Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Nhà thơ DƯƠNG KIỀN qua đời

Qua FB của Nguyễn Trọng Khôi:


TIN BUỒN
Được chị Truong Kim Anh cho biết, phu quân chị: 
nhà văn, nhà thơ, luật sư DƯƠNG KIỀN
đã qua đời lúc 10:55 ngày 17 tháng 11 năm 2015 tại Na Uy.
Chúng tôi xin chân thành chia buồn cùng chị Trương Kim Anh và gia đình. Nguyện xin hương hồn anh Dương Kiền sớm nghỉ yên trên cõi vô cùng.

 

phan kim thịnh - nguyễn miên thảo - viêm tịnh - từ hoài tấn - nguyễn văn trai -phạmchu sa - phù hư - rừng -  lê ký thương - lê thánh thư - nguyễn tịnh đông - hạ đình thao - trần dzạ lữ -và thân hữu tại Việt Nam


Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

Nhà nghiên cứu Cao Huy Vĩnh: “Thiếu tác phẩm đỉnh cao, công chúng mất phương hướng”

(LĐCT) - Số 46 NHẬT LỆ (thực hiện)
Nhà nghiên cứu Cao Huy Vĩnh
 Không thoát ra khỏi “vòng kim cô” của chủ nghĩa lý lịch, sau giải phóng, nhà báo, nhà nghiên cứu Cao Huy Vĩnh long đong, lận đận trên con đường làm nghề. Nhưng ông nhanh chóng thoát ra khỏi hoàn cảnh, tự mình tìm ra cái mới để chơi. Thú chơi của một người nghiên cứu văn, triết, Hán nôm lại bắt đầu từ những chuyện mà chẳng ai nhìn thấy. Thoạt đầu, ông nổi tiếng với những bài tiểu luận phê bình trước năm 1975 về văn học cổ điển, sau đó là công trình “Văn học sử 20 năm miền Nam”, một công trình có giá trị mà rất tiếc, đến bây giờ bản thảo thất lạc khá nhiều.

Sau giải phóng, nhiều trí thức chế độ cũ khác, ông lên nông trường sản xuất, tham gia các khóa học sinh ngữ để chờ tái bổ nhiệm dạy học. Tuy nhiên, nghề báo đã chọn ông, từ thuở ông mở sạp bán báo phụ vợ. Từ mô hình sạp báo, ông đã biến nó thành mô hình tờ Tin nhanh World Cup Italia 1990 được Việt hóa hấp dẫn và cùng với nhà báo Tường Vy, cùng cả êkíp Báo Tuổi Trẻ đạt được thành công rực rỡ. Một thời gian dài, ông viết và biên dịch cho Báo Lao Động ở chuyên mục thể thao. Một con người tài cao, học rộng nhưng lại rất khiêm nhường.
Mới đây nhất, ông lại xuất bản trên mạng tập “Hồ sơ hậu chiến”, nói về số phận kỳ lạ của 7.000 người từng trải qua cuộc chiến ở cả hai phía, thu hút sự quan tâm của độc giả.

Vì sao có một thời gian viết báo hết công suất mà ông vẫn có thể làm được tuyển tập Guinness Việt Nam - điều mà trước đó chưa ai làm?
- Guinness Việt Nam bắt đầu hình thành trong đầu tôi là nhờ cái sạp báo. Hồi đó, tôi giữ một chân ở Báo Giác Ngộ, nhưng tờ báo mỗi tháng ra một lần, không đủ sống, đành phải bán báo thêm phụ vợ. Mỗi lần báo bán ế, tôi ngồi đọc cả đống báo, thấy có nhiều thông tin hay, liền bật ra, a mình làm cái này chơi. Thế là ra đời Guinness Việt Nam. Ra được 2 tập, trong năm 1990 và 2000, do NXB Trẻ ấn hành. Sau này, người ta bắt đầu làm nhiều, thấy quá nhàm nên thôi không ra tập tiếp nữa.

Lúc làm Guinness, ông nghĩ đến những giá trị nhất thời hay còn cả về sau?
- Đúng là Guinness có những giá trị của nó. Tôi chỉ lấy thông tin trên báo chí, chứ nếu muốn hay, phải đến tận nơi, gặp gỡ nhân vật, chụp hình, phỏng vấn… thì sẽ có nhiều điều thú vị. Nhưng thời đó điều kiện chỉ có thế. Người ta thích vì nó lạ. Tại thời điểm đó, các kỷ lục về thể thao được người ta chú ý đến rất nhiều. Càng về sau, mới mở rộng ra nhiều kỷ lục khác. Mở ngoặc một chút, thời những năm 1980, chuyện tường thuật thể thao hầu như không hề có trên đài truyền hình, phát thanh. Nhờ có vốn sinh ngữ, tôi nghe đài nước ngoài, sau đó ghi lên bảng dựng ở sạp báo, có lời bình cho hấp dẫn, và ghi tên cầu thủ ghi bàn. Tôi chủ trương đã làm thì phải làm cái mới, cái chưa ai làm thì mới đột phá được. Nếu đi theo cái cũ thì khó ăn lắm. Khi chưa ai làm Guinness thì mình làm, còn khi quá đông người nhảy vô thì nghĩ cái khác mà chơi.

Sau Guinness, ông còn làm tuyển tập “1.000 nhà thơ Huế đương thời”, gây ấn tượng cho độc giả?
- Đó là cách tri ân Huế, coi như món quà cho quê hương. Nhờ sự cộng tác với các bạn tôi mới hoàn tất 3 tập. Không phân biệt chức tước hay già trẻ, chỉ cần bài thơ đạt tiêu chuẩn hay theo ý mình. Tôi tự bỏ tiền ra in, hòa vốn là mừng. Hồi đó, in thơ là liều lắm, không NXB nào dám bỏ vốn ra in đâu vì sợ lỗ là cái chắc.
Trong cuốn “Văn học Việt Nam - tổng quan” in tại Mỹ năm 1987, nhà văn Võ Phiến (1925 - 2015) cho rằng, “thời kỳ 1954 - 1975 (ở miền Nam - BT chú thích), gặp cái rủi ro hiếm thấy, là trong suốt 20 năm trời không có được lấy một nhà phê bình chuyên nghiệp”. Võ Phiến nhiều lần nhắc đến tên ông trong cuốn sách một cách trân trọng và có cả tiếc nuối: “Ông Cao Huy Khanh (tức Cao Huy Vĩnh. BT chú thích) có nghiên cứu về bộ môn tiểu thuyết cùng các tiểu thuyết gia trong thời kỳ này, nhưng sách chưa kịp phát hành thì miền Nam sụp đổ”. Thời ấy, tiểu thuyết ở miền Nam có nhiều thành tựu, Võ Phiến đã trích dẫn sự nhìn nhận của Cao Huy Khanh là “tiểu thuyết chúng ta có quá nhiều sắc thái, nhiều tính chất, nhiều đặc điểm khác biệt”. Võ Phiến còn kết luận rằng, “Biên khảo về tiểu thuyết miền Nam Việt Nam sau 1954 thì hình như chỉ mới có Cao Huy Khanh”…

Không chỉ viết báo chuyên về thể thao, văn hóa, ông còn là nhà phê bình với nhiều bài tiểu luận gây tiếng vang trước 1975. Ông có thể cho biết về các nhân vật mà ông từng nghiên cứu?
- Công trình trước năm 1975 mà tôi thực hiện là một số bài tiểu luận, phê bình gây được tiếng vang vì ít nhiều có cái lạ. Hồi đó, tôi sử dụng phương pháp hiện đại, áp dụng phân tâm học, phê bình kiểu hiện sinh về phân tâm học. Phương pháp đó khá mới thời đó. Tôi viết về Hồ Dzếnh, Bùi Giáng, Tế Hanh… Theo quan điểm của tôi, khi viết bài phê bình, tôi chỉ lấy tác giả đó làm cái cớ thôi, để đưa cái chủ quan của mình vào. Nên nó không phải phê bình lý luận khoa học bình thường, mà giống như một dạng cảm xúc phối hợp tác phẩm nên mới dễ đọc.
Bùi Giáng thì tôi không đánh giá cao ở tài thơ, mà con người ông mới lạ, mới đáng phục. Là người nửa tỉnh, nửa mê nhưng thực chất ông không điên. Còn sự nghiệp thơ văn của ông chủ yếu là lục bát, nhưng ông có thế mạnh là sức viết rất khỏe - có cả chục ngàn bài. Điều này trong lịch sử văn học VN chỉ có hai người đạt được thôi, là Tản Đà và ông. Còn về dịch, ông dịch nhiều cuốn giá trị, nhưng chủ yếu vẫn thêm vào sáng tác của mình, như một kiểu dịch phóng tác.
Bài viết “Chân trời cũ” nói về bài thơ “Chiều” của Hồ Dzếnh, có lối viết vừa nghiêm túc, vừa tưng tửng. Hay “Mái hiên người” viết về bài thơ “Trên sân ga” của Tế Hanh. Ở Huế, tiếng còi tàu kinh hoàng lắm, cả trăm năm nó vẫn như vậy. Mượn cớ bài Tế Hanh để viết ra những ý nghĩ, suy tư của mình.

Thế còn công trình “20 năm Văn học sử miền Nam từ 1954 - 1974”?
- Mới làm được một phần ba thì đất nước thống nhất, nên thôi luôn. Tôi làm văn học sử theo quan niệm truyền thống, dùng lịch sử, thời đại, tiểu sử tác giả để phân tích, chia làm các giai đoạn, cột mốc… Tuy nhiên, dự án vừa mới đăng vài ba số thì bị ngưng...

Theo nhà phê bình Vương Trí Nhàn, bây giờ nhìn nhận lại, thời đó, văn học miền Nam đã có những thành tựu nhất định, có thể nói là phát triển lên đỉnh, với nhiều tác giả lớn, có ảnh hưởng đến văn học về sau. Quan điểm của ông ra sao?
- Văn học sử thời đó chia ra làm 3 giai đoạn. Thời gian đầu, dựa vào nhóm nhà văn từ Bắc di cư vào Nam, cụ thể là nhóm Sáng tạo. Nhóm này gồm Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền… Trong đó, nổi bật nhất là Thanh Tâm Tuyền, một người rất đứng đắn, có trình độ. Ông nổi bật với thơ tự do “Mặt trời cô đơn”, và văn thì có cuốn “Bếp lửa”. Trong Nam, phát triển sau hơn một chút là nhóm “Bách Khoa”, tức nhóm làm bán nguyệt san Bách Khoa, đứng đầu là ông Võ Phiến, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Ngu I, Võ Hồng, Lê Tất Điều... Võ Phiến là chuyên gia truyện ngắn, phân tích tâm lý rất hay. Lớp văn trẻ sau này có Y Uyên viết về chiến tranh cũng rất đặc sắc, nhưng bị chết trận. Nhóm Văn nghệ xuất hiện sau khi nhóm Sáng tạo tan rã, có Viên Linh, Du Tử Lê… Ngoài ra có những nhà văn nữ có cá tính như Nhã Ca, Thụy Vũ, Túy Hồng…

Ông đánh giá thế nào về sự ảnh hưởng của các nhà văn thời đó đến thế hệ sau? Bản thân nhiều nhà phê bình cho rằng, thời đó, mặc dù cũng bị kiểm duyệt, nhưng các nhà văn miền Nam vẫn có những tác phẩm đỉnh cao?
- Trong lịch sử có một chân lý kỳ cục, từ thời Roma cho đến bây giờ, là những người đi chinh phục, sau khi chiến thắng thì lại bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa của những kẻ bị chinh phục. Người đi chinh phục thường mạnh về quân sự, nhưng họ không thể mạnh về văn hóa.

Có người nói báo chí, xuất bản miền Nam hồi đó rất phát triển, liên tục cập nhật các trường phái, trào lưu trên thế giới. Ông có thể cho biết nguyên nhân tại sao?
- Báo chí miền Nam thời trước ít được tổ chức đàng hoàng, mà hầu hết chụp giật, chỉ gói gọn vài người viết bài, chụp ảnh, chứ không nhiều ban bệ như báo chí thời bây giờ. Sở dĩ, xuất bản thời đó phát triển, là bởi cũng nhờ cơ chế tự do, không bị o ép. NXB hay nhà văn cá nhân vốn thiên biến vạn hóa. Cứ để người ta tự do, nếu có những sai phạm thì sẽ bị cơ quan chức năng xử lý, còn không, thì để họ tự xoay xở, sống còn. Muốn vậy, các NXB phải tự thân vận động, tìm những tác phẩm hay nhất, mới nhất về dịch. Vì thế mà thời đó, các trào lưu văn chương thế giới đều được cập nhật khá sát sao.
Còn nói về dân trí, thời đó, đội ngũ trí thức đông hơn, văn hóa đọc cũng phát triển. Từng làm nghề giáo qua hai chế độ, tôi thấy thời đó có những thầy cực giỏi, mà có những thầy cực dốt. Còn ngược lại, giờ không có thầy dốt, nhưng thầy giỏi cũng không có.

Theo ông, do đâu mà thời nay, phê bình văn học không phát triển?
- Phê bình bây giờ không phát triển là do công chúng không còn chú ý đến văn chương nhiều nữa. Thứ hai, không dễ phê bình, phải có học thuật, có trình độ, mà nhất là muốn phê bình văn học VN phải hội đủ hai yếu tố, phải có kiến thức về văn chương Việt Nam, và cả phương pháp Đông Tây hội tụ. Điều đó không đơn giản. Người ta thườngchỉ giỏi một trong hai thứ đó thôi. Những người Tây học thì viết không ai hiểu. Những người không biết tiếng Tây thì là ông đồ gàn. Thứ ba nữa là có cả yếu tố chính trị.

Phải chăng, văn học thời kỳ nào cũng nằm trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam, nhắc đến nó phải vẽ nên những nét tổng thể của bức tranh hoàn chỉnh, cũng như không thể thiếu văn học miền Nam trước ngày thống nhất hay văn học hải ngoại đương đại…
- Thực ra, những thành tựu chính đạt được tính ra ở văn học miền Nam, còn văn học hải ngoại thì theo tôi nghĩ, văn nghệ sĩ mà xa rời cái gốc của mình thì viết khó mà hay được nữa. Điểm khác biệt giữa nhà văn ở hai miền chính là ở chỗ lòng yêu nước thể hiện qua thái độ và tư tưởng hành động khác nhau. Trải qua 20 năm đổ xương máu giành độc lập, bao nhiêu thù hận, bao nhiêu đổ vỡ, đến bây giờ người ta mới tạm nguôi ngoai, mới nói đến hòa hợp dân tộc.

Bao nhiêu năm viết về văn hóa văn nghệ, thể thao, ông có nhận xét gì khi thời nay, rác văn hóa tràn ngập, trong khi chẳng có ai buồn dọn dẹp hay ra tay để làm sạch môi trường văn học nghệ thuật?
- Quan trọng nhất là sự tự do, để người hành nghề tự định đoạt, xoay xở, đừng kèm cặp, chỉ đạo nhiều quá. Trình độ văn hóa bây giờ đi xuống, vì ngay cả những tác phẩm chân chính cũng không có nhiều, không định hướng được khán giả, buông lỏng về mặt quản lý. Văn hóa nghệ thuật xuống cấp, lại thực dụng nữa, chính vì thế mà xã hội không có được tác phẩm đỉnh cao, công chúng mất phương hướng thì nhảy từ cái này qua cái kia… là điều dễ hiểu.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn : laodong.com.vn

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Đi tìm lăng mộ vua Quang Trung ở Huế


Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã bỏ ra 30 năm để đi tìm những dấu vết cung điện Đan Dương - nơi được cho là lăng vua Quang Trung. Ảnh: Đ.K

Đã rất nhiều năm qua, việc tìm kiếm lăng mộ hoàng đế Quang Trung vẫn là vấn đề trăn trở và nhiêu khê của giới sử học ở Huế. Đại để là có 2 địa điểm được giới nghiên cứu mổ xẻ, tranh cãi nảy lửa là: Lăng Ba Vành và cung điện Đan Dương.

Kỳ 1: Bí ẩn cung điện Đan Dương thời Tây Sơn
Đâu là nơi vua Quang Trung được chôn cất?
Với ý tưởng “sống cái nhà, già cái mồ”, người dân Việt ước mong làm sao tìm cho được dấu tích lăng mộ vua Quang Trung để hằng năm thắp cho ông một nén hương. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã bỏ ra trên 30 năm để trả lời câu hỏi có hay không cung điện Đan Dương thời Tây Sơn ở Huế. Ông Xuân đã lý giải rất công phu trong các công trình được in thành sách dày hàng trăm trang.
Theo nghiên cứu của ông Xuân và những cứ liệu lịch sử, thời chúa Nguyễn mặc dù xây dựng thủ phủ của xứ Đàng trong ở Kim Long (dưới chân chùa Thiên Mụ ), nhưng do bất tiện là hằng năm bị lụt lội nên vào năm 1680, chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) cho xây dựng một hành cung ở địa điểm kín gió, cao ráo ở trên gò Dương Xuân bên bờ nam sông Hương. Hành cung được đặt tên là phủ Dương Xuân.
Qua thời gian, phủ Dương Xuân không ngừng được trùng tu, mở rộng. Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725) sùng đạo Phật nên cho lập thêm một ngôi chùa nhỏ ở gần phủ, về sau mang tên chùa Thiền Lâm. Hòa thượng Thích Đại Sán từ Trung Quốc được chúa mời sang hoằng dương đạo Phật và trú tại chùa Thiền Lâm. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Hoạt (1738 - 1765), phủ Dương Xuân được nâng cấp thành một cung phủ nguy nga tráng lệ.
Vào mùa đông năm 1749, Chúa tiếp nhà buôn Pháp nổi tiếng Pierre Poivre tại đây. Đây cũng là lần đầu tiên một cung phủ của chúa Nguyễn được ghi chép, mô tả tỉ mỉ trong kỉ hành của một người phương Tây. Năm 1774, Thuận Hóa - Phú Xuân dưới thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1777) lọt vào tay quân Trịnh. Nhiều cung phủ hai bên bờ sông Hương bị phá dỡ lấy gỗ làm củi đốt. Riêng phủ Dương Xuân không bị phá vì là nơi đồn trú của quan quân chúa Trịnh.
Năm 1786, Nguyễn Huệ từ thúc quân Tây Sơn ra giải phóng Phú Xuân và lên lập hành dinh ở phủ Dương Xuân. Sau cuộc “phù Lê - diệt Trịnh”, Nguyễn Huệ dẫn quân trở về Phú Xuân mang theo nhiều vàng bạc châu báu và công chúa Lê Ngọc Hân. Để cất giữ của cải, Nguyễn Huệ cho xây quanh phủ Dương Xuân một bức thành cao trên 6m. Ông ở trong phủ với bà vợ chính họ Phạm, còn công chúa Ngọc Hân trú ở chùa Kim Tiên. Nguyễn Huệ cho đại trùng tu Phủ Dương Xuân.
Đến cuối năm 1788, ông lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung, công chúa Ngọc Hân được phong Bắc cung Hoàng hậu, phủ Dương Xuân được xây dựng lại và được đặt tên là cung điện Đan Dương. Vua Quang Trung ngã bệnh và mất vào ngày 29.7.1792. Để giữ kín sự kiện này với những lực lượng thù địch, triều Quang Toản (vua Cảnh Thịnh, 1792 - 1795) đã quyết định bí mật táng vua Quang Trung ngay trong khuôn viên cung điện Đan Dương. Từ đó, cung điện Đan Dương trở thành lăng Đan Dương của vua Quang Trung.
Clip: Các nhà nghiên cứu đi khảo sát thực địa nơi ông Nguyễn Đắc Xuân nhận định đã từng tồn tại cung điện Đan Dương


Vì sao cung điện Đan Dương bị xóa sổ?
Sau những biến cố lịch sử, những bí mật chung quanh lăng Đan Dương không còn được giữ nữa. Năm 1799, Hoàng hậu Lê Ngọc Hân qua đời và được an táng cạnh lăng Đan Dương theo nguyện vọng của bà. Nhưng sau đó, bà được bí mật đưa về chôn cất ở làng Nành (Bắc Ninh) dưới danh nghĩa là một người bình dân. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, sau 24 năm nằm gai nếm mật chống Tây Sơn, khi Nguyễn Ánh trở về lại Phú Xuân, ông đã trả thù nhà Tây Sơn một cách nghiệt ngã.
Sách Đại Nam thực lục chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn, Đệ nhất kỉ cho biết: “Tháng 11 Tân Dậu, hủy Tây Sơn tặc Nguyễn Văn Huệ mộ, trác quan lục thi kiêu kì thủ vu thị” (dịch là phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng (hòm), phơi thây, bêu đầu ở chợ). Lăng mộ vua Quang Trung đã bị hủy, nhưng lăng mộ đó ở đâu thì không thấy ghi lại trong Thực Lục. Phải đợi đến hơn 50 năm sau (1852), Nguyễn Trọng Hợp và các sử thần viết bộ Đại Nam chính biên liệt truyện (sơ tập) có hé lộ thông tin lăng mộ vua Quang Trung được táng ở bờ Nam sông Hương.
Trong Đại Nam Liệt Truyện (sơ tập), viết về triều Tây Sơn có ghi lại rằng, việc lãnh tụ phong trào này đã bị trả thù thế nào và tóm lược những việc mà vua Gia Long đã “tận pháp trừng trị” nhà Tây Sơn. Cùng với đó, những con người liên quan đến triều Tây Sơn đều bị giết, lăng mộ bị quật phá đổ bỏ và cái tên quê hương Tây Sơn cũng bị đổi thành An Tây…
Như đã nói ở trên, mặc dù nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân tìm thấy những cứ liệu về sự tồn tại của một cung điện Đang Dương - nơi được cho là lăng mộ vua Quang Trung, nhưng do nó đã bị đập phá, vết tích không còn nữa nên việc xác định địa điểm của cung điện này vẫn là một bí ẩn. Mới đây, Sở VHTTDL tỉnh Thừa Thiên - Huế, Hội Khoa học lịch sử tỉnh đứng ra tổ chức hội thảo để nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân trưng ra những gì mình có được về sau mấy mươi năm đi tìm vết tích cung điện Đan Dương trên thực địa. Và cũng như những cuộc hội thảo đã diễn ra trước đó, lần này những tranh cãi gay gắt giữa các nhà nghiên cứu - những người nặng nỗi niềm với một bí ẩn của lịch sử VN - lại nổ ra. (Báo LĐ&ĐS sẽ thông tin vào kỳ tiếp theo).
Lăng Ba Vành là lăng vua Quang Trung?
Cũng là một người đã nhiều năm bỏ công đi tìm lăng mộ vua Quang Trung, ông Trần Viết Điền - thầy giáo dạy Vật lý ở Huế - khẳng định, lăng Ba Vành ở đồi Thiên An (phía Tây TP.Huế ) thuộc thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế chính là lăng mộ vua Quang Trung. Nguyên nhân: Lăng Ba Vành được cho là lăng Đức ý hầu Lê Quang Đại - một vị quan dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nhưng ông Điền đã đưa ra rất nhiều chứng cứ quan trọng để chứng minh rằng, lăng Ba Vành không phải là lăng mộ của vị quan họ Lê mà chính là lăng mộ vua Quang Trung.

Ông tìm đến khảo cổ học và đã chứng minh gạch xây lăng Ba Vành chính là gạch thời Tây Sơn. Tìm đến phong thuỷ để chứng minh đất lăng Ba Vành chính là một cát địa chỉ dành riêng cho đế vương. Sử dụng kinh dịch và nhiều cứ liệu lịch sử để chứng minh từ cổng tam quan, tân nguyệt trì (ao trăng non trước lăng), 9 con rồng... ở lăng Ba Vành là lăng một hoàng đế. Tuy nhiên, cho đến nay, các luận chứng chứng minh lăng Ba Vành là lăng vua Quang Trung của ông Điền chưa được công nhận.

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Người Sài Gòn giờ không thấy xài mấy tiếng lóng này nữa

TTO - Tiếng lóng là ngôn ngữ “phi chuẩn mực”, thường bị chê là cách nói không đàng hoàng, lộn xộn, khó nghe và khó hiểu. 

Những chiếc xe cyclo máy một thời là phương tiện phổ biến ở Sài Gòn giờ đã biến mất - Ảnh: LIFE
​Con cái mà nói tiếng lóng là bị cha mẹ la rầy, nhân viên mà văng những từ lóng khó hiểu là sếp không ưa, đi đến nhà người yêu mà nói tiếng lóng là bị mất điểm trong mắt ông bà nhạc tương lai.
Tuy vậy, người ta vẫn thích nói từ lóng, trước hết để tránh đề cập đến những chuyện không tiện nói huỵch toẹt, hai là để người thứ ba không chú ý, để câu chuyện đỡ nghiêm trọng, để cho vui, vân vân.
Thời nào có tiếng lóng của thời đó. Cách nay hơn nửa thế kỷ, Sài Gòn thêm nhiều người từ miền Bắc vào sống chung. Rồi lai rai người khắp các nơi, từ các tỉnh miền Trung cho đến Tây Nam bộ đến chia sẻ cái nắng cái gió Sài Gòn. Người đông, vốn từ ngữ trao đổi với nhau ngày càng phong phú.
Cuộc sống thay đổi với thời gian, nhiều từ lóng lúc đó thịnh hành, bây giờ hầu như không nghe ai nói nữa. Giới trẻ hôm nay nếu nghe lại có lẽ không biết nói gì.
Những bác  tài xế cyclo máy Sài Gòn xưa trên đường phố Sài gòn trước 1975  - Ảnh tư liệu
Xin tạm nêu ra vài từ:
Dầu cù là: bản thân dầu cù là không thể là tiếng lóng, nhưng ở đây có nghĩa là “Đảng Cần Lao”. Từ này xuất hiện cuối thập niên 1950, đầu 1960. Đó là khoảng thời gian cầm quyền ở miền Nam của chánh quyền Ngô Đình Diệm. Giới viên chức thường hỏi nhau: “Ê, ông có bôi dầu cù là không?”, là có ý hỏi: “Ông có chân trong đảng Cần Lao không?”. Có “bôi dầu cù là” thì thế nào cũng được nâng đỡ về mọi mặt vì Đảng đó do chính quyền Diệm – Nhu lập ra.
Dầu cù là vốn là loại dầu xức rất quen thuộc với đa số người Sài Gòn thập niên 1950, 1960 - Ảnh tư liệu
Tây hạ thành: mỉa mai những cái gì cổ lổ, cũ kỹ quá xá. Chẳng hạn như có người mặc cái áo cũ mèm, người ta bảo: “Cái áo đó có từ hồi Tây hạ thành”, tức là có từ cả trăm năm, từ khi người Pháp đánh thành Hà Nội. Không chỉ nói về những món đồ, từ này còn nói về khái niệm phi vật thể, kiểu như ông nào đọc diễn văn dùng nhiều từ cổ quá lủng củng và có khi biền ngẫu thì bị gọi là dùng ngôn ngữ “Tây hạ thành”. Từ này na ná như từ hiện nay cũng còn một số người xài: thời Bảo Đại ở truồng.
Con cháu nhà Hán: Trong cuốn “Hán Sở tranh hùng” có chuyện vua Hán Cao Tổ vốn họ Lưu, sau này phá tan được nhà Tần lên làm vua lập nên nhà Hán. Vì vua nhà Hán họ Lưu nên người ta dùng chữ “con cháu nhà Hán”  để chỉ những người có tánh “lưu ...manh” khó chơi.
Phỗng: Khi đánh bài tổ tôm, khi ta đánh ra hai quân bài giống nhau, người khác đánh ra một quân giống hệt, ta có quyền “phỗng”. Đáng lẽ quân bài đó người ngồi mé trên ta có thể ăn để ghép vào cỗ bài của họ nhưng ta có đôi sẵn trong tay, ta có quyền kéo quân bài đó về phía mình, đó là ”phỗng”. Người ở mé trên mình bị nâng mất quân bài đáng lẽ mình được, tức là bị phỗng tay trên. Từ này người gốc Bắc nói nhiều hơn.
Cũng như tiếng lóng, bây giờ ít người trẻ hôm nay biết "mía ghim" và xe Velo Solex rất phổ biến trên đường phố Sài Gòn xưa - Ảnh tư liệu
Khổng tử viết: Thập niên 1950, 1960 cả nước mới thoát ra khỏi chế độ phong kiến chỉ năm mười năm, nền nho học đã tàn lụi trước đó xa hơn chút nhưng vẫn còn kha khá những người theo nho học, nệ cổ.
Có anh đạo đức dù không tới nơi nhưng lúc nào cũng làm ra vẻ nhà nho đạo mạo nghiêm cẩn. “Khổng tử viết” tức là “Đức Khổng tử có nói”, trong các sách Tứ thư, ngũ kinh, các danh sĩ Trung Hoa xưa mỗi khi muốn dạy ai thường lấy câu này ra để dựa cho chắc ăn.
Thế là khi dân Sài Gòn ngán các anh hủ nho nói trên khi họ muốn lên lớp ai thì gọi là “Khổng tử viết”, muốn chỉ cho thấy rằng anh đọc sách nho học như con vẹt, chẳng thèm suy nghĩ gì.
Hia: Có nghĩa là cắt xén. Ai có tóc dài, râu dài thì bị nhắc phải ...hia bớt đi, phải cắt ngắn đi. Hia còn có nghĩa là ném, vứt, lại có nghĩa là khuân vác. Ví dụ như: “túm cổ, hia ra ngoài!”, hay “hia vài bao vô đây!”. Không ai biết tại sao có từ này, nhưng giới lính tráng miền Nam trước đây dùng nhiều.
Nghe lại những từ lóng này, có thể hình dung những ngữ cảnh cụ thể mà bây giờ những người trẻ không thể hình dung ra được.
Còn bạn, bạn còn biết những tiếng lóng nào một thời làm mưa làm gió đất Sài Gòn mà giờ "tuyệt chủng" hoặc hầu như rất hiếm người xài? Và tiếng lóng này ám chỉ gì; xài trong những trường hợp nào?
Đ.T (Theo tạp chí Chọn Lọc 1965)

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

Hải Vân Quan hoang phế bởi phận 'một vợ, hai chồng'

(Thethaovanhoa.vn) - Nằm trong tuyến du lịch “Con đường di sản miền Trung”, ở vùng giáp ranh giữa Đà Nẵng và Thừa Thiên - Huế, cụm kiến trúc cổ Hải Vân Quan, nơi từng được gọi là đệ nhất hùng quan trên đỉnh đèo Hải Vân giờ đây đang rơi vào cảnh hoang phế, không được bảo tồn và có dấu hiệu xuống cấp nghiêm trọng.
Trở lại chốn này, chúng tôi không khỏi xót xa cho một cụm di tích không được quan tâm vì cảnh “một vợ, hai chồng” - nằm ở địa giới mà Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng chưa phân giải chủ quyền!
Hải Vân Quan được xây dựng năm Minh Mạng thứ 7 năm 1826, ở độ cao 490 mét so với mực nước biển. Hệ thống phòng thủ quân sự này có nhiều công trình gồm hệ thống thành lũy, nhà kho, trụ sự, pháo đài thần công...Với vị thế nằm trên một thắng cảnh nổi tiếng, Hải Vân Quan là báu vật lẽ ra cần phải được gìn giữ cẩn thận.
“Trơ gan cùng tuế nguyệt”
Một ngày cuối tháng 10 chúng tôi chạy xe máy thăm Hải Vân Quan. Đường lên đỉnh Hải Vân sương giăng bảng lảng. Những cung đèo thoắt ẩn thoắt hiện, này lau, hoa đỗ quyên, cỏ dại, này tiếng chim hòa tấu vào núi rừng khiến Hải Vân đẹp đến sững sờ.
Không gian vỡ òa khi đệ nhất hùng quan hiện ra trước mắt. Chúng tôi không khỏi bất ngờ khi bắt gặp rất đông du khách đang tham quan tại đây. Có cả một số cặp đôi chụp ảnh cưới.
Di tích xuống cấp, nhiều người leo lên để chụp hình
Như một lẽ tự nhiên, khi thấy cảnh thiên nhiên hùng vĩ hẳn ai cũng muốn lựa cho mình một vị trí đẹp mắt để ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ. Bởi, từ di tích Hải Vân Quan nhìn về phía Bắc có thể ngắm bãi biển Lăng Cô tuyệt đẹp của Thừa Thiên - Huế và ngoái lại hướng Nam là thành phố Đà Nẵng xinh đẹp.
Di tích lịch sử là để tham quan và tìm hiểu, tất nhiên không thể không chụp hình. Thế nhưng, hình ảnh một số người dân Việt Nam lẫn du khách nước ngoài thản nhiên trèo, ngồi lên di tích, ăn uống và xả rác ngay tại chỗ, mặc dù đã được bố trí thùng rác xung quanh đã cho thấy ý thức tôn trọng, bảo vệ và gìn giữ các di tích lịch sử đang bị con người xem nhẹ.
Lối nhỏ lên cổng thành sỏi đá lởm chởm, cỏ dại mọc um tùm và ngổn ngang vỏ chai nước. Tình trạng di tích không ai quản lý; không có người trông coi giữ gìn cảnh quan; không có một tấm biển nhắc nhở giữ gìn văn hóa, di sản; không có bãi đậu xe và thậm chí không có cả WC… nghiễm nhiên đã khiến di tích vô cùng đáng “thương cảm”!
Tất nhiên, không thể trách du khách bởi một khi chẳng ai giám sát, xử phạt nếu vi phạm, thì việc kêu gọi khách ý thức bảo vệ tối đa cho di sản là không thể.

Hải Vân Quan “trơ gan cùng tuế nguyệt” trên đỉnh đèo Hải Vân 
Chờ ngã ngũ địa giới di tích đã thành hoang phế?
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng di tích bị bỏ bê và không ai chịu trách nhiệm quản lý là bởi cụm kiến trúc Hải Vân quan nằm ở vùng giáp ranh địa phận, bị tranh chấp dai dẳng giữa TT- Huế và Đà Nẵng hàng chục năm nay.
Nhìn từ góc độ địa lý, bia đánh dấu “Địa phận Thừa Thiên - Huế” và Đà Nẵng phân chia Hải Vân Quan thành hai phần. Trong đó, một phần nhỏ là bậc thang lên xuống di tích và cổng Hải Vân Quan nằm về phía Nam Đà Nẵng, và còn phần còn lại nằm ở địa phận Thừa Thiên - Huế.
Trước tình trạng di tích bị bỏ hoang nhiều năm liền, lãng phí tài nguyên văn hóa lịch sử, cả Thừa Thiên - Huế lẫn Đà Nẵng đều khao khát được chính danh địa phận để trùng tu di tích này. Cũng không ít tập đoàn, doanh nghiệp du lịch làm việc với lãnh đạo hai tỉnh để xin được cấp phép đầu tư, rốt cuộc nguyện vọng không thành vì đấy là của chung hai tỉnh.
Trước đó, ngày 17/9, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ đã ký Quyết định 6573/QĐ-UBND phê duyệt một số chỉ tiêu cơ bản cho công tác đấu thầu, để mời gọi các nhà đầu tư triển khai phát triển du lịch trên đỉnh đèo Hải Vân.
Tuy nhiên, đại diện Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, cho biết tất cả những vấn đề liên quan đến khu vực đỉnh đèo Hải Vân thì phải do Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (Đà Nẵng) và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (Thừa Thiên - Huế) có trách nhiệm kiểm tra xác định, triển khai xây dựng, phát triển ở địa điểm đó, có ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng hay không. Sau khi kiểm tra, xem xét xong thì phải có báo cáo ra Bộ Quốc phòng, khi đó mới quyết định dự án đó có được làm hay không.
Trao đổi với Thể thao & Văn hóa, ông Hồ Tấn Tuấn - Giám đốc Trung tâm quản lý Di sản văn hóa thành phố Đà Nẵng chia sẻ: “Về mặt di tích, Hải Vân Quan chưa thuộc thành phố Đà Nẵng quản lý nên chúng tôi không có ý kiến gì. 
Giờ mà thành phố hay Bộ VH,TT&DL xếp hạng và giao cho Đà Nẵng quản lý thì mình mới có nhiều biện pháp như giữ gìn, tôn tạo, phát huy giá trị. Còn Hải Vân Quan cứ đứng giữa trời như vậy, hai tỉnh thành cứ giằng co chuyện ranh giới không biết tỉnh nào quản lý tỉnh nào không thì mình có muốn cũng phải chịu chung số phận như thế chứ không thể quản lý được”.
Thật ái ngại khi mùa mưa bão đang đến mà nhiều hạng mục ở đệ nhất hùng quan đã quá mỏng manh. Đến lúc phân định rõ cụm di tích Hải Vân Quan thuộc Thừa Thiên - Huế hay Đà Nẵng, e rằng di tích có nguy cơ đã trở thành phế tích!
Những hình ảnh về Hải Vân Quan:

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

Vĩnh biệt Nhà thơ Trần Từ Duy

NHÀ THƠ , NHÀ BÁO TRẦN TỪ DUY ( ĐÔNG KI RÉT)
ĐÃ TỪ TRẦN VÀO LÚC 9 GIỜ 55 NGÀY 28.10.2015 TẠI SÀI GÒN
LỄ VIẾNG  8 GIỜ NGÀY 29.10.2015 TẠI NHÀ RIÊNG 44 TRẦN VĂN DANH, P 13, QUẬN TÂN BÌNH, SÀI GÒN.
LỄ ĐỘNG QUAN 6 GIỜ  NGÀY 31.10.2015 
AN TÁNG Ở TÂN THÀNH, BÀ RỊA-VŨNG TÀU  

XIN CHIA BUỒN ĐẾN CHỊ BÌNH, CÁC CHÁU VÀ GIA ĐÌNH
CẦU NGUYỆN BẠN THANH THẢN RONG CHƠI CÕI KHÁC

nguyễn miên thảo - viêm tịnh - từ hoài tấn - nguyễn văn trai -phạmchu sa - phù hư - rừng -  lê ký thương - lê thánh thư - đức phổ - nguyên quân - triệu từ truyền - trần vàng sao - phan lệ dung -nguyễn tịnh đông - hạ đình thao - hoàng lộc - uyên hà - ba vân - nguyễn văn hải - trần phá nhạc - hoàng thị thiều anh - lê thị ngọc quý - trần dzạ lữ - nguyễn liên châu - ngô đình hài - lê nho quế sơn - hoàng kim oanh - hồng nga và bằng hữu

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

Trần Bảo Định :HỐ THẲM



Thắp nén hương, 
thương nhớ ký giả Hoàng Sơn
người chịu đau khổ suốt đời 
người có tấm lòng bao dung vô hạn!

*
Tặng Nguyễn Miên Thảo, nhà báo
 
1.
Hoàng Sơn rạo rực, mình mẩy nóng rang, cố hết sức nhưng không thể. Anh úp mặt lên ngực vợ.Từ hố mắt, những hạt nước kết tụ thành từng giọt lăn qua khe khóe mắt, rơi xuống bụng Sáu Hồng, chảy xuôi theo dốc về lỗ rún. Vợ anh thương lắm, hai tay ôm đầu anh và dùng những ngón tay xỉa vào tóc chồng, như một thứ ngôn ngữ đồng cảm. Anh vĩnh viễn không thể thực hiện được nghĩa vụ mần chồng và, chị thì cũng vậy, cho đến chết cũng không thể mần được thiên chức của người vợ.
*
Nồi cháo cóc, mẹ tiễn cha con anh đi phu vào Nam, cả nhà chẳng ai buồn ăn. Trong căn nhà trống hoác và đầy ổ rơm trốn cái rét về đêm đó, đã theo anh suốt những chặn đường đời gian truân, nghiệt ngã. Anh không ngờ buổi chiều quê ấy, là buổi chiều định mệnh:Anh vĩnh biệt mẹ và đàn em nhỏ.
Quê anh Chương Mỹ, làng Tốt Động-cái làng nghèo khó và đầm lầy, từng vùi trên hai vạn quân xâm lược nhà Minh mà Nguyễn Trãi đã nhắc trong Bình Ngô Đại Cáo:'' Tốt Động phơi thây đầy nội, để thối ngàn năm!''-Đêm đất khách, ngày quê người; anh nhớ nhà, nhớ làng khôn xiết.
Cha và anh trở thành phu đồn điền Suối Máu, Bà Rịa. Rừng thiêng, nước độc đã quật ngã người phu già ở bìa rừng Cẩm Đường. Bà con phu nghèo thương tình cho anh manh chiếu để chôn cha. Anh đắp nắm mộ đất và làm bia mộ bằng cây rừng. Anh đứng chết lặng và không còn nước mắt để khóc tiễn đưa cha.
Chiến tranh mỗi ngày ác liệt và lan rộng. Những người phu đồn điền có thể bị bắt, bị giết bất cứ lúc nào nếu, tên ''cọp rần''(Cai đồn điền)nghi là phần tử Việt Minh.
Một đêm trời tối đen như mực, anh trốn lán trại đồn điền, băng đường rừng ra bãi tha ma, ôm mộ và thì thầm từ giã cha. Anh gia nhập bộ đội Miền Đông, Chi đội 10, dưới trướng tướng quân Huỳnh Văn Nghệ.
Từ đây, chàng thanh niên bản quán làng Tốt Động khác nào chim sổ lồng, mang chí nam nhi diệt thù cứu nước.
Anh tham gia trận đánh đoàn xe quân sự Pháp ở La Ngà trên Quốc lộ 20 vào buổi chiều 1.3.1948. Viên Đại tá Talles, Chỉ huy khu vực Đồng Nai Thượng bị giết.
Sau chiến thắng La Ngà vang dội, Tướng quân Huỳnh Văn Nghệ được ba quân phong tặng Thi tướng, thấy rằng:Bộ đội Miền Đông cần có tờ Nhựt trình (báo) để tuyền truyền và phát động phong trào yêu nước tòng quân. Tướng quân Nghệ chọn những chiến binh có tâm hồn nghệ sĩ, yêu văn chương và thích báo chí để gửi về trên học lấy tin, viết tin. Riêng anh và một vài anh em khác, cải và hóa trang, được đưa bí mật vào cơ sở nội thành Sài Gòn học việc tổ chức một tờ báo.
*
Sau ngày đình chiến (1954) Hoàng Sơn về thành, tham gia vào làng báo Sài Gòn cùng lượt với Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Trần Tấn Quốc, Trúc Chi, Thiên Giang...Đặc biệt, rất thân Nguyễn Bảo Hóa tức Tô Nguyệt Đình. Anh cộng tác với báo Dân Chúng của Trần Nguyên Anh, do Phi Vân làm Tổng thư ký tòa soạn; báo Dân Chủ của Vũ Ngọc Các, báo Ngôn Luận của Hồ Anh...Một thời gian sau, Trần Tấn Quốc-bậc thầy về tổ chức tờ báo- kêu anh sang làm báo Tiếng Dội-một tờ báo có uy tín thời bấy giờ- nơi ông đang đảm trách Thư ký tòa soạn. Anh trở thành trợ thủ đắc lực cho nhà báo lão thành Trần Tấn Quốc. Và, tại đây anh có dịp thân quen các cây bút chủ lực của tờ báo Tiếng Dội, như:Ngọc Hồ, Ngọa Long, Triệu Võ, Triệu Công Minh...Bấy giờ, anh như cá gặp sông dài biển rộng.
Nhưng, cái sự đời đâu dễ dàng yên ả thế! Người xưa thường nói:Họa đơn vô chí, phước bất trùng lai. Biết vậy, nên ông bà mình dặn:Lúc an cư phải lo tư nguy. Hoàng Sơn chủ quan, gặp đại nạn.
*
Thằng S.T, hồi trước ở chung đơn vị với anh bị Đoàn công tác đặc biệt Miền Đông(PSE Gia Định) đóng ở bót Hàng Keo. S.T. chịu không nổi những đòn tra tấn, khai ra anh. Thiệt ra, từ ngày anh về thành đến giờ chưa có ai hoặc tổ chức nào đến móc nối anh. Vả lại, anh chẳng phải đảng viên vì lý lịch chưa rõ ràng. Hoàng Sơn bị bắt trên đường Trương Tấn Bửu khi đạp xe đạp về căn gác trọ.
Hai tháng trôi qua, anh thưởng thức ''đủ món ăn chơi'' và ''đủ mùi vị địa ngục trần gian'' ở bót Hàng Keo, Gia Định. Anh thừa chết thiếu sống không nhớ nổi bao lần.
Viên thẩm vấn muốn biết ai là Tổng Tào Lao(1) ở báo Buổi Sáng?Mối quan hệ và biết gì về tên Trần Tấn Quốc?Anh chấp nhận chết. Bởi, anh chẳng có gì để luyến lưu sự sống. Mỗi lần như vậy, anh im lặng, không khai. Chúng đánh vào thân anh, khác chi đánh vào cục đất. Anh quằn quại, chúng cũng vả mồ hôi và ê ẩm cả mình!
Lần tra tấn cuối cùng, anh bị buộc dính vào cái ''bọ ngựa'', thân thể trần truồng, con c...anh nó thụt tuốt luốt chỉ còn núm da nhầy nhầy hôi thúi. Có lẽ, nó khiếp sợ nên trốn?Cũng có thể nó ''đấm con c...''ngó cái lũ đầu trâu mặt ngựa trong cái tổ quỷ? Một thằng đen như Miên, to con như trâu đực cổ, nó dùng bàn tay ''hộ pháp'' lôi đầu con c...của anh kéo nhẵng ra. Tội nghiệp, cái đầu con c...lòi khất, muốn chui trốn đâu cũng vô phương. Chúng hì hụp dùng dây thung cột con c...của anh dính cứng ngắc vào mặt khúc cây láng o như mặt tấm thớt me.
Viên thẩm vấn cầm cây đinh loại đóng ván cầu dài hơn 1 tấc, dí vào mặt anh:
- Đ.M, tau hỏi mầy lần cuối, thằng Tổng Tào Lao trốn ở đâu?Không khai, tau cho tụi nó xỏ cây đinh nầy qua khất con c...mầy, đầu c...lìa khỏi khất. Mầy không theo ông theo bà, nhưng vĩnh viễn mầy chẳng mần nổi thằng đờn ông.
Nó đi tới đi lui, huơ huơ cây đinh cái mũi nhọn liễu, rợn người. Bất chợt nó quay lại, vỗ mạnh vai anh, diễn bộ tịch thân tình:
- Khai đi bạn-người chiến binh của Tướng quân Huỳnh Văn Nghệ-Mầy giữ khí tiết để đánh đổi mất khả năng tình dục?Mầy chưa phải đảng viên, cần chi hy sinh như vậy?
Nó cầm chai rượu Ballantine's chiêu một ngụm, phun phèo phèo vào mặt anh. Anh nhắm nghiền đôi mắt, im lặng như im lặng bao lần trước. Tai anh nghe mơ hồ như tiếng chó sủa ma:
- Bọn nằm vùng ở các báo, các tổ chức văn nghệ trá hình đã bị bọn ông hốt sạch sành sanh. Chắc mầy biết:Trang Thế Hy, Viễn Phương, Lê Văn...và vài chục mạng khác đã vào nghỉ dưỡng ở Tân Hiệp, Phú Lợi, Chí Hòa, Côn Đảo, Phú Quốc...Chẵng lẽ, mầy ''mình đồng, da sắt, cặt xi măng?''
Hoàng Sơn bị đày ra Côn Đảo với con c...đã mất đầu!

2.
Người Sài Gòn đón Giáng Sinh năm 1964 trong không khí nghi kỵ và buồn tẻ. Hoàng Sơn thì khác, anh như cánh chim lữ thứ đã có tổ để về. Anh vui như chưa bao giờ được vui. Đi bên anh, Sáu Hồng-người vợ không lễ cưới-bạn tù Côn Đảo, cùng được thả ra sau ngày ông Diệm, ông Nhu bị giết. Gái nhà quê, bước những bước chưn quê trên đường phố Thành đô, Sáu Hồng tràn trề hạnh phúc.
Nắng chiều đẩy bóng những dải nhà rớt xuống lòng đường Lê Lợi, vợ chồng anh thư thả bách bộ và cảm thích lời chào mời mua hàng bán tụm năm, tụm ba dọc lề đường.
- Em, thôi mình vào Mai Hương uống nước, nghỉ chưn.
*
Vừa múc muỗng kem lạnh đưa vào miệng, Sáu Hồng cảm giác ê răng, tê buốt tận óc. Chuyện cũ chợt thoáng về, Sáu trầm ngâm hồi tưởng:Từ một đứa bé gái mồ côi, lớn lên thành thôn nữ Gò Cát, theo dì đi sớm về tối bán hàng bông ở chợ Mỹ Tho. Tụi lính đồn thấy Sáu trổ mả đẹp dáng, đẹp mặt, thường thả mồi dê...thả miết, mồi rã mà cá chẳng đoái hoài, chúng đâm ra quê...rồi, quê hóa tức...tức trở nên ghét và hại cho bỏ ghét!Trời đất, Sáu đâu ngờ một chút hồng nhan thành phận bạc. Cả xóm Gò Cát, chẳng hiểu lý do gì Đoàn Dân Ý Vụ Định Tường bắt Sáu?
Thiệt tình, Sáu biết gì mà khai, chỉ có thác thôi! Gần một năm bị giam tại Trung Tâm thẩm vấn thuộc Ty Cảnh Sát Định Tường, Sáu từ một cô thôn nữ thơ ngây chưa dám chạm vào tay con trai, trở thành đờn bà lỳ lợm...thằng nào muốn đập, muốn đánh; muốn chơi kiểu, chơi cách gì...
cái thân xác vô cảm đó thí cô hồn cho bọn ''mặt người dạ thú'' tùy nghi sử dụng. Tưởng vậy đã xong, không ngờ có mấy đứa chơi đểu, bắt lươn chui vào cửa mình...Sáu nổ đom đom mắt, chết giấc chết giả mấy lượt mấy lần...máu ri rỉ từ cửa mình cả tháng trời chưa dứt.
Lần đó, độ nửa đêm, Sáu bị dẫn lên phòng thẩm vấn. Bốn thằng quỷ ở trần, đeo mặt nạ, nặc nồng mùi rượu...đứng chờ đợi con mồi ốm tong teo, da xanh xao vàng vọt, không đứng vững phải có người kè, chưn lê từng bước một.
- Đĩ cái, lươn đ...sướng hỉ?
Âm giọng nhừa nhựa như lời của quỷ từ địa ngục vọng về. Sáu rùng mình, sỡn tóc gáy.
- Tui nói rồi, tui hổng biết hầm hố, hổng biết ''ông tối trời'' nào...
Tẹt!Tẹt! Te...âm thanh khô khốc dội ngược trần nhà. Cái áo che thân đẫm mùi ẩm mốc mồ hôi lẫn máu khô, rơi từng mảnh xuống sàn xi măng lạnh ngắt. Sáu chúi nhủi té dập đầu vô tường.
- Nọc Trưởng, không nhiều lời, chơi nó đi. Đại úy lệnh, nếu nó ngoan cố không khai, thì...
Thằng khác hình như nôn nóng.
- Lẹ lên Nọc, còn nhậu tiếp, kẻo mồi nhậu nguội!
Sáu nghe tiếng được tiếng không, lũ chúng dựng Sáu đứng dậy, buộc từng nuột dây vào cây cột dùng chơi trò ''đi tàu bay''.
- Đĩ cái, tau hỏi lần chót:Mầy khai không?
- Tui biết gì khai với mấy ông?
Cái thằng nhỏ thó, dáng nhóc con, tiếng the thé; tay cầm cái kềm răng bén ngót, tay nâng nâng bóp bóp vú. Sáu bị chúng buộc cứng ngắt, chẳng cựa quậy né tránh vào đâu được. Chợt nó vò vò, se se hai đầu núm vú.
- Mẹ mầy, cho mầy được phép ngó hai đầu núm vú của mầy lần chót, con đĩ!Đời mầy tàn rồi con, tới chết mầy cũng chẳng thể làm mẹ.
Thằng khác chen vô:
- Khí tiết! Khí tiết, cái con mẹ mầy!
*
Ly kem tan thành nước, phố bắt đầu thắp đèn. Những tà áo dài đủ sắc màu lộng lẫy của thiếu nữ Sài Gòn ken nhau theo chiều gió. Khung cảnh thanh bình, bởi bom đạn chưa về đến Đô thành. Hoàng Sơn ngồi im, tôn trọng nỗi đau của vợ; đến lúc phát hiện dòng nước mắt chảy lên khuôn mặt đôn hậu, thiệt thà của Sáu, anh cầm lòng chặng đặng.
- Về nhà thôi mình!
Khách trong bar Mai Hương tưởng vợ chồng có chuyện cãi nhau. Họ nhìn theo, bĩu môi!?
*
- Cậu em(2), sớm mai xuống xưởng in phụ sắp bản kẽm, sửa bản in.
- Thưa anh, em học việc chưa biết gì, sao dám phụ sửa sắp?
- Rồi cậu sẽ biết!
Ký giả Hoàng Sơn nói câu chắc nịch.
Thời gian, sợi dây ràng buộc tình thân giữa vợ chồng Hoàng Sơn và cậu em. Họ làm việc chung, cùng ăn ngủ chung nhau trên căn gác xép tòa soạn báo Cứu Dân, Dân Kêu, số 261.đường Phạm Ngủ Lão, Sài Gòn, cặp hai bên là báo Tiếng Vang, Độc Lập.
Hàng ngày, Sáu Hồng đi chợ, lo cơm nước; cậu em chịu khâu săn tin, lấy tin và làm mọi việc được phân công, Hoàng Sơn vừa Quản trị, vừa viết bài...đồng thời, quán xuyến tờ báo. Hoàng Sơn là một trong rất người tổ chức hiệu quả tờ báo. Nhưng, anh giấu mặt, giấu tên, âm thầm và mê công việc báo chí. Một số anh em chí cốt với anh trong làng báo Sài Gòn thời đó, thắc mắc
thì anh tâm sự: Mình bỏ việc báo Dân Ý chẳng khác chi tên tội phạm chạy trốn. Chúng tức, lùng sục kiếm tìm, biết mình làm báo ở đâu chúng đến phá ở đó. Muốn yên, mình lặn. Vậy thôi!
Ngủ chung sàn gác với vợ chồng anh, cậu em ái ngại; xin ngủ chỗ khác, vợ chồng anh giận và không cho. Đôi khi anh uống chung rượu theo cơm, cười khà khà rồi bảo:
- Tau với chị cậu mầy có làm được trò khỉ chi, cậu mầy ngại.
Rồi, anh nói một hơi tuốt tuồng tuột:
- Cậu em mầy, biết con Lu Lu ngủ chung với anh chị cậu mầy bao lâu chưa?Còn 1 tháng 21 ngày nữa chẳng 3 năm. Có đêm chị cậu mầy ôm nó ngủ, có đêm anh mầy. Nhiều đêm, giành con Lu Lu mà vợ chồng hờn mát. Nầy, Lu Lu có ngại bao giờ?
Chị nói khi trời trái gió, chị đau nhức và có cảm giác hàng triệu triệu con kiến, con bọ dòi...lúc nhúc bò thấu ruột gan trong người chị. Anh kể, mỗi lần chị rờ con c...anh tù vù đứt đầu, chị ngó đầu núm vú mình đứt lìa bầu vú. Vợ chồng phá lên cười rung rinh sàn gác, cậu em thức giấc nằm im. Chị nói như đùa: Mình c...đứt đầu, em vú đứt núm. Có lẽ, ý trời cho tụi mình muốn thành chồng vợ thì phải như vậy chăng?Nói xong, vợ chồng anh cười khúc khích!
*
Thời đó, Sài Gòn báo phát hành buổi chiều. Đường Phạm Ngũ Lão từ đầu chí cuối có nhiều tòa soạn báo nên chộn rộn tiếng người; đông ken xích lô máy, xích lô đạp chờ chực nhận báo đi giao mối. Một hôm, tự dưng có người đậu xích lô đạp trước tòa soan Dân Kêu cạnh tòa soạn báo Tiếng Vang, bỏ xích lô, vụt chạy trối chết về hướng chợ Thái Bình. Bà con tưởng cướp giựt, chận bắt và dẫn về tòa soạn báo Dân Kêu. Ông ta sụp lại như tế sao ký giả Hoàng Sơn. Trời đất, quỷ thần, chẳng ai hiểu ất giáp gì cả.
Hoàng Sơn tỉnh rụi, bảo cậu em ghi sổ giao báo, còn mình nắm tay ông đạp xích lô chỉ ngõ trèo lên gác.
- Mình ơi!Có bạn đến chơi.
Ông đạp xích lô vịn cầu thang, bước từng bậc, chưn run như cầy sấy, mồ hôi vả ra ướt áo.
- Chào Thẩm vấn!Ông khỏe không?
- Lạy ông, đừng gọi con như vậy!
Kẻ đóng đinh đứt đầu c...ngày xưa, giờ đương quỳ trốn mặt trên sàn gác. Cuộc hội ngộ không hẹn và lạ lùng. Sáu Hồng bưng nước trà mời bạn chồng, thấy chuyện kỳ cục nhưng chẳng tiện hỏi.
- Mời anh dùng nước.
Tên Thẩm vấn ngước đầu lên.
- Thưa bà, con không dám!
Sáu Hồng hốt hoảng:
- Chết!Sao anh nói vậy!

3.
Kể từ lúc gặp lại viên thẩm vấn bót Hàng Keo-họ tên đầy đủ là Hoàng Đình Tư-Anh thường đứng lóng ngóng trước cửa Tòa soạn báo vào giờ báo phát hành, như có ý chờ đợi cố nhân. Đã nhiều buổi chiều như thế!
Hoàng Sơn buồn dàu dàu, nét mặt thường đăm chiêu:Mình nói với Đình Tư rồi, những chuyện cũ mình liệng vào lòng biển, khi con tàu đưa tù nhân-trong đó có mình-đến Côn Đảo. Thiệt lòng, mấy năm đầu anh nuôi thù trả oán, mỗi lần ngó con c...đứt đầu, trái tim anh khó thở, khí huyết trào ngược lên não, hận thấu xươngg. Anh thề sẽ trả mối thù bất cộng đáy thiên nầy!Chẳng phải thời gian xoa dịu mối thù mà, thời gian giúp anh chiêm nghiệm thiện ác trong cuộc sống của con người. Đất nước, gió mây, mưa nắng... tạo nên cái đẹp thiên nhiên tuyệt trần, nó tích tắc biến đổi theo thời gian trong cái đảo tù địa ngục. Với anh, thiên đàng ở nơi địa ngục và ngược lại. Rồi những đêm thanh vắng, chưn bị xiềng, anh nằm nghiêng nghe sóng đại dương quất từng chập vào bờ biển đảo âm thanh ghê rợn. Anh tự hỏi, ai quất vào ai?Sóng đại dương hay bờ biển đảo?Anh ngộ ra, thiên hạ bày trò, anh em đổ máu và thù hận. Thiệt lãng xẹt! Những ngày đốn cây rừng Ma Thiên Lãnh, nhìn bầu trời xanh, khói sóng nối biển tận chưn mây, anh thắc mắc:Cái hố thẳm nào sinh, cái hố thẳm nào diệt?Diệt-Sinh ẩn núp trong cái lỗ đen hay, cái lỗ đen đẻ ra Sinh-Diệt?Lần hồi, thâm tâm anh nhạt dần thù hận và nó chết trong tim anh lúc nào anh cũng không rõ.
Anh gọi kẻ thù cũ bằng bạn khi giới thiệu viên thẩm vấn với vợ là, anh tự xóa thù. Vả lại, tuyệt nhiên, anh không muốn cơn đại hồng thủy thù hận tràn ngập vào người thân; đồng thời, anh không ''xỏ lá'' trước sau một mực thiệt tình giữ thể diện đẹp cho bạn.
Tại sao, Đình Tư không đạp xích lô đến lấy báo Tiếng Vang chở đi bỏ mối?Anh bồn chồn trong bụng. Cố lánh mặt anh hay có chuyện?
- Cậu em, trưa mai sẵn đi lấy tin, cậu ghé dọc theo đường Phạm Ngũ Lão thử dò hỏi mấy đứa đạp xích lô coi Đình Tư cả tuần nay sao vắng, không chở báo.
Trước khi trở lên gác, anh còn dặn, sợ cậu em quên.
*
Viên thẩm vấn Hoàng Đình Tư theo gia đình di cư vô Nam, tham gia Đảng Cần Lao và được tuyển chọn vào ngạch Thẩm sát viên thuộc Đoàn công tác đặc biệt Miền Đông (PSE Gia Định).
Sau ngày Đệ nhất Cộng Hòa bị lật đổ, Đình Tư bị bắt, hứng những trận đòn thù từ phe đảo chánh và bị đày ra Phú Quốc, đến giữa năm 1967 mới được thả ra trong cảnh ngộ thân tàn ma dại, vợ con ly tán. Ở nhà thuê khu Hàng Xanh, mướn xích lô đạp kiếm sống đắp đổi qua ngày.
Anh bâng khuâng nhớ lại những gì Đình Tư thố lộ cùng anh trong chiều hội ngộ. Trôi theo dòng suy nghĩ, Hoàng Sơn không để ý cậu em đang đứng bên cạnh.
- Thưa anh, em nhờ chú Hai Néo chở báo Chính Luận bên đường Hai Bà Trưng nhắn Đình Tư đến tòa soạn gặp anh, có chuyện cần gấp.
Anh mừng ra mặt, nhét 50 đồng vào túi áo cậu em, thưởng công.
*
- Tôi đã nói với bạn rồi, chẳng ai chặn và níu thời gian chậm hoặc dừng lại được. Chuyện qua thì tự nó đã qua. Giờ tôi với bạn là người với người, chớ nào người với thú!Tôi không thù bạn, mắc mớ gì bạn tạo tâm lý ức chế giả mạo thù để sợ thù. Quên đi bạn.
Hai anh em ngồi lề đường Lê Lai uống La de Con Cọp với dĩa nghêu luộc nóng hổi. Anh không muốn tiếp Đình Tư tại tòa soạn, ngại vợ nghe chuyện.
Khuôn mặt nhăn nheo già trước tuổi của Đình Tư, hứng những giọt nước mắt muộn màng hay đúng lúc thì anh không biết; chỉ biết rằng, tất cả chuyện đời từ cái tâm mà ra. Anh không oán trời, trách người; anh không nãn chí ngã lòng khi phải trực diện cái đau khổ, cái chết...Anh đã quá rồi, đã đến đổi đó là niềm vui để sống. Nói vậy, anh chẳng có ý triết lý ''ba xu'' dạy đời, chỉ là thực cái bụng đối với kẻ hôm qua là thù, hôm nay là bạn.
- Thưa anh, tôi không xứng...
Anh khoác tay, chặn:
- Không xứng với xứng cái con mẹ gì trong cái cuộc đời hối hả và ngắn ngủi.Ta biết sống cái đã. Mọi thứ chỉ thực khi là mộng.
Anh nhận Đình Tư vừa một chưn bảo vệ tòa soạn, một chưn tiếp tục lấy báo Tiếng Vang bỏ mối
để có thêm thu nhập. Sáu Hồng vô tư, không biết hai người đờn ông đó từng có''kỷ niệm đối đầu trời sầu đất thảm''. Nếu biết, chắc gì Sáu Hồng để Đình Tư yên?
Hoàng Sơn là con chim rừng đại ngàn lạc giữa đồng loại. Anh đi và về lủi thủi một mình cô độc. Anh thương quê nhà và yêu lẽ phải. Anh là nạn nhân cái bình thường nhất của đời người, đôi khi trở thành lực cản kẻ háo danh và tham vọng. Anh chạy trốn với chính mình vì, anh sợ mình có chữ nhưng thiếu nghĩa; anh sợ người quyền cao chức trọng vì,người quyền càng cao chức càng trọng, dễ trỗi dậy thú tính nếu cái tâm thiếu tu dưỡng.. Anh cô đơn giữa Đô thành Sài
Gòn, lạc loài giữa rừng tòa soạn báo chí đường Phạm Ngũ Lão. Tờ báo Dân Kêu không là tờ báo ''lá cải'', tờ báo của người ''áo rách khố ôm'', nhưng thiếu tiền, không thế lực, mỗi số phát hành ít ỏi nên chìm trong rừng sách báo Sài Gòn.
Do vết thương cũ hành hạ, Hoàng Sơn ngày một đau yếu. Tờ báo Dân Kêu bị quy luật thị trường ''Cá lớn đớp cá bé'' ngày càng suy sụp theo sức khỏe của Hoàng Sơn. Một hôm, anh kêu cậu em lên gác nói chuyện:Anh em mình đến lúc chia tay. Hợp tan, lẽ thường khi trong cái trời đất mênh mông nầy. Cậu còn quá trẻ, hãy tự chọn cho đời mình một con đường với hành trang ''Dân Kêu''.Đừng buồn cậu em, đừng bịn rịn nhục chí nam nhi.
Đêm nằm chờ sớm mai chia tay, Hoàng Sơn nói rất nhiều chuyện đời, chuyện người...cốt truyền kinh nghiệm để cậu em nghe và suy nghĩ khi độc hành vào chốn ''trường văn, trận bút''.
Anh kể rằng, lúc ở tù Côn Đảo về, anh bơ vơ trên đất Sài Gòn, may nhờ có Trần Tấn Quốc rồi sau đó, Văn Lương, Tô Nguyệt Đình và một số bằng hữu thương giúp đỡ.
Đầu năm 1964, anh ngã bịnh một trận thập tử nhất sinh, anh chị em Hội Ái Hữu Ký giả tổ chức quyên góp được một số tiền, giao cho ông PVĐ Chủ bút một tờ báo nổi tiếng ''lá cải'' ở Sài thành thời đó, thay mặt Hội chuyển đến anh. Nhưng, gặp phải tay ''trời thần'' cỡm hết số tiền.
Khi anh hết bịnh, ông ta dàn dựng rũ một số ký giả trong Hội đến thăm và trao bao thư dán kín cho anh trước mặt mọi người, gọi là tiền của Hội gửi. Khách về, anh xé bao thư tiền chẳng có, toàn giấy vụn. Anh cười ngất muốn rụng luôn con c...!Vài hôm sau, ông Đ. điện thoại xin lỗi, anh trả lời:Ông xài dùm, tôi khỏi xài...tiền mất đi đâu mà lỗi với phải!
Tiếng xích lô máy chạy ngoài đường, có lẽ giờ nầy đã quá nửa đêm về sáng. Anh tặc lưỡi nhiều lần khi nhắc đến cuốn Tiểu thuyết ''Cọp Ba Móng'' bởi, anh thai nghén nó từ hồi còn mặc áo chiến sĩ Chi đội 10 ở Đồng Nai.
Người bạn thân thiết anh, Văn Lương góp ý thẳng thắn ''Cọp Ba Móng'' lúc còn bản thảo. Đến khi tác phẩm ra đời, tên anh biến thành Sơn Linh(!?) vì, người bạn- một Soạn giả kiêm Ký giả- nhảy xỏm vào và anh mất luôn bản quyền!
Cậu em thốt lên:
- Nghe sao buồn quá!
4.
Thời cuộc chuyển nhanh, khó lường. Hỏa châu đỏ trời Đô thành đêm và bom đạn cày nát phố phường. Tết Mậu Thân!
Hoàng Sơn thắt tha thắt thõm, trông đứng trông ngồi Đình Tư. Kinh nghiệm người lính chiến trường, anh bình tĩnh và phán đoán hướng đi của làn đạn chính xác. Anh lo cho Đình Tư vì nghe nói khu Hàng Xanh bom đạn đã san bằng. Mấy lần anh dọm lấy xe đạp, đạp ra ngoài đó coi sự thể. Vợ can ngăn:
- Mình đau yếu thế nầy, đạn bom rần trời...Em không cho mình đi.
Anh trăn trở, thao thức theo tiếng bom rơi!
*
Đình Tư bặt tăm. Chắc là, đã chết trong loạn lạc!
Tòa Soạn báo Dân Kêu bị Cảnh sát nhiều lần sách nhiễu, lập biên bản tịch thu báo, bị bắt buộc gỡ bỏ áp-phích quảng cáo:Ai thiếu gạo, đọc Dân Kêu! Báo càng bị tịch thu, nguy cơ sập tiệm càng gần. Sức anh kiệt dần...Tờ báo Dân Kêu tắt tiếng khi Tổng Thống Thiệu ban hành Sắc luật 007/72 ký ngày 5.8.1972, buộc mỗi tờ nhật báo muốn hoạt động phải kí quỹ 20 triệu đồng. Chủ bút nào không nộp tiền kí quỹ đủ, đương nhiên bị rút giấy phép.
''Dân Kêu'' tự đóng cửa. Đêm anh ho nhiều, con chó thay chị truyền hơi ấm cho anh. Chị không thể sưởi ấm anh vì, trong cơ thể của chị như có hàng triệu con kiến, con bọ dòi bò lúc nhúc...da thịt chị đụng vào bất cứ đâu, nó cũng đau và giật nẫy mình lên. Anh quơ tay vuốt tóc chị:
- Tội nghiệp mình!Tui chết mình ở đâu?
Anh thấy nụ cười của vợ qua ánh đèn đường hắt lên căn gác.
- Anh không thể chết. Chết bỏ vợ lại cho ai?
Vợ chồng nhìn nhau cười như đuổi thần chết đi chơi chỗ khác. Con chó cũng đồng tình, dúi đầu vào ngực chủ mấy cái. Ngoài trời, mưa đêm lâm thâm!
Hai ngày sau, anh bảo vợ gối đầu lên cánh tay chồng, tay anh xoa đôi gò má chị. Đột nhiên anh hôn chị.
- Mình còn thiếu tiền thuê nhà 2 tháng, anh giao em chiếc nhẫn ngày đó thay lễ cưới và số tiền để hộc bàn tài liệu của anh. Mai nầy hữu sự, em thanh toán nợ nần.
Chị cố phá tan cái điềm gỡ:
- Có gì thận trọng lo toan vậy, phu tướng của em?
Nói thì nói cứng, chớ trong lòng chị đâm lo.
Giọng anh khàn khàn, đục đục; hơi thở mong manh như làn khói.
- Anh chết, thiêu xác rồi mang nắm tro tàn về gửi chùa Tân Hiệp, để hồn anh được nghe kinh kệ. Còn em, rời Sài Gòn trở lại nơi đã sinh.
Anh ngưng nói để thở, tay mân mê tóc vợ:
- Em ơi!Mình từ hố thẳm mà ra, rồi quay về hố thẳm...thương tiếc cũng chẳng được gì em, chỉ tội cho nhau. Chuyện vô thường mà !
Chị ngồi bật dậy, bụm miệng chồng:
- Mình đừng làm em sợ!
*
Ngày 29 tháng 3 năm Qúy Sửu, tức ngày 1.5.1973, Hoàng Sơn trút hơi thở cuối cùng trên tay người vợ yêu quý. Anh bất động, lắng nghe tiếng thời gian!
TRẦN BẢO ĐỊNH
Tân An, đêm 23. 10.2015.
*
(1)Bút danh của Trần Bạch Đằng, nguyên Bí thư Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
(2)Nguyễn Miên Thảo, nhà báo, nhà thơ
*
Ảnh:Từ trái
1. Bùi Giáng 2. Thanh Tâm Tuyền. 3. Mai Thảo. 4. Nguyễn Xuân Hoàng.
tại Tòa soạn Văn, 38. Phạm Ngũ Lão Saigon (1973)

Chép lại từ FB Trần Bảo Định
Top of Form