Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

PHAN CHU TRINH: MƯỜI ĐIỀU BI AI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Mỗi người Việt nên nghe Chí sĩ Phan Chu Trinh và hành động !


 Hơn 100 năm trước, chí sĩ Phan Chu Trinh, người đã từng sang Nhật, Pháp có dịp nhìn lại xã hội VN, ông đã viết ra những lời tâm huyết này.

100 năm sau, VN đã thay đổi được những gì? Mời các bạn cùng suy ngẫm. 


MƯỜI ĐIỀU BI AI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM - PHAN CHU TRINH:

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.

2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.

3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.

4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.

5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.

6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.

7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.

8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.

9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.


10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v…


Sưu tầm từ Internet

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

'Nổ" để nâng 'giá trị', thật nguy hiểm!

Thethaovanhoa.vn) - Văn hóa là cái phân biệt con người với loài vật. Con người tương tác với môi trường tự nhiên, với xã hội và với tự thân vì có ý thức, nên tạo thành văn hóa.
Văn hóa là thuộc tính của cả loài người nên không cộng đồng nào, cá nhân nào là không có văn hóa. Văn hóa là dấu ấn của sự sinh tồn, là tập tính do thói quen, do sự tập nhiễm của hành vi và ý thức từ khi sinh ra đến lúc chết đi; từ bản thân, đến gia đình và xã hội.
Đó gọi là tập quán, là nếp nhà (gia phong), và dân tộc tính đặc trưng của một tộc người có trải nghiệm chung về phong thổ và lịch sử. Vậy thì, cái mà ngày nay chúng ta hay gọi “văn hóa nổ” cũng khó đứng ngoài sự tập nhiễm đó.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn: “Nổ” là một phức cảm tự ti
Điều quan trọng chúng ta không được quên, rằng văn hóa là nhân tạo, có quy trình thành, trụ, hoại, không. Cho nên nói đặc trưng văn hóa chỉ là nhấn mạnh, đề cao hoặc phê phán một số những nét đặc thù do nhân tạo và cũng có thể chuyển hóa. Văn hóa nào cũng là những chọn lựa mang tính lịch sử và có thể giải thể bằng những quyết định và thay đổi trong hành vi.
Chẳng hạn cái gọi là “văn hóa nổ” chỉ là sự khoa trương, tự đánh bóng, tự đề cao bằng lời nói về tự thân. Nổ có nghĩa là bùng lên, phá bung ra và gây tiếng động lớn. Nổ là văn hóa nói. Người Việt có những thành ngữ nói khoác, nói phét, nói dóc, nói láo, nói trạng, nói như khướu, nói như vẹt... Hàng trăm cách diễn tả, rất tế nhị và rất tinh vi.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn
Nổ là gây ồn ào, gây tiếng động quá đáng để khoa trương một cái rất ít thực chất. Nguyên nhân là do phức cảm tự ti, cảm thấy mình thua kém người khác nên biểu hiện bằng bề trái của nó là muốn hơn người, đè người (phức cảm tự tôn).
Hình ảnh tiêu biểu của nổ là cái pháo, tiền thân của thuốc súng và là một trong bốn phát minh vĩ đại của người Trung Quốc. Pháo đặc biệt dùng trong dịp Tết để đuổi ma quỷ, tức là nổ lớn cũng đủ đe dọa các các loài yêu tinh quỷ quái.
Văn hóa nổ của Việt Nam có thể tiêu biểu là bài thơ của Nguyễn Hữu Chỉnh (1741-1788) làm khi mới 9 tuổi, lúc theo cha tới mừng tuổi thầy đồ. Bài Vịnh cái pháo như sau: “Xác không vốn những cậy tay người/Bao nả công trình, tạch cái thôi!/Kêu lắm lại càng tan tác lắm/Thế nào cũng một tiếng mà thôi”.
Chỉnh là trí thức Bắc Hà, bỏ nhà Lê và chúa Trịnh để vào Nam phò anh em nhà Tây Sơn nhưng sau cũng bị vua Quang Trung cho tướng là Vũ Văn Nhậm giết phanh thây và ném cho chó ăn.
Pháo nổ là bản thân cũng tan tành. Bạo phát đi liền với bạo tàn. Bạo động với người khác chính như việc bạo hành với bản thân. Hình ảnh của những thành viên bạo động cuồng tín đeo bom cảm tử là hình ảnh đương đại của việc này, muốn hành động gây sức ép với đối phương và dư luận.
Từ ngoài gây nổ gọi là bộc phá (explosion), tuy nhiên cái giá phải trả chính là sự nội phá (implosion), tức là hủy diệt tự thân. Nhà Phật dùng chữ nghiệp (karma) để chỉ về luật nhân quả. Karma chính là hành động tạo ra hậu quả. Nguyễn Du trong Truyện Kiều có một câu như một định luật mang tính khoa học: “Càng gay gắt điệu, càng tê tái lòng”.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Lợi: Trong nghiên cứu khoa học cũng “nổ”
“Nổ” là cách nói dân gian để chỉ những điều nói sai/nói quá sự thật, tức nói những điều không có. Nói năng kiểu đó vào những lúc trà dư tửu hậu, trên bàn nhậu, bên bạn bè, người thân chỉ để nhằm mục đích mua vui, gây sảng khoái thì cũng không chết ai. Nhưng “nổ” còn để tăng “uy tín”, tăng “giá trị” của mình, để đạt được những mục đích khác nhau thì quả là rất nguy hiểm.
Ngày nay có nhiều thành ngữ hiện đại để chỉ ra hiện tượng đó, như “Nổ banh nhà lầu”, “Nổ văng miểng”, “Nổ banh xác”... Trong nghiên cứu khoa học xứ ta cũng thường gặp hiện tượng này, dưới muôn hình vạn trạng.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Lợi
Có vị tiến sĩ sử ở một trường đại học nọ, khi viết sách, ở tay gấp bìa 4 kê thật nhiều... những cuốn sách viết chung, mà sách viết riêng không hề có mấy. Thiên hạ nhìn vào bảng liệt kê đó cũng muốn chóng mặt. Hay một ông tiến sĩ ngôn ngữ khác, khi khai công trình để làm hồ sơ phó giáo sư cũng cố liệt kê ra đến 5 cuốn sách mà mình hiệu đính vào một mục riêng.
Ngay cả luận án tiến sĩ của vị này cũng được ghi đầy đủ các “thông số” như cơ quan bảo vệ, năm, số trang ở mục Tác giả và chủ biên; mà về nguyên tắc luận án chưa xuất bản thì không đưa vào đây.
Lại có người chỉ mới viết được vài bài báo, vài tham luận ở địa phương, in vài cuốn sách dạng du ký nhưng lại rất thích tham gia vào cuốn sách dạng “danh nhân” nhằm quảng bá mạnh mẽ hình ảnh, tên tuổi. Và đi đâu họ cũng nói năng, ứng xử tựa hồ như những nhà nghiên cứu lớn. Có cả ông viện sĩ khoe mình thật nhiều trong cuốn sách đó, được viết dưới dạng “tự thuật”.
Có những tác giả khi in sách rất khoái ký tên là “lưỡng” tiến sĩ - viện sĩ... trong khi danh hiệu “viện sĩ” này thực ra chỉ mang tính hữu nghị như kiểu tiến sĩ danh dự ở các trường đại học nước ngoài, bỏ tiền ra cũng có thể mua được, nhưng rồi cũng được dùng để lòe thiên hạ.
Một hình thức “nổ” khác là chủ biên các kỷ yếu hội thảo hay sách dạng tập hợp các bài viết. Có vị tiến sĩ “chủ biên” đến vài cuốn kỷ yếu hội thảo, mà có cuốn không hề có bài nào của mình trong đó. Theo thông lệ khoa học, không hề có chuyện “chủ biên” kỷ yếu, nhưng giờ đã thành chuyện rất phổ biến ở xứ ta.
Hoặc có vị nhân danh chủ tịch hội, hiệu trưởng, trưởng khoa mà cứ thoải mái “chủ biên” bài tập hợp của các hội viên, giảng viên trường mình, trong khi giỏi lắm họ chỉ đứng ra ở vai trò tổ chức bản thảo, hoặc đã có người làm giùm tất cả.
Khá phổ biến là khi làm đề tài khoa học, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề ra rất lớn lao, to tát, nhưng khi nghiệm thu thì không đạt yêu cầu hoặc chỉ thực hiện được một phần. Do năng lực nghiên cứu có hạn nên phải sử dụng cây đa, cây đề chống lưng để tìm kiếm đề tài và xây dựng mối liên kết giữa người đứng tên làm chủ nhiệm, nhưng thực tế là do người khác làm.
Tôi đã không ít lần chứng kiến những buổi bảo vệ luận án tiến sĩ hay nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học, có những vị ngồi hội đồng nhưng lại không đưa được nhận xét hữu ích, có căn cứ khoa học, mà chỉ biết “ăn theo nói theo” người khác, hoặc nói những điều vòng vo không liên quan gì đến hội đồng mình đang ngồi, theo kiểu vô thưởng vô phạt, thậm chí sai phạm về kiến thức.
Những kiểu “nổ” trong nghiên cứu khoa học đã nhiều như vậy, thì việc “nổ” trong cuộc sống làm sao ít, nó đã thành căn bệnh trầm kha. Nếu chừng nào còn chưa “bắt mạch” và có bài thuốc hiệu nghiệm, thì đừng mong có một nền học thuật lành mạnh, đừng mong đạo đức xã hội được chấn chỉnh.
Trong dân gian có nhiều thành ngữ diễn tả các cách nói không bám víu vào thực chất, vào sự khả tín như: “Một tấc đến Trời”, “Thùng rỗng kêu to”, “Ba que xỏ lá”, “Ăn đằng sóng nói đằng gió”, “Ăn xuôi nói ngược”, “Ăn cò nói leo”, “Ăn ốc nói mò”, “Mười voi không được bát xáo”…
Văn Bảy (thực hiện)
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

tháng 7, mưa Huế


 
mùa hè sao không có những ngọn nắng thiêu đốt
cơn gió Lào từ phía tây
ngày lâm râm mưa
không lên nổi màu nắng
như tháng Giêng xưa
nhắc nhớ lại một mùa Xuân thảm khốc
ngày ấy như vẫn còn hiện ra
mối oán thù bất tuyệt
nhắc lại để làm gì
có được ghi lại như một trang sử
hay nhạt nhòa lãng quên
có phải như thế
hay không phải như thế
gọi là lịch sử
hay có phải như thế là
một cuộc bể dâu

thôi bỏ đi
hãy đón niềm vui chào Huế mới về
nhiều năm bỏ xứ
quăng quá khứ ngoài bờ bụi

mưa nhỏ nhưng sẽ tan đi
hãy phai tàn
ngày tháng ấy

tháng 7 mưa Huế như
tháng Giêng mùa Xuân
chút se lạnh sớm thu
để lòng ai đau nhẹ
một đoạn tình đầu

con trai Huế nào ra đi không mang theo
bóng hình một người con gái
và không quên
những mùa mưa Huế buồn tênh

Huế 30/7/2015

TỪ HOÀI TẤN

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

Ra mắt tập thơ Gửi... xinh tươi của cố nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San.

Chiều 3.8, tại Hội Nhà báo tỉnh Thừa Thiên-Huế, Tạp chí Sông Hương  phối hợp với Văn phòng Báo Thanh Niên tại Huế cùng gia đình cố nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San tổ chức kỷ niệm 10 năm ngày mất (25.7.2005 - 25.7.2015) và ra mắt tập thơ tình của ông mang tên Gửi... xinh tươi.
Ra mắt tập thơ Gửi... xinh tươi của cố nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San.
Tập thơ Gửi... xinh tươi của cố nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San.
Nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San là thế hệ nhà thơ trưởng thành qua phong trào đô thị, là nhà thơ tranh đấu của Huế một thời. Tên tuổi ông gắn liền với những bài thơ xuống đường lưu hành trước năm 1975, lẫm liệt và ngạo nghễ của một lớp thanh niên khát khao hòa bình, thống nhất. Ông nổi tiếng là nhà thơ khí phách, ngay buổi đầu đã xác định lí tưởng rõ ràng của cuộc đời. Thái Ngọc San có bút danh Ngọc Thảo Nguyên, ông đã từng là  Thư ký tòa soạn Tạp chí Sông Hương và là một trong những người đứng tên thành lập Tạp chí Sông Hương và góp công đưa tạp chí đến đỉnh cao những năm 1983-1989. Từ năm 1990 - 2005, ông làm đại diện Báo Thanh Niên tại Huế.  
Nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc - Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương phát biểu tại buổi ra mắt sách
Tập thơ Gửi...xinh tươi  tuyển chọn 37 bài thơ tình của Thái Ngọc San do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành. Đây là những sáng tác của nhà thơ qua nhiều thời kỳ, trong đó nhiều bài anh đã in trên các báo, tạp chí văn học trước và sau năm 1975, cùng nhiều bài thơ anh viết trong sổ tay được gia đình lưu giữ và chưa từng công bố.
      
        
           Bà Phan Lệ Dung bên chân dung cố nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San
Gửi xinh tươi là gửi trái tim yêu nồng cháy cho những người yêu, những nàng thơ, những mối tình, những người bạn và cả những miền đất mà anh từng đi qua... đã để lại dấu ấn trong đời và trong thơ của anh. Xinh tươi ấy cũng chính là những mối tình dù sâu đậm hay thoáng qua mà trái tim yêu thương nồng nàn của anh đã rung cảm, như anh từng viết:
“Những mối tình dẫu đắng cay vẫn đẹp
Nhưng những mối tình đã qua đi
Hãy đừng nhắc lại
Bởi cuộc sống luôn luôn bắt đầu
Và tình yêu bao giờ cũng là tình yêu thứ nhất”
PV
http://tapchisonghuong.com.vn

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn từ trần

TTO - Nhà thơ từng đi qua cuộc “Chiến tranh Việt nam và tôi” Nguyễn Bắc Sơn vừa giã từ bạn bè và người yêu thơ để ra đi ở tuổi 72 sau một thời gian nằm bệnh.

Theo tin từ nhà thơ Nguyễn Như Mây - một bạn thơ đồng hương Bình Thuận, nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trong 2-3 năm nay bị bệnh suy tim, gần đây trở nặng và đã ra đi vào 9g sáng nay, 4-8, tại nhà riêng (43/17 đường Trần Lê, Phường Đức Long, TP. Phan Thiết).
Hiện linh cữu nhà thơ quàn tại nhà, gia đình đang chuẩn bị tang lễ và chưa có thông tin lễ viếng cụ thể.
Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn tên thật Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1944 tại Phan Thiết, nổi tiếng từ trước 1975 với những vần thơ lãng tử mà khốc liệt như chính cuộc chiến tranh đang tràn qua quê hương của ông.
Năm 1972, ông xuất bản tập thơ “Chiến tranh Việt Nam & Tôi”, được nhiều người mến mộ, tạo được tiếng vang trong làng thơ miền nam lúc bấy giờ.
Nhà văn Đoàn Thạch Biền khi nhắc về những nhà thơ tâm đắc vẫn không quên những vần thơ của Nguyễn Bắc Sơn: “Vì người đàn bà  nào cũng như người nấy/ Nên ta bảo mình thôi hãy quên em/ Nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên suốt đời ta nhớ nhớ quên quên…”
Năm ngoái, nhóm bạn thơ ở tập san Quán Văn có ra một chuyên đề về thơ Nguyễn Bắc Sơn và tổ chức chuyến về Phan Thiết giao lưu thăm ông. Nay, trái tim nhà thơ quê Bình Thuận đã ngừng đập ngay trên chính quê hương của mình - mảnh đất từng được ông gửi vào thơ những dòng trĩu nặng mà tha thiết: “Dù đen bạc là nơi cố xứ/ Nhưng đi biền biệt cũng không đành”.
Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn. Ảnh: từ blog La Văn Tuân
Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn. Ảnh: từ blog La Văn Tuân
   
Thông tin tang lễ nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn
Theo tin từ gia đình, 19g ngày 4-8 sẽ làm lễ nhập quan nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, lễ viếng bắt đầu ngay sau đó đến hết ngày 5-8.
6g ngày 6-8 sẽ di quan nhà thơ hỏa thiêu tại Vũng Tàu.


LAM ĐIỀN
tuoitre.vn



THÀNH THẬT CHIA BUỒN

NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN NGHỆ XIN THÀNH THẬT CHIA BUỒN VỚI GIA ĐÌNH NHÀ THƠ NGUYỄN BẮC SƠN
CẦU CHÚC BẠN AN LẠC Ở CÕI VÔ CÙNG

Nguyễn văn Trai - Đoàn Phạm Túy Linh - Phạm Tấn Hầu - Hồ Đăng Thanh Ngọc - Nguyên Quân - Ngàn Thương - Viêm Tịnh - Trần Hữu Thục - Nguyễn Miên Thảo - Nguyễn Quốc Thái - Nguyễn Sông Ba - Từ Hoài Tấn - Hạ Đình Thao - Đức Phổ - Hoàng Lôc - Hạc Thành Hoa và các băng hữu văn nghệ