhạc sĩ nghèo tạm trú trong nhà, vì con tim cô ta đã dần dần rung động trước tài năng của Trúc Phương.
9 Truc Phuong 1Biết được chuyện này, ba mẹ của cô gái bèn đuổi Trúc Phương đi nơi khác. Sau chuyện tình ngang trái này, Trúc Phương càng tự học thêm về âm nhạc và càng sáng tác hăng hơn. Nhưng những bài hát sau này lại nghiêng về chủ đề tình yêu đôi lứa với những nghịch cảnh chia lià.

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

VÈ TRÁI CÂY

Trương Vĩnh Ký     

Tr Vinh Ky 1           

Xem video clip về bài vè ở đưới đây :
https://www.youtube.com/watch?v=espi70eLDws&hd=1
 
Nghe vẻ nghe ve nghe vè trái cây
Dây ở trên mây là trái đậu rồng
Có vợ có chồng là trái đu đủ
Chặt ra nhiều mủ là trái mít ướt
Hình tựa gà xước vốn thiệt trái thơm
Cái đầu chơm bơm là trái bấp nấu
Rủ nhau làm xấu là trái dái dê
Ngứa mà gãi mê là trái mắc mèo
Khoanh tay lo nghèo là trái bần ổi
Sông sâu chẳng lội là trái mãng cầu
Chẳng thấy nàng dâu thật là trái cách
Trong ruột ọc ạch là trái dừa xiêm
Hễ chín thâm kim chuối già chuối xứ
Tam tung tự tứ là trái dưa gan
Vốn ở miền Nam là trái bí rợ
Mẹ sai đi chợ vốn thiệt trái dâu
Ở những ao sâu là trái bông sún
Chẳng nên lễ cúng vốn thiệt trái sun
Nhỏ mà cay hung thiệt là ớt hiểm
Đánh túc cầu liễm vốn thiệt trái me
Nắng mà chẳng che là trái rau mát
Rủ nhau chà xát vốn thiệt trái chanh
Nhỏ mà làm anh trái đào lộn hột
Ăn mà chẳng lột vốn thiệt trái tiêu
Thổi nghe ú lên là trái cóc kèn
Rủ nhau đi rèn là trái đậu rựa
Đua nhau chọn lựa là trái dành dành
Cam ngọt cam sành chuối già chuối xứ
Không gì lịch sự là táo với hồng
Những gái chưa chồng muốn ăn mua lấy.

Sưu tầm từ Internet