Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Bùi Giáng "chơi"

  •   Nhật Chiêu
  • Thứ sáu, 09 Tháng 1 2015 06:10
Con người và thơ ca Bùi Giáng dường như ăn nằm với một chữ “Chơi”.
Một cuộc chơi lu bù, bất tận, điên đảo, “tục tĩu mà thần tiên”.
Nói theo ngữ ngôn của ông là: trùng du điệp hí, anh nhi hí, đồng tử hí, trần gian du hí, thần thông du hí, ngày tháng ngao du, đùa với tuyết rỡn với vân, tót vời cuộc chơi, mở trận đùa rỡn từng cơn cơn cuộc cuộc, chơi theo lối nghịch hành, chơi trùng khơi trí hải….
Chơi thiên nhiên, chơi đời, chơi thơ, chơi huyền thoại, chơi kinh điển, chơi giai nhân, chơi hỗn độn, chơi thiêng liêng, chơi sáng tạo. Và chơi cái chết.
Thế giới đầy sáng tạo này là Vishnu Lila, trò chơi của Vishnu theo người Ấn Độ. Lila là chơi đùa, nhảy múa. Riêng cõi thơ này là Bùi Giáng Lila.
Đừng đọc thơ Bùi Giáng. Hãy chơi đùa và nhảy múa cùng thơ ấy.
Đó là thơ của Hồn du mục, thơ của Đời vui đón hội và thơ của Ngữ ngôn cuồng dại.
HỒN DU MỤC
Tập Mưa Nguồn là thơ của du tử, mục tử hiểu theo mọi nghĩa. Trang thơ mở đầu đã ngân lên hồn du mục:
Cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng
Hồn du mục cũ xa gần hử em
Bùi Giáng từng chăn dê chăn bò vào mấy năm cuối thập niên 40 vào cuối thế kỷ trước. Có thể thấy rõ việc làm đó cũng là trò chơi, đúng cốt cách Bùi Giáng.
Và chắc chắn nhà thơ mục tử xem chuyện chăn dắt ấy có hẳn một tư cách khác. Con người là mục tử chăn giữ “Tính thể”. Ý tưởng ấy Heidegger bày tỏ trong Thư về Nhân bản luận, một tác phẩm mà Bùi Giáng rất tán tụng.
Không chỉ cánh đồng của du mục là cánh đồng mà thân thể cũng là cánh đồng theo cách nói của Chí Tôn ca (Bhagavad Gita, khúc 13).

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

Sơ thảo tiểu truyện Bùi Giáng (*)

  •   Đặng Tiến
  • Thứ năm, 01 Tháng 3 2012 17:09
                                                                                      Des lisières lointaines
                                                                                        les cerfs ont bramé
                                                                                            (Từ ven rừng xa
                                                                                            tiếng nai gào gọi)
                                                                                               Apollinaire
Sơ thảo, gọi như vậy vì tính cách sơ lược của bài viết.
Vì một số dữ kiện nêu lên, không chắc chắn, dù cho người viết hết lòng tìm căn cứ. Chung quanh Bùi Giáng có nhiều giai thoại, dần dần trở thành huyền thoại, đồng thời với những tư liệu có khi không hợp lý, hay mâu thuẫn, không dễ gì kiểm chứng.
Sơ thảo, vì lối biên tập còn rườm rà, khi chúng tôi cố tình muốn đưa ra nhiều tư liệu, có lúc ngoài lề, để người khác có thể men theo và truy cứu thêm, về chuyện này hay chuyện khác.
Sơ thảo, tóm lại, không phải là lời từ tốn vào đề chiếu lệ, mà là lời mời gọi giới văn học và độc giả cải chính, bổ sung đào sâu hay nâng cao.
 Bùi Giáng đứng tên trên khoảng 60 đầu sách, chủ yếu là 14 tập thơ, xen kẽ 19 dịch phẩm, 6 sách giáo khoa đầu tay, phần còn lại là biên khảo về triết học và thơ. Hiện nay còn khoảng 10 tập thơ và nhiều văn bản dịch, chưa in... Bùi Giáng có vẽ tranh và có để lại tác phẩm, chủ yếu là ký họa.
Trên cơ bản, Bùi Giáng là nhà thơ.
*
*      *
Bùi Giáng là tên thật.
Có khi sử dụng nhiều bút danh khác: Vân Mồng, Bùi Bàng Giúi, Bùi Báng Giùi, Báng Giùi, Trung Niên Thi Sĩ, Ðười Ươi Thi Sĩ.
Ông sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926, Bính Dần, tại làng Thanh Châu, nay đổi thành Duy Châu vì thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam(1).
Thân phụ là Bùi Thuyên, tục danh Cửu Tý, địa chủ giàu có; thân mẫu là Huỳnh Thị Kiền, còn tên là Hai. Cụ Bùi Thuyên có hai đời vợ, bà trước là con Phạm Tuấn, là một trong năm tiến sĩ đồng khoa 1898 cùng quê Quảng Nam, gọi là Ngũ Phụng Tề Phi(2). Bà mất sớm khi hạ sinh người con thứ ba. Bà sau là cháu nội cụ Hoàng Văn Bảng, em ruột Hoàng Diệu, Phó bảng khoa 1853, Thượng thư Bộ Binh, Tổng đốc Hà Ninh, tuẫn tiết tại Hà Nội năm 1882. Bà sinh được hai gái và bảy trai. Bùi Giáng là con thứ năm, kể cả con bà mẹ trước, nên còn tên là Sáu Giáng.
 Những chi tiết này chứng tỏ Bùi Giáng xuất thân tự một dòng họ gia thế. Họ này gốc Nghệ An, di dân vào đây từ đời Hồng Ðức(3)

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Khi" Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn"



Tượng Đại thi hào Nguyễn Du.
Tượng Đại thi hào Nguyễn Du. 
NDĐT- Ngày hôm nay, 3-1, đúng 250 ngày sinh Nguyễn Du. Năm 2015 là năm UNESCO lần đầu tiên tổ chức Lễ kỷ niệm Nguyễn Du với tư cách là Danh nhân văn hóa thế giới.
Thời gian càng lùi xa, vẻ đẹp của Truyện Kiều càng hiện lên rực rỡ, tư tưởng của Nguyễn Du càng bộc lộ sự thâm thúy, sâu sắc, kể cả những điều mà mới đây, chúng ta từng coi là hạn chế. Đất nước văn hiến đã sinh ra Nguyễn Du và Truyện Kiều, Truyện Kiều đã làm cho đất nước càng thêm văn hiến.
Nguyễn Du trong và ngoài thời đại của ông
Thủy tổ họ Nguyễn ở Tiên Điền tên là Nguyễn Nhiệm, hiệu Nam Dương, vốn quê ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai (Hà Nội); một dòng họ có nhiều người làm quan cho nhà Mạc và nhà Lê.
Tính từ cụ Nam Dương đến thân phụ Nguyễn Du, là đời thứ sáu.
Khi cụ Nguyễn Nhiệm vào Hà Tĩnh, làng Tiên Điền khi ấy có tên là Tân Điền (ruộng mới khai phá), trước đó là U Điền (bãi rậm) và Vô Điền (không có ruộng).
Nguyễn Du tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh ngày 23-11 năm Ất Dậu 1765, tức ngày 3-1-1766 dương lịch tại phường Bích Câu, Thăng Long.

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

Về quê ăn cưới

 
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
 
 
          Chỉ sắp xếp được ba ngày cuối tuần về quê dự đám cưới đứa em họ, tôi đắn đo không biết nên đi bằng phương tiện gì. Dịp hè, về ăn giỗ bà nội, nghe lời khuyên của Mai Sơn, lần đầu tiên tôi đi máy bay về Chu Lai. Tuyến đường này dùng máy bay ATR72, chỉ hãng hàng không quốc gia khai thác, không cạnh tranh, nên giá vé cao hơn về Đà Nẵng. Mai Sơn còn dặn kỹ, ra ga nhớ lên xe buýt ngay, kẻo không có chỗ ngồi, phải đứng suốt 40 cây số đường về thành phố Quảng Ngãi! Thật may mắn, hôm đó tình cờ gặp Lương Minh Cừ đi cùng chuyến bay ra phát bằng cho sinh viên tốt nghiệp Đại học Marketing, anh cho bạn đồng môn đi nhờ xe về thành phố, còn dặn tài xế đưa về tận trong quê cách hơn 20 cây số.
 
          Lần này tiết kiệm, vào mạng thử tìm hàng không giá rẻ đi Đà Nẵng. “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”: hãng VietJet Air tung ra loạt vé khuyến mãi giá 10 ngàn đồng. Cộng lệ phí sân bay, cước hành lý, đặt chỗ trước… tất tần tật chỉ 215 ngàn, rẻ bằng một phần ba vé tàu lửa! Chuyến bay vào sáng sớm, đề phòng trường hợp “Sorry Airlines”, tôi ra ga Sài Gòn mua sẵn vé tàu Đà Nẵng – Quảng Ngãi chuyến buổi chiều. Biết ý mình, máy bay khởi hành đúng giờ, về Đà Nẵng còn kịp thời gian thăm nhà hai đứa em và đến chùa Tường Quang uống cà-phê, nhìn mưa phùn, tán gẫu với Nguyễn Đông Nhật.
 

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Những khúc quành của văn học nữ Việt Nam đương đại


Đoàn Ánh Dương - 
 
Chiến tranh kết thúc, rồi đất nước đổi mới, cùng với bước ngoặt của cả dân tộc, văn học nữ Việt Nam cũng từng bước chuyển mình. Cũng như tiếng súng chưa hẳn đã chấm dứt ngay sau ngày 30/4 lịch sử, văn học mươi năm sau ngày đất nước thống nhất cũng chưa hẳn rời xa nếp cũ. Bắt đầu bằng những cách tân trong thơ, rồi xen gài giữa truyện ngắn và tiểu thuyết, nhất là với truyện ngắn, văn học nữ dần định hình diện mạo từ sau Đổi mới (1986). Hướng tới những truyện ngắn đặc sắc của các nhà văn nữ giai đoạn này, phần tinh túy làm nên bản lai diện mục của văn học nữ giai đoạn, chúng tôi muốn phác dựng trước hết cái không khí đổi mới chung của văn học nữ, nơi ở trong đó, truyện ngắn nữ có được sự bứt phá, làm nên một tư trào, vừa xác lập hình ảnh mới về phụ nữ vừa đột kích vào những cách tân về nghệ thuật.
Ý Nhi, với tập thơ Người đàn bà ngồi đan (1985), đã tạo một bước ngoặt để đưa thơ từ cộng đồng trong đời sống chiến tranh trở về với cá nhân trong đời sống dân sự. Không có thành tựu từ trong chiến tranh, Lý Phương Liên và Dư Thị Hoàn, ngay trong những sáng tác đầu tiên của mình, cũng cùng cất tiếng nói cá nhân mà Ý Nhi chú ý. Họ thực sự là những nhà thơ nữ đầu tiên góp tiếng nói vào đổi mới (văn học). Ở văn xuôi, Lê Minh Khuê là nhà văn chú tâm vào những đổi mới quan niệm và bút pháp nghệ thuật. Từ Cao điểm mùa hạ (thập kỷ 70) đến Một chiều xa thành phốBi kịch nhỏ (thập kỷ 80 - 90), Một mình qua đường (những năm 2000), rồi mới đây nhất là Nhiệt đới gió mùa (2012), Lê Minh Khuê đã luôn nhịp bước cùng với văn học đương đại, trở thành một đại diện cho những trăn trở và biểu hiện của văn học nữ Việt Nam suốt mấy chục năm này. Song trước và cùng với Lê Minh Khuê, nỗ lực đổi mới văn học nữ còn có sự góp sức đáng kể của Dương Thu Hương và Phạm Thị Hoài, hai nữ nhà văn cũng chỉ xuất hiện trước thềm Đổi mới và nhanh chóng có thành tựu.

MỘT QUAN ĐIỂM ĐÁNH GIÁ VỀ NGUYỄN ÁNH VÀ TRIỀU NGUYỄN


Trần Văn Chánh

    Trong lịch sử cận đại Việt Nam, Nguyễn Ánh tức vua Gia Long là một trong những nhân vật phức tạp, cũng giống như triều đại Nguyễn (1802-1945) do ông dựng nên, đã từng nhận nhiều sự đánh giá khác nhau của lớp hậu sinh, và trở thành đề tài tranh luận kéo dài hơn nửa thế kỷ nay trong giới sử học, tính từ năm 1954 trở đi. Như thế, không phải bản thân vua Gia Long có gì phức tạp, mà vì sự nhận thức khác nhau làm cho vấn đề trở nên phức tạp, trong khi sự kiện, con người lịch sử trước sau vẫn chỉ bấy nhiêu đó mà thôi. Phức tạp, nhưng nếu trình bày hết ra một cách trung thực dựa trên cơ sở sử liệu khách quan và không để cho quan điểm chính trị nhất thời xen vào chi phối thì cái phức tạp kia cũng tức khắc trở thành đơn giản. Điều này có nghĩa, sự việc thế nào cứ để cho ra thế ấy, không nên để lúc vầy lúc khác tùy thuộc vào cặp kính màu ý thức hệ khiến người ta không còn giữ được thái độ khách quan, khoa học.

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

THƠ ĐẦU NĂM MỚI 2015



THƠ ĐẦU NĂM




Sáng rồi, dậy

Đừng có quậy

Yêu trần gian

Đừng ngọ nguậy



Hoa đẹp đầy

Đường vui đây

Xuân thắm thiết

Chén rượu say



Năm mới, dậy

Nhìn cuộc đời

Mời em đẩy

Cửa lòng tôi


Từ Hoài Tấn