Thứ Tư, 13 tháng 7, 2016

'Tại sao chỉ hư cấu mới làm nên văn chương?'

 Nguyên Ngọc cho rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển làm cuộc cách mạng khi trao Nobel Văn chương cho Svetlana Alexievich, bởi họ đánh đổ thành kiến "chỉ văn học hư cấu mới giá trị".
Gần 20 năm trước khi Svetlana Alexievich (nhà báo, nhà văn người Belarus) dành giải Nobel Văn chương năm 2015, Nguyên Ngọc đã biết và dịch tác phẩm của bà ra tiếng Việt. 
Không chỉ là nhịp cầu đưa Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ đến với bạn đọc Việt, Nguyên Ngọc với con mắt của một nhà văn có cái nhìn sâu hơn về ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
- Từ đâu ông biết tới cuốn “Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ” và dịch nó vào những năm 1980?
- Tôi dịch cuốn sách này lần đầu là vào năm 1987, sau khi đọc được tác phẩm in trên tạp chí Văn học Xô viết - một xuất bản phẩm của Hội Nhà văn Liên xô chuyên giới thiệu văn học Xô viết ra nước ngoài, bằng tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nha… Tôi dịch qua bản tiếng Pháp. Khi đó, sách in ở nhà xuất bản Đà Nẵng.
Đến năm 1989, tôi có gặp tác giả khi bà sang thăm Việt Nam. Bà bảo bản dịch ra tiếng Việt của tôi mới chỉ là một phần cuốn sách của bà. Vì in trên tạp chí vốn có khuôn khổ hẹp nên tác phẩm đã bị lược bớt đi. Về sau tôi còn được biết, ngoài ra, ngay trong nguyên bản tiếng Nga, sách còn bị kiểm duyệt bỏ đi nhiều đoạn. Và hồi đó chính tác giả cũng tự kiểm duyệt cuốn sách của mình.
Lý do tôi dịch cuốn sách này vì muốn chia sẻ với mọi người một tác phẩm hay mà mình ưa thích. Và cũng muốn giới thiệu, gợi ý với các đồng nghiệp của tôi ở trong nước một cách nhìn và viết về chiến tranh mới mẻ, độc đáo. Chiến tranh đã và còn là một đề tài lớn của văn học Việt Nam. Hẳn các cây bút người Việt có thể tìm được từ Svetlana Alexievich không ít bài học bổ ích.   
'Tai sao chi hu cau moi lam nen van chuong?' hinh anh 1
Nhà văn Nguyên Ngọc. Ảnh: 
- Vì sao tới 2016, ông lại quyết định dịch mới hoàn toàn tác phẩm này?
- Sau khi Svetlana Alexiévitch được giải Nobel về văn học năm 2015, có nhà sách đề nghị tôi dịch toàn bộ Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ. Lúc đầu tôi nghĩ tôi chỉ cần làm nốt những phần chưa dịch 20 năm trước. Hóa ra không hề như vậy.
Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ là tác phẩm đầu tay của Svetlana, Và ngay từ tác phẩm đầu tiên của mình, nhà văn mấy mươi năm sau sẽ được vinh danh bằng giải thưởng văn chương danh giá nhất thế giới, đã gặp không ít khó khăn. Cuốn sách được viết xong từ năm 1982, nhưng bị tất cả các nhà xuất bản ở Liên Xô bấy giờ từ chối. Vì nó viết quá thực về chiến tranh.
Cho đến 1985, sách mới được in, và ngay từ đầu, số lượng phát hành đã lên đến hai triệu bản! Tác giả nổi tiếng khắp Liên bang.
- Cuốn sách ông dịch năm 2016 khác gì so với cuốn sách ông đã dịch 20 năm trước?
- Tác phẩm tôi dịch của Svetlana lần này là một cuốn sách gần như hoàn toàn khác cuốn sách tôi đã dịch trước đây. Tất nhiên, có một số câu chuyện cụ thể giống nhau, nhưng tác giả đã viết lại toàn bộ. Sách dài hơn, trước chưa đến 200 trang, nay là gần 500 trang. Phong phú hơn, thực hơn, dữ dội và sâu sắc hơn.
Giữa cuốn sách trước và cuốn sách này là 17 năm đầy ắp trải nghiệm của tác giả trong một nước Nga biến động như chưa từng có, biến động lịch sử lớn nhất của thế kỷ XX. Lần này Svetlana còn cho in lại một số đoạn đã bị kiểm duyệt cắt bỏ trước đây, những đối thoại của bà, lúc bấy giờ còn rất trẻ, với nhân viên sở kiểm duyệt. Lại còn có những đoạn chính tác giả tự kiểm duyệt hồi bây giờ.
Tóm lại, tôi đứng trước một tác phẩm hoàn toàn mới. Việc dịch do vậy cũng thích thú hơn. Và người đọc, nếu đã từng đọc cuốn sách cùng tên mấy mươi năm trước, lần này sẽ được đọc một tác phẩm mới, trong đó, tinh ý, sẽ có thể nhận ra, bên dưới những câu chuyện về chiến tranh được kể một cắch độc đáo, cả một dòng ngầm dấu ấn những biến động dữ dội của một thế kỷ mà nhà sử học nổi tiếng Hobsbaum gọi là “Thời của những cực đoan”, hay là “Lịch sử của thế kỷ XX ngắn”.  
- Vì sao ông dịch từ bản tiếng Pháp chứ không phải nguyên gốc tiếng Nga? Liệu việc dịch qua một ngôn ngữ trung gian có làm mất đi cái hay trong ngôn ngữ gốc?
- Đơn giản thôi, vì tôi không thạo tiếng Nga. Tôi đã cố gắng đạt mức “tín” tối đa có thể, bằng cách đối chiếu với bản dịch tiếng Anh, và với bản nguyên gốc tiếng Nga khi cần thiết, qua sự giúp đỡ của một số người bạn thông thạo tiếng Nga.
- Tại sao bản sách năm 1987 có tên “Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ”, tới bản 2016 lại thành “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”? Từ “một” ở đây có ý nghĩa như thế nào?
- Bản tiếng Pháp của tạp chí Văn học Xô viết năm 1987 có tên là La guerre n’a pas visage de femme - Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ. Bản tiếng Pháp của nhà xuất bản Acte Sud – Paris năm 2015 có tên là La Guerre n’a pas un visage de femme, Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ.
Tôi có chú ý sự khác biệt này, theo tôi là rất có ý nghĩa. Chiến tranh có thể có nhiều khuôn mặt, nhưng trong rất nhiều khuôn mặt khả dĩ đó, không có một khuôn mặt nào là của người phụ nữ cả. Chiến tranh, ngay về bản chất của nó, là đối kháng tuyệt đối với người phụ nữ. Người phụ nữ, ngay về bản chất tự nhiên của họ, tuyệt đối không thể chấp nhận chiến tranh… Vậy mà họ đã phải làm chiến tranh. Nếu chiến tranh là phi nhân, thì nó càng vô cùng phi nhân khi người phụ nữ phải tự tay mình làm chiến tranh... Cuốn sách của Alexievich, về cơ bản, là một cuốn sách phản chiến, đến tuyệt đối.
'Tai sao chi hu cau moi lam nen van chuong?' hinh anh 2
Sách Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ mới được phát hành tại Việt Nam. Ảnh: 
- Trong quá trình dịch, ông ấn tượng với điều gì ở cuốn sách?
- Về chiến tranh, về cuộc chiến tranh chống phát xít Đức của Liên Xô 1941-1945, ta đã biết rất nhiều tác phẩm nổi tiếng, của Simonov, Cholokhov, Bykov, Raspoutine, Grossman… và hàng trăm tác giả khác. Đến Svetlana Alexievich, vẫn là về cuộc chiến tranh đó, nhưng ta bỗng gặp môt cuộc chiến tranh hoàn toàn khác: cuộc chiến tranh dưới cái nhìn của người phụ nữ, trong cảm nhận của người phụ nữ. Trong cảm nhận đàn bà của họ.
Chiến tranh, dẫu muốn nói gì thì nói, là hủy diệt con người, hủy diệt sự sống. Trong khi bản chất của người phụ nữ, chức năng của họ, là sinh ra sự sống, sinh ra con người. Bằng công việc của mình, cách nhìn và khám phá của mình, tác phẩm của mình, lần đầu tiên trong văn học thế giới, Svetlana đã buộc chiến tranh đối mặt với cái đối nghịch tuyệt đối của nó, vạch trần toàn bộ tính chất phi lý, phi nhân của nó. Theo tôi đó là một khám phá, một sáng tạo, một cống hiến hết sức to lớn.
Trong chiến tranh chống phát xít Đức, 800.000 phụ nữ Liên xô đã ra trận, và họ có mặt trong tất cả các quân bịnh chủng, từ là y tá, bác sĩ, cứu thương, chiến sĩ thông tin liên lạc …, cho đến chiến sĩ trinh sát, xạ thủ bắn tỉa, công binh, phi công, lái xe tăng … Và những binh chủng khó ai ngờ nhưng lại thiết yếu trong chiến tranh: những binh đoàn chuyên nấu ăn, làm bánh mỳ, giặt hàng núi quần ấo đẫm máu hằng ngày cho lính… Một cuộc chiến tranh trong sự thật tầm thường và sống còn của nó…
Do từ bản chất tự nhiên của họ, người phụ nữ cảm nhận chiến tranh rất khác đàn ông. Đàn ông cảm nhận và nói về chiến tranh bằng lý trí, bằng lý lẽ, bằng cái đầu. Người phụ nữ thì bằng cảm xúc, bằng cả cơ thể nhạy cảm của họ. Bằng toàn bộ cơ thể của họ. Cho nên ký ức của họ về chiến tranh bao giờ cũng cụ thể, vô cùng sinh động. Là đời sống thực, nguyên sơ…
- Theo ông, giá trị lớn nhất mà cuốn sách mang lại là gì?
- Tôi có cảm giác, với Svetlana Alexievich, chúng ta từ bỏ loại văn học của những thứ to tát, lên gân giả tạo về chiến tranh (và về cuộc sống nói chung), để đến với văn học của cuộc sống thực, trần trụi. Và nhân bản.
- Ông nghĩ gì về ý kiến cho rằng Svetlana Alexievich được ưu ái khi đoạt Nobel văn chương, bởi tác phẩm của bà thuộc thể loại phi hư cấu?
- Tôi hoàn toàn không nghĩ như vậy. Bằng việc trao giải Nobel văn học năm 2015 cho Svetlana Alexievich, viện Hàn lâm Thụy Điển đã làm một cuộc cách mạng: họ đánh đổ một thành kiến tồn tại hàng nhiều trăm năm rằng chỉ có văn học hư cấu mới có giá trị. Tôi cũng không hiểu tại sao lại quan niệm chỉ hư cấu thì mới ra “văn chương”?
Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ chỉ là tác phẩm đầu tay của Svetlana Alexievich. Có người gọi bà là “một Dostoïevski không hư cấu”.
- Ông đánh giá như thế nào về cách hành văn của Svetlana Alexievich?
- Một trong những sáng tạo của Svetlana Alexievich là phát hiện ra tầm quan trọng của lời nói (hay tiếng nói – la voix) của con người trong đời sống. Bà bảo trước nay văn học đã bỏ quên môt khu vực mênh mông vô cùng sinh động và quan trọng của đời sống con người, là tiếng/lời nói của con người.
Dịch Svetlana Alexievich do vậy phải rất chú ý đến văn phong-lời nói đặc biệt ở bà. Phải cố tìm được tương ứng về hiệu quả trong tiếng Việt.
- Trong sách có những đọan miêu tả cảnh giết chóc, thảm sát ghê rợn. Ông có phải giảm nhẹ mức độ ghê rợn mà Svetlana đưa ra khi chuyển ngữ sang tiếng Việt?
- Không hề. Tôi không muốn lại làm người kiểm duyệt Svetlana Alexievich! Không được đánh lừa người đọc về sự thật của chiến tranh, và của đời sống. Đó là một bài học lớn từ Svetlana Alexievich.
- Ở tuổi 84, việc dịch sách với ông có gặp khó khăn trở ngại gì không? Nếu có ông vượt qua trở ngại đó như thế nào?
- Khi thích thú thì sẽ thấy công việc không đến nỗi nặng nề. Tôi thường thay đổi xen kẽ các công việc khác nhau, như một cách thư giãn tương đối.  
- Hiện tại ông có đang sáng tác hoặc dịch cuốn sách nào khác?
- Tôi vừa dịch xong một tác phẩm khác của Svetlana Alexievich. Rất mong sách có thể đến sớm với người đọc.
 Svetlana Alexievich: Sinh năm 1948, là người Belarus nhưng viết văn, viết báo bằng tiếng Nga, đoạt giải Nobel Văn chương năm 2015. Bà viết nhiều sách về chiến tranh dựa trên những dữ liệu có thực do mình thu thập được: Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (viết về những người phụ nữ Nga tham gia chiến tranh Thế giới thứ hai), Quan tài kẽm (mặt trái chiến tranh Afghanistan), Tiếng vọng từ Chernobyl (nỗi kinh hoàng của người dọn dẹp phóng xạ sau thảm họa hạt nhân)...
Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ: Là tập hợp lời kể của những phụ nữ từng tham gia chiến tranh Thế giới thứ hai. Cuốn sách không chỉ phản ánh sự thật khốc liệt về người phụ nữ trong chiến tranh, mà còn cho thấy sự phi nhân tính, nghiệt ngã của chiến tranh.


VIỆT HÀ
ZING.VN
Việt Hà

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2016

Vài cảm nghĩ về thơ và truyện Phạm Ngọc Lư

I. Thơ Phạm Ngọc Lư thời văn-học miền Nam


blank
      Nhà thơ Phạm Ngọc Lư
Sinh năm 1946 tại Phú Vang, Thừa Thiên, giáo chức tốt nghiệp Viện Hán Học và Đại Học Văn khoa Huế, động viên khóa 5-1968 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Từ 1963, ký tên thật và bút hiệu Phạm Triều Nghi, ông có thơ văn đăng trên các tạp-chí văn-học Văn, Nghệ Thuật, Bách Khoa, Ý Thức, Trình Bầy, Khởi Hành, Tuổi Ngọc, ... Tác-phẩm xuất-bản sau 1975: Đan Tâm (Thư Ấn Quán, 2004 gồm một số thơ trước 1975) và Mây Nổi (tác giả xuất bản, 2007). Phạm Ngọc Lư đến và ở lại với văn-học miền Nam với những bài Hành đặc sắc. Thể thơ Hành thuộc thơ xuất xứ từ Trung Hoa, thường viết theo các thể song thất lục bát, thất ngôn hoặc ngũ ngôn, và thường dài hơi. Với nhà thơ Việt-Nam, hành thường dùng để nói lên nỗi niềm, tâm sự, những cái bất hạnh, đớn đau, có khi hiền hòa nhẫn nhục, có khi là tiếng "thét" lớn, nhưng thường thường bi hận, lắng đọng. Phạm Ngọc Lư viết Biên Cương Hành vào năm 1972, lúc mà cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn lên cao điểm với những cuộc tấn công, khủng bố lan khắp vùng đất nước – Mùa Hè Đỏ Lửa tiếp nối Tết Mậu Thân. Có thể nói bài Biên Cương Hành thuộc vào những bài Hành hay nhất của văn-học miền Nam, hay về đề tài chiến-tranh và đặc sắc thể-loại: những con chữ trung thực của con người sống thực, với hành trang và xuất xứ cổ điển, lời thơ trang trọng, nhiều ẩn dụ, có chiều sâu tri thức và tâm thức, lương tri, bi thương, như những tiếng chuông chiêu hồn từ chiến trường. Những tàn nhẫn của chiến-tranh, của con người, của nhiều thế lực có thể vô hình, với phẫn uất và nỗi đau tận cùng của người lính, của con người Việt-Nam. Đây đó như một bản cáo trạng tội ác đối với những kẻ đã gây ra cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Với người lính Phạm Ngọc Lư, những vần trung thực, chân thành mới tỏ bày được hồn thơ lâm chiến:

Biên cương hành

"Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn?
     Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khí đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán bọn cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hóa thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương
     Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương?
Em đâu, quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
     Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông
Thôi em, chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường!
Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương".
- tháng 5-1972
(Văn tháng 10-1972; Trích từ Đan Tâm, tr. 15-18)

Bài sau, Thâu Đêm Trằn Trọc Nghe Mưa, cũng mang âm hưởng những bài Hành thời tráng sĩ đầy tâm sự biết ngỏ cùng ai ở chốn nhân gian thường tình:

Thâu Đêm Trằn Trọc Nghe Mưa

"Chưa mùa mưa trời bỗng mưa mau
Mái nghiêng gác lệch mưa rêm đầu
Nghe lòng chăn chiếu ê chề quá
Hơi hướm giang hồ chẳng ấm nhau
Cứ gom tâm sự nằm nhai lại
Tâm sự một đời [ôi] bể dâu
Năm năm mười năm không là mấy
Góp lại không đầy một đêm thâu
Đêm thâu nghe mưa rơi trằn trọc
Đời mòn chí mỏi biết về đâu?
Bao khách xa nhà trong thiên hạ
Đêm mưa thanh khí chẳng tương cầu
Cứ nghe mưa héo mòn trời đất
Tê buốt lòng ngàn mũi kim khâu
Chưa mùa mưa sao mưa rười rượi
Không chừng trời ốm khiến mưa đau
Chiếu chăn meo mốc chua mùi mộng
Mộng sớm mộng khuya chóng bạc màu
Nhốn nháo sinh linh thời nhiễu loạn
Lều bều thân thế lộn vàng thau
Năm nổi tháng chìm ngày mắc cạn
Đêm mưa lòng nghẽn nước đục ngầu
Nằm suông thức trắng nghe mưa giọt
Sáng dậy ngu ngơ: tóc bạc đầu!".
- 1973

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016

GS Trịnh Xuân Thuận: Đạo Phật giúp tôi những ngày xa Tổ quốc


TTO - Sáng ngày 2-7, tại Trung tâm văn hoá Pháp, Hà Nội, GS Trịnh Xuân Thuận có buổi gặp gỡ, giao lưu với độc giả xung quanh cuốn sách Số phận của vũ trụ - Big Bang và sau đó.
GS Trịnh Xuân Thuận: Đạo Phật giúp tôi những ngày xa Tổ quốc
GS Trịnh Xuân Thuận ký sách tặng độc giả - Ảnh: V.V.TUÂN
Đây là buổi giao lưu đầu tiên của GS Trịnh Xuân Thuận trong chuỗi hoạt động hội thảo, trao đổi với công chúng, bạn đọc ở thủ đô và TP.HCM.
Tại buổi giao lưu, GS Trịnh Xuân Thuận nói rằng ông rất vui khi được về nước lần này. Ông nói tiếng Việt khá chậm, và không được trôi chảy. Ông đề nghị các bạn đọc hãy nhắc ông mỗi khi ông chưa nghĩ ra được danh từ tiếng Việt nào đó.
“Nhiều khi danh từ khoa học bằng tiếng Việt tôi hơi quên vì ở ngoại quốc tôi ít có cơ hội sử dụng” - GS Trịnh Xuân Thuận thật thà chia sẻ.
Nói về con đường đưa ông đến với khoa học vũ trụ và nghiên cứu bí ẩn bầu trời, GS Trịnh Xuân Thuận kể lại, hồi nhỏ ông rất thích đọc sách của hai nhà bác học nổi tiếng trên thế giới là Albert Einstein và Isaac Newton. Đọc sách với ông không chỉ là nguồn cảm hứng mà còn gợi cho ông nhiều câu hỏi cùng sự tò mò.
Vì vậy, sau khi đậu tú tài ở Sài Gòn, ông có ý chí muốn thực sự được học hỏi với những người có thành tựu trên thế giới về vật lý thiên văn.
Ông muốn đi Pháp nhưng không được, nên ông đi Thuỵ Sĩ. Sau một năm ở Thuỵ Sĩ, ông thi sang những ngôi trường nổi tiếng về thiên văn học ở Mỹ bởi:
“Tôi thực sự muốn được học những thầy giáo nổi tiếng nhất trên thế giới. Dù lúc đó gặp nhiều khó khăn, nhưng tôi luôn nghĩ rằng mình muốn cái gì thực sự thì mình phải ráng hết sức rồi thế nào cũng có cách vượt qua”.
Ông nói thích vật lý thiên văn bởi đó là môn học rất hay cho một người trẻ có thể khám phá ra nhiều điều huyền bí.
Chia sẻ về bí quyết nôi dưỡng đam mê của mình, ông nói rằng, trước hết phải ham học hỏi, phải có ý chí.
“Thế nào mình cũng gặp khó khăn, nhiều lúc muốn bỏ cuộc, nhưng mình phải có ý chí, nhất là khi mình trẻ, mình luôn nghĩ là không sợ. Mình cũng có may mắn là được gặp những thầy giáo giỏi” - GS chia sẻ.
VN cần phải có cách để khơi dậy ý chí khoa học trong giới trẻ, bởi khoa học là tương lai của đất nước. Chính phủ VN cần phải lưu ý hơn về điều này
GS Trịnh Xuân Thuận
Trong những năm tháng khó khăn khi học xa Tổ quốc, mà thời đó chưa có internet phổ biến như bây giờ, còn tiền điện thoại lại rất đắt, ông thường liên lạc với gia đình ở trong nước qua những lá thư viết tay.
Thường phải mất ba đến bốn tuần, thư của ông mới về đến gia đình, và cũng mất chừng đó thời gian, ông mới nhận lại được thư hồi âm của cha mẹ.
Ra nước ngoài từ năm 1966 mà đến năm 1974, ông mới có thể về nước. “Từ nhỏ bố mẹ tôi hay đưa tôi đi chùa, nên đạo Phật đã giúp tôi rất nhiều trong những ngày tháng tôi một mình ở ngoại quốc”.
Trả lời câu hỏi của độc giả về vai trò của sách khoa học đối với những bạn trẻ VN hiện nay, GS Trịnh Xuân Thuận nói:
“Sách khoa học rất cần thiết cho độc giả trẻ, nó làm nảy nở thiên hướng về khoa học. Khoa học là một phần quan trọng để một đất nước vươn lên.
Vì vậy VN cần phải có cách để khơi dậy ý chí khoa học trong giới trẻ, bởi khoa học là tương lai của đất nước. Chính phủ VN cần phải lưu ý hơn về điều này”.
Trong tháng 7-2016, GS Trịnh Xuân Thuận còn nhiều chương trình giao lưu với độc giả, cộng đồng yêu thích thiên văn học tại Hà Nội và TP.HCM.
GS Trịnh Xuân Thuận sinh năm 1948 tại Hà Nội, lớn lên tại Sài Gòn. Sau đó ông trải qua nhiều trường đại học nổi tiếng ở Thụy Sỹ, Mỹ. Từ năm 1976, ông là GS thiên văn học tại ĐH Virginia (Mỹ).
Ông là một nhà vật lý thiên văn cho ra mắt bạn đọc nhiều cuốn sách nổi tiếng như: Giai điệu bí ẩn, Và con người tạo nên vũ trụ, Hỗn độn và hài hoà, Cái vô hạn trong lòng bàn tay, Vũ trụ và hoa sen, Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao
Trong đó, Số phận của vũ trụ - Big Bang và sau đó xuất bản năm 1992 được dịch ra 20 thứ tiếng trên thế giới.
V.V.TUÂN

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2016

KHỔNG ĐỨC : Cầm sắt琴 瑟




            瑟无端 五十弦  - 
           生曉夢 迷蝴蝶  - .
          海月明 珠有淚  - .
          情可待追 成忆  -

Phiên âm : Cầm sắt vô đoan ngũ thập huyền - Nhất huyền nhất trục tư hoa niên
                   Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp - Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.
                   Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ- Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên
                   Thử tình khả đải truy thanh ức  -  Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.
Chú thich :  
 1.- Cầm sắt: hình nó đẹp như gâm hoa văn là sắt. Ở đây lấy hai chữ đầu câu bài thơ làm đề mục, thực tế là mượn “cầm sắt” để ẩn dụ là “vô đề”. 2- Vô đoan: là không có lý do gì. 3- Ngũ thập huyền: truyền thuyết “ cổ sắt” vốn có 50 giây, về sau sửa lại thành 25 giây. 4-Trục : là trục của mỗi giây đàn. 5- Hoa niên : là thời trẻ, khi  tác giả làm bài thơ này, tuổi đã gần 50, nên nhân huyền trục mà nhớ đến thời trai trẻ. 6- Trang sinh hiểu mộng …: Trong thiên Tề vật luận của Nam Hoa kinh Trang sinh kể là nằm mơ thấy mình hóa bướm, hay chính bướm kia là Trang Chu; nên khi tỉnh giậy vẫn còn mơ màng về bướm. Hiểu mộng là giấc mộng ngắn ngủi tạm thời. 7- Vọng đế: Cuối nhà Chu , quốc vương đất Thục là Đỗ Vũ, truyền thuyết rằng khi ông ta chết rồi thì hồn phách hóa làm chim “đỗ quyên”- tức chim quốc, cất tiếng kêu tha thiết với tâm trạng nhớ thời trai trẻ vàng son…Cả hai câu thơ đều coi vạn sự như mộng ảo. 8-: Thương hải nguyệt minh… Theo truyền thuyết có thứ cá giống như người, vợ chết khóc thương thảm thiết, nước mắt rơi thành châu ngọc; lại cũng có thuyết ngọc ở Phong châu cảm ứng với trăng, trăng tròn thì ngọc cũng tròn và lấp lánh như rơi lệ. 9- Lam điền là tên núi, nay là Thiểm tây. Lam điền nỗi tiếng là đất sinh ra ngọc; mỗi khi thái dương rực sáng thì ngọc lành như bốc khói. 10- Hai câu cuối là nói lên nỗi thương nhớ phẩn uất; nếu ngay bây giờ mà nhớ lại thì không khỏi buồn hận: vi hiện tại người đương thời còn chán ngấy muốn chết.
Phân  tích :
Nhập đề lấy việc cảm xúc sự vật khởi hứng, tiếng đàn cầm sắt ai oán vô cớ gồm có 50 dây, khi  nghe tiếng đàn vang lên làm sao không nhớ đến thời trai trẻ đầy thơ mộng. Nhất huyền nhất trục
cũng như nhất âm nhất tiết, chung cả đàn sắt, đàn cầm là 50 dây, âm  tiết của nó chắc à vô cùng rồn rập phức tạp khiến con người không thể không suy tư lãnh hội, không thương tiếc thời xa xôi, trong khi thi nhân lại mang một nỗi đau khôn tả, một mối tình u uất khôn vơi. Tiếng cầm sắt vang lên thời niên hoa không thể không sôi động, vì âm tiết rồn rập mà tình tự như rối tung không sao nói được, từ đó phát xuất những nỗi niềm ai oán buồn thương. Nhất huyền nhất trục tự nó như khiến con người thương cảm, lòng như đứt từng đoạn triền miên bất tận !
      Hai câu 3,4 tức trạng đưa điển tích Trang sinh mộng hồ điệp để mô tả cuộc đời con người như mộng mị, phá hủy cảm khái lý tưởng. Trang sinh mơ thấy mình hóa bướm là tình cảnh quá đẹp, mà là cảnh mộng hư vô xa xôi, thi nhân tự mình tiến thủ nhưng lại gặp sự chèn ép khiến rơi rụng, cuộc đời hoa niên thành mộng ảo bi kịch. Tiếp theo mượn điển tích Vọng đế sau khi chết hồn phách biến thành đỗ quyên để bộc lộ nỗi thương đau mãi mãi không nguôi; cứ mỗi chiều xuân kêu khóc đến nỗi miệng chảy ra máu, tiếng khóc động đến tâm can con người đời sau, mới lấy danh là đỗ quyên đúng như thi nhân ký thác vào cầm sắt, âm tiết ai oán truyền đạt đến nội tâm thi nhân mông lung cả một thế giới thương đau…
     Đến câu 5,6 tức luận  dùng hai từ “lệ và  noãn” làm thi nhãn, miêu tả minh châu và mỹ ngọc là hai hình ảnh mông lung; nguyệt hay trăng là minh châu ở trên trời hay như ánh trăng trong nước, ánh trăng chiếu trong biển xanh (thương hải); minh châu đẩm mình trongg sóng nước mắt hình thành một thứ nguyệt, châu, lệ, là ba hình ảnh không sao giải được. Ba hình ảnh phức tạp phối hợp thể hiện thi nhân đối với cảnh trăng sáng trên biển xanh mênh mông tuyệt vời mà cũng chính là cảnh ngộ cô đơn lạnh lẽo của thi nhân nhớ tới hình ảnh người vợ thương yêu đã qua đời trong thời trai trẻ. “Thương hải minh châu” chính là trong lòng thi nhân đầy tài trí mà bị chìm đắm trong cảnh khốn khổ đau thương. “Lam điền nhật  noãn” là chỉ vùng đất thiêng sản xuất ngọc quí, chỉ khi nào ánh thái dương rực sáng thì ngọc mới bốc khói; đó là cảnh sắc vô cùng kỳ lạ, tính khí của mỹ ngọc như có như không, như ẩn như hiện, nhưng người không thể nào đến gần, không thể cầm nắm được mà chỉ có thể ngắm nghía từ xa….
      Đến hai câu cuối “Thử tình khả đải….” Thử tình ở đây là bao gồm hai cặp trạng luận; riêng hai chữ “võng nhiên” (buồn đến chết được) là sự cảm thụ cả câu “nhất huyền nhất trục tư hoa niên”, cái khổ,  cái buồn  của thi nhân trong buổi trai trẻ không sao mô tả nói ra hết được, chỉ có thể hồi tưởng nhớ mãi trong ký ức với những buồn đau bất tận. Cũng có thể nói hai câu kết là đap ứng cả toàn bài thơ.
      Bài thơ dùng  đề là Cầm Sắt, nhưng không phải để mô tả vật thể là cây đờn, mà chỉ là đẻ khởi hứng, rồi dùng thơ để biểu đạt tình cảm. Nhưng thực tế nội dung vẫn có sự ám hợp với cầm sắt; như ngay câu mở đề đã viết “ nhất huyền nhất trục tư hoa niên”; và trong hai cặp trạng luận vẫn  gián tiếp đưa ra những âm tiết như “ Trang sinh mê hồ điệp…, Vọng đế thác đỗ quyên; “ châu hữu  lệ…” , “ ngọc sinh yên… “. Nói chung ý tứ và hình ảnh trong thơ rất mông lung, tình cảm vô cùng ai oán, cách truyền đạt của bài thơ vẫn đầy ma lưc hấp dẫn mê ly; dù rằng  cảnh giới và tình tứ mông lung, nội hàm mang tính đa ý nghĩa… nên thơ Nghĩa Sơn có nhiều cách giải thích.
Như có người cho bài Cầm sắt là do cảm xúc thế nước hưng suy mà làm ra. Ngũ thập huyền , nhất huyền nhất trục, là 100 năm; vì từ loạn An lộc sơn đến giai đoạn Nghĩa Sơn làm bài thơ là 100 năm. Mộng mê hồ điệp, là chỉ vào nền chính trị tối tăm loạn lạc thời Thiên Bảo, Vọng Đế xuân tâm là chỉ vào mối loạn Thượng hoàng thất thế. “Thương hải minh châu” là nói đến nguồn lợi nhuận vô tận, “Lam ngọc sinh yên” là có ý nói đến sự tiều tụy của người hiền. Hai câu kết là nói  đến sự cảm ngộ của người đời sau, tức kẻ thức giả đương thời cũng điên đảo vì sự ưu hoạn.
Câu Trang sinh …là để nói về công danh thất thế, có tài mà không được dùng; và Vọng đế là chỉ nỗi uất ức không sao nói được… Câu Thương hải minh nguyệt là chỉ thời thanh bình, nhưng châu nằm dưới biển sâu không sao thấy được, biểu lộ ý tự thương mình. Cũng như Lam điền ngọc sinh…tức  ý nói không được người biết đến, nhưng ánh thái dương tức văn chương thì rồi mọi ngưởi phải biết, chung quy cũng chẳng được gì. Đó chính là sự biểu hiện thi ca của Lý Nghĩa Sơn mang đặc tính đa ý nghĩa.

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

Lễ cúng Âm hồn ở Huế - Nhớ lại một sự kiện bi hùng

Ngày 23 tháng 5 Âm lịch hàng năm là ngày cúng âm hồn của người dân thành Huế. Việc tổ chức cúng âm hồn có liên quan đến sự kiện kinh đô thất thủ năm 1885.
Lễ cúng Âm hồn ở Huế - Nhớ lại một sự kiện bi hùng
Toàn cảnh đại lễ xá tội vong linh tại miếu Âm hồn ở ngã ba Mai Thúc Loan - Lê Thánh Tôn
Cách đây tròn 130 năm, 23/5 Ất Dậu, một đợt chết chóc đẫm máu chưa từng có đã xảy ra tại Huế. Hàng nghìn người dân và binh lính triều đình đã ngã xuống vì bị trúng đạn của Pháp, hay một số do chen lấn, giẫm đạp lên nhau khi cố vượt ra khỏi kinh thành. Từ đó, ngày 23/5 Âm lịch trở thành ngày “giỗ chung” của người dân xứ Huế. Họ cúng cho những người xấu số đã tử nạn: Những quân sĩ, quan lại, dân chúng trong đêm rạng sáng 23/5 Ất Dậu.
Hôm 23/5 (Âm lịch), khắp các ngã ba và ngã tư phố Huế, người dân đều bày biện mâm cúng Âm hồn nhằm tưởng nhớ đến những người đã ngã xuống trong sự kiện thất thủ kinh đô năm 1885.
Mâm cúng lễ được bày biện giữa trời, thường là trước cổng hoặc giữa sân nhà. Với hai bàn thượng và hạ. Đồ cúng thường không thể thiếu: hương đèn, cau trầu, rượu trắng, cháo trắng, các loại hoa quả, hạt nổ, gạo, muối, các loại giấy cúng, con gà trống luộc và xôi, chè, khoai sắn…
Bên cạnh nhiều nhà dân, các nhóm dân cư sống gần các miếu cũng bày biện mâm cúng, tổ chức cúng tế tại đàn trong ngày 23/5 này. Tại miếu Âm hồn ở ngã ba Mai Thúc Loan- Lê Thánh Tôn, phổ Vĩnh Nghĩa (nhóm dân cư sống gần miếu Âm hồn) tổ chức “Đại lễ cầu nguyện Âm siêu dương thái trai đàn chẩn tế” để cầu nguyện quốc thái dân an, Âm siêu dương thái, ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân hi sinh vì vận nước.
Bác Phan Méo (ngụ tại Lê Thánh Tôn) cho biết: Cứ 5 năm lại tổ chức Chai Đàn một lần, mời thầy về làm lễ cầu cho vong linh được siêu thoát.

Mâm cúng lễ âm hồn được bày biện với những đồ cúng không thể thiếu: hương đèn, cau trầu, rượu trắng, cháo trắng, các loại hoa quả, hạt nổ, gạo, muối, các loại giấy cúng, xôi, chè, khoai sắn…
Đặc biệt trong ngày cúng âm hồn này, người dân luôn chuẩn bị sẵn một vài thanh củi để đốt sau khi làm lễ xong. Được biết, việc châm lửa đốt củi này tái hiện lại lịch sử người dân đốt đuốc để soi đường trong lúc chạy ra khỏi thành trong đêm 23/5 Ất Dậu.
Ở Huế, có khá nhiều miếu âm hồn được lập nên bởi những người con ở đất Thần kinh. Nhỏ thì các am thờ cô hồn, lớn hơn thì các miếu của cả làng xóm lập nên. Một số nơi người dân làm lễ cầu nguyện trong ngày 23/5 này như miếu Âm hồn của phường Thuận Lộc cạnh giao lộ ngã tư đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn, miếu ở phường An Hòa cạnh khu đất xưa từng là nơi hành quyết bêu đầu các anh hùng chống lại triều đình, các khu lăng mộ tập thể ở đường Nguyễn Khoa Chiêm, nghĩa trang 12 vòng mộ tập thể tại Cồn mồ Trà Am nối dài thành phố Huế…

Người dân kính cẩn cầu nguyện cho các vong linh đã mất trong ngày lễ Âm hồn
Nhà nghiên cứu Huế, Phan Thuận An nhận xét: “Lễ cúng âm hồn là một cuộc tưởng niệm tập thể của cộng đồng dân chúng ở Huế. Nó ghi lại một sự kiện bi hùng đã xảy ra trên đất Cố đô trong ngày 23/5 Ất Dậu. Hàng ngàn người chết trong biến cố đau thương này. Vì vậy, từ 1885 đến nay, dân Huế ở khắp hang cùng ngõ hẻm, làng xóm, phố phường nào đến ngày 23/5 đều tổ chức cúng âm hồn, cúng những vong linh không biết tên biết tuổi để tưởng nhớ đến công lao của họ đã có công chống thực dân để giành lại độc lập tự chủ cho nước nhà”.
Trải qua bao năm tháng thăng trầm của lịch sử, người Huế vẫn không thể nào quên được biến cố lịch sử đầy đau thương năm Ất Dậu đó. Tập tục cúng âm hồn trở thành một nét đặc trưng quần tụ trong bản sắc văn hóa của chốn Thần kinh. Cuốn tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Thái Vũ nhấn mạnh: “Nhớ lấy, hãy nhớ lấy ngày hai mươi ba tháng Năm này là ngày mất nước, ngày tủi nhục, ngày chít khăn tang”.
Theo Thanh Nhàn (Thể thao & Văn hóa)