Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Thơ CÁI TRỌNG TY

BIÊN CƯƠNG
Tưởng niệm nhà thơ PHẠM NGỌC LƯ
 
 
biên cương hành chí h th
ngôn ngữ thơ di ly mt đi
người v bn quán nhà tan nát
tâm tư ưu ut tháng năm trôi
ngồi đây mi bn chung rượu đng
kẻ sĩ đp gai giày c qua sông
xa bao năm một ngày thoáng gp
gió phi trường bình đnh
cát bay bay
vội vàng tay vy không hn li
thuở y bi đường lm tai ương
ta theo trận mc v an phú
thời xuân thu
sớm bin chiu rng
bước đi la tình sp cn
nhìn lại mình rách nát tang thương
bạn tôi chí ln mài gươm bén
chảy máu đời thơ bui ch tàn
ai hiểu cho mi đi tht chí
chung rượu này đi m vi ai
đêm xưa gác tr vài ba đa
chơi mt phùa sng khoái
tan hàng
nay hong bếp cũ tro than lnh
nhìn đăm đăm vách lá chơ vơ
chỉ thy tháng ngày xuôi lp lp
đời mi trôi qunh qu vào ra
nhớ bn đêm v đau vết ct
dấu đi qua dao nhn ca vào tim
ta qua cầu nhìn giòng sông khp khiểng
máu về tim nhp đp luân hi
đêm nay ngâm lại biên cương trn
hành phương đông ut hn ngút ngàn
mây đùn kìn kịt t đt kh
vó ngựa cao nguyên đ xóm làng
cung đàn xưa ai người tri k
chiếu bc đi soi ni đng cay
giông bão đời xoay
gãy rồi bút bc
đời sang trang khép
khúc oan tình
hình như gió thi qua liếp ca
vi vu nghe tiếng gi trùng khơi
gọi ai nơi tn cùng biên tái
mây khói tàn tro phủ tượng đài
ta rơi giòng l v chn cũ
dấu giày thô ngươi tr quê nhà
Cái Trọng Ty
Texas, May 26 2017

Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

NHÀ THƠ

PHẠM NGỌC LƯ

ĐÃ QUA ĐỜI VÀO TỐI THỨ SÁU, 26.5.2017 TẠI ĐÀ NẴNG
HƯỞNG THỌ 71 TUỔI. NHÀ THƠ SẼ ĐƯỢC ĐƯA VỀ MAI TÁNG 
TẠI QUÊ NHÀ PHÚ VANG, HUẾ  VÀO NGÀY 31.5.2017

Xin chia buồn cùng chị Quý và gia đình.
Nguyện cầu linh hồn người quá cố
sớm yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.


Trần Huiền Ân   Trương Vũ   Đỗ Hồng Ngọc   Lữ Kiều   Lê Phương Nguyên  Hải Phương   Trần Hoài Thư    Phạm Văn Nhàn   Võ Tấn Khanh   Lữ Quỳnh
Phạm Nhuận   Nguyên Minh   Cao Thoại Châu   Nguyễn Quốc Thái   Quan San

Thành Tôn   Luân Hoán   Trần Doãn Nho   Hoàng Lộc   Nguyễn Trọng Khôi Nguyễn Xuân Thiệp   Khuất Đẩu & Huyền Chiêu   Từ Hoài Tấn   Lê Văn Thiện  Bắc Phong Huỳnh Ái Tông  Nguyễn Miên Thảo  Viêm Tịnh  Võ Chân Cửu  Hạ Đình Thao  Lãm Thúy  Trần Thị Nguyệt Mai    Nguyễn Quang Chơn   Duyên & Tùng


Nguyễn Sông Ba   Lê Ký Thương   Đặng Kim Côn   Hoàng Xuân Sơn    Thu Vàng   Nguyễn Thị Thanh Bình      Hoàng Thị Bích Ti      Nguyễn Minh Nữu Thân Trọng Sơn   Nguyễn Lệ Uyên    Nguyễn Âu Hồng     Hà Thúc Sinh Lê Văn Trung   Ngô Phan Lưu     Nguyễn Dương Quang   Nguyễn Hòa 

Đỗ Trường   Mai Quang   Nguyễn Đức Nhơn   Văn Công Lê   Gia Nguyễn

 Tôn Nữ Thu Dung   Nguyễn Thị Khánh Minh   Trần Bang Thạch   Triều Hạnh Lương Thư Trung     Phan Xuân Sinh   Cái Trọng Ty  Tô Thẩm Huy
   Trần Phù Thế   Nguyễn Thanh Châu   Phan Ni Tấn   Hoài Ziang Duy
Đoàn Văn Khánh   Trương Văn Dân & Elena   Phạm Cao Hoàng & Cúc Hoa
Mang Viên Long   Thúy Phương   Trần Yên Hòa   Huỳnh Hữu Võ   Tô Duy Thạch 

_____________________________________________________


PHẠM NGỌC LƯ

Nhà thơ Phạm Ngọc Lư (1946-2017)


Tên thật Phạm Ngọc Lư, bút hiệu khác Phạm Triều Nghi. Sinh năm 1946 (Bính Tuất) ở Vinh Xuân, huyện Phú Vang, tỉnhThừa Thiên. Nơi ông sinh là một làng nhỏ vùng duyên hải cách thành phố Huế khoảng 30 cây số về hướng Ðông Nam. Ngay từ thuở ấu thơ, Phạm Ngọc Lư đã được cha và người bác truyền dạy chữ Hán.
Ông là cựu học sinh Quốc Học, sinh viên Viện Hán học và Ðại học Văn Khoa Huế. Sau khi tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn, ông về dạy học ở Tuy Hòa. Năm sau, 1968, theo lệnh động viên ông nhập ngũ khóa 5/68 Sĩ quan trừ bị Thủ Ðức. Sau 9 tuần ở quân trường, ông lại được biệt phái trở về ngành giáo dục. Bắt đầu viết năm học đệ tứ. Có bài trên các nguyệt san, tạp chí Nghệ Thuật, Văn, Bách Khoa, Trình Bày, Khởi Hành, Ý Thức, Tuổi Ngọc…
Tác phẩm đã xuất bản:
ĐAN TÂM (Thư Ấn quán 2004)
MÂY NỔI (tự in 2007)
Sau năm 1975, Phạm Ngọc Lư bỏ nghề dạy học. Từ đây, hoàn cảnh, xã hội đã đẩy Phạm Ngọc Lư phiêu bạt nhiều nơi, có những lúc cuộc sống, tâm hồn tuyệt vọng, tưởng chừng ông đã đoạn tuyệt với thi ca. Nhưng rồi chính nó lại là điểm tựa, giúp ông vượt qua những đắng cay, tủi nhục ấy. Và Ðà Nẵng mới là nơi hội tụ, điểm dừng chân cuối, không chỉ riêng ông, mà còn của nhiều thi nhân lỡ bước khác. Gần đây có tin Phạm Ngọc Lư bị bệnh. Chúng ta cầu chúc ông sớm bình phục.

Nghĩ về nhà thơ Phạm Ngọc Lư, Cung Tích Biền viết: Ông xuất hiện khá sớm trên văn đàn Miền Nam, trước 1975, qua các tập san văn chương; trong dòng văn học phóng khoát, bay bổng. Thơ buổi này? Là của nửa lãng mạn, và nửa kia của Lửa, trong đấu tranh sống còn. Mỗi tâm thức là nghìn gạn hỏi về phận người trong một Việt Nam phân ly Bắc-Nam. Một Việt Nam bị cuộc chiến ác liệt, vừa của bom đạn máu lửa vừa của ý thức hệ thù nghịch. Nó thách thức và ngăn cách toàn triệt với hạnh phúc; lại rất gần gũi trong ý nghĩa lưu đày.

Nhưng đây cũng là thời kỳ may mắn cho những ai làm văn học nghệ thuật, đương nhiên là ở Miền Nam. Vì cái thực tế nơi đây, là đầy rẫy rủi ro lại phong phú những mong chờ. Rất nhiều cảm thán về thân phận nhưng cũng thừa những nụ cười về nghịch lý đời thường. Và, vì họ được sống, được làm Người Sáng tạo, trong một môi trường tự do. Có nghìn tự do lựa chọn. Có biển tư tưởng để tương phùng. Và trên hết, từ một thế giới rộng mở, đa dạng, sầm uất những phát biểu, họ tồn tại trong đầy đủ ý nghĩa của Tồn Tại. Phạm Ngọc Lư là một Ðóa Hoa, trong vườn hoa sắc màu hoằng viễn này.

Hồi ấy, hơn ba mươi lăm năm trước, tôi đọc thơ Lư mà chưa hề có dịp gặp mặt. Cứ nghĩ, anh là một người giàu trầm tư, vừa sống vừa phiêu bồng thấy ra:

Ngàn sau hồn chữ rêu phong
Miên man thiên địa… tấc lòng du du…
Phạm Ngọc Lư

Năm 2008, gặp Phạm Ngọc Lư ở Ðà Nẵng, Cung Tích Biền ghi nhận: Một làn da trắng lấm tấm bụi phong trần. Một khuôn mặt xương xương khắc khổ. Một giọng nói mềm của Huế. Một thân người mảnh mai. Duy đôi mắt sáng, một vầng sáng đã xám đậm những rêu đời. Ðó là chân dung Nhà thơ Phạm Ngọc Lư. Tôi cũng rất mừng là anh còn sáng tác. Và cái tốt đẹp trên cùng, là anh còn giữ được chừng mực cái tinh túy Chính-Mình.

Phạm Ngọc Lư, qua thời cuộc thăng trầm, làm thân phiêu dạt, nhưng không hóa ra bọt bèo. Mà anh đã minh triết nhận ra cái Tính Lý của cuộc Sinh – Diệt:

Đất đá thở ra mùi u uất
Bốn bề hun hút rợn màu tang
Ai chết quanh đây mà cú rúc
Mà cơn gió lạnh réo hồn oan
Ai trong muôn dặm không về nữa
Cố lý mười năm mộng bẽ bàng
Cố lý hành – Phạm Ngọc Lư

(Bài viết của NGUYỄN & BẠN HỮU
Nguồn: Báo Trẻ online)

phamcaohoang.blogspot.com

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Bài thơ của những năm gió bụi : Lau lách Bình Thành




Ta về đây phất ngọn cờ lau
Dẫn bầy lâu la là đám con nhỏ
Tập trận trên những luống khoai mỳ
Trồng bờ đắp mới xong hôm qua
Bên dòng nước phèn tanh tưởi
Những luống khoai của một trận địa nghèo khó
Với bầy con ở trần quanh năm
Bên mụ vợ ở nhà quê đụng giường thì đẻ

Hàng chục năm quá khứ bỏ lại sau lung
Cùng những ngày phố thị bị truy đuổi
Những năm đau lòng vĩnh biệt một cuộc chiến tranh
Cảnh chia ly không ngờ tới
Bỏ lại một chặng đường
Bởi không còn cách nào để ở lại với những ngày lang thang và đói
Sau những cuộc ra đi thất bại

Ta về đây với bông hoa tràm đồng nội
Rừng bạt ngàn lau lách
Đất bưng biền
Nước trong xanh chỉ để soi mặt mình, không uống được
Những trảng bàng mênh mông nối tiếp tận chân trời
Chỉ để thấy sự cô độc của kẻ không nơi nương náu
Về dựng chòi trên bờ kinh xáng múc
Những nhát cuốc xuống vùng đất mùn
Khơi tìm mạch sống
Những năm ấy như là
Kẻ thất phu
Mang nỗi đau ngày lưu lạc
Kẻ thất phu tự an ủi mình bằng vinh quang của sự hèn nhát cam chịu cuộc đời
Bên người vợ quê suốt ngày ca sáu câu vọng cổ
Những năm ấy như là
Chìm đắm êm ái với sự vô vọng

*
Rừng ở đây và đất cũng ở đây
Từng ngày rồi từng năm tháng
Mười lăm năm không nghĩ sẽ qua
Dòng kinh xáng nước lớn ròng đôi bận
Nằm chờ biền sông dưới bóng cây gừa
Xuôi con nước thuận dòng về bến chợ
Hàng đã lên bờ rượu đã bày ra
Vài con khô cá sặc
Chung ly rượu bằng hữu thương hồ
Ngất trời sảng khoái
Bèn cất tiếng ca rằng
Ta về đây về đây
Phấp phới ngọn cờ lau
Lãng tử hay tráng sĩ hề
Dửng dưng lòng nguội lạnh
Quê hương hay đất nước hề
Có còn không một cõi
Để
Những tháng năm tràn qua
Chỉ là giấc mộng đầu hôm

TỪ HOÀI TẤN
(Xã Bình Thành Huyện Đức Huệ Tỉnh Long An - Biên giới Việt Miên những năm 1980s
Viết lại Sài Gòn tháng 2/2017)

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Nhân ngày giỗ THANH TÂM TUYỀN

Đặng Tiến
Thanh Tâm Tuyền
Nhà thơ, nhà văn Thanh Tâm Tuyền qua đời trưa ngày 22 tháng 3-2006, tại thành phố Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ, thọ 70 tuổi. 

Thanh Tâm Tuyền là một tác gia chính yếu đã làm mới nền văn học miền Nam, trước 1975, và góp phần tạo nên một khúc quành cho văn học Việt Nam nói chung trong nửa sau thế kỷ 20. Ông đã làm mới câu thơ, bài thơ, ý thơ và quan niệm thi ca Việt Nam. Ông cũng làm mới câu văn xuôi, cách kể chuyện bắt đầu từ truyện Bếp lửa. 

Ông du nhập nghệ thuật phương Tây bằng cách đọc trực tiếp, không kinh qua trường học Pháp thuộc như các nhà văn nhà thơ lúc trước. Ảnh hưởng phương Tây do đó có tính cách trực tiếp, tự do và sáng tạo. Ngược lại, ông có khả năng thiết lập quan hệ hữu cơ và mật thiết giữa các bộ môn văn học và nghệ thuật: Thơ, Văn, Nhạc, Hoạ, như ở các nước phương Tây. 

Về nội dung chính yếu, chất liệu trong thơ văn Thanh Tâm Tuyền là ý thức thất bại. Thất bại của con người trước định mệnh nói chung, cụ thể là sự bất lực của giai cấp trí thức tiểu tư sản Việt Nam trước thời cuộc. Viết văn, làm thơ, làm nghệ thuật nói chung, là cố gắng vượt qua sự thất bại đó, biến nó thành nghệ thuật. 

Thanh Tâm Tuyền là người sâu sắc, uyên bác, tài hoa, nghiêm túc, tư cách và tiết tháo. 


*


Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư văn Tâm, sinh ngày 13 (có nơi ghi 15) tháng 3 năm 1936, tại Vinh, Nghệ An. Trong bài «Thơ mừng năm tuổi», làm năm Nhâm Tý 1972, ông đã kể chi tiết tiểu sử [1] . Từ 1952, ông đã đi dạy học, trường Minh Tân, Hà Đông và có truyện đăng báo Thanh Niên, Hà Nội. 

Sau đó, hoạt động trong Tổng hội Sinh viên Hà Nội, cùng với những người sẽ trở thành bạn văn nghệ về sau: Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, cùng chủ trương nguyệt san Lửa Việt, rồi vào Nam. 

Tại Sài Gòn, 1955, ông viết cho các tuần báo Dân Chủ, Người Việt và nổi tiếng từ những tác phẩm đầu tay, tập thơ Tôi không còn cô độc, 1956, và truyện Bếp lửa, 1957. Thời điểm này, ông tích cực tham gia biên tập báo Sáng Tạo (1956-1960) do Mai Thảo đứng tên, và ông thường được xếp vào «nhóm» Sáng Tạo, có ảnh hưởng lớn trên văn học miền Nam suốt một thập niên. 

1962, bị động viên vào Trường Sĩ quan Thủ Đức, được giải ngũ, rồi tái ngũ trong Quân lực Việt Nam Cộng hoà, phụ trách chủ yếu việc huấn luyện văn hoá, «tám năm quân ngũ chưa nổ một phát súng với địch» (1972), cấp bực cuối cùng là đại uý. Sau 1975, bị bắt đi học tập, trong hơn mười năm, tại nhiều trại cải tạo miền Bắc. Cuổi cùng sang định cư tại Hoa Kỳ từ đầu thập niên 1990. Ông qua đời vì ung thư phổi, tại nơi cư ngụ. 

Thanh Tâm Tuyền là tác giả khoảng mười đầu sách; ba tập thơ: Tôi không còn cô độc (1956), Liên - Đêm - Mặt trời tìm thấy (1964, Sài Gòn), Thơ ở đâu xa (1990, Mỹ). Ba truyện: Bếp lửa (1957), Khuôn mặt (1964), Dọc đường (1967). Ba tiểu thuyết: Cát lầy (1966), Mù khơi (1970), Tiếng động (1970). Một vở kịch ngắn: Ba chị em (1965). Một phiếm luận Tạp ghi (1970). Ông còn nhiều tác phẩm chưa xuất bản, ví dụ như tiểu thuyết Ung thư đăng nhiều kỳ trên báo Văn, từ 1964, là một tác phẩm quan trọng. 

Miền Nam Việt Nam những năm 1955 -1960 bừng lên một sinh khí văn hoá. Hằng triệu người từ Bắc di cư vào Nam, những người từ nông thôn bước vào, hay trở về thành thị sau chiến tranh, tình hình an ninh và giá cả ổn định, các trường trung và đại học phát triển, sách báo, điã nhạc, nhập khẩu ào ạt với giá rẻ nhờ ngoại viện. Thơ Thanh Tâm Tuyền xuất hiện trong bối cảnh đó. Ít người mua và cầm trong tay tập thơ Tôi không còn cô độc, nhưng nhiều người, nhất là giới thanh niên, đọc thơ ông trên tạp chí Sáng Tạo, bên cạnh thơ hiện đại khác của Tô Thuỳ Yên, Quách Thoại, Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Người Sông Thương. 

Người đọc theo dõi, tìm hiểu, chứ thật sự yêu thích thì không nhiều; cũng có người, có bài báo chê trách là thơ lập dị, bí hiểm, hũ nút. 

Mười lăm năm sau, 1973, khi sự nghiệp thơ văn Thanh Tâm Tuyền đã an vị, báo Văn đã ra một số đặc biệt về đề tài này, ngày nay là tư liệu hiếm quý. Trên báo này, Lê Huy Oanh, nhà biên khảo chuyên về thơ, có hai bài: một bài kể lại quá trình tiếp xúc thơ Thanh Tâm Tuyền, từ chỗ ghét bỏ đến yêu thích; một bài giải thích «lối thơ Thanh Tâm Tuyền» qua bài «Phục sinh» nổi tiếng trong sự khen chê, với những câu: «Tôi buồn khóc như buồn nôn… Tôi buồn chết như buồn ngủ…» 

Tôi không còn cô độc có lẽ chỉ là lời tâm nguyện như khi nhà thơ nói «tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ», hay «có người cầm súng bắn vào đầu / đạn nổ nhịp ba / không chết». Người đọc bực mình vì những lời lạ lẫm như thế thì ít, nhưng nhiều người phẫn nộ vì lời thách thức in ở đầu sách: 

«Ở đây tôi là hoàng đế đầy đủ quyền uy. Bởi vì người vào trong đất đai của tôi, người hoàn toàn tự do. Để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà người phải thần phục nếu người muốn nhập lãnh thổ. Người hoàn toàn tự do. Và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ 

Lê Huy Oanh kể lại rằng: «Trước đó tôi đã quẳng tập thơ qua cửa sổ, rồi lại nhặt lên, trân trối nhìn nó một hồi lâu trước khi từ từ, rất từ từ ấp nó vào ngực» (báo Văn đã dẫn, tr. 8). Dĩ nhiên đây là cách nói tượng trưng. 

Trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, Thanh Tâm Tuyền nhất định phải biết câu thơ phá thể thời 1946, như «Nhớ máu» của Trần Mai Ninh, «Đèo cả» của Hữu Loan, «Sáng mát trong như sáng năm xưa» của Nguyễn Đình Thi. Nhưng dù phá thể, câu thơ này vẫn còn giữ vần điệu. Thanh Tâm Tuyền phá vỡ cái vỏ ngữ âm của câu, hay bài thơ: loại trừ vần, không theo nhịp của ngôn ngữ, xáo trộn thanh điệu bằng trắc; muốn như thế, ông phải sắp xếp lại ý tưởng, hình ảnh, để làm mới ngôn ngữ. Thơ xưa đem tư tưởng ra «diễn ca», còn Thanh Tâm Tuyền tháo gỡ guồng máy ngôn ngữ ra từng bộ phận rồi lắp ghép lại thành những chức năng mới, trong văn bản mới. 

Dựa trên lời Nietzsche, ông gọi đây là quan niệm nghệ thuật Dionysos đối lập với quan niệm Apollon, «nghệ thuật phá vỡ những hình thức sẵn có hỗn loạn trong những niềm cảm xúc, một nghệ thuật của say sưa, một vẻ đẹp hãi hùng mọi rợ, nghệ thuật bắt nguồn từ một nhân sinh quan bi thảm». 

Câu này trong bài «Nỗi buồn trong thơ hôm nay», Thanh Tâm Tuyền viết năm 1955 - khi ông 19 tuổi - là một văn kiện cơ bản, trong lý luận về thơ. Trong chừng mực nào đó, nó tiếp nối bài «Mấy ý nghĩ về thơ» của Nguyễn Đình Thi năm 1949, về nguyên tắc và lý thuyết. Về mặt nội dung và thực tiễn sáng tạo, Thanh Tâm Tuyền đi xa hơn. 

Chất hiện đại trong thơ ông một phần do ảnh hưởng thơ thế giới, chủ yếu là thơ Pháp, từ Rimbaud, Lautréamont đến Apollinaire, nhất là thơ siêu thực của nhóm Bréton, Eluard, mà ông tiếp thu trực tiếp, mà không kinh qua nhà trường Pháp thuộc như thế hệ đi trước. Thanh Tâm Tuyền không học đúng bài bản như Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, cho nên tự do hơn. Xuân Diệu, về già, vẫn mơ ước làm một Ronsard. Thanh Tâm Tuyền thạo tiếng Pháp, ham đọc, nên tiếp xúc được với nhiều tác giả trên thế giới từ Gorki, Plekhanov, Marx, Trosky đến những tác giả mới hơn như Laurence Durrell hay Solzhenitsyn qua tiếng Pháp. Từ đó, thơ ông có chất quốc tế, trong nền Cộng hoà Thế giới: 

Các anh Cộng hoà đã chiến đấu cho Tây Ban Nha 
Xứ sở Lope de Vega Garcia Lorca 
Một Bréton tình điên còn nức nở 
Mà Hy vọng Malraux còn thổn thức 
Và mãi Ernest còn tiếc thương 
Andalousie đói quên khiêu vũ 
Việt Nam ốm yếu quên ca dao 

Câu «quốc tế ca» của Thanh Tâm Tuyền nhiều người thuộc nhất có lẽ là hai câu đầu dùng làm tựa đề cho bài thơ, đăng trên báo Sáng Tạo, số 4 tháng Giêng 1957: 

Hãy cho anh khóc bằng mắt em 
Những cuộc tình duyên Budapest 

Bài này làm vào tháng 12-1956, một tháng sau khi Hồng quân Liên Xô, nhân danh khối liên minh quân sự Warszawa tràn ngập Hungary và thủ đô Budapest. Sau đó ông còn làm tiếp «Bản anh hùng ca Budapest» cũng đăng trên Sáng Tạo. 

Thanh Tâm Tuyền chưa bao giờ ra khỏi Việt Nam cho đến ngày sang Hoa Kỳ định cư vĩnh viễn. Nhưng thơ ông đầy những thành phố: Warszawa, Berlin, Bình Nhưỡng, Bắc Kinh, Moskva, Praha, Paris, Madrid, Brussel, Genève. Nhưng không có lũy tre, con đò, bờ dâu, nương sắn. Thơ Thanh Tâm Tuyền là thơ thành phố: thơ Pháp, đến Prevert là hoàn toàn đô thị hoá; thơ Việt Nam, đến Thanh Tâm Tuyền cũng quành vào đô thị. Xưa kia, Nguyễn Bính đã mơ Phường chèo làng Đặng; gần hơn, Đinh Hùng còn nhớ tháng giêng quê bạn hội đêm rằm; đến Thanh Tâm Tuyền «Tôi không còn cô độc» là tên một bài thơ dưới dạng hợp xướng hiện đại, với nhiều giọng hát, và có giọng thi sĩ: 

Tôi đã chết nghẹn ngào 
ôm tình yêu tự do chật ngực 
tôi chết và chối từ 
đừng ai gọi tôi là thi sĩ 
(…) 
Hôm nay tôi dự hội 
hôm nay dùng mắt nhìn 
hôm nay dùng lời dịu 
cô độc phút tan tành 
tôi không còn cô độc 

Ông già: tôi không còn cô độc 
Hợp xướng: tôi không còn cô độc 
Em gái: tôi không còn cô độc 
Hợp xướng: không ai còn cô độc 
không ai còn cô độc 

Thơ Thanh Tâm Tuyền khi ngân vang hợp xướng, khi u uẩn tiếng kèn đồng: 

Một người da đen một khúc hát đen 
Bầu trời đen sâu không cùng 

Những dòng nước mắt: 

Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng 
Bằng giọng của máu của tuỷ của hờn bắt đầu ngày tháng 
Giữa rừng không lối rừng mãi trống không 
(…) 
Vì blues không xanh, vì điệu blues đen 
Trên màu da nức nở 

(«Đen», Sáng Tạo, số 8, tháng 5-1957) 

Thơ Thanh Tâm Tuyền, tự nó, là một thế giới, và đồng thời một không gian nhìn ra thế giới. Đây là đặc tính của thơ Thanh Tâm Tuyền, ở những nhà thơ khác dù rất hiện đại, cũng không có, hoặc không rõ nét. Ví dụ trong thơ Tô Thuỳ Yên, chủ yếu ta thấy thảm kịch Việt Nam; thơ Lê Đạt chủ yếu phản ánh tâm cảnh người dân châu thổ Sông Hồng; thơ Dương Tường đưa vào nhiều tiếng nước ngoài, thảnh thót giọt mưa dương cầm tím mộng scheherazade, vẫn là cái liếc nhìn ra thế giới, không phải là tầm nhìn sâu thẳm, xâu xé, xoáy vào thân phận làm người, chủ yếu là người nhược tiểu. Nói như vậy, không có ngụ ý rằng thơ Thanh Tâm Tuyền nhẹ tính cách dân tộc. Phân biệt dân tộc với nhân loại là phiến diện: trong thế giới có Việt Nam và trong Việt Nam có thế giới. Trong «Guernica» của Picasso có Bến Tre, trong tranh khắc gỗ đình làng Việt Nam có Picasso. Tôi nói thơ Thanh Tâm Tuyền trong hình thức và nội dung là một bước ngoặt trong nghệ thuật và tâm thức Việt Nam là vậy. 

Tuy nhiên cũng phải ghi nhận với ít nhiều tiếc rẻ là lối thơ Thanh Tâm Tuyền không có người thừa kế. Bản thân Thanh Tâm Tuyền về sau, trong tập Thơ ở đâu xa cũng trở về với những thể thơ truyền thống. Nhưng đây là những bài thơ làm trong lao lý, trong những hoàn cảnh đặc biệt, không cho phép chúng ta suy diễn về lý thuyết. Dù sao ông đã mở ra những chân trời mới và cách tân quan niệm thi ca.