Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Đạo lý trong “địa phương chí” Cao Thị Hoàng (Kỳ 2)


 Kết quả hình ảnh cho sông nước nam bộ



Đạo lý trong “địa phương chí” Cao Thị Hoàng (Kỳ 2)
 (Tiếp theo kỳ trước)

Dẫn tàn quân rút về Chùa Nổi. Giữa giây phút thập tử nhất sinh, nhờ tiếng chuông Chùa Nổi, bất ngờ Nhện Chúa được cứu sống. CTH viết:
“…Nhện Chúa dẫn tàn quân chạy thục mạng về Chùa Nổi. Vua Bọ Cạp thừa thắng xông tới, quyết truy đuổi tới cùng. Tự dưng Vua Bọ Cạp và đoàn quân khựng lại, tất cả tiêu tan nhuệ khí chích độc vào kẻ thù khi nghe tiếng chuông chùa ngân nga từ Gò Nổi vọng tới. Nhờ vậy, Nhện Chúa chạy qua cổng chùa và ẩn mình ở góc mái hậu viên. Vua Bọ Cạp định vào chùa, chợt thấy tượng Quán Thế Âm Bồ Tát đang đứng trên tòa sen, tay rưới nước Cam Lồ cứu nạn cứu khổ. Vua Bọ Cạp kinh sợ, cùng đoàn hùng binh hung hãn lặng lẽ rút lui qua ngõ Gò Ớt…”
Qua phân đoạn ngắn này, người đọc cảm nhận được chủ tâm của CTH nói về ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo - - Một trong những truyền thống văn hóa lâu đời của nếp sống tinh thần người Việt.
Tác giả cho thấy, tính chất siêu hình của niềm tin tôn giáo, cách gì, cuối cùng cũng thắng được cái ác. Dù cho cái ác đó, có là bản năng tiên thiên ở một số sinh vật…
Từ đường dẫn vừa kể, CTH đưa người đọc tới phần kết của bài viết. Một bài viết mang tính chất địa dư chí, nhưng lại phối hợp được một cách tự nhiên đời sống của loài nhện, côn trùng phổ cập, quen thuộc với hầu hết mọi địa phương, khí hậu và, tính hướng thiện…(cũng là một trong những căn tính thiên - lương của con người… nhất là với những người dân miền Nam mộc mạc, chất phác)…
Tác giả mượn lời Sư trụ trì, “khai thị” cho chú tiểu về bản năng “hiếu sát… dù với một sinh vật nhỏ bé như con nhện…
“Lời khai thị” của Sư trụ trì, không chỉ khiến chú tiểu “bừng tỉnh” mà, ngay Nhện Chúa cũng:
 “…Kinh hãi nhận ra rằng thiện và ác, sinh và tử, tốt và xấu…chỉ cách nhau có một cái quay đầu. Bất giác, Nhện Chúa thấy cái Vô Thường của kiếp Nhện mong manh, đối lập hẳn với cái Thường Hằng của luật Nhân Qủa như một món quà Trời ban cho chúng sanh. Rồi, nhện phát tâm muốn cúng dường thân tứ đại cho chúng sanh để làm bài thuốc cứu khổ mọi loài…”
Tới đây, kịch bản phim truyện của CTH chuyển biến nhanh tựa một sát na (đơn vị căn bản đo thời gian theo giáo lý đạo Phật):
“- Bạch Tổ! Đệ tử xin cúng dường sanh mạng này…
“Nhanh như chớp, Nhện Chúa từ tay áo Sư phóng thẳng sang ngọn bạch lạp đang thắp sáng cúng dường trên bàn Phật."
Với tôi, tác giả không chỉ cho thấy sự thấm hiểu lẽ đạo nhuần nhuyễn (ứng dụng vào bản văn, như một phản xạ tự nhiên) mà, hiển nhiên, tác giả còn muốn truyền cho người đọc thông điệp về ý nghĩa thực sự, cuối cùng của một kiếp đời, không có gì đáng kể hơn những hy sinh, đem hữu ích đến cho người khác!.!
Chưa hết, ở những dòng cuối của tiểu phẩm “Nhện chúa ở hậu liêu Chùa Nổi”, CTH đã không quên đưa mạch văn của mình, trở lại với khung nền “địa phương chí” và, sự hiểu biết sâu rộng của tác giả về các bài thuốc gia truyền, môn thuốc dân tộc - - Một lãnh vực mà, không phải nhà văn, nhà báo hoặc chuyên viên nghiên cứu nào, cũng có thể có được.
Tác giả viết:
“Dưới ánh bạch lạp lung linh, nơi chánh điện Chùa Nổi, Nhện Chúa thắp sáng tình thương của Bồ Tát. Lấy thân mình làm thứ thần dược cho con người. Từ đó, người trong vùng và nghĩa quân Đốc Binh Kiều biết lấy màng tơ nhện trị: vết thương, chảy máu, thổ huyết… biết dùng thân thể nhện trị: Sa tinh hoàn, sâu răng, trúng gió méo miệng, đái dầm, viêm amydal, trẻ em kinh giựt, nha cam tẩu mã và các vết thương do côn trùng cắn…
“Đại Hồng Chung Chùa Nổi theo gió chiều quê, ngân nga khắp miền sông nước Phương Nam: Nhắc nhở lòng thành Nhện Chúa đối với nhân gian, nhắc nhở con người mang nợ chúng sinh!” 
(Kỳ sau: Tính nhân bản trong “địa phương chí” Cao Thị Hoàng)

14 Tháng Sáu 2016
Du Tử Lê

Nguồn : dutule.com

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

Cao Thị Hoàng, người bạn đồng hành với côn trùng sông nước miền Nam.(Kỳ 01)

Kết quả hình ảnh cho sông nước miền tây nam bộ
Lời giới thiệu:
Kể từ hôm nay, trang blog sẽ trích đăng lại những bài viết của Du Tử Lê trên trang dutule.com về tác giả Cao Thị Hoàng - một tác giả văn xuôi mới xuất hiện với giọng văn khác lạ và rất ấn tượng, đậm chất Nam bộ.
Xin phép anh Du Tử Lê được trích đăng lại và thành thật cám ơn trang dutule.com
THT




Cao Thị Hoàng, người bạn đồng hành với côn trùng sông nước miền Nam.(Kỳ 01)

Sự ra đời của những tác phẩm có tên “Dư địa chí” hay “Địa dư chí”, có dễ là một trong những lãnh vực biên khảo mang tính hiện thực xã hội sớm sủa nhất của lịch sử văn xuôi Việt Nam.

Theo Tự điển bách khoa toàn thư – Mở thì, người đầu tiên khai phá thể loại văn xuôi “Địa dư chí” là danh sĩ Ức Trai / Nguyễn Trãi, nhà Hậu Lê; tác giả của tác phẩm “Dư Địa Chí”, biên soạn năm 1435, theo yêu cầu của vua Lê Thái Tông.

Về tác phẩm “Địa dư chí” đầu tiên này, Wikipedia-Mở ghi nhận như sau:

“Cuốn sách viết bằng chữ Hán, ghi chép sơ lược về địa lý hành chính và tự nhiên của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.

“Căn cứ mục 1 trong Dư địa chí thì tác phẩm được làm vào năm 1435, đồng thời cũng đã xác định bờ cõi nước Đại Việt lúc bấy giờ. Tác giả viết:

“ ‘ Năm thứ hai niên hiệu Thiệu Bình (1935, đời vua Lê Thánh Tông), đức giáo hóa của nhà vua đã lan xa đến bốn chung quanh, các nước chu hầu đều đến triều cống. Hành khiển là Lê Trãi (vốn họ Nguyễn, năm 1428, được ban quốc tính họ Lê) bèn làm sách Dư địa chí tiến lên vua”.

“Và nói rằng:

“ ‘Nước ta mới mở gồm có sông núi, phía đông giáp biển, phía tây đến nước Thục, phía đông đến Chiêm Thành, phía bắc có hồ Động Đình…”

Sau này, các tỉnh, thành thường có một cuốn “Địa phương chí” ghi lại nguồn gốc, ranh giới cùng những nét đặc thù về đất đai, thiên nhiên, văn hóa, phong tục… và, những đặc tính riêng của địa phương đó.

Tuy nhiên, dù tác phẩm là công trình biên soạn của một hay nhiều người, thì cũng không hề nói tới thế giới sinh vật-côn trùng có ở địa phương ấy. Nói cách khác, cá nhân tôi chưa từng được đọc một bài viết nào đào sâu vào sinh hoạt của thế giới sinh vật, nhất là côn trùng trong thế giới cộng-sinh của đất nước Việt Nam.

Mãi gần đây, bất ngờ, nhà văn Cao Thị Hoàng (CTH) đã mở rộng cánh cửa cho người đọc bước sâu vào thế giới sinh vật - côn trùng của đất nước; đặc biệt là sông nước miền Nam, bát ngát. (1)

Qua những bài viết được đọc, với tôi, CTH không chỉ là một nhà văn của những trang “địa dư chí”, uyên bác như một nhà côn-trùng-học mà, kiến thức của CTH còn phong phú, giàu có ở cả khía cạnh lịch sử, truyền thuyết, ca dao, tôn giáo, văn học nữa…

Thí dụ bài viết tựa đề “Nhện chúa ở hậu liêu chùa Nổi”, nếu CTH không viết xuống, cá nhân tôi sẽ vĩnh viễn không thể biết nguồn gốc Chùa Nổi ở đâu? Vùng đất này đã trải qua những giai đoạn đặc biệt nào dọc theo lịch sử đã có trên 200 năm thăng, trầm của phần đất miền Nam xa xôi này. Đồng thời, tôi cũng không được biết sinh hoạt truyền giống của loài nhện - - một sinh vật quen thuộc, có mặt khắp mọi nơi trong đời thường; cũng như trong ca dao của Việt Nam.

.

Mở vào bài viết của mình, sau khi xác định địa giới của Cánh đồng Tuyên Bình, CTH mượn truyền thuyết Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi, để giải thích nguồn gốc “Chùa Nổi” như sau:

“… Tương truyền rằng, quân Tây Sơn truy đuổi và dồn Nguyễn Ánh vào bước đường cùng nơi bờ bắc Sông Vàm Cỏ Tây. Nguyễn Ánh ngửa mặt lên trời than: “Ta đành gửi mạng nơi nầy!”. Bỗng một con cá sấu to kềnh từ dưới nước trồi lên, đưa lưng cõng Nguyễn Ánh vượt sông lẩn trốn vào Gò Nổi. Đương quang đãng, trời tối sầm; một trận cuồng phong dậy sóng, ngăn quân Tây Sơn truy sát. Sau khi thoát nạn, Nguyễn Ánh cho cất ngôi chùa trên nền Gò Nổi, dân sở tại và khách thập phương gọi là Chùa Nổi!” (2)

Để rồi ngay sau đó, CTH đã giới thiệu hai “nhân vật chính”: Nhện chúa, và kẻ thù không đội trời chung, “Bọ cạp chúa”một cách ngắn, gọn, bằng thủ pháp nhân cách hóa:

“… Nhện Chúa cùng bầy đàn không có bản địa riêng, không có quê hương; Đất lành chim đậu. Vì, không có bản địa riêng nên Nhện Chúa chẳng lao tâm khổ tứ trong việc chống giữ, được mất. Tưởng vậy là ngon cơm, nào ngờ trời chơi nghiệt, dựng kẻ thù bất cộng đái thiên của Nhện Chúa là Vua Bọ Cạp. Nhiều trận chiến sinh tử đã xảy ra giữ Nhện Chúa và Vua Bọ Cạp trên vùng đất Gò Hàn, vùng đất có một thời rực rỡ nền văn hóa Ốc Eo. Mỗi lần thua, Nhện Chúa lui dần về phía Gò Nổi…”

Tuy phe “Nhện chúa” nhiều lần thất thế trước phe “Bọ cạp chúa”, nhưng cũng như con người, dù ở trường hợp nào thì, nhu cầu sinh tồn, truyền giống vẫn không thể lãng quên. Do đấy, ở phân đoạn 2 của truyện, CTH đã đẩy mạch văn của mình, (như những tơ nhện) qua sinh hoạt truyền giống giữa nhện chúa và Tướng quân nhện đực:

“… Men theo dây tơ khung, Nhện Chúa bất chợt nhìn bộ phận sinh dục của mình và của tướng quân nhện đực, cùng phát sáng huỳnh quang dưới ánh nắng buổi trưa. Lòng Nhện Chúa rạo rực, quên hết phiền não thua trận. Tướng quân chẳng kém gì Nhện Chúa, cơn động tình khiến chàng dang chưn, ưỡn bụng, giương và rung vòi... như ngầm tâu rằng: Bẩm Chúa, bề tôi sẵn sàng! Nhện Chúa không vội gì vào ngay cuộc mây mưa, nàng mở khúc dạo đầu ân ái: Chìa bụng lắc qua lắc lại; cong chưn như múa...Chàng chịu hết siết, bốn cái ngàm hai bên miệng miết vào nàng, bốn cặp chưn hai bên đầu ngực bám quíu nhau, vừa híp vừa mở theo nhịp đưa và đẩy của chàng và nàng. Thời gian như chết trong cơn mê tình dục. Khoảnh khắc thăng hoa tràn đến, chàng còn đủ tỉnh táo sử dụng chiêu thức tuyệt kỹ: Tháo chạy, của quí ở lại! Nếu không muốn bị ăn thịt.

“Của quí chàng tách ra để lại nàng, nó có phận sự tiếp tục làm tình và bắn tinh vào lỗ sinh dục nàng như chàng đương giao phối.

“Tướng quân nhện đực sống sót sau cuộc ái ân với Nhện Chúa. Cả đàn nhện chúc mừng và vui ra mặt. Bởi mất Tướng quân, cậy ai chống đỡ sự tàn sát của Bọ Cạp.

(kỳ sau tiếp)

_______

Chú thích:

(1) Cách đây hơn một năm, chúng tôi nhận được bài viết thứ nhất (và nhiều bài sau đó), của một người ký tên Cao Thị Hoàng - - Viết về thế giới sinh vật - côn trùng. Vì nội dung đặc biệt của những bài viết có tính… địa dư chí của Cao Thị Hoàng, nên chúng tôi rất muốn liên lạc với tác giả… Nhưng, bất khả. Vì tác giả không ghi lại cho chúng tôi địa chỉ Email hoặc số điện thoại!

Cuối năm 2015, nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, viếng thăm bằng hữu ở miền nam Cali. Bằng vào tình thân riêng, ông tiết lộ cho chúng tôi biết Cao Thị Hoàng, là bút hiệu của nhà văn TBĐ.

Dù sẽ mãi ghi nhớ thiện ý của bạn, nhưng không vì thế mà, chúng tôi cho phép mình tự tiện đổi tên tác giả Cao Thị Hoàng, thành một tên khác! Trừ phi chúng tôi có được sự xác nhận chính thức của nhà văn TBĐ…

(2) Tất cả những trích đoạn của nhà văn Cao Thị Hoàng, trong loạt bài này vẫn được lưu trữ trên Web-site dutule.com; cũng như trên Tự điển bách khoa toàn thư – Mở (Wikipedia), ngay sau khi chúng tôi đăng tải.



04 Tháng Sáu 2016

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

TỪ HOÀI TẤN những ngày ở Huế


Cầu Trường Tiền (Huế) – Nguồn: panoramio



Như có chút mùa thu của năm
Khi đi trên đường bờ sông
Dấu tích buổi lễ hội đã tàn
Nhưng những chị bướm vàng vẫn khoe sắc
Trong ánh nắng cuối ngày
Có mùa thu không ở Huế
(hay chỉ là cơn hoang mộng yếu ớt của mấy ông già hoài cổ)

Những người năm ấy trên đường đi bộ Nguyễn Đình Chiểu
Chiếc áo dài sắc tím của những cô gái phố cổ
Đâu đó vẻ nhạt nhòa
Triều đại cũ đang được khơi dậy
Buồn
Như bao đời xưa
Buồn
Như sự bất lực của những ông vua đã khuất
Buồn
Như sự tàn lụi kéo dài qua tháng năm

Những ngày ở Huế không có đôi mắt em dõi theo
Bởi em đã qua đời từ ngày ấy
Ngôi nhà ở thượng thành không còn thấy bóng dáng ngồi trên chiếc xích đu
Vẻ xuân mọng thời con gái
Không có những ngày mùa đông sớm em phong phanh áo lụa đạp xe qua cầuTrường Tiền
Hẹn hò ở dốc Nam Giao
Trong ngôi nhà gỗ ấy
Mưa lất phất ngoài cửa sổ
Nơi chúng ta có những nụ hôn ngọt ngào
Ấm cả mùa đông dài xứ Huế
Em đã qua đời Huế đã qua đời
Buồn
Như thiên cổ

Những ngày ở Huế loanh quanh bờ sông
Một mình như vẫn thế
Mây mù với không gian đầy hơi nước
Những chiếc thuyền câu lẻ loi ven sông
Một dáng người lom khom trong quá khứ
Như nhớ như thương
Đền đài phế tích

Tôi trở về vào giữa mùa thu
Một chuyến về bình thường và lặng lẽ như bao kẻ
Khi máy bay đáp xuống Phú Bài
Có một nỗi ngậm ngùi không dưng
Bao nhiêu năm rồi
Bao nhiêu đổi thay rồi
Ôi bầu trời quê hương tôi vẫn trời xanh mây trắng
Chỉ có người tôi yêu
Đã không còn nữa

Những ngày ở Huế
Thường đi dọc bờ tường bên sông Hương
Như một người khách lạ
Hình như tôi đã ra đi từ năm đó
Nhiều năm sau trở về
Không có gì vui
Cũng chẳng viết nổi một bài thơ

Từ Hoài Tấn

Huế 16 – 20/9/2016
https://phamcaohoang.blogspot.com/2016/09/2484-tho-tu-hoai-tan-nhung-ngay-o-hue.html

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016

Làn hơi lạ bên dòng sông Hương

Viêm Tịnh


Image result for nhà thơ viêm tịnh
viêm tịnh

                                                        Làn hơi lạ bên dòng sông Hương

Huế, miền cố đô cổ kính, thơ mộng và nhiều di sản văn hóa. Nhưng có những người viết không theo nét êm đềm xưa cũ của dòng sông Hương. Một trong những làn hơi lạ đó là Viêm Tịnh, người cùng thời, và là bạn hữu của nhiều cây bút nổi tiếng trong giai đoạn 1965-1975.

Viêm Tịnh tên thật là Võ Công Danh Ngọc. Thời trai trẻ anh đã trải qua nhiều năm lưu lạc xa xứ, nhưng sau sự cố 1975 lại trở về ở hẳn với cố đô.
Qua phỏng vấn của Cao Thoại Châu năm 2011, Viêm Tịnh cho biết hồi thuở nhỏ, anh bắt đầu làm thơ từ sự rủ rê của Trần Dzạ Lữ. Nhà anh có một sạp báo ở ngay làng Vỹ Dạ. Trần Dzạ Lữ hồi đó đứng chủ trương tờ báo văn nghệ viết tay và in rô-nê-ô đặt tên Mây Ngàn. Lữ hàng ngày tới sạp báo để…coi cọp, đã rủ bạn Võ Công Danh Ngọc chơi…làm thơ. Khi đi vào sáng tác, anh đã sớm thành danh, trước tiên với những người trong cuộc.
Viêm Tịnh in bài thơ đầu tiên trên tạp chí Văn Học vào năm 1965. Anh còn viết cả truyện ngắn, nhưng thơ anh từ lúc đầu đã mang một phong vị riêng. Nó không nhiều chất “Huế truyền thống”, mà nặng ưu tư, từ cách ngắt câu, chọn nhịp. Anh nói chỉ viết ra tự nhiên theo suy nghĩ rất thực của mình, không hề biết tới vần điệu, niêm luật gì cả.

Viêm Tịnh
Của một thời

  (Gửi H.Hải)

những bậc thang đưa ta về
có em ở bên ta
hơi ấm sưởi mùa xuân lạnh giá
chỉ còn em
bên bờ Vĩ Dạ thuở ấu thơ
trong khu vườn người bạn thời đi học
ta ngồi quạnh hiu
nghiệm ra mình đang sống

rồi cũng phải ra đi
một ngày sẽ đến
những con đường nhỏ
đất và những viên sỏi
lạo xạo dưới bàn chân trần rất thật

những người phụ nữ bên đời
chỉ riêng em cho ta hơi ấm
cho ta hương nồng
mùa đông của lẻ loi
không thể rời

ta đã về căn phòng không em
bên dòng sông biếc màu phỉ thúy
lòng buồn như trời chớm hoàng hôn 


Viêm Tịnh đăng thơ rất ít nên không có tên “vang dội” như những bạn cầm bút cùng lứa. Mãi đến năm 2007, anh mới có tập thơ in chung cùng Nguyễn Miên Thảo, Lê Ngọc Thuận, Từ Hoài Tấn. Đến tháng 6-2014, tủ sách Thư Ấn quán ở Hoa Kỳ đã tập hợp, xuất bản cho anh tập đầu tay: Thơ Viêm Tịnh, như một khẳng định về một nét riêng trong dòng chảy 20 năm Văn học miền Nam.
Theo bài phỏng vấn được in trong tập thơ, Viêm Tịnh kể rằng năm 1977, sau thời gian đi “học tập cải tạo” về, anh kiếm được một chân đãi sạn thuê trên dòng sông Hương. Chiếc phà nối bằng những thùng phuy chở công nhân đi hành nghề. Một bữa, cô gái làm chung với anh khoe một nắm tiền cổ bằng kim loại vừa mót được dưới đáy sông. Đám thợ đang hứng khởi săm soi mớ tiền đồng, thì bất ngờ một cơn lũ mạnh xô qua chiếc phà, cuốn cô gái xuống dòng nước trôi.
Phải trưa ngày sau, người dân mới tìm ra được xác cô thợ ấy. Viêm Tịnh tức tốc xin nghỉ việc ngay. Từ đó anh lặng lẽ mang theo nỗi ngậm ngùi trong lòng. Có khi nó hiện ngầm trên nhiều dòng thơ anh làm tản mác đó đây.
                             Bạch thủy
Em theo gió bay về nơi có cát
Cát cuộn chân em và biển giữ em
Ta xa quá chốn đèo heo hút gió
Biết ngày nào hết đêm trắng vì em.

Thơ Viêm Tịnh như hơi thở tự nhiên của anh, không màu mè triết lý. Nhưng người đọc vẫn thấy màu siêu thực của những con đường nội thành, của cảnh hoàng cung vắng lặng. Cao Thoại Châu còn cho là anh có hơi thở  ‘‘tân hình thức’’. Nhưng có lẽ đa phần các thi sĩ đều không màng sự phân định về thể loại. Họ chỉ nói bằng giọng tự nhiên, nhi nhiên của mình, mà ra thơ.
Không dễ ai cũng có được điều đó. Về sau tôi mới được biết thêm, rằng Viêm Tịnh còn có cả người anh trai ở nước ngoài, và cô cháu gái ruột ở Hà Nội, cả hai cũng theo nghiệp văn chương và đều nổi tiếng.  Thì ra,  cho dù đã có « gien », nhưng nếu không có niềm đam mê, không thường xuyên « tắm » trong hơi thở thi ca thì không dễ gì làm ra được những bài thơ hay.

ĐÊM 30 Ở ĐỒI THIÊN AN
                                 (với Cao Huy Khanh - Trần Lượng)

Đêm bỗng nhiên lửng lơ một nỗi nhớ

những tiếng thầm thì
thổi ngọn lá thông reo
bên triền đồi mượt mà sương giá Thiên An
chập chờn những gọi mời mộng ảo

Em không để lại gì hơn bước đi rộn rã
nụ hôn tuyệt vời
đêm đang sâu
đêm ba mươi choáng ngợp qua mỗi gốc thông già
em quấn quýt mười ngón tay
hồng nhuận

Và thế thôi, khởi từ nhúm lửa nhỏ
cháy bùng lên óng ánh một làn da
soi bóng em, hằn vết nỗi đoạn đời
trần gian ơi,
điều không thể thả rơi vào quên lãng

Với chiếc que diêm
đốt vội điếu thuốc
sao mà,
lại,
phải sang xuân rồi.

TUYẾT PHAI


Ta gọi em từ bờ Bắc
xuống bờ Đông Nam xa lắc
một âm ba từ viên đá tuổi thơ qua hồ sen Vỹ Dạ
mùa thu, mùa thu trơ lạnh miền yêu
một bóng tà dương phủ mầm bạch liên hạ xế

Hạ huyền, hạ huyền nụ sơ khai
hoa chớm bình minh trắng chớp đời
yêu dấu xa qua, xa qua

Đông xế
đại đoá màu vàng phai
hộ thành gió chướng thổi tình cuồn cuộn
trái tim nhói mầm ghen tuông

Xuân về bên em,
dòng sông lững lờ
nghìn cánh hoa nở sáng màu hoàng ngự
em tươi như đào hồng, không giá rét

Chợt có nhau
tỉnh lặng
giữa đêm xuân.
Khung cảnh vẫn là khung cảnh Huế, “khí hậu” trong bài thơ nghe đâu vẫn phảng phất tiếng chuông từ ngôi chùa cổ, với âm vang của “dòng sông lững lờ”. Nhưng hình như người đọc đã nghe thấy đâu đó một thành phố Huế như đang chuyển động theo những nhịp bước của thời đại. Của thế giới văn minh với những khách lữ hành mang dáng vẻ “Tây ba lô” ghé vào các đền đài phế tích. Dòng thơ của Viêm Tịnh đang rất “hôm nay”.
Xin được mở ngoặc nói thêm là bước vào thập ký thứ 2 của thế kỷ thứ XXI, cố đô Huế với Tạp chí Sông Hương đang là nơi tập trung giới thiệu để “tiếp nhận và sáng tạo” dòng thơ “Tân hình thức Việt”. Nhưng cả trên các tạp chí cũng như các tập tiểu luận nghiên cứu “chính thống” đã “công bố” về dòng thơ “mới” này (cả trên bản in giấy hoặc điện tử), không ai “thèm nhắc” đến tên tuổi một thi sĩ đã tiếp cận với nó rất tự nhiên, từ khá lâu
(Trích bản thảo Vén Mây-tập tản văn thứ 3 của V.CH.C
về các nhà thơ Miền Nam trước 1975)


Võ Chân Cửu
(tác giả gởi)