Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

Người gieo ánh sáng

Bác Hồ mời cụ Hồ Đắc Điềm lên Phủ Chủ tịch làm việc. Bác nói: “Thưa cụ, cụ là thành viên của gia đình bá hộ giàu chữ địch quốc, xin cụ ra chia chữ cho dân".

nh-bc104103169
Bác Hồ đến thăm lớp mẫu giáo ở phố Hàng Than (Hà Nội)

Gia đình bá hộ giàu chữ địch quốc

Cuộc hầu chuyện nhà văn Sơn Tùng trong chiều thu chạng vạng năm 2009 như muốn dài thêm mãi, ấy là khi ông kể về luật sư Hồ Đắc Điềm.
Nhà văn Sơn Tùng thong thả nhấn từng tiếng ấm áp: “Bác Hồ mời cụ Hồ Đắc Điềm lên Phủ Chủ tịch làm việc. Bác nói: “Thưa cụ, cụ là thành viên của gia đình bá hộ giàu chữ địch quốc, xin cụ ra chia chữ cho dân”.
Nhận lời Hồ Chủ tịch, đang làm Phó Chủ tịch UBND kiêm Chánh án TAND thành phố Hà Nội, cụ Hồ Đắc Điềm chuyển sang làm Trưởng ban chỉ đạo xóa mù chữ Hà Nội (sau này là Trưởng ban lãnh đạo Bổ túc Văn hóa Hà Nội) cho đến khi nghỉ hưu.
Tám chữ "gia đình bá hộ giàu chữ địch quốc" ấy được nhà văn Sơn Tùng ân cần cắt nghĩa chi ly: Dòng họ Hồ Đắc ở làng An Truyền, kinh đô Huế. Cụ Khánh Mỹ quận công Hồ Đắc Trung, tước Thái tử Thiếu bảo Hiệp tá Đại học sĩ, Thượng thư Bộ Học kiêm Bộ Hộ rồi Bộ Lễ kiêm Bộ Công, Quốc trượng (bố vợ) của vua Khải Định có 6 người con trai thì đều là những ông nghè ta và ông nghè Tây sáng danh.
Con trai cả - ông nghè ta là Hồ Đắc Khải làm Thượng thư Bộ Hộ triều vua Bảo Đại. Còn lại 5 ông nghè Tây là: Tiến sĩ Luật khoa Hồ Đắc Điềm, Tiến sĩ Y khoa Hồ Đắc Di, Tiến sĩ Địa chất Hồ Đắc Liên, Tiến sĩ Dược khoa Hồ Đắc Ân và Tiến sĩ Điều khiển học Hồ Đắc Thứ.
Trong đó, Tiến sĩ Luật khoa Hồ Đắc Điềm từng làm đến Tổng đốc Hà Đông rồi đi theo kháng chiến.
Sinh thời, có hai người bạn vong niên được cụ Hồ Đắc Điềm thường xuyên quan tâm và thăm hỏi nhiều nhất là nhà thơ Tân Trà (tên thật là Lê Đình Hiên), Trưởng phòng Bổ túc Văn hóa đầu tiên của Sở GD- ĐT Hà Nội, theo cụ đó là người giỏi về lãnh đạo. Người còn lại là nhà văn Sơn Tùng, cụ Điềm đánh giá là can đảm và giàu nghị lực.
Hôm đó, nhà văn Sơn Tùng còn đọc nguyên một đoạn trong cuốn sách viết về cụ Hồ Đắc Điềm: “Năm tháng qua đi, lớp trẻ ngày nay khó có thể tưởng tượng được rằng, vào những tháng năm hào hùng nhưng cũng đầy khó khăn gian khổ của dân tộc thuở ấy, đã từng có một Tiến sĩ Luật, từng làm việc ở Paris, làm Chánh án Tòa Thượng thẩm, Cố vấn toàn cõi Đông Dương... thời Pháp thuộc; Chánh án TAND thành phố Hà Nội, Phó Chủ tịch Uỷ ban Hành chính thành phố Hà Nội, Trưởng đoàn Luật gia Việt Nam... thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lại dám từ bỏ tất cả, đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết để làm một công việc hết sức bình thường, nhưng đầy chông gai (nếu muốn làm tốt) - trong 32 năm là: vận động Bình dân học vụ... Chỉ để hoàn thành một ước vọng giản dị là làm theo lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cụ là người giàu chữ, hãy san sẻ cho người còn thiếu chữ”.

Người gieo ánh sáng trí thức

Một chiều Hà Nội lãng đãng màn sương phủ mảnh trên mặt hồ Thiền Quang, bà Hồ Thị Thể Tần, người con gái lớn của cụ Hồ Đắc Điềm kể cho tôi nghe thêm nhiều chuyện cảm động về cha mình.
15-16-33_nh-1
Luật sư Hồ Đắc Điềm (1899-1986)
Bên kia hồ, một doi đất nhỏ nhô ra, cụ Điềm đã hiến cho thành phố Hà Nội xây dựng Nhà văn hóa học sinh sinh viên, làm nơi hoạt động cho thanh niên thủ đô.
Nối tiếp công việc của nhạc phụ đang dang dở, khi làm Tổng đốc Hà Đông, cụ Hồ Đắc Điềm đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để chấn hưng nền kinh tế, xã hội của tỉnh. Những công trình văn hóa đưa văn minh phương Tây đến với người Việt Nam như nhà hát Hà Đông đều gắn bó với dấu ấn của cụ Hồ Đắc Điềm...
Cả một đời giành được những tấm bằng danh giá nhất trong nền học vấn phương Tây, nhưng cụ Hồ Đắc Điềm coi trọng nhất vẫn là công tác xóa mù chữ cho nhân dân Thủ đô.
Luật sư Hồ Đắc Điềm (9/9/1899-3/2/1986) đỗ Cử nhân Luật (1923), Tiến sĩ Luật (1925) tại Paris, Phó Chủ tịch UBHC Hà Nội (1954), Trưởng đoàn Luật gia Việt Nam (1955), Ủy viên UBHC Hà Nội (1957), Trưởng tiểu ban Bổ túc Văn hóa - HĐND Hà Nội (1971)... Huân chương Độc lập Hạng Nhì, Huân chương Lao động Hạng Ba...
Cụ đã gieo ánh sáng tri thức đến những người dân dân Thủ đô hơn nửa thế kỷ trước chưa biết con chữ với bao nỗi nhọc nhằn. Học viên đủ mọi tầng lớp (công nhân, nông dân, thợ thủ công... ở cả nội thành lẫn ngoại thành), đủ các giới và đủ mọi lứa tuổi (thanh niên, phụ nữ, trung niên, người cao tuổi...), đủ các ngành, các cấp (Bí thư, Chủ tịch xã, người phụ trách các cơ quan đoàn thể...).
Thấy chị nông dân ngoại thành mừng vui vì giải được bài toán bổ túc cấp 1 cụ càng say sưa cống hiến. Trước đó ít lâu, chính chị vừa ngậm bút vừa ứa nước mắt van nài: “Nếu bác cho cháu cày hai ba mẫu ruộng thì cháu thấy có thể làm ngay và còn dễ dàng hơn làm bài toán nhỏ này”.
Bà Hồ Thị Thể Tần con gái cụ Hồ Đắc Điềm, xúc động nhớ lại: “Sự nghiệp cả đời cha tôi tâm huyết là Bổ túc văn hóa, xóa mù chữ”.
Trong kế hoạch Nhà nước ngày ấy, không có chỉ tiêu về xóa nạn mù chữ và Bổ túc văn hóa, vì thế không có tính chất pháp lệnh mà chỉ là những chỉ tiêu phấn đấu.
Sinh thời, cụ Hồ Đắc Điềm luôn căn dặn, công tác Bổ túc văn hóa phải được người cán bộ chuyên trách coi là một công tác cách mạng và phải được thực hiện bằng đường lối quần chúng, vận động mọi người thực hiện. Nếu coi đó là nhiệm vụ hành chính thì sẽ thất bại.
Không dùng mệnh lệnh hành chính, cụ dùng mệnh lệnh của trái tim với một tinh thần tự thúc đẩy mình, ngày đêm không quản mưa gió, lặn lội xuống từng lớp học.
Trong khi các cán bộ chuyên trách không muốn cụ tuổi cao mà phải lặn lội đêm hôm nên giấu không cho cụ biết những lớp học phải tiến hành vào những giờ giấc thất thường. Còn cụ Hồ Đắc Điềm lại muốn phải tự thân tới từng lớp, vừa để kiểm tra xem anh em có làm thật không, làm có tốt không, vừa để động viên cả người học lẫn người dạy.
Tuổi ngoài 80, “di sản” còn lại của những trận đòn Tây tra tấn khiến Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Chiên quên đi nhiều chuyện. Bỗng như một ánh chớp thiên khải vụt đến, bà Chiên nhớ lại một đêm trời mưa lạnh, trong lớp học của xóm chài ngoài bãi giữa sông Hồng những năm 1960-1970, khi cô giáo Nguyễn Thị Chiên đang dạy xóa mù chữ thì thấy cụ Hồ Đắc Điềm đến thăm lớp.
Cả lớp học căm căm trong giá rét mà bỗng ấm cúng hẳn lên. Tiếng chào hỏi xôn xao mặt nước bãi giữa. Năm 1980, hồi cố lại cho con gái nghe, cụ Hồ Đắc Điềm trầm tư: “Đối với tôi cuộc thăm lớp đó, trong đêm lạnh mà vẫn sưởi ấm lòng tôi đến tận bây giờ”.
Còn Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Chiên, kể lại cho người viết bài này, bà vẫn rưng rưng cảm động: “Tôi là người phụ nữ nông thôn, ít học, thấy người có học vị cao như cụ Hồ Đắc Điềm không ngại tuổi tác, đêm khuya vẫn xuống thăm lớp học xóa mù chữ thì tôi lại càng phải cố gắng dạy tốt hơn”.
Biết tôi đang tìm tư liệu để viết về cụ Hồ Đắc Điềm, ông Nguyễn An Chất, một trong những cộng sự của cụ đã cung cấp thêm cho tôi tư liệu về cụ.
Sinh thời, ý nguyện lý tưởng của cụ Hồ Đắc Điềm là làm cho mỗi người Việt Nam có trình độ để sống tốt hơn. Vì vậy, cụ say mê dành cả cuộc đời trợ giúp những người có chí mà thiếu điều kiện để theo học đến nơi đến chốn.
Từ ý nguyện của cụ, Quỹ Hồ Đắc Điềm ra đời. Quỹ Hồ Đắc Điềm có mục đích trợ giúp những người nghèo cần được học, những người có khó khăn trong việc theo đuổi chí hướng học hành.
Trong nhiều năm hoạt động, Quỹ Hồ Đắc Điềm đã mang đến cho nhiều người thêm một chút vốn là thêm nhiều động lực để tiếp tục vươn lên trên con đường học vấn. Điều ấy, chắc hẳn cụ Hồ Đắc Điềm cũng vui lòng mỉm cười.
 
Kiều Mai Sơn

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

Sông Hương tháng 9/2015: Êm đềm những ngày cuối thu

10:17 | 31/08/2015
Số báo này xuất bản cũng nhằm vào những ngày Liên hiệp Hội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 70 năm thành lập. Bài “70 năm, một dòng chảy văn học nghệ thuật nối tiếp văn mạch của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế” của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa sẽ điểm lại diễn trình 70 năm đáng tự hào của văn nghệ xứ Huế. 
Sông Hương tháng 9/2015: Êm đềm những ngày cuối thu
Những truyện ngắn không hẹn mà gặp, đều đậm đặc tính huyền ảo, trong đó những tính chất của lịch sử, của quá khứ không dễ phát lộ sau những đám sương mờ. Phải quy hồi về quá khứ bằng cái tâm tĩnh lặng, thật sự trân trọng và tôn kính, may ra mới hiểu được những lưu dấu âm ba tinh tế, ý nhị của người xưa.
Và những bài thơ, khởi đi từ lục bát thuần khiết giữa thế kỷ 21, vẫn đong đầy nỗi mặn mà từng nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc Việt hàng ngàn năm qua.
Trong những bài lý luận phê bình, tiểu luận “Ai đã giết thơ?” rất nổi tiếng của Joseph Epstein, viết từ 1988, nay được dịch giả Phạm Kiều Tùng chuyển ngữ, giới thiệu trên Sông Hương số này. Đọc tiểu luận, chúng ta sẽ hình dung các vấn nạn của thi ca trên toàn thế giới trong bối cảnh cuộc sống đương đại toàn cầu hóa, và những lý do vì sao lại thế.
Dòng chảy văn hóa Huế đem đến một thông tin hết sức đáng lưu ý: bao nhiêu du khách đã từng chiêm ngắm Cửu vị Thần công ở Đại Nội - Huế, mấy ai được giới thiệu tường tận lai lịch cả một hội đồng, đội ngũ thợ lành nghề đã rót hết cả tâm tư, trí tuệ cho các tác phẩm này được hoàn mỹ? Và ai nữa, biết đến một trong những người quan trọng trong số đốc công chế tạo súng là ngài Cẩn Tín hầu Phan Tấn Cẩn, một người con đất xứ Thần kinh?...
Sông Hương vẫn êm đềm những ngày cuối thu, kính chúc quý bạn đọc một dòng sông thu nhiều hương sắc.
Dưới đây là mục lục tạp chí Sông Hương tháng 9/2015:
Thư Tòa soạn
- TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TỪ GÓC ĐỘ TU TỪ HỌC VÀ NGUYÊN LÝ ĐỐI THOẠI - Phan Tuấn Anh
- TẬP TRUNG HƯỚNG ĐẾN NHỮNG TÁC PHẨM TRÍ TUỆ, BẢN SẮC, CÓ GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG - TS. Nguyễn Ngọc Thiện
- 70 NĂM, MỘT DÒNG CHẢY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT NỐI TIẾP VĂN MẠCH CỦA VÙNG ĐẤT THUẬN HÓA - PHÚ XUÂN – HUẾ - Nguyễn Xuân Hoa
- HỘI VĂN NGHỆ - NƠI KẾT BẠN VÀ GÂY MEN SÁNG TẠO - Nguyễn Khắc Phê
VĂN:
-  LỐI TRONG RỪNG - Đức Ban
- VỆT CHÀM - Nhụy Nguyên
THƠ:
MIÊN DI- TRẦN XUÂN TRƯỜNG - NGUYỄN ĐÔNG NHẬT - TỪ HOÀI TẤN 
TRẦN HOÀNG PHỐ - PHAN TRUNG THÀNH - PHÙNG SƠN - LÊ HỒ NGẠN 
ĐÀO DUY ANH - TRẦN TỊNH YÊN
NHẠC:
- GIÁC NGỘ - Nhạc: Trương Pháp & Thơ: Hàn Giang
- LỜI RU CỦA MẸ - Nhạc: Phan Văn Nhi & Thơ: Xuân Quỳnh
HUẾ - DÒNG CHẢY VĂN HÓA:
-  NGÀI CẨN TÍN HẦU PHAN TẤN CẨN VỚI CỬU VỊ THẦN CÔNG - Đỗ Minh Điền
- NHÀ BÁO NGUYỄN CỬU THẠNH - CHỦ NHIỆM BÁO SÔNG HƯƠNG TỤC BẢN - Hồ Vĩnh
CỬA SỔ NHÌN RA VĂN HỌC THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI:
- HỒI ỨC MỘT NGƯỜI BÁN SÁCH - George Orwell - Ngô Thanh Tuấn dịch
NGHIÊN CỨU & BÌNH LUẬN:
- CẢM QUAN VÀ CẢM QUAN NGHỆ THUẬT - Nguyễn Thị Tuyết
- TỰ DO SÁNG TÁC VÀ CHÂN THỰC NGHỆ THUẬT - Lê Thành Nghị
- AI ĐÃ GIẾT THƠ? - Joseph Epstein
TÁC GIẢ - TÁC PHẨM & DƯ LUẬN:
- NHỮNG HÉ LỘ KÌ LẠ VỀ SÓI TRONG TÔTEM SÓI - Dương Hoàng Hạnh Nguyên
- ĐỌC TIỂU THUYẾT ĐƯỜNG VẮNG - Nguyễn Hiệp
Thư tín Sông Hương
 Bìa 1: “Sau cuộc chiến”  - Tranh: ĐẶNG MẬU TRIẾT
Những khoảnh khắc đẹp: “Nắng tháng Chín” - Ảnh: PHẠM BÁ THỊNH
 Minh họa:  ĐẶNG MẬU TỰU, NHÍM
Bia 2: MINH PHONG
Theo BAN BIÊN TẬP
T.G
tapchisonghuong.com.vn

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Chào Huế


 
khi cô Phạm Quỳnh Anh cất lên tiếng hát
Hello Vietnam *
máy bay lượn những vòng cuối
trước khi đáp xuống sân bay Phú Bài
Huế
trở lại
gặp ngày hè
Huế trầm mặc nhưng dữ dội cơn sóng ngầm
Huế mùa hè
nhưng không nắng
vắng ngọn gió Lào hanh khô thường năm
chỉ có những ngày mưa nhỏ
trời vẻ chớm thu
khi ấy
những người yêu nhau tỏ tình
trong buổi hẹn đầu

tôi về
như năm trước
đi trên những con đường xưa
mùa phượng đang dần qua hết
vắng những tà áo trắng đường Lê Lợi
thưa thớt tiếng ve lạc lỏng
người yêu xưa không còn trẻ
và chiếc xe đạp đã treo ở quá khứ
không thể hình dung lại khuôn mặt cô thiếu nữ chung lớp tuổi học trò
thời gian không còn để
vụng dại một lời yêu
của thời lãng mạn

nhưng vẫn ước mong về
chào Huế
Tell me all about this name, that is difficult to say
It was given me the day I was born …
 
TỪ HOÀI TẤN
Huế tháng 7/2015
_____

*(Lời bài hát Hello Vietnam của Phạm Quỳnh Anh. Hãng VietJet Air thường bật bài hát này khi máy bay hạ cánh)

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

Thành nhà Hồ

Khám phá tòa thành cổ kỳ vĩ nhất Việt Nam

Thành nhà Hồ là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn nguyên vẹn trên thế giới, là chứng tích về sự tồn tại của kinh đô nước Đại Ngu.

alt
alt
Nằm trên địa phận xã Vĩnh Long, huyện 
Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, thành nhà Hồ (còn gọi là thành Tây Đô, thành 
An Tôn, thành Tây Kinh hay thành Tây Giai) là chứng tích về sự tồn tại 
của kinh đô nước Đại Ngu - quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ - từ năm 1400 -
1407. Ảnh: Cửa Nam thành nhà Hồ.
alt
Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc 
độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo
nhất, duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành 
lũy bằng đá còn nguyên vẹn trên thế giới. Ảnh: Cửa Bắc thành nhà Hồ.
alt
Theo sử sách, thành Tây Đô được xây vào 
năm 1397 dưới triều Trần trong thời gian rất ngắn, chỉ khoảng 3 tháng. 
Các cấu trúc khác bên trong tòa thành như các cung điện, la thành phòng 
vệ bên ngoài, đàn Nam Giao... còn được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện 
cho đến năm 1402. Ảnh: Cửa Đông thành nhà Hồ.
alt
Người quyết định chủ trương xây dựng 
thành là Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ giữ cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền
lực thực tế của triều đình lúc đó. Ông cho xây thành làm kinh đô mới 
với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đó trong mục tiêu phế bỏ
vương triều Trần. Ảnh: Cửa Tây thành nhà Hồ.
alt
Năm 1400, vương triều Hồ thành lập, và 
Tây Đô là kinh thành của vương triều mới. Thành Thăng Long đổi tên là 
Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước. Vì vậy thành Tây Đô 
được dân gian quen gọi là thành nhà Hồ. Ảnh: Bên trong thành nhà Hồ.
alt
Thành Tây Đô ở vào địa thế khá hiểm trở,
có lợi thế về phòng ngự quân sự hơn là trung tâm chính trị, kinh tế và 
văn hoá. Vị trí xây thành đặc biệt hiểm yếu, có sông nước bao quanh, có 
núi non hiểm trở, vừa có ý nghĩa chiến lược phòng thủ, vừa phát huy được
ưu thế giao thông thủy bộ. Ảnh: Một đoạn tường thành nội.
alt
Như mọi thành quách bấy giờ, thành bao 
gồm thành nội và thành ngoại. Thành ngoại được đắp bằng đất, trên trồng 
tre gai dày đặc cùng với một vùng hào sâu có bề mặt rộng gần tới 50m bao
quanh. Bên trong thành ngoại là thành nội có mặt bằng hình chữ nhật 
chiều Bắc - Nam dài 870,5m, chiều Đông - Tây dài 883,5m. Ảnh: Cận cảnh 
một đoạn tượng thành nội còn nguyên vẹn.
alt
Mặt ngoài của thành nội ghép thẳng đứng 
bằng đá khối kích thước trung bình 2 m x 1 m x 0,70 m, mặt trong đắp 
đất. Bốn cổng thành theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là các 
cổng tiền - hậu - tả - hữu (Cửa Tiền hay còn gọi là Cửa Nam, Cửa Hậu còn
gọi là Cửa Bắc, cửa Đông Môn và cửa Tây Giai). Ảnh: Một đoạn tường đã 
sụp đổ.
alt
Các cổng đều xây kiểu vòm cuốn, đá xếp 
múi bưởi, trong đó to nhất là cửa Nam, gồm 3 cửa cuốn dài 33,8 m, cao 
9,5 m, rộng 15,17 m. Các phiến đá xây đặc biệt lớn (dài tới 7 m, cao 1,5
m, nặng chừng 15 tấn). Ảnh: Cửa Nam của thành nhà Hồ.
alt
Theo sử liệu, trên thành còn xây tường 
bằng gạch mà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều, trên nhiều viên gạch 
còn khắc tên đơn vị các làng xã được điều động về xây thành. Ảnh: Mặt 
trên của tường thành nội.
alt
Trải qua nhiều thế kỷ, các cung điện, 
dinh thự trong khu vực nội thành đã bị phá huỷ. Trong các phế tích đáng 
chú ý có nền chính điện chạm một đôi tượng rồng đá rất đẹp dài 3,62 m.
alt
Thành nhà Hồ thể hiện một trình độ rất 
cao về kĩ thuật xây vòm đá thời bấy giờ. Những phiến đá nặng từ 10 đến 
20 tấn được nâng lên cao, ghép với nhau một cách tự nhiên, hoàn toàn 
không có bất cứ một chất kết dính nào. Trải qua hơn 600 năm, những bức 
tường thành và cổng thành vẫn đứng vững. Ảnh: Phía trên một vòm cổng của
thành nhà Hồ.
alt
Đây cũng là một khu khảo cổ quan trọng, 
nơi rất nhiều hiện vật quý giá của nhà Hồ đã được tìm thấy, như những 
viên đạn bằng đá, đồ gốm sứ, tượng điêu khắc... có giá trị thẩm mỹ cao.
alt
Được xây dựng và gắn chặt với một giai 
đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương 
triều Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc, thành Nhà Hồ 
còn là dấu ấn văn hóa nổi bật của một nền văn minh tồn tại tuy không 
dài, nhưng luôn được sử sách đánh giá cao.
alt
Tháng 6/2011, thành nhà Hồ đã được 
UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Đây là Di sản văn hóa thế 
giới thứ 5 của Việt Nam sau phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn 
và Hoàng thành Thăng Long.

Theo KIẾN THỨC

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Viết sách là một lối thoát

TS Phan Việt Lâm, giám đốc Thảo Cầm Viên Sài Gòn:

Viết sách là một lối thoát

[142945]phan_viet_lam
Nhiều nhà khoa học cho rằng động vật chỉ sống theo bản năng và phản xạ. Tôi thì lại biết rằng, hầu hết những người làm việc nơi vườn thú đều đã thấy những nụ cười và cả những giọt nước mắt ở nhiều loài vật, nhận ra sự yêu mến, cử chỉ biết ơn và tôn trọng của chúng…
Anh đánh giá sự kiện cọp trắng quý hiếm sinh ba con tại Thảo cầm viên như thế nào?
Việc cọp trắng sống tốt và sinh đẻ thành công ba cọp con chứng tỏ loài cọp trắng quý hiếm đã thích nghi với khí hậu miền Nam Việt Nam. Sự kiện Thảo cầm viên (TCV) Sài Gòn làm lễ đầy tháng cho cọp trắng mới sinh là một hoạt động giáo dục vườn thú bình thường nhằm thu hút sự chú ý của công chúng, chủ yếu là các em thiếu nhi.
Cọp trắng là động vật có sức hấp dẫn lớn đối với du khách ở các vườn thú nước ta và trên khắp thế giới vì màu lông đặc biệt của nó. Tập thể TCV Sài Gòn rất vui mừng và cảm động nhận được sự tán thưởng của nhân dân và sự quan tâm đặc biệt của người đứng đầu chính quyền thành phố về sự kiện này.
Trong lời tựa một cuốn sách của anh, anh có tiết lộ rằng hồi nhỏ anh thích mình trở thành một kiến trúc sư hay nhà kỹ thuật gì đó, nhưng sau này lại rẽ sang ngành thú y rồi nhà động vật học linh trưởng, chuyên làm việc với động vật hoang dã, “một nghề mà hồi bé có mơ cũng không nghĩ mình lại gắn bó đến thế”. Anh có thể cho bạn đọc biết vì sao lạ có ngã rẽ kỳ lạ đó không?
Tôi sinh ra ở Hà Nội, nhưng ba tôi là người Bến Tre tập kết ra Bắc nên nghiễm nhiên tôi được xếp vào nhóm học sinh miền Nam. Khi thi vào đại học tôi đã đỗ điểm cao, được Nhà nước cử đi du học. Năm ấy, phía nước bạn xếp học sinh miền Nam vào học những ngành nông nghiệp như thổ nhưỡng, thuỷ lợi, trồng trọt, thú y… để sau này về phục vụ nông nghiệp miền Nam. Và tôi được phân vào học thú y. Đấy là ngã rẽ bất ngờ trước ngưỡng cửa đại học.
Những cuốn sách viết về muông thú, cây cỏ của anh đọc rất thú vị. Làm thế nào anh có thể viết được như vậy? Theo anh, giữa công việc chăm sóc động vật ở vườn thú và viết lách, cái nào khó khăn hơn?
Trước đây tôi vẫn viết sách khoa học, nói về nghề nuôi động vật hoang dã. Đấy là điều bình thường của một nhà khoa học, làm và viết lại những kinh nghiệm và hiểu biết của mình về nghề. Cho đến một hôm anh Cao Xuân Sơn bên nhà xuất bản Kim Đồng đến chơi và khuyên tôi nên viết sách cho thiếu nhi. Kiểu như kể chuyện rỉ rả cho trẻ em trong nhà nghe. Thế là tôi bắt đầu viết và đến nay đã xuất bản được bốn tập sách nhỏ cho thiếu nhi. Đầu tiên là các con, cháu của đồng nghiệp gọi điện cảm ơn vì đã tặng sách và nói rằng cảm thấy yêu quý những con thú, cây cỏ hơn qua những trang sách ấy. Đấy chính là mục đích khi tôi viết những câu chuyện đó.
Nhiều nhà khoa học cho rằng động vật chỉ sống theo bản năng và phản xạ. Tôi thì lại biết rằng, hầu hết những người làm việc nơi vườn thú đều đã thấy những nụ cười và cả những giọt nước mắt ở nhiều loài vật, nhận ra sự yêu mến, cử chỉ biết ơn và tôn trọng của chúng…
Chăm sóc động vật là nghề chính của tôi còn viết sách chỉ là phụ. Tôi vẫn tự nhận rằng mình là nhà khoa học, không phải nhà văn. Nhưng đôi lúc người ta cảm thấy có những việc không được như ý muốn, có những việc buồn phiền, nặng nề thì viết sách là một lối thoát. Viết xong một câu chuyện thì người bỗng nhẹ tênh. Ít ra là điều đó đúng với bản thân tôi.
Những câu chuyện tôi viết ra đều có thật. Tôi đã làm theo lời khuyên của người bạn là cứ kể ra nhẹ nhàng và trong trẻo, không có thủ pháp gì đặc biệt. Như là kể chuyện với những người thân trong nhà. Tất nhiên chúng trở nên thi vị và lãng mạn hơn theo cách nhìn của cá nhân tôi. Rất mừng là chúng đã nhận được sự đồng cảm của nhiều người. Có lẽ tôi sẽ vẫn viết tiếp theo phong cách ấy vào những lúc thuận tiện, đưa nhiều thông tin khoa học với hình thức nhẹ nhàng cho độc giả tuổi nhỏ.
Năm 2015 là năm TCV Sài Gòn tròn một thế kỷ rưỡi. Một số loài động vật quý hiếm đã được nhân giống thành công tại đây như trĩ sao, cá sấu nước ngọt, nước mặn… và gần nhất là cọp trắng. Anh có thể cho biết công việc bảo tồn đó có ý nghĩa như thế nào và giá trị của nó đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung của thế giới?
Nguyên tắc ưu tiên về bảo tồn đa dạng sinh học là dành cho khu vực địa lý bản địa trước rồi đến những khu vực rộng lớn hơn. TCV Sài Gòn đương nhiên phải ưu tiên bảo tồn các loài của quốc gia, rồi đến khu vực châu Á và các vùng địa lý khác. Các loài động vật nguy cấp của Việt Nam đã được tập trung nhân giống thành công bao gồm trĩ sao, vượn má vàng, voọc bạc, beo lửa, cá sấu nước ngọt, cọp Đông Dương… Vai trò của vườn thú như một cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học đóng vai trò quyết định trong bảo tồn chuyển vị. Các cá thể hậu duệ được sinh sản trong vườn thú đảm bảo duy trì được nguồn gen, có thể được đưa tái thả để phục hồi những loài động vật đã tuyệt chủng trong điều kiện thiên nhiên. Một ví dụ rất thành công là phục hồi cá sấu nước ngọt ở vườn quốc gia Cát Tiên, cá sấu nước mặn ở Lâm viên Cần Giờ…
Có tất cả sáu phân loài cọp hiện còn trên thế giới, bao gồm: cọp Đông Dương, Nam Trung Hoa, Ấn Độ, Mã Lai, Siberia và Sumatra. Theo thứ tự ưu tiên bảo tồn trên thì đối với người Việt Nam đương nhiên cọp Đông Dương là quý nhất, có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam cao nhất. Các cá thể cọp trắng của ta nhập về thuộc phân loài cọp Ấn Độ. Cọp trắng tuy có giá trị bảo tồn không cao như cọp Đông Dương của ta nhưng là đối tượng phục vụ giáo dục và trưng bày hấp dẫn trong các vườn thú.
Nghề chăm sóc và bảo tồn động vật hoang dã cần những tố chất gì?
Cần cù, chịu khó, chu đáo và nhất là sự nhiệt tình và tình yêu đối với động vật.
Từ câu chuyện của chính mình, anh có thể có lời khuyên gì cho những bạn trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường và chuẩn bị tìm lối đi vào đời hiện nay?
Mỗi người có một hoàn cảnh và một cách suy nghĩ riêng, điều quan trọng là cần có lòng đam mê và sống hết lòng với nó. Tức là phải có tình yêu thật sự với công việc mình đang làm thì nhất định sẽ thành công. Ít ra thì cũng được hài lòng và toại nguyện với chính mình. Tôi khuyên các bạn và cũng là lời tự nhủ là đã làm cái gì thì phải làm đến nơi đến chốn. Làm ra làm.
Diệu Thuỳ (thực hiện) – Hoàng Tường (hoạ chân dung)
http://thegioitiepthi.net

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Trần Bảo Định : Thơ MÙA VU LAN

MẸ ƠI!
Mỗi đêm con thắp đèn trời
Cầu cho mẹ sống đời đời với con!
(ca dao)

còn mẹ, xin đừng vô tâm
một ngày nào đó, mẹ thầm lặng đi
cả đời mẹ chẳng cần chi
áo cơm tất bật xuân thì tàn phai
vì con, mẹ cực trần ai
đã quên tuổi tác, quên ngày tháng qua
xa quê, con bỏ mẹ già
kinh kỳ quyến rũ, phồn hoa níu người
giật mình, con gọi mẹ ơi!
cho lòng đỡ thẹn, cho vơi nỗi buồn
lần hồi đánh đĩ tâm hồn
thấy người bề thế, cúi lòn phất phơ
xin đừng thương mẹ bằng thơ
bằng ngôn ngữ giả, bằng hư cấu lời
giờ thì, thui thủi cuối đời
nắng chiều bóng xế mẹ tôi một mình!
trần bảo định
Vu Lan, 2015

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

NGHĨ VỀ MỘT THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ

Trần Văn Chánh
 
     Nhân vật lịch sử thường được hiểu là những đã người sống trong quá khứ từng có tham gia nhiều ít và về mặt này mặt khác trong quá trình diễn tiến của lịch sử, không phân biệt hoàn cảnh xuất thân hay lý lịch tốt xấu (“trung/ nghịch, chánh/ ngụy”, “yêu nước/ phản quốc”, “tiến bộ/ lạc hậu”, “cách mạng/ phản động”…). Nhân vật lịch sử vì thế không nhất thiết phải là danh nhân, đều là con người nên có mặt tốt mặt xấu, có những lúc yếu mềm lầm lỗi, nhưng tất cả đều có vai trò riêng trong một bối cảnh lịch sử nhất định.
     Ở nước ta đã có một vài công trình biên soạn tổng hợp về nhân vật lịch sử, với sự xuất hiện trong đó đủ loại nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động và khuynh hướng tư tưởng, chính trị khác nhau. Vì không phân biệt lý lịch tốt xấu, có công đóng góp xây dựng hay gây hại cho dân tộc, nên sách viết về nhân vật lịch sử, nhất là ở thể loại từ điển, cần có sự trung thực, mô tả khách quan tiểu sử, hành trạng của từng nhân vật dựa trên càng nhiều càng tốt những tài liệu xác thực còn có thể kiểm chứng được, rồi có sao kể vậy theo một trật tự logic mạch lạc, và nếu có thể, diễn tả một cách hấp dẫn, chứ không nên và cũng không cần đưa ra những nhận định đánh giá gắt gao này khác theo nhận thức chủ quan hay định kiến giáo điều của người biên soạn. Những công trình biên soạn về nhân vật lịch sử vì thế tuyệt đối tránh óc đảng phái, “bài xích dị kỷ” (công kích loại trừ những kẻ khác mình), đơn giản chỉ vì hoàn cảnh quá khứ khác hoàn cảnh hiện tại, mà nhận thức, hành vi của từng nhân vật lịch sử thì luôn không thể tách khỏi hoàn cảnh độc đáo cá nhân cũng như bối cảnh lịch sử cụ thể mà nhân vật đang sống.