Trước khi viết những dòng ký ức này, tôi không có ý định làm một đối sánh giữa Vỹ Dạ xưa và Vỹ Dạ nay. Tôi chỉ muốn ghi chép lại những gì tôi đã quen biết về các thứ cây trồng trong vườn nhà tôi và những vườn nhà khác thuộc khu vực Vỹ Dạ trước 1975 để giúp những ai trong các độc giả đời sau muốn biết về một khía cạnh đã góp phần làm cho một làng đã một thời đi vào tâm hồn của một nước.
Nhưng khi nghĩ lại cái tựa đề đã viết, tức thì sự đối sánh xưa – nay hiện ra trước mắt tôi như hai cực ở hai đầu cuộc đời mình. Đầu kia là ký ức với những năm tháng sinh thành của một người nữ trẻ giữa một Vỹ Dạ vườn với những thăng trầm của cuộc sống: có vui, có buồn, có đau khổ, có hạnh phúc, có tự hào hãnh diện, có tự ti xấu hổ, có hy vọng, có tuyệt vong… Đầu này duy chỉ có nhức nhối – nhức nhối – nhức nhối trước một Vỹ Dạ chợ đang phát triển như một cái bướu ngày một to, một nặng trước trán, trên lưng của tuổi già.
Cảm nhận như thế tôi không hề có ý định bài bác “chợ” như một khâu không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường chính danh mà thương mãi được xem là bộ máy tuần hoàn vận chuyển “máu” theo nhu cầu của mọi cơ phận lớn nhỏ khác nhau của một cơ thể sống (xã hội) bình thường và lành mạnh.
Thời nhỏ đã nhiều lần tôi đi chợ Vỹ Dạ để bán những thứ thu nhặt từ trong vườn và để mua các thứ mình cần hoặc theo lời dặn của mẹ, của chị.
Con buôn trong nền văn hóa quan lại trọng sĩ đã bị đánh giá thấp nhất trong hệ thống giá trị xã hội bấy giờ (sĩ – nông – công – thương). Nhưng con buôn tại chợ Vỹ Dạ mà tôi đã giao tiếp không hoàn toàn là “một lũ thương nhân đa trá”. Họ đã để lại trong ký ức những ngày thơ dại của tôi những dấu ấn đẹp đẽ mà khi lớn lên tôi gọi là văn hóa: Không mua rẻ bán đắt, không trao hàng giả hàng xấu, tôm thúi cá ương cho trẻ con, người già, phụ nữ mang bầu và đàn ông (có vợ đẻ) đi chợ.
Ngày nay nhìn bề ngoài cái chợ vốn là một phần của Vỹ Dạ xưa vẫn còn đó, trông có vẻ còm cõi chịu đựng giữa một Vỹ Dạ đổi thay đã ồ ạt và đang lăm le “chợ hóa” bất cứ nơi nào có thể. Đường phố mở to, khách sạn cao tầng sang trọng, nhà hàng hoành tráng phô trương, khu vui chơi giải trí xập xình chấp chới ồn ào náo nhiệt, cà phê đèn mờ, phòng mát xa, quán ca ra ô kê, tiệm thời trang, tiệm hớt tóc và những căn nhà hình ống mới xây trên những mảnh vườn đã cắt xé ra từ mặt bằng vườn xưa.
Một Vỹ Dạ như thế là niềm thỏa thuê của những ông chủ mới, là khách “víp” thường xuyên của các doanh nghiệp chân rết của nền kinh tế thị trường. Những đại diện cho thượng đế thời này đã đến đây sau những giờ lãnh đạo, họp hành, lên lớp, vạch chương trình kế hoạch mệt mỏi ở công đường. Với những thức ăn đồ uống cầu kỳ quí hiếm, cường dương, bổ thận, bên những cô gái ngực nở chân dài, họ có toàn quyền và trọng trách phục hồi sức lực để ngày mai tiếp tục lãnh đạo.
Kinh tế thị trường – định hướng xã hội chủ nghĩa. Phương tiện và mục đích. Mục đích biện minh cho phương tiện. Mục đích tốt (xã hội chủ nghĩa) nên tất cả các phương tiện dù xấu đến đâu cũng đều tốt cả.
Kinh tế thị trường thì Vỹ Dạ thực sự đổi đời. Vườn biến thành chợ, người làm chủ chợ biến thành con buôn. Và mọi thứ trên Vỹ Dạ, trên Thừa Thiên Huế, trên đất nước từ đất đai, rừng biển, đến con người đều trở thành hàng hóa, bất kể trẻ em, người già, phụ nữ mang bầu, người bệnh tật và cả đến người chết. Tất cả đều là hàng hóa, đều là đối tượng kinh doanh. Bọn thương nhân “đa trá” là chủ nhân ông của nền kinh tế tư sản phản động, một thời không đội trời chung, nay trở thành đồng nghiệp phải ngả mũ chào thua các đối tác. Thua ở cái đầu tối tăm đa trá. Thua ở cái bụng chất chứa tham lam trương phình.
Tôi không phải là người hiếu cổ để mãi thương tiếc một Vỹ Dạ xưa không còn lý do để tồn tại và phát triển từ nguyên trạng. Nhưng cưỡng bức Vỹ Dạ đi theo con đường kinh tế thị trường kiểu này là cắt lìa nguồn mạch quá khứ vốn là một phần của Thừa Thiên Huế di sản.
…
Để Vỹ Dạ nay được cứu chữa phần nào trước khi nó hoàn toàn biến mất, để độc giả đời sau nhận biết một thời Vỹ Dạ có vóc dáng như thế, như thế… Và cũng để đính chính những sáng tác hoàn toàn thiếu căn cứ của một số tác giả cho rằng: “Vỹ Dạ có bến đò rợp bóng dừa xanh”, “Vỹ Dạ có những hàng rào dâm bụt (bông cẩn) thẳng tắp”, “Vườn Vỹ Dạ không trồng cau vì chủ nhân vườn Vỹ Dạ ngại con cháu gái của mình bắc chước “con gái Năm Phổ (mà) ở lỗ trèo cau.” (1), tôi xin ghi lại những gì tôi biết và vài cảm nhận về Vỹ Dạ.
Làng Vỹ Dạ được tạo lập trên cánh đồng lau lách (vi dã) mấy trăm năm trước bởi các cư dân đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ theo chân Công chúa Huyền Trân Nam tiến, và sau này, các vương tôn công tử đa phần là con cháu vua Minh Mệnh, các thượng thư, quan lại cao cấp trực thuộc triều Nguyễn và Tôn nhơn phủ thuộc dòng họ Nguyễn Phước – là dòng họ có công đầu trong công cuộc mở cõi, thống nhất đất nước và xây dựng kinh đô Huế. Là một bộ phận của vương triều, người Vỹ Dạ còn chia phần nỗi cay đắng nhục nhã khi vương triều bị Pháp đánh bại, phải đầu hàng, để rồi trở thành triều đình An Nam bị tướt hết quyền lực, bị bảo hộ và trở nên suy tàn.
Nằm ven sông Hương và sông đào Như Ý, Vỹ Dạ tọa lạc ở phía đông kinh thành, bên kia Đập Đá. Người Vỹ Dạ quay mặt về phía chính Tây bên bờ bắc sông Hương để ngưỡng vọng đế đô nơi hoàng đế nhà mình đang ngự trị. Chẳng bao lâu sau cái thời đoạn vinh quang tưởng không bao giờ dứt ấy, người Vỹ Dạ hướng tầm nhìn về phía tây-nam qua sông Như Ý, để phải thấy một tòa nhà cao tầng trông như một pháo đài, đó là tòa Khâm sứ Pháp uy nghi quyền lực đứng sừng sững bên bờ nam sông Hương trông chừng tứ phía.
Từ phía đông-nam, qua tây-bắc, người Vỹ Dạ gặp gỡ trên đường làng mình, giao tiếp, kết bạn, làm thông gia, làm chính sự, và làm thơ với một bộ phận cư dân các làng Vân Dương, Ngọc Anh, Lại Thế, Năm Phổ, và Dương Nỗ – cũng xuất thân từ triều đình và con cháu nội ngoại dòng họ Nguyễn Phước.
Vỹ Dạ còn có một bộ phận lãnh thổ nằm giữa sông Hương gọi là cồn Hến hay Bồi Thành. Từ Cồn Hến người Vỹ Dạ nhìn qua bờ bắc sông Hương thấy Gia Hội và Bãi Dâu.
Vị trí, đất đai, sông nước có diện tích khoảng 2,2km2, con người và lịch sử như thế, nhưng từ xưa du khách chỉ biết có một Vỹ Dạ với những “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,” – một thế giới cây cảnh, hoa lá và tâm hồn của một bộ phận dân cư trong các khu vườn nằm kề bên nhau ở hai bên con đường cái duy nhất dài trên 2km (trước 1975 gọi là đường Thuận An, sau 1975 gọi là Nguyễn Sinh Cung) chạy thẳng từ Đập Đá đến nghẹo chợ Mai cách bờ sông Hương khoảng một trăm mét phía tay trái, cách đồng lúa hai, ba, bốn, năm trăm mét phía tay phải tùy theo từng khúc đoạn. Đoạn trên gọi là Vỹ Dạ thượng, khúc dưới gọi là Vỹ Dạ hạ.
Vườn Vỹ Dạ xưa đa phần là vườn của các Mệ, các Cụ. Ngoài ra còn có vườn chùa và một số ít vườn của các thành phần cư dân khác mua lại của các gia đình quí tộc sa sút chuyển cư, hoặc tạo lập nên từ những mảnh đất ruộng nhỏ phía đồng lúa.
Tôi sinh ra và lớn lên trong thời nhà Nguyễn đã suy tàn và cáo chung, nên vườn phủ chỉ có nghe mà không được thấy. Tôi chỉ biết và thấy được một số vườn của các hoàng thân quốc thích thế hệ Ưng, Bửu, Vĩnh (cháu chắt đời thứ tư, thứ năm của vua Minh Mạng) và một số vườn khác của các cụ thượng dòng Tôn Thất, Nguyễn Khoa.
Theo tiến sĩ Phan Thanh Hải, giám đốc bảo tàng Huế, thời nhà Nguyễn còn thịnh trị, trong và ngoài thành cố đô có hàng trăm phủ đệ, riêng Vỹ Dạ có trên mười. Và vườn Vỹ Dạ là không gian văn hóa, là bối cảnh kiến trúc của các phủ đệ. Tại Vỹ Dạ ngoài phủ Tuy Lý, tiến sĩ Hải còn kể tên, nhưng không cho biết vị trí và hiện trạng của 13 phủ còn lại (2).
Là cư dân Vỹ Dạ tôi chỉ biết đại khái về phủ Tuy Lý, ít biết hơn về phủ Kiến An, nghe tên và chỉ biết vị trí về một phủ thứ ba có tên là Vy Dã chỉ còn một nửa trụ cổng.
Thời học tiểu học, tôi là đứa mê thích hoa bướm, cây cỏ, nên một mình hay cùng bạn bè luồn lách theo các vườn Vỹ Dạ từ thôn Hô Lâu xuống cầu Ông Thượng, đến Lại Thế, Ngọc Anh và một phần của thôn Năm Phổ. Không có một vườn phủ nào đúng nghĩa được lưu giữ trong ký ức của tôi.