Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

Quanh quanh chuyện “thơ thiền hiện đại” (1)

Nguyễn Thanh Văn

1. Vài mốc lịch sử
Không thể không đặt câu hỏi có dòng Thơ Thiền hiện đại thực không, thậm chí khái niệm và thuật ngữ Thơ Thiền áp dụng cho một dạng thơ trong nền thi ca hiện đại được công nhận chưa. Khỏi cần tranh luận rằng đối với nhà thơ việc ai đó công nhận hay không tên thể loại, lối thơ họ đang làm là gì không quan trọng. Thực tế, với độc giả cũng không khác lắm, họ đón nhận cảm hứng thi ca qua xác thịt nghệ thuật cụ thể mà ít bận tâm hỏi name card lôi thôi, điều mà nhà nghiên cứu xem trọng.
Tạm thời chúng ta có thể nhận xét rằng dạng thơ được quen gọi là Thơ Thiền có tên họ rất chậm, do đám hậu bối đặt cho. Nói khác đi, các vị sư thời nhà Lý, Trần và có thể trước đó nữa không định sáng tạo ra thể loại văn chương chi cả. Cũng tạm để lại những nghi án – có trường hợp được giải mã có phần bất lợi cho “copyright” của phía tác giả Việt Nam – có không ít thơ vẫn cho là thơ Ta được cho là “gốc” thơ Tàu, thì việc trong lịch sử (tôi tránh nói là “lịch sử văn học”) các nhà sư có thơ với cảm hứng Phật Pháp (và cá biệt có vị không chỉ cảm hứng từ Phật Pháp) là hoàn toàn có thực. Và chúng ta không thể không cảm thấy tự hào và thú vị về chuyện này.
Không cần khẳng định chắc nịch mần chi – mà làm chi có tư cách mà khẳng định – có thể tin cảm hứng thành thơ của các nhà sư Việt đến từ nhiều nguồn. Trước hết là truyền thống Gāthā (Kệ) trong Kinh Phật, hẳn có gốc gác ngay trong truyền thống văn hoá Ấn Độ cổ đại. Đức Phật thường tóm tắt bài kinh thành một dạng “thơ” (vần hoá) ngắn, súc tích – ít ra qua các bản kinh Nikāya (Kinh Bộ hay Bộ Kinh) cổ chúng ta tiếp xúc được.
Sau đây là vài đoạn trích:
“Sao ta nói Chánh Pháp
Được chứng ngộ khó khăn?
Những ai còn tham sân
Khó chứng ngộ Pháp này.
Đi ngược dòng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được Pháp này.
(Kinh Thánh Cầu/Ariyapariyesanā Sutta – Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Kinh Trung Bộ/Majjihima Nikāya, tập 1,  trang 211)
1. Lạc thọ hay khổ thọ
Cùng bất khổ bất lạc,
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.
2. Biết được: “Đây là khổ,”
Hư nguỵ và biến hoại,
Thấy xúc, xúc biến diệt,
Ở đây sống ly tham.
(Kinh Tương Ưng Bộ/Samyutta Nikāya, tập 2, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 275)
Nhưng những sưu tập các bài Kệ lừng danh nhất thuộc về hai tập “Trưởng Lão Kệ” và “Trưởng Lão Ni Kệ” (ở Việt Nam đã có bản dịch phổ biến và cũng là bản dịch đầu tiên của cố Hoà thượng Thích Minh Châu), được xem là những cảm hứng được vần hoá – gần với một định nghĩa Thơ – của các bậc sư ni, một số là đệ tử của Đức Phật, nói lên (tôi không dùng từ “sáng tác”) vào thời điểm giác ngộ, đạt quả A La Hán. Để bạn đọc tham khảo – và so sánh – tôi trích vài bài Kệ của các ngài (dẫn theo bản Kinh Tiểu Bộ, tập 2, dịch từ Kinh Khuddaka Nikāya, tiếng Pali, của Hoà thượng Thích Minh Châu, nxb Tôn Giáo, 2013).
1. “Thành tựu Chánh Tinh Tấn,
Sở hành trên Niệm Xứ,
Tràn đầy hoa giải thoát,
Sẽ nhập diệt, vô lậu.”
(Trưởng Lão Tăng Kệ, Kệ Devasabha, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 254)
2. “Năm uẩn được rõ biết,
Tồn tại sẽ cắt đứt,
Vòng sanh tử đoạn tận,
Nay không còn tái sanh.”
(Trưởng Lão Tăng Kệ, Kệ Sāmidatta, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 248)
3. “Ta đã chế ngự được
Thân, miệng và tâm tư,
Ta chinh phục khát ái
Cho đến tận gốc rễ,
Ta sống được mát lạnh
Trong tịch tịnh, an lặng.
(Trưởng Lão Ni Kệ, Kệ Uttarā, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 536)
4. “Dầu ta có đau đớn,
Sức yếu, tuổi trẻ qua,
Dựa trên gậy, ta đi,
Ta leo lên đỉnh núi.
Với đại y vắt ngang,
Với bình bát lộn ngược,
Ta ngồi trên tảng đá,
Tâm ta được giải thoát,
Ba minh chứng đạt được,
Thành tựu lời Phật dạy.
(Trưởng Lão Ni Kệ, Kệ Mettikā, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 541)
Tôi cố ý trích minh hoạ không chỉ một hai bài để một số bạn tiếp xúc với dạng Gāthā (Kệ thời Phật giáo nguyên thuỷ), một số tăng ni là đệ tử chân truyền của Đức Phật, và dễ nhận ra – qua bản dịch của Ngài Thích Minh Châu – tính chân phương, mục đích nói kệ và nội dung minh bạch của các vị hoàn thành Phạm Hạnh, đạt Thánh Quả. Đối với riêng Kệ của chính Đức Phật, có thuyết cho có thể một số do người chép kinh đời sau tạo ra vì mục đích sư phạm, tóm tắt bài Kinh; điều này khó xác quyết nhưng qua so sánh văn bản cổ như bộ Kinh Pháp Cú hay chính Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Tăng Kệ ta vừa trích dẫn thì phong cách, ngôn ngữ, mục đích khai kệ hoàn toàn tương đồng.
Theo thiển ý, nguồn thứ hai là sáng tác có âm hưởng và ảnh hưởng Phật Pháp của các nhà thơ Trung Hoa, trong đó có dạng Kệ của các nhà sư (dù chưa thuyết phục với các bạn, tôi xin phép được cố chấp, “cố” phân biệt “thơ” và “kệ” ra vậy, theo truyền thống từ giới luật, lời dạy thời nguyên thuỷ của bậc Giáo Chủ về chuyện tu sĩ không tham gia “văn nghệ” thế gian, dù do dự không rõ mục đích của một số nhà sư là “vần hoá” một cảm hứng/cảm nghĩ về đạo pháp hay do quán tính, đào tạo mà còn giữ nếp thơ và hơi thơ của các bậc nửa sư cụ nửa túc nho). Chỉ mạo muội ngờ rằng ngay các nhà thơ thế gian “thuần tuý” – Tô Đông Pha là một ví dụ – không xem thơ có tí ý vị Phật giáo của mình là một dòng thơ đặc biệt, có tên riêng (thơ thiền) hay đặt riêng một vị trí nào trong di sản thi ca của mình. Dù kiến thức văn học Trung Hoa giới hạn hay có khi chính vì giới hạn này tôi có câu hỏi: Phải chăng giới nghiên cứu Trường An - Bắc Kinh không chủ trương đặt các sáng tác có chủ đề này thành một thi phái hay có sự đề cao, khu biệt chi. Và liệu có phải vì đất Trung Nguyên đã có quá đủ thành tựu văn chương để tự tín tự hào; mặt khác, tính văn học chuyên nghiệp phát triển sớm đủ để phân biệt nghệ thuật tính và nội dung văn chương (dù là nội dung sâu sắc, uyên thâm tới đâu, có là nội dung liên quan “Đạo” hay Triết học – chưa nói từ thời cổ đại, người ta đã có khu vực Triết học khá rành mạch cả rồi, trừ trường hợp độc đáo của Nam Hoa Kinh chăng). Ngược lại, không dám bất kính, nhưng ở nước ta đến trước thời Lý khó nói là giai đoạn có thành tựu văn chương lớn (và cũng không đủ tài liệu chứng minh). Đây là một hoàn cảnh giải thích sự đón chào đặc biệt sáng tác Việt và rất có thể giải thích cả việc tiếp nhận các trước tác mà không nhất thiết phân biệt nguồn nào, thơ hay kệ, mục đích đạo hay đời (không trừ khả năng và tâm thức muốn khẳng định tự hào dân tộc và văn hoá độc lập của dân tộc), nếu không nói giải thích ngay cả vấn đề liên quan “copyright” của các tác giả Tàu Ta. Riêng lưu ý cuối cần nhớ rằng không cần nhắc tới ngàn năm nằm trong tay đế quốc phương Bắc, đến tận giữa thế kỷ 19, vua Tự Đức còn dùng cách nói “văn minh Trung Hoa ta”. Nhớ thêm sau khi đuổi được quân Tàu về địa điểm xuất quân, vua ta vẫn trích dẫn tích sử Tàu để giáo huấn quan dân và không những đền Văn Thánh thờ Khổng Tử và đủ 72 vị thánh hiền Trung Hoa mà cũng khá lạ lùng đền Võ Thánh không quên thờ đức Quan Công! Chưa bàn công lao thiệt của ông này trong lịch sử Tàu là gì, khó nói nữa là ý do vì sao vua và dân ta phải thờ ngài võ tướng Tam quốc này mà theo thiển ý là lại thêm một chuyện khá tào lao – bình dân gọi là “bao đồng”. Nói linh tinh vậy để biết chuyện láy vụ “copyright” là có chút đùa vui từ góc độ hiện đại, chứ không đến độ nghĩ sai hay dám kết án cha ông.
Còn một lý do nữa, theo tôi hiểu từ xa xưa các vị sư Việt học kinh kệ từ tiếng Hán vốn được giải thích qua lăng kính Trung Hoa, riêng các sách học tiếng Hán nội dung cũng mượn sách giáo khoa nhà nho soạn nên khoác áo cà sa mà văn hoá nửa Phật nửa Nho không có chi lạ. Trên có thuyết Tam Giáo, ngoài dân gian thì pha chế đủ rượu tâm linh, luân lý. Giới tu sĩ có nếp sống, nếp nghĩ có khi gần Tàu hơn Thiên Trúc, thỉnh thoảng khai bút, ngâm nga ta không lạ vậy.
Bây giờ thử lang bang qua thời kỳ sau thời Lý Trần. Kiến thức giới hạn không cho tôi xác định được liệu thao tác sưu tập chính thức loạt “thơ và kệ” tạm gọi có chủ đề “Thiền” – không chủ đề Thiền thì thử hỏi các bậc tu hành viết chủ đề nào – bắt đầu từ lúc nào và tài liệu bảo chứng gì. Chỉ lạm bàn nếu có ghi nhận của người đời sau và nếu có gọi tên (đại khái) là (dòng)Thơ Thiền thì hẳn chỉ nhắm vào phần thơ do người nhà chùa là tác giả. Nói rõ hơn, y như trường hợp ở đất Trung Hoa lưu ý ở trên, các trước tác có tí thiền vị, ảnh hưởng đạo Phật của các tác giả ngoài đời chỉ là một phần trong di sản sáng tác cá nhân, quá lắm là một dạng chủ đề trong loạt chủ đề của họ.
Thử nhận xét rằng dù có yếu tố tài hoa – cá biệt đối với một số vị có thể dùng khái niệm “kỹ năng thi ca” – nhưng tính nhất quán trong “thơ” của giới sư sãi là nội dung tập trung vào giáo pháp nhà Phật và cái nhìn với nhãn quan giải thoát Phật giáo. Do đó dạng này gần với chức năng của Kệ trong truyền thống Phật giáo tính từ thời Giáo Chủ cho tới các bài kệ mang tính giải công án của những Huệ Khả, Thần Tú, Huệ Năng… ở đất Trung Hoa – tạm chưa bàn đấy là tư liệu lịch sử hay hư cấu. Để nêu rõ chỗ so sánh với trước tác của phía các nhà thơ “thế gian” tôi thử lái qua văn học dân gian. Giả sử có tư liệu về một nghệ nhân sáng tác dân gian, tác giả câu ca dao “Tu đâu cho bằng tu nhà / Thờ cha kính mẹ mới là chân tu”, “Tu là cội phúc, tình là dây oan” (mượn tạm của Nguyễn Du), rồi cũng chính vị này là tác giả bài ca dao chế giễu thầy chùa, kiểu “Hai cô đội gạo lên chùa…” hay nối thêm dù có phần lòng lẻo với khí vị “chay mà mặn, mặn mà chay” chủ trương “ngủ mặn, lòng chay” thì không có phản ứng chi cả, thậm chí sự chỏi nhau về nội dung chỉ thêm ưu điểm cho người sáng tác. Điều này bất khả với một phát ngôn của giới tu hành, giới mà theo thiển ý mới sát với danh xưng “nhà thơ thiền” nếu cố dùng danh xưng này cho được (Còn quan niệm này có hơi hướm máy móc, phân biệt, “phàm nhãn”, chắc chắn có người phê còn ở “bên này bờ” còn dịp xin quay trở lại). Lý do khá rõ, dù Thiền Pháp nhà Phật được sớm giới thiệu minh bạch trong Kinh gốc – theo ý nghĩa phân biệt với Thiền trong truyền thống Ấn trước đó, bao gồm Thiền Yoga, truyền thống Thiền Bà la môn và phân biệt với những “sáng tạo” của các tông phái Phật giáo đời sau – đã được giải thích quá đa dạng, nếu không nói có phần tuỳ tiện và thậm chí xa bản ý của Giáo Chủ, thì điểm căn cứ vẫn là những chuẩn giáo lý, đạo đức thiết yếu phù hợp Phật pháp, điều mà khác với thi sĩ nhân gian, các nhà sư không thể không tôn trọng. Tất nhiên không cần nói là địa điểm chùa chiền hay hình ảnh khói hương tự nó không tạo ra “thơ thiền”, nên hình ảnh Nguyễn Công Trứ lên chùa sau lưng đủng đỉnh một vài “em” hay màn ngay đền thiêng, quý bà canh tranh tối tranh sáng để “thướt tha dưới án nguýt sư ông” của Trần Tế Xương là thơ thiền được.
Dù tản mạn giải khuây là chính, học thuật thì hẻo, hy vọng ý tôi đã khá rõ. Nội dung truyền thống Kệ trong lịch sử Phật giáo cốt thành ý, giáo pháp tất nhiên tránh xa sự huê dạng, hình thức có được để tâm chăng không ngoài mục đích “dễ nhớ, dễ niệm” và trong trường hợp cảm hứng do viên mãn thánh quả đem lại thì tính “thông báo” có phẩm hạnh bảo hiểm chứ tuyệt không nhờ yếu tố “bên ngoài” dù với tên gọi sang trọng là nghệ thuật.
Vậy không có tính nghệ thuật không thể gọi là thơ? Thưa, rất chính xác. Ý tôi đang loay hoay chứng minh không khác: Kệ trong nhà Phật không phải là thơ. Có “vần hoá” chưa phải là thơ, và người làm “Kệ” không nhắm được công nhận là nhà thơ, nếu không lạm bàn bậc thiền sư không ý thức mình làm thơ khi “thốt ra” cảm hứng có nội dung giải thoát. Ngay cả trong trường hợp bài Kệ có hiệu quả mà người ngoại cuộc là ta gọi là hiệu quả nghệ thuật hay thi ca đi nữa. Quá lắm là một dạng biện tài, nhưng chớ quên những dẫn chứng trong Kinh (gốc) cho thấy đó là kỹ năng ngẫu nhiên của các tỳ kheo vốn là nhà thơ hoặc nhạc sĩ trước khi đi tu. Sự thực có vị được Đức Phật trực tiếp khen vì Ngài thấy có dạng kệ nội dung đúng chánh pháp và các tu sĩ dễ học, dễ thuộc (chú ý hai yếu tố mà Đức Phật xét: đúng Chánh Pháp và dễ thuộc). Đấy là một xen hãn hữu, không nên so với sự cảnh giác của Đức Giáo Chủ về tật ngân nga khi tụng kinh. Do lịch sự tôi không nhắc tên một Hoà thượng nổi tiếng khi phát biểu – có quảng bá trên băng đĩa, mạng – đã xuýt xoa tán thán ba vị cao tăng cùng một ưu điểm “giọng tụng kinh cực hay” (thậm chí “đặc biệt vào đêm hôm!”). Tôi mạn phép đề nghị nên ca ngợi một giọng “cực hay” là đủ, còn lại thông báo vị cao tăng nào đọc kinh nào, tu pháp môn nào, phẩm hạnh cụ thể ra sao, có ngữ lục nhan đề là gì… có khi có lợi ích cho số tín đồ đam mê giọng Đàm Vĩnh Hưng và Mỹ Tâm hơn, mà khỏi sa vào cái sai lầm nương theo sắc, âm thanh… để cầu chánh pháp mà Đức Từ Phụ đã căn dặn thường xuyên. Tìm “nghệ thuật thi ca” trong Kinh và Kệ do đó là trò chơi thanh nhã trong cõi nhân sinh không thanh nhã với nhau, không nên vượt rào nhà chùa, đưa vào tiêu chí định giá kinh kệ có khi mang tội, chứ không phải làm sang cho Phật Pháp – có gì sang trọng hơn Phật Pháp mà bàn vụ nương tựa và trang trí! – hay kéo Chánh Pháp cho gần các chung cư bình dân và các khu biệt thự mô tề. Tôi đọc đâu đó có vị tu sĩ gọi hẳn Kệ là thơ (Phật giáo), qua lập luận bạn các đang theo dõi có thể hiểu ý tôi: Kệ nhà Phật quyết không phải là Thơ theo định nghĩa của từ điển và trong lòng thành tín của tín đồ. Và không cần xen vào điạ vị “thế gian” của thơ làm chi, dù ngầm tỏ ra Đạo muốn đi với Đời. Ngài A Nan trí thức uyên bác, ngôn ngữ biện tài đến con kiến trong hang cũng phải bò ra (nghe kinh), được Đức Phật yêu thương, đồng tu ái mộ nhưng lần mò nửa vạn trang Kinh Bộ (Nikāya) không thấy một dòng nào bậc Đại Sư đánh giá phạm hạnh hay đạt thánh quả cao hơn đức Ca Diếp, cụ tì kheo già “khó tính” – không được quý tì kheo ni ái mộ cho lắm – và ngôn ngữ nói theo đời thường có phần chậm lụt đến độ thường xuyên từ chối thuyết pháp với đám đông dù đích thân Đức Phật gợi ý. Sự thực ngược lại, ai theo dõi kinh sách đều rõ Đức Phật – và cả ngài A Nan – xem Ngài Ca Diếp là bậc Thánh và riêng ngài A Nan xem là bậc Thầy! Chính cụ tì kheo khó tính – từng có những lời phê phán đặc biệt nặng nề với hậu bối A Nan (ví dụ do ngài A Nan không nghiêm khắc đủ với đệ tử đến độ khi gặp cảnh khất thực khó khăn rủ nhau hoàn tục sạch và bất chấp tuổi tác mà ngài A Nan tự mô tả là “đầu tôi đã hai thứ tóc”, đức Ca Diếp ‘nỡ” gọi sư đệ danh tiếng lẫy lừng đất Thiên Trúc – thực tế còn hơn hẳn tiếng tăm của đại huynh khó tính – là: “Nè, gã thiếu niên [tương đương “chàng trai” và “young boy”/”young guy”] kia ơi!” và tiếp theo là một tràng góp ý – theo cách nghĩ thế gian – hình như “trên mức thẳng thắn”) lại là người đã thay Đức Thầy dìu dắt sư đệ bằng nhiều phương tiện, và trước khi nhập Niết Bàn uỷ nhiệm vai trò trông nom Thánh Chúng mà Ngài đảm nhận sau khi Đấng Giáo Chủ và hai ngài Xá lợi Phất và Mục Kiền Liên nối nhau nhập diệt.
Ở một bài kinh khác cho thấy Đức Phật đã gạt thẳng đề nghị của hai anh em tì kheo vốn dòng nhạc sĩ, đề nghị cho họ thêm “ca từ” hấp dẫn và “phổ nhạc” các đoạn kinh. Không sát với ý chính lắm, nhưng tiện nói thêm Ngài cũng một lần quở trách một đề nghị của một đệ tử “nhiều chuyện” đề xuất chọn độc một “thánh ngữ” tụng chép Kinh Phật, cấm sao chép qua bất cứ ngôn ngữ nào. Qua đó ít ra cũng lờ mờ thấy hình như không thể bảo đảm hễ là tì kheo ắt không sản xuất ra ý bất lợi cho Chánh Pháp.
Để kết luận đoạn văn dài dòng có khi quá mức cần thiết – một nhược điểm chẳng hay ho chi của bản thân, tới độ phải trương cái bảng “tản mạn” để phòng thân (vì ai mất thì giờ đôi co với một tên tán nhảm!) – xin các bạn rảnh và có thiện ý tìm hiểu hỏi qua các tu sĩ Phật giáo chuyện Đức Phật đã chỉ trích việc tụng kinh ngân nga của một vị tỳ kheo (kính Ngài tha thứ cho, xin ví với giọng sướt mướt của Chế Linh nhờ bà con ngán ngẩm mấy chục năm liền nghe hùng ca “Bác cùng chúng cháu hành quân”, hiểu là “vừa hành quân tấn công thực dân vừa thỉnh thoảng tấn công nhầm đồng bào vô tội”, nên hình ảnh người anh em Champa bỗng phục sinh thành idol “nhạc sến” y như thời xửa thời xưa) và nội dung cùng các bậc thiền Ngài giảng dạy rõ và hoàn toàn minh bạch, đến ngôn ngữ còn phải quên nói chi vụ loay hoay đánh vật với vần điệu bằng trắc lỉnh kỉnh.
Tới đây đã có thể đặt hai câu hỏi – có câu hỏi vì có thắc mắc, chứ không phải để tranh luận. Thứ nhất, vì sao khi nói tới Thơ Thiền chỉ chủ yếu nhắc tới đời Lý Trần. Do vị trí của Phật giáo nổi bật trong thời kỳ này, kèm phần đóng góp văn hoá đặc sắc do cơ duyên “thiên thời địa lợi” của các nhà sư; vậy thì có trước tác cùng dạng, cùng dòng và nối dòng của các thời sau – như đời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn, triều Nguyễn – hay không, hoặc không có thành tựu đáng chú ý, hoặc đơn giản bị giới nghiên cứu bỏ sót. Thứ hai, chỉ vì không có khái niệm “dòng” thơ thiền trong văn học sử Việt, mà chỉ có hiện tượng các nhà sư trước tác mạnh vào thời kỳ Phật giáo hưng thịnh – đời Lý Trần. Khuôn khổ bài tản mạn có giới hạn mà tác giả không xem là đề tài đi sâu của mình nên tạm bỏ lửng.
Cái ý chủ quan mà cũng “tạm” phát triển tiếp là vấn đề hoá ra còn để ngỏ cho những đề xuất. Chỉ tới đây người viết đã lợi dụng sự kiên nhẫn của bạn đọc mà chủ quan cho rằng cứ thử đi theo hướng là chỉ có dạng “kệ” của các sư sãi – đúng truyền thống Phật Giáo – mà riêng dấu ấn thời Lý Trần không thể phủ nhận. Việc tán thán họ với tư cách những nhà thơ (bất đắc dĩ) là của người đời sau do nhu cầu thế đạo (không hàm ý tích cực hay tiêu cực), như tôi phân tích qua ở trên. Và không khó để đoán ra không phải do thay đổi xu hướng sáng tạo hay vấn đề thi pháp đặc thù gì mà dòng “văn thiền” – tạm gọi như thế – thời Lý Trần dừng đột ngột vào triều đại Hậu Lê mà chỉ do mùa chính trị “thiên thời địa lợi” của Phật giáo đã qua, kèm theo mọi thứ liên quan như tư tưởng, cách sống, thông tin kể cả “trước tác” của họ khó phổ biến và rõ nhất là các triều vua Lê, kể cả vua Lê Thánh Tông nổi tiếng hay chữ và sính thơ phú, đều hướng cảm hứng dựng triều đại trên cơ sở tư tưởng Khổng giáo, dù mùi pháp trị bắt đầu lấn chủ thuyết “nhân trị” của đức Khổng Phu Tử. Cần nhớ Luật Hồng Đức ra đời thời Lê Thánh Tông và ngài là vị vua tay thơ tay kiếm, thứ kiếm trấn áp quân Champa không thiếu hiếu chiến một thời và cũng là thứ vũ khí áp dụng cho cả quần thần dại dột can gián đức vua không đúng lúc đúng nơi, dù đó là tay chân móng vuốt của chính mình và khi vua tôi đang trên đất chiến địa quê người hay chính là thầy cũ thuở hàn vi, ơn nghĩa sâu nặng. Tóm lại, không dám thiếu tôn kính công trạng và hình ảnh vị quân vương bề thế bậc nhất trong lịch sử Việt, nhưng chắc chắn sự cai trị và ứng xử tôi vừa mạo muội nhắc qua đã thiếu khí vị khoan hoà của Phật giáo. Và thế đó, lịch sử là lịch sử, vốn không quen màu mè lịch sự, không nương tay cho kẻ yếu tim!
https://vandoanviet.blogspot.com/2017/10/tan-man-van-hoa-van-nghe-va-van-gung-10.html#more

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Kazuo Ishiguro nhận giải Nobel Văn học 2017


Alexandra Alter  Dan Bilefsky, The New York Times ngày 5/10/2017
Bản dịch của Văn Việt
clip_image002
Kazuo Ishiguro in 2015. Andrew Testa for The New York Times
Tiểu thuyết gia viết bằng tiếng Anh Kazuo Ishiguro, nổi tiếng vì lối văn thanh đạm nhưng âm vang cảm xúc và lật đổ một cách sáng tạo các thể loại văn chương.
clip_image004

Ông Ishiguro, 62 tuổi, lừng danh với các tiểu thuyết “Những gì còn lại của ngày”, [“The Remains of the Day”] viết về người quản gia của một nhà quý tộc Anh trong những năm trước Thế chiến 2, và “Đừng bao giờ để em/anh đi” [“Never Let Me Go”] một chuyện tình buồn man mác nhưng mang chất giả tưởng tồi tệ (dystopian) có bối cảnh là một trường học nội trú của Anh. Ông bị ám ảnh trở lại những đề tài như thế trong các tiểu thuyết thường viết theo ngôi thứ nhất, trong đó có sự sai lạc của ký ức, tính khả tử, và bản chất có nhiều lỗ hổng của thời gian.
“Trộn lẫn Jane Austen và Franz Kafka, ta sẽ có Kazuo Ishiguro trong một bản tóm tắt, nhưng phải thêm một chút Marcel Proust vào đó,” Sara Danius, thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển nói. “Rồi quấy lên, nhưng không nhiều quá, thế là có các văn phẩm của ông này”.
Cô Danius mô tả Ishiguro như “một nhà văn hết sức nguyên vẹn”. “Ông không nhìn sang bên cạnh”. “Ông đã phát triển một vũ trụ thẩm mỹ hoàn toàn của riêng mình”.
Sinh năm 1954 ở Nagasaki (Nhật) nhưng học hành ở Anh, Kazuo Ishiguro nổi tiếng vì lối văn trữ tình, cảm nhận sắc bén về nơi chốn và sự phân tích thấu đáo hệ thống giai tầng của Anh.
Ishigiro là con một nhà hải dương học, sinh ở Nhật nhưng di cư sang Anh (hạt Surrey) từ lúc lên 5, và theo học trường tiểu học Woking [Woking Grammar School], ngôi trường mà ông nói với báo The Guardian “có thể là cơ may cuối cùng để có một hương vị của xã hội Anh đã quá vãng, đã phai nhạt rất nhanh”.
Trả lời phỏng vấn tờ The Times hai năm trước, Ishiguro nói rằng ông đã khám phá ra văn học khi còn là cậu bé đọc các câu chuyện của Sherlock Holmes trong thư viện địa phương. “Tôi lên 9 hay 10 gì đó, và không chỉ bị ám ảnh khi đọc Holmes và Watson, tôi còn bắt đầu cư xử giống họ… Mọi người lúc ấy coi việc này chẳng ra gì vì tôi là người Nhật”.
Sau khi học tiếng Anh và triết học ở University of Kent, Canterbury, ông để ra một năm viết truyện, và cuối cùng giành được bằng Master về ngành Viết văn với sự giảng dạy của các nhà văn như Malcolm Bardbury và Angela Carter. Ông cũng viết lời cho ca sĩ nhạc jazz người Mỹ Stacey Kent.
Ishiguro nổi bật khá sớm trong giới văn chương. Năm 1983, ông lọt vào danh sách các nhà văn trẻ hay nhất của Anh [Granta’s best of young British writers], cùng với những tên tuổi như Martin Amis, Ian McEwan và Salman Rushdie.
Hiểu biết sâu về những quy ước và màu mè xã hội của xứ sở nuôi dưỡng mình đã được chuyển tải trong cuốn tiểu thuyết thứ ba “Những gì còn lại của ngày”, đoạt giải Booker uy danh, sau đó trở thành bất tử nhờ bộ phim cùng tên với ngôi sao điện ảnh Anthony Hopkins. Ishiguro nói ông viết cuốn sách trên trong bốn tuần lễ, ở tuổi 32.
Mô tả quá trình viết sách, gọi nó là “the Crash” (Miếng vải thô), ông viết trong tờ The Guardian: “Suốt trong the Crash, tôi viết thoải mái, không quan tâm tới văn phong hay nếu như những gì viết buổi chiều lại ngược với cái đã viết buổi sáng. Ưu tiên là chỉ đơn giản để cho các ý tưởng đâm chồi và mọc lên. Những câu dễ sợ, đối thoại gớm guốc, các cảnh không dẫn tới đâu – tôi để cho chúng cứ như thế và rẽ sóng mà đi”.
Cuốn tiểu thuyết đầu tiên, “Cảnh đồi xanh xám” [A Pale View of Hills], năm 1982, viết về một phụ nữ Nhật trung tuổi sống ở Anh, và sau đó là “Một họa sĩ của thế giới trôi nổi” [An Artist of the Floating World] kể chuyện một họa sĩ già người Nhật sau Thế chiến 2. Khi viết “The Remains of the Day,” Ishiguro có lo lắng là mình tự lặp lại khi lại viết một nhân vật ở ngôi thứ nhất qua lời người kể chuyện không đáng tin cậy, nhưng các nhà phê bình thấy cuốn sách là một sự khởi đầu hoàn toàn mới.
Ishiguro đã chơi với các thể loại như truyện trinh thám, truyện viễn tây, khoa học giả tưởng và phóng tưởng. Các nhà phê bình thấy “Kẻ không được an ủi” [The Unconsoled] là một tiểu thuyết siêu thực, giống như giấc mơ, khi nó ra đời năm 1995. “Khi chúng tôi/chúng ta là trẻ mồ côi” [When We Were Orphans] được coi là tiểu thuyết trinh thám. Tiểu thuyết “Never Let Me Go” năm 2005 được coi như một bước nhảy vọt khác về văn phong, vào loại khoa học giả tưởng vị lai, mặc dù bối cảnh của nó là thập niên 1990.
Tiểu thuyết mới nhất của ông, “Người khổng lồ bị chôn” [The Buried Giant], lại lần nữa thách thức mọi trông đợi. Một câu chuyện phóng tưởng có bối cảnh nước Anh thời Vua Arthur, tập trung nói về hai ông bà già Axl and Beatrice bỏ làng đi tìm đứa con trai mất tích và gặp một hiệp sĩ già. Dù là chuyện phóng tưởng, có các loại khổng lồ ăn thịt người và một con rồng, nhưng đó cũng là chuyện ngụ ngôn khai thác nhiều đề tài mà Ishiguro đã bận tâm suốt đời, trong đó có bản chất mong manh của ký ức cá nhân và tập thể.
Chọn Ishiguro, Viện Hàn lâm Thụy Điển, vốn đã bị phê phán vì sử dụng giải Nobel Văn học để tuyên ngôn chính trị, dường như tập chú vào giá trị thuần túy văn chương.

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

Sách 'phê bình' từ điển Nguyễn Lân đoạt giải Sách Hay 2017

01/10/2017 20:33 GMT+7

TTO - Giải Phát hiện mới của Sách Hay 2017 đã tôn vinh hai tác giả trẻ là Nguyễn Vĩnh Nguyên với Đà Lạt một thời hương xa: Du khảo văn hóa Đà Lạt 1954-1975 và Huỳnh Trọng Khang với Mộ phần tuổi trẻ.

Sách phê bình từ điển Nguyễn Lân đoạt giải Sách Hay 2017 - Ảnh 1.
Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn - Ảnh: BTC
Ngoài ra còn có cuốn sách "đình đám" là Từ điển tiếng Việt của GS. Nguyễn Lân - Phê bình và Khảo cứu của tác giả Hoàng Tuấn Công.
Giải thưởng Sách Hay 2017 do Viện Giáo Dục IRED, Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh và Sáng kiến OpenEdu tổ chức. 
Sách Hay tôn vinh các hạng mục sách: Kinh tế, Giáo dục, Quản trị, Nghiên cứu, Thiếu nhi, Văn học, và sách Phát hiện mới; mỗi hạng mục trao cho hai thể loại sách dịch và sách viết.
Giải thưởng Sách Hay năm nay không có tiết mục trao giải, thay vào đó, Hội đồng trao giải chỉ công bố các sách được chọn tôn vinh, "xem như Hội đồng trao giải đã thu thập, nêu ý kiến, giới thiệu các tác phẩm/ dịch phẩm đáng đọc", nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn chia sẻ.
Quá trình bình xét trải qua ba vòng đề cử, sơ khảo và chung khảo cũng được ông Nam Sơn cho biết các chuyên gia, trí thức, được mời vào hội đồng xét giải "có thể đến từ nhiều chân trời nhưng đều có điểm chung là uy tín, cung cách làm việc khách quan, chân thành, vô vị lợi".
Các sách được giải đều được giới chuyên môn nhìn nhận là xứng đáng với tiêu chí "khuyến khích nên đọc" bởi trước hết ở chất lượng nội dung và hàm lượng tri thức tiến bộ, theo tinh thần "khai minh bắt đầu từ sách" như ý tưởng mà Ban tổ chức theo đuổi lâu nay.
Trên tinh thần đó, hạng mục sách Giáo dục được bình chọn trao cho: Tác phẩm Nước Đức thế kỷ XIX - Cuộc cách mạng giáo dục khoa học & công nghiệp (tác giả Nguyễn Xuân Xanh); sách dịch Những mục tiêu của giáo dục và các tiểu luận khác(tác giả Alfred North Whitehead, dịch giả Hoàng Phú Phương, Tiết Hùng Thái, Hà Dương Tường).
Một hạng mục quan trọng là sách Kinh tế đã tôn vinh quyển sách Một vành đai một con đường (OBOR) - Chiến lược của Trung Quốc và hàm ý chính sách với Việt Nam (thể loại sách viết) của tiến sĩ Phạm Sỹ Thành.
Giải sách Nghiên cứu năm nay tôn vinh Bộ sách 7 cuốn về nghiên cứu lịch sử của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chính xoay quanh các đề tài về cuộc chiến tranh Đại Việt và Đại Thanh cùng với bức tranh xã hội và mối quan hệ Trung - Việt thời bấy giờ.
"Bộ sách thực sự là công trình Trung Quốc học hàng đầu của chúng ta trong thời điểm hiện nay", nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn - thay mặt Hội đồng trao giải - nhận xét.
Ngoài ra giải sách Nghiên cứu còn có sách dịch Định chế totem hiện nay (tác giả Claude Lévi - Strauss, dịch giả Nguyễn Tùng).
Một nội dung được chờ đón nhiều là sách Văn học, năm nay tiểu thuyết Tình cát của Nguyễn Quang Lập được tôn vinh ở thể loại sách viết, và quyển Bảo tàng ngây thơ(Orhan Pamuk, dịch giả Giáp Văn Chung) được giới thiệu ở thể loại sách dịch.
"Pamuk trong Bảo tàng ngây thơ đã "tìm thấy hình tượng mới mẻ cho thành phố quê hương ở Thổ Nhĩ Kỳ trong nối kết với thế giới phương Tây. 
Tác phẩm này nổi lên hai chữ ‘u uất’ bao gồm cả nỗi buồn, sự khép mình và mâu thuẫn với quá khứ kiêu hãnh...", nhà văn Nguyên Ngọc đưa ra nhận xét cho tác phẩm văn học dịch được giải.
Còn Tình cát, theo Nguyên Ngọc lại là một sứ ám ảnh của nhà văn Nguyễn Quang Lập, "và chiến tranh trong truyện, tuy chỉ một góc thôi nhưng rất thảm khốc qua hình tượng hy sinh của các cô thanh niên xung phong".
Sách phê bình từ điển Nguyễn Lân đoạt giải Sách Hay 2017 - Ảnh 2.
Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, ông Giản Tư Trung, nhà văn Nguyên Ngọc - Ảnh: BTC
Các hạng mục giải Sách Hay còn lại:
Sách Kinh tế: sách dịch: Bí ẩn của vốn (tác giả Hernando De Soto, dịch giả Nguyễn Quang A).
Sách Quản trị: tác phẩm: Bộ sách 7 cuốn về quản trị kinh doanh (tác giả Alan Phan); sách dịch: i(tác giả Gary Hamel, Bill Breen, dịch giả Hoàng Anh và Phương Lan).
Sách Thiếu nhi: tác phẩm: Hành trình yêu thương - Nhật ký Thiện Nhân (tác giả Trần Mai Anh); sách dịch: Cánh tay cha là con thuyền vững chãi (tác giả Stein Erik Lunde, Øyvind Torseter, dịch giả Mẹ Ong Bông).
Sách Phát hiện mới: Đà Lạt một thời hương xa: Du khảo văn hóa Đà Lạt 1954-1975(tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên); Mộ phần tuổi trẻ (tác giả Huỳnh Trọng Khang); Từ điển tiếng Việt của GS. Nguyễn Lân - Phê bình và Khảo cứu (tác giả Hoàng Tuấn Công).
LAM ĐIỀN

Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

Tản mạn văn hóa văn nghệ và … văn gừng (7)

Tài năng sáng tác và ứng tác “tuyệt chiêu” của những người vô danh
Nguyễn Thanh Văn

Trên dưới 30 năm rồi từ cái buổi dẫn tới câu chuyện ngồ ngộ chia sẻ với các bạn hôm nay xảy ra trong một quán rượu nhỏ ở Biên Hòa. Kể cũng xa xôi thiệt, đến độ không rõ người chung bàn, chung chuyện có nhớ cho chăng – lỡ người ta lên tiếng phủ nhận thì quê phải biết. Bàn thịt cầy – thưa thiệt trước, riêng người viết đã bỏ hẳn cả cầy lẫn rượu mười lăm năm hơn rồi – chỉ có ba mạng: Cao Xuân Sơn, Võ Đắc Danh và tôi. Dạo đó Sơn và tôi cùng bỏ nghề dạy học qua biên chế Hội Văn nghệ Đồng Nai – Sơn giữ trang Thơ, tôi trang Nghiên cứu Phê bình. Danh (một nhà báo xông xáo, có tên tuổi, rất tiếc từ lâu tôi không gặp) làm báo, từ miền Tây lên chơi. Hôm đó qua Sơn, tôi và Danh gặp nhau lần đầu, nhưng chỉ nửa chén rượu là biết nói chuyện được, thú vị là khác. Đều là “hảo hán” cả – đấy là chúng tôi tán nhau như vậy – và còn trẻ (Sơn chưa tới hăm lăm, có lẽ Danh hơn Sơn ít tuổi và tôi vừa quá ba mươi) nên khỏi nói, rượu và lời tràn ra không đo không đếm được. Riêng chi tiết ba đứa ba miền, Sơn Bắc Kỳ, tôi Trung Kỳ và Danh Nam Kỳ (cố tình dùng địa danh thời Nguyễn Bính cho thêm hương vị) đã thừa cảm khái.
Vì sao Sơn đọc bài ca dao nổi tiếng xuất xứ đâu đó từ một vùng đồi quê Bắc xa xôi của chàng ta, tôi không nhớ. Trong ba tác phẩm dân gian “dự thi” mà tôi sẽ chép đủ cho các bạn cùng thưởng thức sau đây, chỉ có tiết mục của Sơn đã được lưu giữ trong các công trình sưu tầm văn học dân gian, gẫm mà tiếc cho hai siêu phẩm của quê hương của hai gã còn lại. Chi tiết còn nhớ là trước khi đọc, Sơn nhắc Nguyễn Đình Thi rất thích bài ca dao này, đi đâu cũng đọc và khen nức nở. Giọng người đọc khào khào vì rượu nhưng đủ cảm xúc, nhấn nhá – nguyên giáo viên Văn kia mà!
Đêm qua lên núi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em van mà nó chẳng tha
Nó đè nó đút cái mả cha nó vào
Tuyệt! Không rõ ở đất nước Phù Tang của thơ Haiku, quê hương Thiên Trúc của Tagore hay xứ sở Nga La Tư sinh ra được thiên tài Puskin có sản xuất nổi một kì quan cỡ đó không! Không – cả ba thi hữu An Nam của Puskin và Tagore đồng trả lời. Chao ơi, đúng 31 từ mà bao quát cả thiên nhiên – đêm trăng, đồi núi –, nhân vật thì hạn chế tối đa: nạn nhân và thằng phải gió, cùng một loạt động từ phải nói là dồn dập “hái”, “van” rồi “đè” và cả “đút” nữa chứ. Tội nghiệp, đến hai nhà văn và một nhà báo nhiệt tình hợp lực mà không giải quyết nổi làm thế nào để chuyển qua tiếng nước ngoài tiếng “mả cha” đầy hình ảnh và trọng lượng, vừa diễn tả được cái khó xử và hậm hực trong tiếng chửi của nạn nhân. Tôi không nhớ ai trong ba thằng tôi gợi ý cần sự hỗ trợ bằng hình ảnh minh họa của một họa sĩ, mà phải cỡ Thành Chương hay Tạ Tỵ mới được. Chợt có giọng lạc hẳn, bác ngay “nhưng hai vị nhớ cho nếu họa sĩ vẽ đúng cái hình ảnh “mả cha” trong đầu nạn nhân thì có nước chết – thử hỏi với thứ mả mồ kiểu đó thì bạn bè nước ngoài người ta đánh giá tập quán, phong tục Việt Nam ta ra cái thể thống gì!”.
Khỏi dài dòng thêm quý vị có thể đoán ra khi người ta còn trẻ và lại đang có những đánh giá về văn tài bản thân quả cao hơn thực tế thì có lý thuyết, trường phái nào mà chả công bố, huống hồ hội trường là một quán rượu bên đường. Chút tiết lạnh và ít mưa bụi mà đất phương Nam thiếu thì tưởng tượng ra mấy hồi – khác với lẩu cầy và rựa mận, ai chẳng biết món trầm tư và tưởng tượng vốn là thứ miễn phí, sẵn ở bếp nhà của đám văn sĩ. Thế là anh thì chợt có giọng cảm thương cho người bị đè ngoài kế hoạch, anh lưu ý những hành động phòng the – trong bối cảnh thằng phải gió hành sự, từ “phòng the” tất nhiên hoàn toàn không phù hợp – trong tiếng mẹ đẻ đều có âm “đờ” mạnh mẽ, dứt khoát như “đéo”, “địt”, “đụ” không khỏi gợi tới những “đâm”, “đánh”, “đập”, “đạp” – chưa tính “đè” và “đút” sẵn trong bài ca dao đang nhắc. Theo trí nhớ của tôi, có cả ý kiến khá độc đáo rằng dẫu sao bên cạnh công lao người sưu tầm tác phẩm dân gian, phải kể công tính khí bộc bạch, quyết tâm tố cáo gã “biến thái” – theo cách nói của một số nhà báo hiện đại – của cô gái Bắc Kỳ, bởi nếu chuyện xảy ra ở Hồ Tịnh Tâm hay bờ thành Đại Nội liên quan một tiểu thư Huế suốt một đời chỉ canh cánh lo bị “mang tiếng” cầm chắc là mất cả dấu lẫn vết. Đẩy vấn đề xa hơn, chúng tôi đồng ý cũng không thể xóa “công lao” của chính thằng phải gió, nếu không có hành động phải nói là tối mất dạy của hắn thì liệu văn chương Việt có lưu được một áng văn chương có một không hai này hay không? Đang làm cái trang chuyên bàn những viết gì, viết cho ai, rồi những câu hỏi ai, cái gì, khi nào, ở những đâu, với ai …tôi phân tích bài ca dao như một mẫu mực minh họa cho văn chương súc tích đến dường nào: Khi nào? (Hôm qua)/ Ở đâu? (Lên núi)/ Làm gì? (Hái chè)/ Xảy ra chuyện gì? (Gặp thằng phải gió)/ Cao trào? (Đè và đút) …
Sau màn biểu diễn xuất sắc của người Bắc Kỳ, người viết không rõ vì sao bỗng có màn “dự thi” ba miền ba tiết mục mà phải là tiết mục dân gian và đề tài phải “hot” mới được. Thật tình “hot” là từ tôi mới lén đưa vào, ngày đó chưa phổ biến ở xứ mình, lý do tôi không đồng ý cách gọi từ “tục” hay “thô” trong văn chương. Đã gọi là nghệ thuật cốt hay, từ ngữ hợp ngữ cảnh, không thiết chi từ văn hoa hay bình dân. Mượn ý một chuyện hài nhiều người còn nhớ, nếu nhân viên y tế hỏi một quý bà rằng “Bà đi khám lồn phải không ạ?” thì từ “ạ” dễ thương, lịch sự quyết không cứu vãn được cái danh từ duy nhất dùng có phần bất nhã trong câu. Ngược lại, hai bà – hoặc một bà, một ông – đang uýnh lộn mà có tiếng đàn bà rít lên “Tiên sư nhà mày, mày đánh vỡ cái phụ khoa nhà bà mất rồi!” thì đến người nhà đang xông vào tiếp viện cũng phải phì cười. Từ ngữ không làm nên tích sự gì khi nằm ngoài văn cảnh. Không thiếu dịp tôi đọc một tác phẩm chứa toàn từ ngữ diễm lệ trong Từ điển Hán - Việt của cụ Đào Duy Anh mà phải bỏ đi ngủ vì không có từ tục mà vẫn thấy (dung) tục quá. Cái sự văn chương nó phiền phức thế đấy.
Tạm cho là do quyết tâm giữ uy tín Trung Kỳ cũng được, hoặc do tôi bỗng nhớ câu chuyện thú vị – một màn hò vè – mà ngẫu nhiên chi lạ, từng xảy ra ngay tại làng nội tôi (Hà Trữ, xã Vinh Thái) nên quyết đăng ký “dự thi”.
Nào, mời các bạn cùng nghe cùng với hai bạn rượu của tôi ngày đó – có chi “khí không phải” người kể xin lỗi trước.
Chuyện phải xưa lắm rồi, tác giả câu hò sáng tác lúc ở độ tuổi 17, 18 nhưng khi tôi đi xa quay về gặp lại nhân vật của chúng ta, chừng mươi năm hơn sau 75, bà đã gần đất xa trời, tóc trắng phau. Bà là vợ một người bác họ của tôi tên Can, chúng tôi vẫn gọi bác là “Bác Can Gái”. Chuyện xảy khi bác còn là một cô thôn nữ đẹp người, khỏe mạnh, lại nổi tiếng về tài hò vè, ứng đối (Hà Trữ, quê nội tôi, vốn được cánh văn nghệ dân gian địa phương ghi nhận là vùng mạnh về hò vè) nên khi kể chuyện tôi sẽ gọi bằng o (cô).
Bối cảnh là cánh đồng quê đang mùa gặt đầy người, nhưng không phải ai cũng là thợ gặt. Giữa ít bạn gái cùng trang lứa và tụi con nít rặt, o Can (nói cho chính xác, nếu lúc đó o chưa lấy bác Can của tôi thì phải gọi bằng tên thời con gái mới hợp lý) đang lui cui làm cái việc của người nghèo hay bất cứ thôn dân mô lúc nhàn rỗi gọi là “mót” lúa. Đám đông bỗng ồ lên, số người đang mót lúa tản ra. Thì ra ông chủ ruộng xuất hiện, tay gậy, tay roi (xin giải thích roi không có mục đích đánh ai, mà chỉ có mục đích avoir l’air, đại khái như cái oai của cái ba toong), sau lưng có người nhà xách lồng cơm, dù và rổ rá lỉnh kỉnh. Ở tận trên Dinh (tên người quê tôi gọi Huế) ít về thăm ruộng, chắc cụ đang trực tiếp đôn đốc vụ thu hoạch hàng năm và ủy lạo tá điền. Thực tế cụ cũng là chỗ bà con của một số hộ trong làng và trong đám gặt thuê, mót lúa không thiếu người là con cháu. Họ e ngại gặp bậc bề trên hơn là sợ đụng đầu “địa chủ”. Riêng o Can đang say sưa tiếp tục… mót lúa nên một phen giật mình nghe tiếng cụ Bộ Bàn – tên ông chủ đất – gọi giật giọng:
– Con mô ăn cắp lúa của tau rứa tề… A, con mẹ Can phải khôn (không)? Chà ch …nè, nghe nói mi đối đáp hò vè có tiếng thì phải. Tới gần đây, nghe tau (tao) nói đây. Mi giỏi tau ra cái đề hay lắm mà hò, nghe lọt tai tau cho nguyên gánh lúa mà gánh về. Không xong – cụ Bộ vung cây roi trước mặt – tau đập (đánh).
Cả đám thợ gặt lẫn cánh mót lúa dồn lại quanh o Can mặt mày đang tái mét, người chợt cười ré lên, người níu tay, giục o nhận lời. O thôn nữ hoạt bát có tiếng, giờ tay cặp nón, lí nhí chi đó, đầu lắc lia lịa. Cụ Bộ lại hất cằm, tay nhịp roi, lần này không thèm nói nửa tiếng. Tiếng bà con láo nháo hẳn lên:
– Nhanh cả bác Bộ giận chừ [bây giờ]! Hò mà kiếm gánh lúa vác về nhà, khỏe khôn!
– Mần [làm] liền đi …Cụ giận cụ đuổi cả đám mềnh (mình), mất ăn hè!
Bất ngờ, o Can ngẩng mặt lên, cũng lí nhí chi đó, và có người to mồm thông dịch ngay:
– O Can chịu rồi, bác Bộ nì (này) …Mời bà con nhà mềnh im miệng cho hè!
Đang om sòm, đám đông im phắt ngay, người dòm (nhìn) o Cam với vẻ vừa lo lắng vừa cảm kích – rõ ràng mấy tiếng “đuổi cả đám” và “mất ăn” làm cô gái trẻ động lòng –, người bồn chồn liếc cụ Bộ, miệng há hốc khác chi cảnh cha mẹ đang đứng ngoài phòng thi, nôn nóng đợi con.
Có thể đoán được người duy nhất làm chủ được tình hình là cụ chánh chủ khảo Bộ Bàng. Ông vuốt râu, mím môi và khi thấy cảnh bà con giãn ra, “nữ thí sinh” dợm một bước, nghiêng đầu khẽ chào, ông biết chắc hắn đã ưng thuận, liền mỉm cười bí mật.
– Nè, con Can, chuẩn bị hò đi! Nghe kỹ cái đề tau sắp ra đây – cụ lật ngược đầu roi đập mấy cái ngay giữa đũng quần mình – và tuyên đọc đề: CON CẶC TAU ĐÂY NÈ!
Cả đám đông, vừa được bổ sung hàng chục khán thính giả từ làng trong túa ra ủng hộ gà nhà, ồ ra cười giòn giã vì cái đề không giống ai. Chắc có người hồ nghi cụ Bộ chỉ cốt chơi khăm con cháu. Có người ngờ o Cam “bốc” cái đề quá căng, khéo bỏng tay.
Nhưng tất cả đều nhầm. Cả hai – chủ khảo và thí sinh – đều thực sự nghiêm túc. Giữa chốn đồng mông mênh và từ giữa đám nông dân im thin thít, chợt vang lên tiếng hò lảnh lót, khi phân giải, kể lể, khi vút cao, quyết liệt của người con gái làng Hà.
Hò ơ …ơ …ớ …ớ … cháu không hò thì bác cho cháu dại
Cháu hò đáp lại thì lộng ngữ với loạn ngôn
(Chứ) thưa thiệt với bác, bác có con cặc của bác đó
(thì) cháu cũng có cái lồn của cháu đây …hờ …ơ ...ơ ...hơ ...hơ …
Theo lời các vị tiền bối – trong đó có vị ngày đó còn ở độ tuổi … mót lúa – kể lại và tôi là một trong những người hóng chuyện, mặc khán thính giả ồ lên ủng hộ có, khoái chí có, ngầm gây áp lực có, ông chủ đất kiêm chánh chủ khảo vẫn đứng im, mắt nhắm lại từ lúc có tiếng “hò ơ” đầu tiên cho tới mấy phút liền sau tiếng “hơ hơ” sau cùng. Rồi tất nhiên cụ chủ đất cũng phải từ từ mở mắt ra và từ tốn phán:
– Giỏi! Bây lấy một gánh lúa thưởng cho con mẹ Can …thiệt đầy đặn cho tau!
Quay lại bàn rượu của ba anh em. Không chủ quan, tôi chứng kiến cảnh Sơn và Danh hô hố cười, hứng thú ra mặt. Hai chàng nhận xét hiếm khi có chuyện tận mặt gặp được tác giả một tác phẩm dân gian. Càng ngạc nhiên khi tôi xác nhận đương sự không biết cả mặt chữ i tờ – bản thân tôi khi còn trường làng nhiều dịp được các bác các o mù chữ xách đèn bão rước về nhà, nhờ viết thư giúp. Dù còn bé tí tôi còn nhớ câu mở đầu phải là “Mạ viết thư ni thăm con, mong con được hai chữ bình an là mạ mờng (mừng) hơn chi cả”. Chuyện về khả năng ứng tác của người dân mù chữ hóa ra có thật. Trường hợp bác tôi – o Can trong câu chuyện – chứng tỏ người bình dân nhà quê biết vận dụng cả ít vốn liếng Hán Việt kiểu “lộng ngữ loạn ngôn” – hẳn là qua giao tiếp, thậm chí có khi nhờ nghe lõm – đúng văn cảnh và nhuần nhuyễn không chê được, thưa gửi phải phép, đối đáp đích đáng khi cần, và đến một o thôn nữ thường ngày kín đáo, rụt rè, dễ “ốt dột” (mắc cỡ), nhưng khi có thách đố, buộc phải tự vệ cũng sẵn sàng ra đòn với vũ khí hiệu quả tương đương vũ khí của địch thủ, không chút thua kém.
Xin nói thêm tí chút chuyện gieo vần. Khi mới tập tành thơ phú, tôi có rất nhiều thầy và cố vấn miễn phí – Huế là vương quốc thơ kia mà. Có một cố vấn căn dặn: trong thơ kị nhất là gieo vần “ồn”, “ôn”. Đừng ham những “hồn”, “cồn”, “tồn”, “môn”, …ở cuối câu sáu và vị trí của từ thứ sáu trong câu tám mà kẹt cứng không làm thơ tiếp được. Lại chớ bắt chước các danh sĩ đây đó dùng những “lưu tồn”, “tồn lưu”, hay tên địa điểm như “cồn Linh”, “cồn Lam” … Lý do bạn đọc hẳn đã đoán ra. Đã đành câu hò đối đáp không dùng thể lục bát, nhưng hễ có điệp vận, có gieo vần thì lời bậc cố vấn chớ nên quên. Vậy cái gì xảy ra với nhân vật của chúng ta?
Người đối đáp đã sơ ý sử dụng chữ “ngôn” (trong lộng ngữ loạn ngôn) với vần “cấm” – theo ý vị cố vấn thi ca của tôi – để dẫn tới sự xuất hiện của chữ “lồn” ở câu hò sau? Tất nhiên là không. Ngược lại, có thể nhận ra từ cấm kị này phải hiện ra trước trong trí người hò như một vũ khí chiến lược để đối đầu hiệu quả với quả bom “cặc” ông chủ đất nỡ lòng cho nổ trước, một dạng tên lửa đối không báo chí hay đề cập. Mặt khác, vũ khí siêu đặc biệt này đã làm nhiệm vụ tạo cao trào nghệ thuật, thiếu sự đốp chát này sức mạnh sẽ nghiêng hẳn về thế lực sở hữu bom C. Thậm chí sự kiện sử dụng bom L – loại bom mà lịch sử chứng minh có sức công phá khủng khiếp hơn xa, so với bom H – trong thế chẳng đặng đừng không bị dư luận thế giới kết luận là hiếu chiến được. Chuyện đã rõ mười mươi: vì vũ khí quyết phải sử dụng có vần “ồn” nên một từ hợp vận phải được tung ra trước đó thôi – chúng ta không thể không bái phục kỹ năng làm thơ/ gieo vần nhạy cảm đến thế của một người mù chữ, hơn nữa là một người phụ nữ, mà phải làm nghệ thuật trong tình hình tế nhị dường ấy. Từ “ngôn” làm nhiệm vụ mang vần “ôn” này dợm trước từ quan trọng hiệp vận đi sau rõ ràng tạo hiệu quả trên mức mong muốn của Tổng Hành Dinh chiến dịch. Do người thưởng ngoạn và có lẽ cả vị chánh chủ khảo khó đoán trước nên nhiệm vụ của từ “ngôn” phải nói mang tính cách của một điệp vụ. Tưởng không phải cốt màu mè khi khen từ “ngôn” nằm trong cụm từ sang trọng “lộng ngữ loạn ngôn”, đâu chỉ có phần sự ôm theo cái vần “ôn”, “ồn” quá tế nhị theo sau, mà còn giúp giải quyết tốt cả nhiệm vụ văn chương. Tinh tế mà nói, từ “lộng ngữ loạn ngôn” có phong vị bác học đột ngột chuyển qua “lồn” mạnh trên cả chuẩn dân dã, thiệt khác nào ngắm xen thoát y của một cỡ phu nhân, kiều nữ, mà mới một giây trước đó còn nền nã, sang cả trong bộ nhung y quý phái. “Phê” quá đi chứ!
Nghệ thuật ứng tác như thế, không nghi ngờ gì nữa, vào cỡ siêu đẳng. Và cũng như người đồng bào Bắc Kỳ trong bài ca dao, giọng điệu cả hai vẫn đượm nữ tính mà cùng đáo để, đốp chát, mỗi người mỗi phách. Lại đúng tình huống, tùy đối tượng: O gái Huế trực diện câu thách đố mà gai góc là người thách đố lại là người bề trên muốn nắn gân người trẻ, không phải vì ác ý, nếu không nói là ngược lại. Hoàn toàn khác với tên phải gió với mục đích đê hèn, đánh nhanh, rút nhanh – hay suồng sã hơn: đút nhanh, rút nhanh như ý trong bài ca dao – không có ý định tán tỉnh, đàm thoại gì ráo. Nên chi câu trả lời của o Huế có phần rào đón, đúng mực, thêm tí mắm muối “lộng ngữ loạn ngôn” để mềm hóa cái ý hoàn toàn lô gích, nhưng không phải không đanh đá “bác có …thì cháu cũng có …” để có kết cục là bậc huynh trưởng quả đã lặng người mấy phút vì đòn độc khá bất ngờ của hậu bối, nhưng trong cái phần thưởng đúng tinh thần mã thượng sau đó phảng phất chút tình liên tài của người có hiểu và yêu nghệ thuật.
So với câu hò miền Trung, lời ca dao miền Bắc về bản chất là câu chửi của cô gái xứ đồi dành cho tên phải gió. Có thể nhận ra trước khi kể lể cho ai đó, rồi sôi gan lên, không kềm chế mà cất tiếng chửi, cô em vùng đồi hẳn đã chửi te tát vào mặt tên xã hội đen miền quê ngay tại hiện trường. Trong những phim hành động, dạng nhân vật chuyên ra những thế đòn cực nhanh như “đè”, “đút” thường rất kiệm lời và phong cách bất cần, dày mặt, “làm nhiều hơn nói” này rõ ràng càng gây ức chế cho nạn nhân hẳn không phải mẫu ít nói – việc không ngừng van xin inh ỏi lên khi bị tấn công là phản ứng tất nhiên, nhưng việc sáng ra vừa bảnh mắt đã bô bô kể chuyện với hàng xóm vừa hậm hực chửi cả mả cha nhà nó ngay là bằng chứng. Cái nghịch lý thiên tài ở đây là nhân vật nạn nhân bộc bạch đến thế, tình huống bức xúc có chửi cả nội ngoại thằng phải gió cũng không oan, mà sự thực đã chửi toáng lên rồi, thứ tự chi tiết, sự cố chặt chẽ – một bản khai tóm tắt trình báo công an không thể ngắn gọn hơn – mà tất cả gói ghém chỉ trong 31 từ.
Chi tiết thiếu trong bài có màu sắc tường thuật của cô gái là nhân dạng tên mất dạy. Đêm cô gái lên đồi phải là một đêm trăng. Đêm tối lù mù không ngăn gã côn đồ miền quê hành sự, nhưng để hái chè thì e không đủ ánh sáng. Thế nhưng đêm trăng mà cô gái không rõ nhân dạng tên mất dạy thì nghe không ổn – thực tế, cô gái trong ca dao tỏ ra là một người thông minh, mạnh mẽ, khi ôn lại sự cố không may, cô nhớ chi tiết, không khóc lóc mà chỉ chửi, mạnh mẽ tới độ oang oang cả nguồn cơn tức tối, ngỡ như cô đợi trời tỏ một chút là xăm xăm tìm tới công an trần tình. Vậy kết luận là tên phải gió đã tấn công nạn nhân vào thời điểm trăng lu (do bị mây che!), thời điểm cô gái không thể thấy rõ mặt đại hung thủ. Nếu có phản biện rằng thời gian trăng lu không đủ dài cho hắn hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt thì sự ngắn ngủi đó giải thích được vì sao hắn chọn tốc độ và chiến thuật thích hợp là đánh nhanh rút gọn qua lời kể của chính nạn nhân. Quả là tay kinh nghiệm có thừa, và nhìn ở góc độ tâm lý tội phạm, đây quyết không phải là vụ “đè và đút” lần đầu hay lần cuối của hắn, công an địa phương chớ nên rời mắt! Một lần nữa, bên dưới vỏn vẹn 30, 31 từ thật ra là cả một cuốn phim xã hội hình sự, cốt truyện súc tích tới mức tối đa, xin có lời nhắn các cây viết truyện ngắn, các nhà tiểu thuyết lẫn các nhà bình văn, lý luận chớ vội xem thường.
Tôi tin các bạn biết cách nói “dự thi” ở trên chỉ là cách nói vui giữa bạn bè. Với hai mục các bạn vừa nghe, trong tư cách đồng giám khảo (kiêm thí sinh), tôi thầm cho mỗi mục một con số 10, lòng không chút thiên vị. Nhưng trên thực tế chúng tôi có bầu tiết mục giải vàng thật. Các bạn có tò mò muốn biết ngay là tiết mục nào không?
Thưa các bạn chính là mẩu hò đối đáp mà anh bạn miền Tây kể và các bạn sắp được nghe đây. Nói chính xác Võ Đắc Danh chỉ ngồi cười khà khà khi cả Sơn và tôi cùng dồn phiếu cho Nam Kỳ Quốc. Không dồn phiếu, khi đọc xong có khi các bạn lại trách. Dồn phiếu cho cặp đôi vô danh, vô ảnh quê xứ miền Tây, thân và hồn nay về đâu chỉ âm ba còn lại, mà màn “sáng tạo” đột xuất ngỡ chỉ để mua vui rồi vui thiệt, mà dư âm ngậm ngùi kèm theo cũng thiệt đúng ngậm ngùi…
Ôi, những con sông quê miền Tây! Những con sông khi lặng lờ, khi sôi sục đã âm thầm nuôi bao thế hệ thủy chung hai bờ, vừa mở rộng lòng cho những người xa xứ lạc loài tới đây. Nước từ những sông mẹ đổ sữa vào con kênh, con rạch chia sẻ con cá, con mú, làm phương tiện sống cho cả những kiếp đời còn mãi lênh đênh, tạm bợ. Khúc cải lương não nề, điệu phương Nam thiết tha, sáu câu vọng cổ xoáy sâu, nẫu lòng người phiêu bạc sinh ra ở đây, ấp ủ từ đất này, quê xứ này, nằm trong con nước vẫn đi về này. Người phương Nam nửa khuya trở giấc không chợp mắt lại nổi, nghe vọng từ rạch gần, sông xa tiếng ai, nỗi lòng ai như chính tiếng lòng mình. Hai tuyến hai bờ người xuôi kẻ ngược, mênh mang sông nước không rõ mặt nhau. Duyên chưa tới, người trong mơ cứ mãi là người trong mộng thì trải lòng qua điệu hò câu ca, có mà không, không mà như có. Vui có, rầu có, thanh có, tục có, tinh nghịch có, mắng mỏ nhau cũng có. Tiếc thay, tiếng hò vừa rụng xuống lòng sông một sớm sương mơ có khi là hạt ngọc, câu ca gió vừa cuốn đi trong chiều bảng lảng biết đâu là của báu trời cho. Ai là bậc nghệ nhân có công nhặt nhạnh hạt ngọc và bụi vàng này trong một khuya mất ngủ chỏng tai nghe ai ngoài sông xa đối đáp cùng ai! Chỉ biết giờ chép lại thầm ghi công một gã mang tên Võ Đắc Danh đã rót vào tai kẻ hèn này hai câu hò “tuyệt chiêu” để rồi bản thân tuyệt luôn tâm thế xem thường những quê xứ xa cách Trường An, ôm thứ kết luận hãnh tiến rằng nơi biên địa (một thời) không có Kinh Thi, và bọn ngư tiều quyết không có tầm cao sĩ.
Nhân đây có thêm lời rằng cái ý thích ca hát, ghẹo nhau – nói riêng giữa trai gái – có khi phải có lịch sử từ thời vượn người, cứ quan sát mặt mũi và sinh hoạt của loài khỉ là rõ. Việc sưu tầm dân ca, hò vè tận cả thời cổ đại cho thấy nội dung tình yêu với mọi cung bậc buồn vui hỉ nộ, tiếc nuối …hóa ra chiếm khối lượng lớn. Đến Kinh Thi mà cụ Khổng không tiếc lời ca ngợi thiếu chi màn nhớ nhung, tán tỉnh.
Cũng nán một phút mà nhắc rằng dẫu thế gian chung cục chừng đó hoạt động nhân sinh, trong đó có các xen tình ái rườm rà ướt át, nhưng phong thổ mỗi nơi ắt mỗi khác thì từ thi ca cho tới lối trai gái ướm lời, khêu gợi nhau cũng phải đa dạng. Biết tỏng thế mà đố ai, dẫu đông tây kim cổ, có được câu hò “ve trai”, nghĩa là xuất phát từ phía nữ lưu, chủ động mà táo bạo của cô gái trên chiếc ghe miền sông nước phương Nam như sau đây. Nữ quyền ư? – Chưa là cái đinh gì. Hồ Xuân Hương ư? – Xin thưa, xem nhẹ. MIỄN SO SÁNH. Cứ thế mà giật lá cờ đầu. Và nhớ cho lần nữa, người dọ ý, mở lời và thực sự tán tỉnh công khai – không phải thưa lại, không phải đáp lời, nam trước nữ sau như thông tục – là giống cái 100%.
NỮ (khơi):
Gió nam non thổi lòn Hang Cóc
Phận em nghèo mồng đóc khô rang
NAM (ứng):
Đĩa bằng lăng con tôm càng dựng đứng
Phận anh nghèo cặc nứng nửa con
Tiếc quá, do không rành rẽ lối hò của người miền Nam mà chua thêm ít “hơ …ơ …ơ…” hay “è ...è ...hè …” đúng chỗ cho ướt át, vừa để mấy từ – rơi vào tay các cụ đồ có bằng thám hoa hay phó bảng e lại biến thành những “âm hộ”, “dương vật” lãng nhách – đắc địa nhất dễ lọt tai hơn, và để người nghe cùng nhớ tiếng hò đang được cất lên trên mênh mang sông nước. So với con số 31 và 39 chữ của hai tiết mục diễn trước, con số cả hai câu hò là 29.
Bình thế nào đây trời …cổ kim có thứ giao duyên, tán tỉnh nào kinh khủng hơn nữa không!
Ngày đó, Cao Xuân Sơn lặp lui lặp tới “Siêu thực! Siêu thực!” rồi chàng ta – xin lỗi trước bạn đọc nào còn giữ thói đạo đức giả, còn tập khí dè bĩu tiếng nói còn thơm thảo mùi sông nước nguyên thủy của nhân loại – oang oang bình tiếp “mồng đóc khô rang tưởng đã quá lời, đã cám cảnh …nghèo tới nổi cặc chỉ cứng nửa con thì ...thì ...siêu thực mà thương quá!”. Cũng Sơn – do nghề biên tập thơ (hiện nay Sơn là trưởng chi nhánh NXB Kim Đồng) – hào hứng như mới phát hiện một bản thảo xuất sắc của một cây viết còn vô danh, xin thề với các bạn, mắt bỗng rươm rướm ngoài dự kiến, tiếp tục lảm nhảm “cặc mà cứng nửa con đéo thế nào được …nhỉ!”. Do không ai giải thích, chàng lại tiếp tục “Siêu thực! Siêu thực!”.
Mà đúng hiệu ứng siêu thực thiệt. Không phải các bố các u hậu hiện đại, hay ngược về những dã thú, tượng trưng, dada hay xiêu-viêu-hiện-thực đầu thế kỷ trước mà sự đóng góp hình tượng đắt giá, sức nặng trần trụi, bộc phát có độ “sát thương” tương đương hàng độc của Kim jong-un thỉnh thoảng giới thiệu với thế giới phải là đây nè ...nè ... Ai chuyển kịp những “mồng đóc khô rang”, “cặc nứng nửa con” ra sân khấu thế giới để những người anh em chị em bất kể màu da hoặc phiêu dạt bên lề văn minh ngay trên quê hương mình, hoặc đang là thân phận bị ruồng bỏ trên xứ người có thêm vài cách diễn tả cực “phê” nỗi đau của mình và có câu “uống nước nhớ nguồn”, xin chớ quên nguồn gốc Annam của nó.Và phải chăng đây chính là cái nghèo “vô hậu kế đợi” quyết không bị đụng hàng có mác Việt 100%. Thử hỏi các chuyên gia phân tâm học quốc tế đã từng nghiên cứu hiện tượng “khô rang” và “nửa con” tột cùng của sự bi đát này hay chưa? Các nhà chính trị mồm lãi nhãi thắng lợi kinh tế liên tục, ca ngợi hiệu quả giấc mơ toàn cầu hóa hay các ngũ niên đầy hồ hởi có chịu nghiêng mình nghe tiếng “tân thanh” này hay để mặc gió cuốn đi. Hai câu hò “vô-hậu-hiện-đại” hoàn toàn xứng đáng đặt ngang với “chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa” (Nguyễn Du) và “Tao muốn sống lương thiện mà chúng nó không cho tao sống lương thiện” (Nam Cao) trong đền văn chương nghệ thuật Việt như những tiếng than xé mây thăng lên, đâm thẳng mặt trời cao vô cảm.
Lời bình có to tát quá không. Rút kinh nghiệm vậy. Quay về với sông nước, với lối giao tình tinh nghịch mà không thiếu thiệt tình, bộc bạch. Ghe đi đường ghe, thuyền trôi đàng thuyền mang theo những món lỉnh kỉnh trời ban mà không có chỗ dùng, thậm chí đang có nguy cơ hỏng hóc …Cũng chỉ nghểnh cổ hò chơi, nhưng nếu có chút hơi hướm nghiêm túc thì đây đã phân giải cả rồi. SẠCH SÀNH SANH. Khoảng cách, bóng đêm, nước trải mênh mang đồng lõa để ai đó tự do đẩy nữ quyền và nhân quyền lên đến tột cùng mà không lộ mặt. Và trên tất cả, chỉ văn nghệ thuần túy – nghệ thuật như một thủ pháp gây hiệu ứng thẩm mỹ và văn chương như một trò chơi chữ – sự thành công của tác phẩm hò bất hủ lại được thực hiện qua một trò đùa tán tỉnh, vô tư, thực tế vui là chính, và bằng những hình tượng và ngôn ngữ không thể nào “tục” (tĩu) hơn! Nghệ thuật lớn thường đi với khả năng kết hợp những yếu tố ngỡ như không kết hợp nổi, và hương vị “tục” (tĩu) đi được với ngậm ngùi, làn hơi “sỗ sàng” kết được với mùi thế sự – theo ý tôi – đã đưa hai kẻ vô danh, nghèo rớt mồng tơi trở thành những công chúa, hoàng tử trong ngôi đền mang tên Sáng Tạo. Có thêm thắc ý cuối thì thưa rằng yếu tố tục chẳng xa lạ gì với đồng bằng miền Trung, miền Bắc, nhưng chắc không ai phản đối, với hai câu hò 29 chữ, những người hành phương Nam và hậu bối của họ quả đã không quên di sản truyền thống quý giá của dân tộc nếu không nói đã góp thêm hương vị “sauvage” nguyên thủy độc đáo và hết ý. NO TABLE – à quên – NO COMMENT.
* Để thêm phần sinh động và thuyết phục xin thêm chi tiết sau. Một lần tôi được xem tập thơ của nhà thơ Từ Hoài Tấn ở nhà anh Nguyễn Tiến Văn, đọc thấy tác giả ghi nơi sinh chính là làng nội của tôi, lòng cảm động. Theo Nguyễn Tiến Văn, Từ Hoài Tấn kể chuyện bà cụ anh trên đường “chạy giặc”, tấp vào làng nội tôi và hạ sinh nhà thơ anh em của tôi. Một lần nhớ đời, tôi đang hò câu “Cháu không hò thì…” kể trên cho Từ Hoài Tấn nghe – hôm đó có cả Hậu, em ruột của Từ Hoài Tấn (tên thực của Từ Hoài Tấn là Hiền) – thì hai anh em cho biết nhân vật Bộ Bàng là có thực, người quê làng Chuồn (An Truyền). Cụ có đất đai ở làng nội tôi. Điều quan trọng là hai anh em biết rõ nhân vật này vì cụ Bộ Bàng là …ông ngoại của hai anh em! (Và hóa ra cụ là em ruột cụ Nghè Luận, thông gia với ông nội tôi). Khuôn mặt nhân vật thứ hai vậy đã được xác định. Kể cũng thú vị!
 https://vandoanviet.blogspot.com