Thứ Tư, 18 tháng 10, 2017

Quanh quanh chuyện “thơ thiền hiện đại” (2)


Nguyễn Thanh Văn

2. THƠ THIỀN HIỆN ĐẠI
Ở trên tôi có nháy qua cái ý ngầm có thể có bạn đọc cho người viết quá câu nệ trong việc nhấn mạnh vị trí và ảnh hưởng Kệ trong thơ Thiền và xác định các khái niệm (thiền, thơ thiền, thiền giả – tạm chỉ tu sĩ và…) không rõ. Thứ nhất, không thể võ đoán; “chatting” mà tranh cãi mất vui. Thứ hai, chưa dám định nghĩa chi hay lên tiếng ủng hộ ai cả. Tạm thời tôi liệt kê ít thứ lôi thôi, có khi chính bạn đọc xác định hộ (lưu ý người viết ắt cầm nhầm cả ý ai đó, đâu đó nói mất rồi!). Gì thì gì, Thơ – như một thể loại nghệ thuật – nghe đồn không thể định nghĩa nổi nhưng cũng dễ có cái nhìn chung chung chấp nhận được, thì nghĩa của Thiền lại khó nhất trí. Người cho thơ tu sĩ làm mới là thơ thiền và tu sĩ làm được thơ thiền là đúng thiền thi sĩ (chuẩn hơi gay go nhưng lý tưởng quá đi mất), người cho ai có tâm thiền (tiêu chí này e không dễ kiểm tra như kiểu công an giao thông kiểm tra nồng độ rượu của tài xế) và làm được đề tài thiền thì nên xác nhận là thơ thiền và nhà thơ thiền luôn thể (!). Ngược lại, hẳn có nhà sư làm thơ, nhưng không phải thơ thiền (tất nhiên, thậm chí có thứ thơ mà không cấm người ta phải đặt câu hỏi là thơ nội dung rứa thì “sư” còn là sư nữa không!). Thế còn một người làm đủ loại thơ, trong đó có mảng thơ thiền thì có nên xưng hay nhận là nhà thơ thiền, và không tránh được màn kiêm nhiệm, đại khái nhà thơ tình kiêm nhà thơ thiền nghe có ổn không? Cuối cùng – chắc chi đã cuối cùng! – có dòng thơ thiền vào một giai đoạn hay một, hai triều đại, nhưng khi đời sau không có ai tiếp tục sự nghiệp thì gọi thế nào – dòng thơ bị đứt đoạn và được nối lại hay cáo chung vào năm này, năm nọ…? Đã trên dưới chục câu hỏi, chưa tính còn tạm lờ khái niệm Thiền!
Nếu khái niệm thơ thiền đại khái liên quan thơ Không Lộ, Trần Nhân Tông, Vạn Hạnh… một thời, chúng ta hầu như dễ chia sẻ – thực tế không hẳn do một tri thức có luận lý mà trước hết do quen tai với cách dùng của một số nhà nghiên cứu và gợi ý từ sách giáo khoa –, thì ta cần mạnh dạn nhận rằng chúng ta đều khá tơ lơ mơ về khái niệm “thơ thiền” thời kỳ hiện đại gắn với các ông Vũ Hoàng Chương, Trụ Vũ, Thi Vũ, Phạm Thiên Thư, Quách Tấn, Bùi Giáng… chẳng hạn. Tôi tin rằng nếu tôi phỏng vấn trực tiếp quý thi sĩ này – tất nhiên với các vị còn tại thế – với câu hỏi “Theo lão thi sĩ thì thế nào là thơ thiền nói chung và hiểu lối thơ thiền các nhà thơ như lão thi sĩ đây vẫn làm như thế nào?” thì rất thú vị, đồng thời tôi không tin tất cả chúng ta đều đồng ý với chư vị. Sự không đồng ý này cũng thú vị nốt, kể cả với quý lão tiền bối. Những tranh luận trong lĩnh vực nghệ thuật thường tránh cái đáng ghét của chính trị, trước hết chính trị ở những nước độc tài, ở chỗ nó không quyết lý lẽ của ta đương nhiên đúng đắn 100% và một thi sĩ sở hữu mớ lý luận hở sườn cho đối tác phản biện nhưng vẫn làm thơ hay trong một nước mà nghệ sĩ còn lòng tự trọng, vẫn được “địch thủ” thắng cuộc ái mộ, mà không bên nào bị báo cáo công an văn hoá hay hửi thấy mùi tù ngục vì đi theo trường phái nghịch với thi xã do đức vua bảo trợ, chuyên ngâm nga thơ của hoạn quan và các cung tần mỹ nữ. Nếu tôi tiếp tục đặt câu hỏi tương tự với tu sĩ – thi sĩ Thích Nhất Hạnh và Tuệ Sĩ thì cho tôi trả lời… “ẩu” là hai ông sẽ mỉm cười, cáo bận Phật sự và không hứa, dù được yêu cầu trả lời bằng e-mail. Và do đó người viết có khi không có dữ liệu chi để bàn nhảm cả. Cũng nhân đây mà bình rằng thơ của Thích Nhất Hạnh (chúng tôi xin phép không dùng các chức danh hoà thượng, thượng toạ hay linh mục trước tên các thi sĩ) từng tạo ấn tượng thực sự những năm 60, 70 và một đặc điểm trong thơ ông là kết hợp thành công từ yếu tố kể chuyện, có lúc thu hút bằng chi tiết chọn lọc, tới một ý tưởng, chiêm nghiệm có tính khái quát mà vẫn cảm động, tự nhiên. Chưa tính sự nhạy bén với yếu tố thời sự và xin lỗi cả yếu tố thời thượng. Trong khi điệu thơ có phần cổ điển đẫm âm hưởng tài hoa và hào hoa vận vào thi ca miền Nam một thời (theo thiển ý dù có dị biệt – dị biệt quá đi chứ, ví dụ sắc thái trang nhã và phóng túng – thì Tuệ Sĩ, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng và cả Sao Trên Rừng đều cùng một bộ lạc Môhican cả thôi!), thậm chí ít thay đổi và đặc biệt không có dấu hiệu dụng ý cấu tứ phức tạp – điều hẳn không khó khan gì với nhà thơ của chúng ta –, thì Tuệ Sĩ vẫn chứng minh một tài thơ quyến rũ và tôi tin nếu dù bị phần nào che lấp bởi tiếng tăm nhà Phật học của chính mình (và tất nhiên cả tư cách công dân Phật tử sáng láng trong hoạt động xã hội), ông có chỗ đứng trong văn học sử Việt Nam, không nhất thiết là văn học sử Phật giáo.
Chúng ta có khi đành tạm vui vẻ không kết luận, hay cho câu trả lời vì e kết luận nào cũng dễ bị đối tác cho là chủ quan và dễ gây tranh cãi kéo dài. Thì giờ có khi để tiếp tục đọc và trước tác hay hơn chăng.
Riêng quý bạn nào chịu nghe cái chi bộc bạch, chủ quan hơn nhưng ít dè dặt hơn thì tiếp tục khề khà với tôi mươi phút nữa.
Trong từ “thơ thiền” có hai khái niệm “thơ” và “thiền”. Nghề văn là nghề của chữ nghĩa, của “Ngôi Lời”, sao dám xem thường nghĩa lý của nghề, của thể loại cũng là hành vi nghiệp – thi nghiệp – được. Nói “Thơ” là chạm khái niệm Đẹp, khái niệm Nghệ Thuật và Sáng Tạo. Vậy một cái gọi là bài thơ tất nhiên phải lấy tiêu chuẩn “hay”, “đẹp” mà phấn đấu. Đây là thứ thể loại vốn nghiệt ngã với người mon men thử bút. Đến một dấu phẩy, dấu chấm trong thi ca cũng phải có chức năng thẩm mỹ, nói chi tới từ và tứ. Không có sáng tạo trong từ ngữ, gộp một đống từ đại khái như “vô ngã”, “vô thường”, “trầm luân”, “đại ngộ”, “bản lai diện mục”, “bất khả tư nghị”, “tự tại”, “khổ nghiệp”… được vần hoá có thiệt là thơ (thiền) không. Câu trả lời là: “Thưa không”. Sự sưu tầm thuật ngữ, dù là thuật ngữ hoá học, chính trị, địa chất hay thuật ngữ Phật học, triết học… chỉ với mục đích và thao tác cơ học là cố nhét cho vừa một bài thơ chỉ là một điều kiện cần cho một bài thơ dở – tiếc thay cái nhận xét quá tầm thường này không ít người bỏ qua, mãi đắc ý và yên tâm vì có dăm từ có trong từ điển Phật học. Một khía cạnh khác, bất cứ một từ nào để làm tròn nhiệm vụ trong bài thơ, có hương vị thơ, đều xuất hiện đúng vị trí thẩm mỹ của nó, tuỳ ở đẳng cấp lịch duyệt của mình mà nhận vai trò, chứ không phải mặc cái váy may từ bìa cuốn từ điển cao giá nào đó là chường mặt lên sân khấu. Tất nhiên sự lạm dụng thuật ngữ Phật giáo nhằm nhắc người đọc biết đây là thơ thiền – thật ấu trĩ! – của những thi sĩ không hiểu rõ nghề ngỗng không có nghĩa là tránh dùng nó. Xin miễn cưỡng nhắc lại nếu một bài thơ – bất kể xếp nó là thơ loại gì – mà không có yếu tố sáng tạo (một nét độc đáo liên quan ngôn ngữ, tứ, nhạc tính, hình tượng, giọng điệu…) thì hỏi có là thơ nữa không. Vậy “thơ thiền” không thể là ngoại lệ. Khi sức khoẻ của thi sĩ chỉ ở mức và chỉ đủ sức lo sưu tầm, bưng bê khối thuật ngữ (Phật giáo) một cách vất vả dường đó thì còn nghệ thuật, thi pháp chi nữa mà rán gọi là thơ. Nói thêm không thừa, cái kị nhất với khu vực sáng tạo là sự lặp lại, là thuốc gây mê với độc giả. Từ “bâng khuâng” trong tiếng Việt có tính gợi cảm, khá “phê”, nhưng nếu miêu tả kiểu “Lan bâng khuâng nói”, “Điệp bâng khuâng trả lời”, rồi “Lan lại bâng khuâng hỏi” và “Điệp bâng khuâng im lặng” thì sách in xong may ra chỉ bán được hai cuốn cho… Lan và Điệp! Và tác giả cũng nên bỏ nghề, đừng bâng khuâng (băn khoăn) chi nữa. Nếu có một cuộc triển lãm các tập thơ thiền của thi sĩ xứ ta, xếp thơ các thiền thi sĩ sát nhau có khi độc giả ngỡ quầy sách đang đợt giới thiệu Kinh Phổ Môn và Kinh A Di Đà và các thi hữu chợt đại ngộ rằng thơ bạn và thơ ta hoá ra không khác nhau chi lắm, đặc biệt ở sức chứa thuật ngữ Phật học!
Xin phép bàn nốt khái niệm “thiền” trong từ “thơ thiền”. Khái niệm này lớn quá, phải viện tên tuổi hiện đại cỡ Suzuki, thầy trò Ajah Chang và Ajah Brahm (thầy người châu Á, trò người châu Âu), đặt biệt lùi lại lịch sử thiền tông có cỡ Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng, Lâm Tế… Trong nước chớ quên hoà thượng Thích Thanh Từ. Cũng nên tham khảo các vị có tiếng nói riêng trong ngoài nước như ông Thi Vũ, ông Như Hạnh, hoà thượng Tuệ Sĩ. Và ý kiến quan trọng đệ nhất khỏi bàn cãi là lời dạy của chính Đức Phật (qua Kinh Bộ và Kinh A Hàm), vốn được không ít những tên tuổi lớn trong lịch sử Phật giáo đời sau cho là “quá giản đơn”, “dành cho phàm phu và bậc căn cơ thấp”, “cần phát triển và hiện đại hoá” để thay vào những định nghĩa Thiền và loại Thiền hoá ra lại hợp cho bậc căn cơ thấp thiệt và thay bằng những phép thiền không rõ tác giả, thậm chí không ai rõ người sáng tạo thiền pháp cao diệu hơn cả phép thiền của Đấng Giáo Chủ đó đã thực hiện thành công không và hiện ở cõi giới nào. Thật mỉa mai! Chưa nói lẫy lừng như Suzuki một thời nay uy danh đã giảm sút vì quan niệm (thiên lệch) về Thiền của ông có người muốn đánh giá lại. Các nhà bình luận Thiền tông ở An Nam ta đặc biệt khoái màn được đại sư Lâm Tế nện bằng thiền trượng mà đại ngộ, nhưng ví dụ Ngài Lâm Tế còn sống và “Nam du” (kí) không rõ có thiền thi sĩ nào đủ tín lực mà thò đầu ra thử hay không. Không muốn có giọng bất kính, nhưng có thể lờ mờ đoán rằng sau một phát thiền trượng của đại thiền sư, khả năng đệ tử vào Chợ Rẫy ắt lớn hơn vào Tây phương Cực lạc là cái chắc. Chưa nói có khi căn cơ chúng sinh không còn như cũ, thiền trượng nện thẳng đầu e không phù hợp, bởi ngay ở đất Trung Hoa nghe nói thiền pháp này không còn được hoan nghênh và thậm chí trong giới tăng sĩ, nghiên cứu có người tỏ ý hoài nghi. Có thể bàn khối chuyện quanh quanh nhưng xin dành một kỳ khác với những chủ đề liên quan tới Thiền, Thiền tông vì nên thừa nhận rằng một đề tài thích thú, thường cao đàm từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, lôi kéo hàng triệu con người không chắc là đủ, lại càng không nhất thiết là được hiểu đúng. Tốt nhất nên khoanh lại, trong những cách hiểu cụ thể liên quan khái niệm “thơ thiền” ta đang bàn.
Phải hiểu “thiền” trong “thơ thiền” như thế nào cho ổn. Thật tình luận cho tường tận các thuật ngữ cùng khái niệm thiền rồi thiền chỉ, thiền quán, thiền môn, zen cùng jhāna và nói cùng là luận về Phật pháp, Phật học, Phật giáo thì đời mô cho hết, mà e thiếu trước hụt sau mất thì giờ của nhau. Nhưng lý do chính ở chỗ không phải bàn sâu, khơi kỹ mà hiểu đúng nghĩa “thơ thiền”. Tôi cho rằng ‘thơ thiền” chẳng qua là cách nói “bình dân”, khá ngẫu nhiên ban đầu của ai đó cho dễ hiểu rồi dùng luôn mà thành tên, thành thuật ngữ. Đặt vấn đề đại khái như thiền tông khác khái niệm thiền, thiền không phải là toàn bộ Phật pháp… do đó có khi không đúng chỗ, e có mùi dùng dao mổ trâu mà mổ gà. Từ ngữ “thơ thiền” có khi chỉ biểu cảm cái ý chung là thơ có chủ đề Phật pháp. Tuy nhiên từ chủ đề được hiểu có phần lỏng lẻo dần, để chỉ dạng thơ có hơi hướm tán đồng một tư tưởng nhà Phật nào đó hoặc có khi dùng một thuật ngữ Phật giáo cốt gây chút khí vị triết học hoặc âm hưởng cổ kính trang điểm cho bài thơ.
Chất thiền ở đây nhạt, và đặc biệt đi quá xa cốt cách của kệ trong truyền thống Phật giáo ban sơ – nếu ta còn lấy nó làm tiêu chí so sánh, thật ra khá hay hoàn toàn miễn cưỡng. Xin nhắc lại Kệ là tiếng nói cảm hứng và khẳng định – giải thoát khỏi quan hệ với hình thức, nghệ thuật thế gian – của người tự chứng bước đạt thánh quả của mình. Nói rõ hơn tiền bối trực tiếp của các nhà thơ thiền hiện đại – nếu ta chấp nhận gọi như thế – phải là khuôn mẫu thơ đời Lý Trần cộng phần thi ca nhận ảnh hưởng Phật giáo của các nhà thơ Trung Hoa, và tiếng vọng của thi ca Nhật Bản, đặc biệt ở tham vọng kết hợp tinh yếu thiền môn và lẽ tận mỹ với hơi hướm duy mỹ đặc trưng Nhật Bản.
Tuy nhiên nhận xét vừa nói nhắm vào thơ ca của những nhà thơ có tâm ý nhiều – có thể gọi là nặng nhu cầu tâm linh được không! – với Phật vị, Phật pháp như các nhà thơ vừa nhắc ở trên và ít liên quan với một đội ngủ đông hơn hẳn, mà lối thơ ta đang bàn chỉ là để thử bút, bay bổng dăm phút hoặc thông tục hơn chứng minh ta cũng làm được thơ thiền như ai khác. Thậm chí đối với thi sĩ làng nhàng cả tư tưởng lẫn chữ nghĩa có khi chỉ nhằm chứng minh khả năng nhét được vài thuật ngữ tôn giáo vào thơ. Ta không loại bỏ hai trường hợp, không có thành tựu thi ca, mà thay vào lô an ủi di dưỡng tinh thần mang hương vị Phật giáo hoặc thực có thành công thi ca, nhưng là việc đạt chất lượng chữ nghĩa, nghệ thuật nên gọi là bài thơ hay, không phải lên gân thành bài thơ thiền làm chi (mình thiền mình biết, tự tu tự chứng là điều Đức Phật và các đại thiền sư thường căn dặn đệ tử; ngồi lim dim được một, hai tiếng đã chép thành đại tự dán tường giữa phố đông mần chi!). Tất nhiên, cả hai trường hợp vừa nhắc qua đều đáng hoan nghênh và xét ra còn lành mạnh chán.
Lâu nay nhiều vị trong và ngoài nước quan tâm đến thơ và chất lượng thơ nhân có sự máy móc của truyền thống “văn dĩ tải đạo” và tình trạng minh hoạ tư tưởng lãnh đạo – vốn chẳng thẩm mỹ gì – bèn rủ nhau mỉa mai phần tạm gọi là “nội dung” trong thi ca và chủ trương nói tới thơ là nói hình thức, sang cả hơn là nói tới nghệ thuật. Nói thuần tuý nghệ thuật là đủ và để loại được nội dung (chính trị) áp đặt, độc tài rồi và cũng là cách mạng, là nổi loạn như ai. Xin góp ý nhỏ – tránh lọt tai công an văn hoá – vậy thì thà chọn con đường lập thuyết, lập đảng chính trị đấu tranh công khai với người ta, với địch, có khi thương và đừng bắt thơ ca làm con tin làm chi. Không cần nhắc lại cách hiểu nội dung và hình thức là một, “thống nhất hoá” trong nghệ thuật, mà tiện thử trao đổi rằng khái niệm “tứ” của các cụ Việt và Hoa xưa không phải là “nội dung”, hay quan hệ nội dung thì là gì. Các cụ xem trọng nghệ thuật mà vẫn luận bàn tới “tứ” (tứ thơ!) và vẫn có Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Tố Như, Cao Bá Quát đó thôi. Tội nghiệp không rõ hiểu đúng ý các nhà lý luận cấp tiến không mà có nhà thơ xứ ta hễ làm thơ mà còn tâm dan díu với “nội dung” thì ngay ngáy lo cho thi tài của mình. Khẩu hiệu thi ca cấp tiến là “Hình thức là tất cả”.
Quá lo cho thi ca bị thứ vè tuyên huấn làm quên nghệ thuật thơ, hỏng chuẩn “đẹp”, “hay”, “sáng tạo” là việc làm có trách nhiệm đã rõ. Cưỡng chế cả hứng khởi tư tưởng của thi sĩ – tư tưởng tất nhiên thuộc phạm trù “tứ”, không phải “nghệ thuật” thì phải, kềm hãm lòng “cô phẫn” của thi nhân. (Rất tiếc lịch sử thi ca chứng minh không ít nhà thơ có độc giả một phần ở giọng thơ và cả “khẩu hiệu thời đại” họ khám phá – ngay cả thứ ngỡ đối nghịch với ý niệm nghệ thuật như “khẩu hiệu” cũng không hề tuyệt đối tách khỏi khái niệm sáng tạo. Thơ Sándor Petőfi là một ví dụ – hơi nóng của ý tưởng/tứ thơ trước cả nghệ thuật, ngôn ngữ không phải quá độc đáo đã đốt tim người nghe thơ: “Tự do và Ái tình – Vì các ngươi ta sống…”). Những nhà lý luận xuất sắc – thường hiếm hơn cả văn tài – là Thầy của người sáng tác ai cũng rõ, nhưng phần lớn các thầy không trực tiếp sáng tác nên có lúc không khỏi có chỗ lù mù. Ví dụ sự tưởng tượng kỹ thuật làm thơ bằng cách liệt hàng chục từ tương đương nghĩa rồi hì hục chọn từ “lấp lánh” nhất. Trên thực tế chuyện này có nhưng rất hiếm, tác phẩm dù ở dạng âm hao, mơ màng thường vẫn hiện lên – với riêng thi sĩ – như một chỉnh thể – và không chỉ ý đồ nghệ thuật, sự hoạt động của cảm hứng, mà cả từ ngữ trong văn cảnh tự tương tác, tự tạo không gian thích hợp cho một từ “riêng” phải xuất hiện đúng lúc, đúng vị trí mà không phải lúc nào cũng vã mồ hôi như sự mô tả cường điệu của lắm tác giả và thầy dạy văn. Đại khái như chuyện trang điểm của quý bà, cái nốt ruồi giả nằm đâu tuỳ khuôn mặt, cái váy xanh đi với áo cánh màu và kiểu dáng chi, chưa tính sáng tạo đột xuất thành model, thời trang. Giờ làm đẹp mà còn ôm từ điển thời trang và cẩm nang thẩm mỹ thì thiệt quá quắt. Có Lê Đạt nhưng còn Nguyễn Bính kia mà! Về cái chuẩn sinh tử – chuẩn nghệ thuật – đối với giới sáng tạo cũng tránh máy móc. Đâu phải làm thơ là ngồi thừ ra lao lung với kiến thức, kỹ thuật, đầu óc chỉ vang lên một tiếng “Đổi mới hay là chết!”. Sự thực, tia chớp sáng tạo đến không hề hẹn hướng tới, giờ giấc, điện thoại hay mail trước gì cả. Sáng tạo và cách tân nghệ thuật và đổi mới hình thức có thể đột xuất đến khi tác giả đang ở tâm thế lơ mơ, bất quyết, có khi thực tế vì một “cơn điên” dấy lên vì một tư tưởng nào đó –, khái niệm thường được máy móc xếp đối nghịch với hình thức. Thậm chí trước khi được chú ý, phong thánh, phát kiến đổi mới hình thức có thể đến như một “tác dụng phụ” (side effect) là đàng khác. Hệ quả là cần thấy không thể đi tìm nghệ thuật toàn hảo qua sự giễu cợt ý đồ, ý tưởng và cần nhớ cái “idée” trong văn chương nghệ thuật cũng là “idée” đã nghệ thuật hoá, rất ít liên quan với các “idée” bác học của giới nghiên cứu. Nói thêm thì cái gọi là cách tân hay hình thức mới cũng hiện ra không tách rời tứ văn, “nội dung” và chỉ trong tưởng tượng và những thí nghiệm văn chương không thành công cho lắm, ngoài yếu tố lạ lẫm là thông điệp cảnh cáo các cụ thi pháp đã hoá lão ông lão bà, mới có gene nghệ thuật chiết riêng trong lọ thuỷ tinh ở phòng thí nghiệm.
Nói thêm, thơ không tính tới “tứ” – còn hiểu thế nào là “tứ” cần viết một cuốn sách – thì gợi ta nhớ tới những nốt do, ré, mi… trong một ngành nghệ thuật khác. Trong văn chương mà chữ là công cụ, tất nhiên không thể gõ chữ thành những nốt do, ré, mi… đơn giản vì chữ đi kèm với nghĩa – chữ nghĩa cơ mà – và bên cạnh nỗ lực tìm hình ảnh, nhạc tính… để giảm sự chuyên chế của chữ và cả nghĩa/nội dung rất đáng hoan nghênh, đừng quên những tác giả sáng tác vì thôi thúc của “nội dung”, của “nghĩa” trước chữ. Và hiệu quả nghệ thuật cùng sự chia sẻ của người đọc quan trọng kém chi “Giải của ban giám khảo”! Nói thêm một tí để tránh hiểu lầm, không có nội dung thiền thì gọi là “thơ thiền” sao đặng, nhưng thuật ngữ thiền tự nó không phải là tứ thiền, và có khi là quan trọng nhất rằng có “tứ thiền” đấy mà trong thơ không có hiệu ứng thẫm mỹ thì hoá ra nhầm nghề – ở đây Napoléon cũng đáng nhắc với cái ý trong các thứ thiếu lương thiện thì đứng đầu là việc làm cái nghề mình không rành.
Cái “lõi” thiền có vấn đề tất làm cho liên doanh “thơ + thiền” khó hoạt động, gợi món chay có dạng đùi gà rô ti và sườn nướng. Nước bọt ứa ra có lợi cho tiêu hoá, ăn thấy ngon miệng thiệt, nhưng dù không có vấn đề gì với pháp luật nhưng cho là chay thiền, tâm Phật thuần thì quả khó nghe, khó thuyết phục. Phân tích lòng thòng một tí, cái sự ngon có thiệt không ai phản đối, tay nghề cooking không vừa này đi với khái niệm “thơ” (trong từ ngữ “thơ thiền”), đọc thơ thấy hay nhờ tay nghề “thi gia”; nhưng cái tâm thơ không đạt thiền – mà chỉ đạt hay chỉ chạm tới thuật ngữ thiền – thì đó vẫn là thơ “thiền mặn”. Trừ khi áp dụng chủ trương “ngủ mặn như ngủ chay” trong thơ thì kẻ tản mạn tào lao này chịu nhận tội vô duyên, nghĩa là thua tuyệt đối, tới mức… liểng xiểng.
Thua cũng mong được mấy lời – đại khái như người nhận án nặng nhất cũng được phép được nói lời cuối cùng – chưa nói có chi mà thua hơn với kẻ ngay từ cái tít bài đã nhận vai “mua vui cũng được nửa giờ đã may”. Vậy thơ thiền hiện đại chưa vang lên trong tâm tưởng bạn đọc ấn tượng như “thơ Đường”, “thơ Tự do”, “thơ Mới”, “thơ Haiku”, “thơ Siêu Thực”… phải chăng vì quá ít thơ hay?
Trong trường hợp thơ thiền, nói ít là vẫn có, nhưng ít. Chỉ cái nguyên nhân sâu xa cái sự ít ắt có tranh cãi và mất thời gian. Nếu có một hội thảo loại này, đề tài tôi đăng ký có nội dung rằng vì có hiện tượng đa số các nhà thơ thiền ta không có tâm thế thi sĩ khi làm thơ (thiền). Một nửa tâm thế – tạm dùng từ lóng ngóng như thế – ngay ngáy chỉnh tâm mình cho được “thiền” như trong sách báo tham khảo hướng dẫn, một phần loay hoay sắp xếp vụ thuật ngữ Phật giáo, và tất nhiên còn có “phần dành cho thơ”. Ngẫu nhiên thôi mà trùng cách nói của ông Tố Hữu (Trái tim anh chia ba phần tươi đỏ – Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều – Phần cho thơ và phần để em yêu) và có khi trùng luôn không phải lối tư duy thì cũng phép làm thơ “cắt”, “chặt”. Đáng lẽ nên có người khuyên Tố Hữu thử tham khảo cách nói tinh tế và đúng mực thi sĩ về Trái tim người mẹ của đại thi hào người Pháp Victor Hugo (được phe xã hội chủ nghĩa mê lắm) là trái tim của người mẹ (có đặc điểm kì diệu là) dù chia ra cho cả đám con đông, mỗi đứa đều nhận đủ trọn trái tim của mẹ, mô phải thứ tình cảm “số học” mỗi đối tượng một miếng tim –không thể yêu bằng nửa trái tim nói chi bằng một miếng mà ai cũng biết đã chia với cắt thì không chỉ tươi đỏ, mà còn tránh sao được chuyện máu me. Ông Tố Hữu đi xa lâu rồi, ta cũng như người vốn hèn, không có được nửa lời khi người ta còn hét ra khói ra lửa, nay lên giọng phê với phán không khỏi ngượng ngùng, nhưng trong khi có người một đời vì thi ca mà chết – một số dưới tay thi hữu Tố Hữu – thì ông Tố Hữu tiết lộ chỉ dành một miếng tim dành cho thi ca mà thành được “ngọn cờ đầu thi ca (xã hội chủ nghĩa) thì gan ông cũng lớn thiệt. Phần thiền thi sĩ có khi cần nhớ cả thơ và thiền đều không cho phép phân tâm. Kinh nghiệm làm thơ người cầm bút đều nắm, người viết không dám ba hoa. Còn trong thiền pháp ít người không biết khái niệm “niệm” và “chánh niệm” và “thất niệm” thành… ma! Vậy đã tương đối rõ, có khi ngỡ nắm bắt cả thi lẫn thiền lại tuột mất cả thiền lẫn thi. Cứ đọc phần lớn thơ “thiền” có khi có đôi bạn đồng ý với người viết chăng.
Tóm lại, dù ai kết luận thế nào dạng thơ gọi là thơ thiền sẽ còn ra đời, các nhà thơ gọi nhau là nhà thơ thiền, và họ có độc giả của họ dù chắc khá hẻo. Thành công của vị nào thành tựu cả mặt ngôn ngữ lẫn chiêm nghiệm Phật pháp, tâm linh sẽ được yêu mến. Và nói thiệt ở góc độ giải trí, ngày nay cái làm bạn đọc dừng lại ở một số tác giả gắn với thơ thiền chưa chắc để tìm khí vị tâm linh cao thượng mà tìm tí cảm giác xả hơi, và được chiều thói quen do một số thiền thi sĩ tập cho: tìm chút trò chơi chữ tinh nghịch có hương vị “tâm linh”. Không thể nói là đây là sự không đáng buồn.
Ít khi nghe nhà thơ nào than thở đã thất bại trong khu vực thơ thiền. Thiệt tình đó là sự thất bại không gây sốc, phần vì lượng thơ thiền của các nhà chiếm tỉ lệ thấp, làm không đều và căn bản nhà thơ thường lẫy đời chứ không thực tâm chán đời và thì giờ làm thơ thiền có khi là thời kỳ kéo dài sau một mối tình tan vỡ cho tới lúc một mối tình khác bắt đầu. Trải nghiệm giá trị tâm linh trước hết theo nghĩa nghiêm nhặt của nhà chùa không dành cho người cưỡi ngựa xem hoa. Và quan trọng là thông thường ngay một chúng sinh thi sĩ có căn cơ tới mức lờ mờ hiểu đạo, thì theo thiển ý ít ai định ra một tập thơ, hay quyết làm thơ chuyên nghiệp. Tỉ lệ ít có “thơ thiền” hay do đó đi với tỉ lệ “nhà thơ thiền” tuyệt vọng về mình cũng rất thấp, điều hiển nhiên may mắn cho xã hội lẫn thân nhân các nhà thơ. Và nếu không đến độ bị hiểu lầm – ví dụ tôi cũng tự biết mình từng là nhà thơ thiền (cũng là tự công nhận bừa chứ có ai công nhận) và là nhà thơ thiền thất bại – nó cũng là điều may mắn cho chính các nhà thơ!
Ý kiến cuối cần hiểu không hề thiếu tích cực với các nhà thơ. Với việc làm thơ có hương vị tâm linh, chạm ngóc ngách mới trong cuộc sống đa dạng đang càng ngày càng khó thở, nhà thơ bày tỏ khát vọng của cả đồng loại của mình trong tìm tòi về mặt thẩm mỹ lẫn tuệ trí. Và rồi chỉ trong cô đơn người cầm bút vượt lên thách thức, trong đó còn để bù cho những phút dễ dãi trên trang viết để tìm cũng ngay trên trang viết đó những vần thơ đem lại cảm hứng lớn cho người đọc và chính mình. Tôi hy vọng như thế. Các đồng bào yêu thơ thiền của tôi chắc cũng thế. Thơ thiền hiện đại chưa khám phá ra hết mình và còn thênh thang đường đi, dù nó không đi với thẩm mỹ và tiêu chí (đạo lý) cũ, hoặc như cũ được nữa; vậy ngay cả khi nó sẽ đi theo hấp lực của nghệ thuật và của gu thơ (thiền) thời đại như một thứ quán tính, và nhẹ phần thiền – làm thương tổn cái tên thật ra cũng bán chính thức của nó – thì cũng là quy luật cả thôi. Các fan của các nhà thơ thiền hiện đại sẽ hoặc quyết tiếp tục theo idol của mình như kiểu fan cuồng của Hồ Ngọc Hà hay Mỹ Tâm, hoặc biết đâu chừng nhớ câu tan hợp, vô thường mà đành mừng vì có thêm thời gian đọc sách Phật và ngồi thiền thay vì đọc… thơ thiền hiện đại vậy!
* Người viết dừng ở đây dù bản thảo còn non 10 trang nữa. Lý do tự thấy vẫn còn chỗ bất cập mà hơn nữa cũng nên dừng đúng lúc, khỏi mệt tai, mệt mắt bạn đọc. Một khi trở lại đề tài, tôi thích được điểm lại các bài viết và ý kiến bốn phương chư vị cũng về đề tài đang bàn – thú vị, mạnh dạn và đầy gợi ý! Nếu kèm nhời bàn theo mô đen “điếc không sợ súng” của người viết hy vọng không đến nỗi tẻ nhạt!

https://vandoanviet.blogspot.com/2017/10/tan-man-van-hoa-van-nghe-va-van-gung-11.html#more

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

Quanh quanh chuyện “thơ thiền hiện đại” (1)

Nguyễn Thanh Văn

1. Vài mốc lịch sử
Không thể không đặt câu hỏi có dòng Thơ Thiền hiện đại thực không, thậm chí khái niệm và thuật ngữ Thơ Thiền áp dụng cho một dạng thơ trong nền thi ca hiện đại được công nhận chưa. Khỏi cần tranh luận rằng đối với nhà thơ việc ai đó công nhận hay không tên thể loại, lối thơ họ đang làm là gì không quan trọng. Thực tế, với độc giả cũng không khác lắm, họ đón nhận cảm hứng thi ca qua xác thịt nghệ thuật cụ thể mà ít bận tâm hỏi name card lôi thôi, điều mà nhà nghiên cứu xem trọng.
Tạm thời chúng ta có thể nhận xét rằng dạng thơ được quen gọi là Thơ Thiền có tên họ rất chậm, do đám hậu bối đặt cho. Nói khác đi, các vị sư thời nhà Lý, Trần và có thể trước đó nữa không định sáng tạo ra thể loại văn chương chi cả. Cũng tạm để lại những nghi án – có trường hợp được giải mã có phần bất lợi cho “copyright” của phía tác giả Việt Nam – có không ít thơ vẫn cho là thơ Ta được cho là “gốc” thơ Tàu, thì việc trong lịch sử (tôi tránh nói là “lịch sử văn học”) các nhà sư có thơ với cảm hứng Phật Pháp (và cá biệt có vị không chỉ cảm hứng từ Phật Pháp) là hoàn toàn có thực. Và chúng ta không thể không cảm thấy tự hào và thú vị về chuyện này.
Không cần khẳng định chắc nịch mần chi – mà làm chi có tư cách mà khẳng định – có thể tin cảm hứng thành thơ của các nhà sư Việt đến từ nhiều nguồn. Trước hết là truyền thống Gāthā (Kệ) trong Kinh Phật, hẳn có gốc gác ngay trong truyền thống văn hoá Ấn Độ cổ đại. Đức Phật thường tóm tắt bài kinh thành một dạng “thơ” (vần hoá) ngắn, súc tích – ít ra qua các bản kinh Nikāya (Kinh Bộ hay Bộ Kinh) cổ chúng ta tiếp xúc được.
Sau đây là vài đoạn trích:
“Sao ta nói Chánh Pháp
Được chứng ngộ khó khăn?
Những ai còn tham sân
Khó chứng ngộ Pháp này.
Đi ngược dòng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được Pháp này.
(Kinh Thánh Cầu/Ariyapariyesanā Sutta – Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Kinh Trung Bộ/Majjihima Nikāya, tập 1,  trang 211)
1. Lạc thọ hay khổ thọ
Cùng bất khổ bất lạc,
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.
2. Biết được: “Đây là khổ,”
Hư nguỵ và biến hoại,
Thấy xúc, xúc biến diệt,
Ở đây sống ly tham.
(Kinh Tương Ưng Bộ/Samyutta Nikāya, tập 2, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 275)
Nhưng những sưu tập các bài Kệ lừng danh nhất thuộc về hai tập “Trưởng Lão Kệ” và “Trưởng Lão Ni Kệ” (ở Việt Nam đã có bản dịch phổ biến và cũng là bản dịch đầu tiên của cố Hoà thượng Thích Minh Châu), được xem là những cảm hứng được vần hoá – gần với một định nghĩa Thơ – của các bậc sư ni, một số là đệ tử của Đức Phật, nói lên (tôi không dùng từ “sáng tác”) vào thời điểm giác ngộ, đạt quả A La Hán. Để bạn đọc tham khảo – và so sánh – tôi trích vài bài Kệ của các ngài (dẫn theo bản Kinh Tiểu Bộ, tập 2, dịch từ Kinh Khuddaka Nikāya, tiếng Pali, của Hoà thượng Thích Minh Châu, nxb Tôn Giáo, 2013).
1. “Thành tựu Chánh Tinh Tấn,
Sở hành trên Niệm Xứ,
Tràn đầy hoa giải thoát,
Sẽ nhập diệt, vô lậu.”
(Trưởng Lão Tăng Kệ, Kệ Devasabha, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 254)
2. “Năm uẩn được rõ biết,
Tồn tại sẽ cắt đứt,
Vòng sanh tử đoạn tận,
Nay không còn tái sanh.”
(Trưởng Lão Tăng Kệ, Kệ Sāmidatta, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 248)
3. “Ta đã chế ngự được
Thân, miệng và tâm tư,
Ta chinh phục khát ái
Cho đến tận gốc rễ,
Ta sống được mát lạnh
Trong tịch tịnh, an lặng.
(Trưởng Lão Ni Kệ, Kệ Uttarā, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 536)
4. “Dầu ta có đau đớn,
Sức yếu, tuổi trẻ qua,
Dựa trên gậy, ta đi,
Ta leo lên đỉnh núi.
Với đại y vắt ngang,
Với bình bát lộn ngược,
Ta ngồi trên tảng đá,
Tâm ta được giải thoát,
Ba minh chứng đạt được,
Thành tựu lời Phật dạy.
(Trưởng Lão Ni Kệ, Kệ Mettikā, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, 2013, trang 541)
Tôi cố ý trích minh hoạ không chỉ một hai bài để một số bạn tiếp xúc với dạng Gāthā (Kệ thời Phật giáo nguyên thuỷ), một số tăng ni là đệ tử chân truyền của Đức Phật, và dễ nhận ra – qua bản dịch của Ngài Thích Minh Châu – tính chân phương, mục đích nói kệ và nội dung minh bạch của các vị hoàn thành Phạm Hạnh, đạt Thánh Quả. Đối với riêng Kệ của chính Đức Phật, có thuyết cho có thể một số do người chép kinh đời sau tạo ra vì mục đích sư phạm, tóm tắt bài Kinh; điều này khó xác quyết nhưng qua so sánh văn bản cổ như bộ Kinh Pháp Cú hay chính Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Tăng Kệ ta vừa trích dẫn thì phong cách, ngôn ngữ, mục đích khai kệ hoàn toàn tương đồng.
Theo thiển ý, nguồn thứ hai là sáng tác có âm hưởng và ảnh hưởng Phật Pháp của các nhà thơ Trung Hoa, trong đó có dạng Kệ của các nhà sư (dù chưa thuyết phục với các bạn, tôi xin phép được cố chấp, “cố” phân biệt “thơ” và “kệ” ra vậy, theo truyền thống từ giới luật, lời dạy thời nguyên thuỷ của bậc Giáo Chủ về chuyện tu sĩ không tham gia “văn nghệ” thế gian, dù do dự không rõ mục đích của một số nhà sư là “vần hoá” một cảm hứng/cảm nghĩ về đạo pháp hay do quán tính, đào tạo mà còn giữ nếp thơ và hơi thơ của các bậc nửa sư cụ nửa túc nho). Chỉ mạo muội ngờ rằng ngay các nhà thơ thế gian “thuần tuý” – Tô Đông Pha là một ví dụ – không xem thơ có tí ý vị Phật giáo của mình là một dòng thơ đặc biệt, có tên riêng (thơ thiền) hay đặt riêng một vị trí nào trong di sản thi ca của mình. Dù kiến thức văn học Trung Hoa giới hạn hay có khi chính vì giới hạn này tôi có câu hỏi: Phải chăng giới nghiên cứu Trường An - Bắc Kinh không chủ trương đặt các sáng tác có chủ đề này thành một thi phái hay có sự đề cao, khu biệt chi. Và liệu có phải vì đất Trung Nguyên đã có quá đủ thành tựu văn chương để tự tín tự hào; mặt khác, tính văn học chuyên nghiệp phát triển sớm đủ để phân biệt nghệ thuật tính và nội dung văn chương (dù là nội dung sâu sắc, uyên thâm tới đâu, có là nội dung liên quan “Đạo” hay Triết học – chưa nói từ thời cổ đại, người ta đã có khu vực Triết học khá rành mạch cả rồi, trừ trường hợp độc đáo của Nam Hoa Kinh chăng). Ngược lại, không dám bất kính, nhưng ở nước ta đến trước thời Lý khó nói là giai đoạn có thành tựu văn chương lớn (và cũng không đủ tài liệu chứng minh). Đây là một hoàn cảnh giải thích sự đón chào đặc biệt sáng tác Việt và rất có thể giải thích cả việc tiếp nhận các trước tác mà không nhất thiết phân biệt nguồn nào, thơ hay kệ, mục đích đạo hay đời (không trừ khả năng và tâm thức muốn khẳng định tự hào dân tộc và văn hoá độc lập của dân tộc), nếu không nói giải thích ngay cả vấn đề liên quan “copyright” của các tác giả Tàu Ta. Riêng lưu ý cuối cần nhớ rằng không cần nhắc tới ngàn năm nằm trong tay đế quốc phương Bắc, đến tận giữa thế kỷ 19, vua Tự Đức còn dùng cách nói “văn minh Trung Hoa ta”. Nhớ thêm sau khi đuổi được quân Tàu về địa điểm xuất quân, vua ta vẫn trích dẫn tích sử Tàu để giáo huấn quan dân và không những đền Văn Thánh thờ Khổng Tử và đủ 72 vị thánh hiền Trung Hoa mà cũng khá lạ lùng đền Võ Thánh không quên thờ đức Quan Công! Chưa bàn công lao thiệt của ông này trong lịch sử Tàu là gì, khó nói nữa là ý do vì sao vua và dân ta phải thờ ngài võ tướng Tam quốc này mà theo thiển ý là lại thêm một chuyện khá tào lao – bình dân gọi là “bao đồng”. Nói linh tinh vậy để biết chuyện láy vụ “copyright” là có chút đùa vui từ góc độ hiện đại, chứ không đến độ nghĩ sai hay dám kết án cha ông.
Còn một lý do nữa, theo tôi hiểu từ xa xưa các vị sư Việt học kinh kệ từ tiếng Hán vốn được giải thích qua lăng kính Trung Hoa, riêng các sách học tiếng Hán nội dung cũng mượn sách giáo khoa nhà nho soạn nên khoác áo cà sa mà văn hoá nửa Phật nửa Nho không có chi lạ. Trên có thuyết Tam Giáo, ngoài dân gian thì pha chế đủ rượu tâm linh, luân lý. Giới tu sĩ có nếp sống, nếp nghĩ có khi gần Tàu hơn Thiên Trúc, thỉnh thoảng khai bút, ngâm nga ta không lạ vậy.
Bây giờ thử lang bang qua thời kỳ sau thời Lý Trần. Kiến thức giới hạn không cho tôi xác định được liệu thao tác sưu tập chính thức loạt “thơ và kệ” tạm gọi có chủ đề “Thiền” – không chủ đề Thiền thì thử hỏi các bậc tu hành viết chủ đề nào – bắt đầu từ lúc nào và tài liệu bảo chứng gì. Chỉ lạm bàn nếu có ghi nhận của người đời sau và nếu có gọi tên (đại khái) là (dòng)Thơ Thiền thì hẳn chỉ nhắm vào phần thơ do người nhà chùa là tác giả. Nói rõ hơn, y như trường hợp ở đất Trung Hoa lưu ý ở trên, các trước tác có tí thiền vị, ảnh hưởng đạo Phật của các tác giả ngoài đời chỉ là một phần trong di sản sáng tác cá nhân, quá lắm là một dạng chủ đề trong loạt chủ đề của họ.
Thử nhận xét rằng dù có yếu tố tài hoa – cá biệt đối với một số vị có thể dùng khái niệm “kỹ năng thi ca” – nhưng tính nhất quán trong “thơ” của giới sư sãi là nội dung tập trung vào giáo pháp nhà Phật và cái nhìn với nhãn quan giải thoát Phật giáo. Do đó dạng này gần với chức năng của Kệ trong truyền thống Phật giáo tính từ thời Giáo Chủ cho tới các bài kệ mang tính giải công án của những Huệ Khả, Thần Tú, Huệ Năng… ở đất Trung Hoa – tạm chưa bàn đấy là tư liệu lịch sử hay hư cấu. Để nêu rõ chỗ so sánh với trước tác của phía các nhà thơ “thế gian” tôi thử lái qua văn học dân gian. Giả sử có tư liệu về một nghệ nhân sáng tác dân gian, tác giả câu ca dao “Tu đâu cho bằng tu nhà / Thờ cha kính mẹ mới là chân tu”, “Tu là cội phúc, tình là dây oan” (mượn tạm của Nguyễn Du), rồi cũng chính vị này là tác giả bài ca dao chế giễu thầy chùa, kiểu “Hai cô đội gạo lên chùa…” hay nối thêm dù có phần lòng lẻo với khí vị “chay mà mặn, mặn mà chay” chủ trương “ngủ mặn, lòng chay” thì không có phản ứng chi cả, thậm chí sự chỏi nhau về nội dung chỉ thêm ưu điểm cho người sáng tác. Điều này bất khả với một phát ngôn của giới tu hành, giới mà theo thiển ý mới sát với danh xưng “nhà thơ thiền” nếu cố dùng danh xưng này cho được (Còn quan niệm này có hơi hướm máy móc, phân biệt, “phàm nhãn”, chắc chắn có người phê còn ở “bên này bờ” còn dịp xin quay trở lại). Lý do khá rõ, dù Thiền Pháp nhà Phật được sớm giới thiệu minh bạch trong Kinh gốc – theo ý nghĩa phân biệt với Thiền trong truyền thống Ấn trước đó, bao gồm Thiền Yoga, truyền thống Thiền Bà la môn và phân biệt với những “sáng tạo” của các tông phái Phật giáo đời sau – đã được giải thích quá đa dạng, nếu không nói có phần tuỳ tiện và thậm chí xa bản ý của Giáo Chủ, thì điểm căn cứ vẫn là những chuẩn giáo lý, đạo đức thiết yếu phù hợp Phật pháp, điều mà khác với thi sĩ nhân gian, các nhà sư không thể không tôn trọng. Tất nhiên không cần nói là địa điểm chùa chiền hay hình ảnh khói hương tự nó không tạo ra “thơ thiền”, nên hình ảnh Nguyễn Công Trứ lên chùa sau lưng đủng đỉnh một vài “em” hay màn ngay đền thiêng, quý bà canh tranh tối tranh sáng để “thướt tha dưới án nguýt sư ông” của Trần Tế Xương là thơ thiền được.
Dù tản mạn giải khuây là chính, học thuật thì hẻo, hy vọng ý tôi đã khá rõ. Nội dung truyền thống Kệ trong lịch sử Phật giáo cốt thành ý, giáo pháp tất nhiên tránh xa sự huê dạng, hình thức có được để tâm chăng không ngoài mục đích “dễ nhớ, dễ niệm” và trong trường hợp cảm hứng do viên mãn thánh quả đem lại thì tính “thông báo” có phẩm hạnh bảo hiểm chứ tuyệt không nhờ yếu tố “bên ngoài” dù với tên gọi sang trọng là nghệ thuật.
Vậy không có tính nghệ thuật không thể gọi là thơ? Thưa, rất chính xác. Ý tôi đang loay hoay chứng minh không khác: Kệ trong nhà Phật không phải là thơ. Có “vần hoá” chưa phải là thơ, và người làm “Kệ” không nhắm được công nhận là nhà thơ, nếu không lạm bàn bậc thiền sư không ý thức mình làm thơ khi “thốt ra” cảm hứng có nội dung giải thoát. Ngay cả trong trường hợp bài Kệ có hiệu quả mà người ngoại cuộc là ta gọi là hiệu quả nghệ thuật hay thi ca đi nữa. Quá lắm là một dạng biện tài, nhưng chớ quên những dẫn chứng trong Kinh (gốc) cho thấy đó là kỹ năng ngẫu nhiên của các tỳ kheo vốn là nhà thơ hoặc nhạc sĩ trước khi đi tu. Sự thực có vị được Đức Phật trực tiếp khen vì Ngài thấy có dạng kệ nội dung đúng chánh pháp và các tu sĩ dễ học, dễ thuộc (chú ý hai yếu tố mà Đức Phật xét: đúng Chánh Pháp và dễ thuộc). Đấy là một xen hãn hữu, không nên so với sự cảnh giác của Đức Giáo Chủ về tật ngân nga khi tụng kinh. Do lịch sự tôi không nhắc tên một Hoà thượng nổi tiếng khi phát biểu – có quảng bá trên băng đĩa, mạng – đã xuýt xoa tán thán ba vị cao tăng cùng một ưu điểm “giọng tụng kinh cực hay” (thậm chí “đặc biệt vào đêm hôm!”). Tôi mạn phép đề nghị nên ca ngợi một giọng “cực hay” là đủ, còn lại thông báo vị cao tăng nào đọc kinh nào, tu pháp môn nào, phẩm hạnh cụ thể ra sao, có ngữ lục nhan đề là gì… có khi có lợi ích cho số tín đồ đam mê giọng Đàm Vĩnh Hưng và Mỹ Tâm hơn, mà khỏi sa vào cái sai lầm nương theo sắc, âm thanh… để cầu chánh pháp mà Đức Từ Phụ đã căn dặn thường xuyên. Tìm “nghệ thuật thi ca” trong Kinh và Kệ do đó là trò chơi thanh nhã trong cõi nhân sinh không thanh nhã với nhau, không nên vượt rào nhà chùa, đưa vào tiêu chí định giá kinh kệ có khi mang tội, chứ không phải làm sang cho Phật Pháp – có gì sang trọng hơn Phật Pháp mà bàn vụ nương tựa và trang trí! – hay kéo Chánh Pháp cho gần các chung cư bình dân và các khu biệt thự mô tề. Tôi đọc đâu đó có vị tu sĩ gọi hẳn Kệ là thơ (Phật giáo), qua lập luận bạn các đang theo dõi có thể hiểu ý tôi: Kệ nhà Phật quyết không phải là Thơ theo định nghĩa của từ điển và trong lòng thành tín của tín đồ. Và không cần xen vào điạ vị “thế gian” của thơ làm chi, dù ngầm tỏ ra Đạo muốn đi với Đời. Ngài A Nan trí thức uyên bác, ngôn ngữ biện tài đến con kiến trong hang cũng phải bò ra (nghe kinh), được Đức Phật yêu thương, đồng tu ái mộ nhưng lần mò nửa vạn trang Kinh Bộ (Nikāya) không thấy một dòng nào bậc Đại Sư đánh giá phạm hạnh hay đạt thánh quả cao hơn đức Ca Diếp, cụ tì kheo già “khó tính” – không được quý tì kheo ni ái mộ cho lắm – và ngôn ngữ nói theo đời thường có phần chậm lụt đến độ thường xuyên từ chối thuyết pháp với đám đông dù đích thân Đức Phật gợi ý. Sự thực ngược lại, ai theo dõi kinh sách đều rõ Đức Phật – và cả ngài A Nan – xem Ngài Ca Diếp là bậc Thánh và riêng ngài A Nan xem là bậc Thầy! Chính cụ tì kheo khó tính – từng có những lời phê phán đặc biệt nặng nề với hậu bối A Nan (ví dụ do ngài A Nan không nghiêm khắc đủ với đệ tử đến độ khi gặp cảnh khất thực khó khăn rủ nhau hoàn tục sạch và bất chấp tuổi tác mà ngài A Nan tự mô tả là “đầu tôi đã hai thứ tóc”, đức Ca Diếp ‘nỡ” gọi sư đệ danh tiếng lẫy lừng đất Thiên Trúc – thực tế còn hơn hẳn tiếng tăm của đại huynh khó tính – là: “Nè, gã thiếu niên [tương đương “chàng trai” và “young boy”/”young guy”] kia ơi!” và tiếp theo là một tràng góp ý – theo cách nghĩ thế gian – hình như “trên mức thẳng thắn”) lại là người đã thay Đức Thầy dìu dắt sư đệ bằng nhiều phương tiện, và trước khi nhập Niết Bàn uỷ nhiệm vai trò trông nom Thánh Chúng mà Ngài đảm nhận sau khi Đấng Giáo Chủ và hai ngài Xá lợi Phất và Mục Kiền Liên nối nhau nhập diệt.
Ở một bài kinh khác cho thấy Đức Phật đã gạt thẳng đề nghị của hai anh em tì kheo vốn dòng nhạc sĩ, đề nghị cho họ thêm “ca từ” hấp dẫn và “phổ nhạc” các đoạn kinh. Không sát với ý chính lắm, nhưng tiện nói thêm Ngài cũng một lần quở trách một đề nghị của một đệ tử “nhiều chuyện” đề xuất chọn độc một “thánh ngữ” tụng chép Kinh Phật, cấm sao chép qua bất cứ ngôn ngữ nào. Qua đó ít ra cũng lờ mờ thấy hình như không thể bảo đảm hễ là tì kheo ắt không sản xuất ra ý bất lợi cho Chánh Pháp.
Để kết luận đoạn văn dài dòng có khi quá mức cần thiết – một nhược điểm chẳng hay ho chi của bản thân, tới độ phải trương cái bảng “tản mạn” để phòng thân (vì ai mất thì giờ đôi co với một tên tán nhảm!) – xin các bạn rảnh và có thiện ý tìm hiểu hỏi qua các tu sĩ Phật giáo chuyện Đức Phật đã chỉ trích việc tụng kinh ngân nga của một vị tỳ kheo (kính Ngài tha thứ cho, xin ví với giọng sướt mướt của Chế Linh nhờ bà con ngán ngẩm mấy chục năm liền nghe hùng ca “Bác cùng chúng cháu hành quân”, hiểu là “vừa hành quân tấn công thực dân vừa thỉnh thoảng tấn công nhầm đồng bào vô tội”, nên hình ảnh người anh em Champa bỗng phục sinh thành idol “nhạc sến” y như thời xửa thời xưa) và nội dung cùng các bậc thiền Ngài giảng dạy rõ và hoàn toàn minh bạch, đến ngôn ngữ còn phải quên nói chi vụ loay hoay đánh vật với vần điệu bằng trắc lỉnh kỉnh.
Tới đây đã có thể đặt hai câu hỏi – có câu hỏi vì có thắc mắc, chứ không phải để tranh luận. Thứ nhất, vì sao khi nói tới Thơ Thiền chỉ chủ yếu nhắc tới đời Lý Trần. Do vị trí của Phật giáo nổi bật trong thời kỳ này, kèm phần đóng góp văn hoá đặc sắc do cơ duyên “thiên thời địa lợi” của các nhà sư; vậy thì có trước tác cùng dạng, cùng dòng và nối dòng của các thời sau – như đời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn, triều Nguyễn – hay không, hoặc không có thành tựu đáng chú ý, hoặc đơn giản bị giới nghiên cứu bỏ sót. Thứ hai, chỉ vì không có khái niệm “dòng” thơ thiền trong văn học sử Việt, mà chỉ có hiện tượng các nhà sư trước tác mạnh vào thời kỳ Phật giáo hưng thịnh – đời Lý Trần. Khuôn khổ bài tản mạn có giới hạn mà tác giả không xem là đề tài đi sâu của mình nên tạm bỏ lửng.
Cái ý chủ quan mà cũng “tạm” phát triển tiếp là vấn đề hoá ra còn để ngỏ cho những đề xuất. Chỉ tới đây người viết đã lợi dụng sự kiên nhẫn của bạn đọc mà chủ quan cho rằng cứ thử đi theo hướng là chỉ có dạng “kệ” của các sư sãi – đúng truyền thống Phật Giáo – mà riêng dấu ấn thời Lý Trần không thể phủ nhận. Việc tán thán họ với tư cách những nhà thơ (bất đắc dĩ) là của người đời sau do nhu cầu thế đạo (không hàm ý tích cực hay tiêu cực), như tôi phân tích qua ở trên. Và không khó để đoán ra không phải do thay đổi xu hướng sáng tạo hay vấn đề thi pháp đặc thù gì mà dòng “văn thiền” – tạm gọi như thế – thời Lý Trần dừng đột ngột vào triều đại Hậu Lê mà chỉ do mùa chính trị “thiên thời địa lợi” của Phật giáo đã qua, kèm theo mọi thứ liên quan như tư tưởng, cách sống, thông tin kể cả “trước tác” của họ khó phổ biến và rõ nhất là các triều vua Lê, kể cả vua Lê Thánh Tông nổi tiếng hay chữ và sính thơ phú, đều hướng cảm hứng dựng triều đại trên cơ sở tư tưởng Khổng giáo, dù mùi pháp trị bắt đầu lấn chủ thuyết “nhân trị” của đức Khổng Phu Tử. Cần nhớ Luật Hồng Đức ra đời thời Lê Thánh Tông và ngài là vị vua tay thơ tay kiếm, thứ kiếm trấn áp quân Champa không thiếu hiếu chiến một thời và cũng là thứ vũ khí áp dụng cho cả quần thần dại dột can gián đức vua không đúng lúc đúng nơi, dù đó là tay chân móng vuốt của chính mình và khi vua tôi đang trên đất chiến địa quê người hay chính là thầy cũ thuở hàn vi, ơn nghĩa sâu nặng. Tóm lại, không dám thiếu tôn kính công trạng và hình ảnh vị quân vương bề thế bậc nhất trong lịch sử Việt, nhưng chắc chắn sự cai trị và ứng xử tôi vừa mạo muội nhắc qua đã thiếu khí vị khoan hoà của Phật giáo. Và thế đó, lịch sử là lịch sử, vốn không quen màu mè lịch sự, không nương tay cho kẻ yếu tim!
https://vandoanviet.blogspot.com/2017/10/tan-man-van-hoa-van-nghe-va-van-gung-10.html#more

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Kazuo Ishiguro nhận giải Nobel Văn học 2017


Alexandra Alter  Dan Bilefsky, The New York Times ngày 5/10/2017
Bản dịch của Văn Việt
clip_image002
Kazuo Ishiguro in 2015. Andrew Testa for The New York Times
Tiểu thuyết gia viết bằng tiếng Anh Kazuo Ishiguro, nổi tiếng vì lối văn thanh đạm nhưng âm vang cảm xúc và lật đổ một cách sáng tạo các thể loại văn chương.
clip_image004

Ông Ishiguro, 62 tuổi, lừng danh với các tiểu thuyết “Những gì còn lại của ngày”, [“The Remains of the Day”] viết về người quản gia của một nhà quý tộc Anh trong những năm trước Thế chiến 2, và “Đừng bao giờ để em/anh đi” [“Never Let Me Go”] một chuyện tình buồn man mác nhưng mang chất giả tưởng tồi tệ (dystopian) có bối cảnh là một trường học nội trú của Anh. Ông bị ám ảnh trở lại những đề tài như thế trong các tiểu thuyết thường viết theo ngôi thứ nhất, trong đó có sự sai lạc của ký ức, tính khả tử, và bản chất có nhiều lỗ hổng của thời gian.
“Trộn lẫn Jane Austen và Franz Kafka, ta sẽ có Kazuo Ishiguro trong một bản tóm tắt, nhưng phải thêm một chút Marcel Proust vào đó,” Sara Danius, thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển nói. “Rồi quấy lên, nhưng không nhiều quá, thế là có các văn phẩm của ông này”.
Cô Danius mô tả Ishiguro như “một nhà văn hết sức nguyên vẹn”. “Ông không nhìn sang bên cạnh”. “Ông đã phát triển một vũ trụ thẩm mỹ hoàn toàn của riêng mình”.
Sinh năm 1954 ở Nagasaki (Nhật) nhưng học hành ở Anh, Kazuo Ishiguro nổi tiếng vì lối văn trữ tình, cảm nhận sắc bén về nơi chốn và sự phân tích thấu đáo hệ thống giai tầng của Anh.
Ishigiro là con một nhà hải dương học, sinh ở Nhật nhưng di cư sang Anh (hạt Surrey) từ lúc lên 5, và theo học trường tiểu học Woking [Woking Grammar School], ngôi trường mà ông nói với báo The Guardian “có thể là cơ may cuối cùng để có một hương vị của xã hội Anh đã quá vãng, đã phai nhạt rất nhanh”.
Trả lời phỏng vấn tờ The Times hai năm trước, Ishiguro nói rằng ông đã khám phá ra văn học khi còn là cậu bé đọc các câu chuyện của Sherlock Holmes trong thư viện địa phương. “Tôi lên 9 hay 10 gì đó, và không chỉ bị ám ảnh khi đọc Holmes và Watson, tôi còn bắt đầu cư xử giống họ… Mọi người lúc ấy coi việc này chẳng ra gì vì tôi là người Nhật”.
Sau khi học tiếng Anh và triết học ở University of Kent, Canterbury, ông để ra một năm viết truyện, và cuối cùng giành được bằng Master về ngành Viết văn với sự giảng dạy của các nhà văn như Malcolm Bardbury và Angela Carter. Ông cũng viết lời cho ca sĩ nhạc jazz người Mỹ Stacey Kent.
Ishiguro nổi bật khá sớm trong giới văn chương. Năm 1983, ông lọt vào danh sách các nhà văn trẻ hay nhất của Anh [Granta’s best of young British writers], cùng với những tên tuổi như Martin Amis, Ian McEwan và Salman Rushdie.
Hiểu biết sâu về những quy ước và màu mè xã hội của xứ sở nuôi dưỡng mình đã được chuyển tải trong cuốn tiểu thuyết thứ ba “Những gì còn lại của ngày”, đoạt giải Booker uy danh, sau đó trở thành bất tử nhờ bộ phim cùng tên với ngôi sao điện ảnh Anthony Hopkins. Ishiguro nói ông viết cuốn sách trên trong bốn tuần lễ, ở tuổi 32.
Mô tả quá trình viết sách, gọi nó là “the Crash” (Miếng vải thô), ông viết trong tờ The Guardian: “Suốt trong the Crash, tôi viết thoải mái, không quan tâm tới văn phong hay nếu như những gì viết buổi chiều lại ngược với cái đã viết buổi sáng. Ưu tiên là chỉ đơn giản để cho các ý tưởng đâm chồi và mọc lên. Những câu dễ sợ, đối thoại gớm guốc, các cảnh không dẫn tới đâu – tôi để cho chúng cứ như thế và rẽ sóng mà đi”.
Cuốn tiểu thuyết đầu tiên, “Cảnh đồi xanh xám” [A Pale View of Hills], năm 1982, viết về một phụ nữ Nhật trung tuổi sống ở Anh, và sau đó là “Một họa sĩ của thế giới trôi nổi” [An Artist of the Floating World] kể chuyện một họa sĩ già người Nhật sau Thế chiến 2. Khi viết “The Remains of the Day,” Ishiguro có lo lắng là mình tự lặp lại khi lại viết một nhân vật ở ngôi thứ nhất qua lời người kể chuyện không đáng tin cậy, nhưng các nhà phê bình thấy cuốn sách là một sự khởi đầu hoàn toàn mới.
Ishiguro đã chơi với các thể loại như truyện trinh thám, truyện viễn tây, khoa học giả tưởng và phóng tưởng. Các nhà phê bình thấy “Kẻ không được an ủi” [The Unconsoled] là một tiểu thuyết siêu thực, giống như giấc mơ, khi nó ra đời năm 1995. “Khi chúng tôi/chúng ta là trẻ mồ côi” [When We Were Orphans] được coi là tiểu thuyết trinh thám. Tiểu thuyết “Never Let Me Go” năm 2005 được coi như một bước nhảy vọt khác về văn phong, vào loại khoa học giả tưởng vị lai, mặc dù bối cảnh của nó là thập niên 1990.
Tiểu thuyết mới nhất của ông, “Người khổng lồ bị chôn” [The Buried Giant], lại lần nữa thách thức mọi trông đợi. Một câu chuyện phóng tưởng có bối cảnh nước Anh thời Vua Arthur, tập trung nói về hai ông bà già Axl and Beatrice bỏ làng đi tìm đứa con trai mất tích và gặp một hiệp sĩ già. Dù là chuyện phóng tưởng, có các loại khổng lồ ăn thịt người và một con rồng, nhưng đó cũng là chuyện ngụ ngôn khai thác nhiều đề tài mà Ishiguro đã bận tâm suốt đời, trong đó có bản chất mong manh của ký ức cá nhân và tập thể.
Chọn Ishiguro, Viện Hàn lâm Thụy Điển, vốn đã bị phê phán vì sử dụng giải Nobel Văn học để tuyên ngôn chính trị, dường như tập chú vào giá trị thuần túy văn chương.