Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018

Một vài điều cần minh xác với Ông Mường Mán (Trần văn Quảng) từ bài văn “Ký Ức Xanh” trong tập san Quán Văn 54 số tháng 4 năm 2018


Phần 1: Bài viết của Từ Hoài Tấn
Quán Văn số 54 tháng 4 năm 2018 chủ đề “Hình sương bóng khói” trong đó phần “Chân dung văn học : nhà văn Mường Mán” từ trang 106 đến 204.
Trang 117 có đăng bài “Ký Ức Xanh” của ông Mường Mán (từ đây xin viết là MM), viết về thời trai trẻ những năm 60 của thế kỷ trước và hoạt động bút nhóm thi văn đoàn ở Thừa Thiên Huế.
Chúng tôi cần làm rõ lại và nói cho đúng với sự thật vì những nhân vật chính đề cập trong bài này đều còn sống và cùng ngụ cư tại TP Hồ Chí Minh hiện nay,
Không hiểu ông MM ngụy tạo nhân vật và các sự kiện trong bài với ý đồ gì. Tốt hay xấu chúng tôi không quan tâm nhưng đã là ký ức hay quá khứ có liên quan người khác thì cần viết cho chính xác và tôn trọng sự thật vì đây không phải là tiểu thuyết hư cấu hay một truyện ngắn sáng tác.
Những việc cần làm rõ và nói lại cho đúng như sau:
1.      Sinh hoạt bút nhóm thi văn đoàn thời gian nói trên là có thật, xảy ra ở Huế những năm 1960. Một vài thi văn đoàn bút nhóm tương đối nổi do có những thành viên có bài đăng ở các báo Sài Gòn dạo ấy.
2.      Bút nhóm Cuồng Biển là có thưc. Sinh hoạt thơ văn của nhóm khỏi phát từ làng An Truyền (tên gọi khác: Làng Chuồn) là quê của Ông MM và tôi : Từ Hoài Tấn (ngoài là đồng hương tôi và ông MM có liên quan họ hàng bên ngoại là họ Đoàn ở làng) thuộc huyên Phú Vang Tỉnh Thừa Thiên. Không có gì phải dấu giếm cả.
3.      Các thành viên sáng lập đúng là “bút nhóm gồm ba mống” như trong bài và tên gọi là Cuồng Biển do MM đưa ra và cả nhóm đồng ý.
4.      Các thành viên hiện còn sống tại Sài Gòn, ngoài MM là Nguyễn Miên Thảo (rất tiếc bài văn không đề cập) và tôi là Từ Hoài Tấn. Không hề có nhân vật nữ là Trần thị Sim hay Sim Trần nào cả (có chăng là bút hiệu Trần thị Gioan của MM lúc đăng bài thơ đầu tiên trên bán nguyệt san Văn của anh Trần Phong Giao hồi đó).
5.      Không rõ MM có ý gì khi thay đổi giới tính và ngụy tạo tên Sim Trần cho tôi. Bỗng nhiên tôi trở thành con gái không hiểu vì cớ gì? Tôi cho rằng điều này đã xúc phạm tới nhân cách của tôi.“ba mống” không có ai là nữ cả ! Tôi cũng không là sếp nhóm. Chỉ đúng là “tỏ ra là người có trách nhiệm, chịu khó vận động các bạn văn bạn thơ trong làng ngoài xóm đóng góp bài vở cho Cuồng Biển, chịu khó thức đêm để hoàn thành các số tạp chí của nhóm bằng cách chép tay, đóng thành tập …” và phổ biến bằng cách chuyền tay nhau đọc chứ chẳng “lo lót” ai cả.  Những người cộng tác lúc đó tôi còn nhớ được vài người như anh Hồ Hữu Kha (bút hiệu của anh Hồ văn Kham con bác ruột tôi ở làng, đã mât hồi Mậu Thân Huế 1968) là cây bút chuyên dịch văn chương nước ngoài – tôi có viết đăng 1 truyện dịch của nhà văn John Steinbeck …, như chị Trần thị Lan (bút danh Lan Trần) người bà con của tôi cùng làng, ở Đập Đá, làm thơ.
6.      Tất cả mọi việc của tập san Cuồng Biển do một tay tôi làm, viết tay, trình bày v..v.., MM đưa bài và có vẽ một vài minh họa. Nguyễn Miên Thảo cũng vậy, chỉ đóng góp bài vở. Thỉnh thoảng cả ba tên cùng đi giao lưu gặp gỡ với các bút nhóm TVĐ khác ở Huế, gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi. Thi văn Đoàn “Mây Ngàn” của Trần Dzạ Lữ cũng hoạt động trong thời kỳ này, cũng có tập san viết tay, đóng đô ở thôn Ngọc Anh, có qua lại với Cuồng Biển.
7.      Một chi tiết đúng là tôi lúc đó học ở trường Bồ Đề Hữu Ngạn, gần trường Nguyễn Tri Phương của MM (…Năm hôm sau Sim đến trước cổng trường Nguyễn Tri Phương chờ tôi. Từ trường Bồ Đề của nó sang trường tôi gần xịch, lại thuộc lòng thời khóa biểu của nhau…)  nhưng không hề có nhưng tình tiết như bài văn MM viết.
Chúng tôi đã không còn qua lại với MM từ nhiều năm nay, nhưng như thế không phải để MM ngụy tạo quá khứ, phủ nhận sự thật cho mục đích riêng nào đó.
Thời trai trẻ của mỗi người luôn đẹp đẽ, như thời còn đi học cắp sách đến trường. Làng tôi cách thành phố Huế gần 10 cây số đi học bằng xe đạp trên đường rải đá lởm chởm, những mùa mưa bão lụt lội đến trường mang tơi đội nón che không kín ướt sũng, nhưng không thể và không bao giờ quên được những năm tháng ấy.
Nếu “văn chương là mối tình đầu của tôi, Cuồng Biển là vuông cỏ hẹn thứ nhất, nơi ấy đã cho tôi những rung động câu cú, chữ nghĩa, vần điệu, ý tưởng, thi tứ …đầu đời thực nhất, đẹp nhất và khó nguôi quên nhất .” như ông MM viết trong “Ký ức xanh” thì MM cũng nên tôn trọng và giữ sự thật cùa mối tình đầu ấy.
Cũng như trong lời NGÕ ở trang 108, lời dạy của người mẹ ở làng quê cũ “không nên con à, rằng con dám mang chữ nghĩa thánh hiền đi bán ? Tội chết ! Bỏ đi đừng viết nữa, lo học hành thì tốt hơn”
Sự dối trá, ngụy tạo sự thật, phủ nhận quá khứ và tình bạn của thời thơ trẻ ấy là tội lỗi cho bất cứ ai.

Phần 2: Bài viết của Nguyễn Miên Thảo
“Ngày xưa mẹ tôi là gà
Sinh con đẻ trứng thiệt thà siêng năng
Hôm kia lên núi nhìn trăng
Cha tôi bủa lưới mới chăn được người
Cả hai tình tự một hồi
Đẻ tôi với chin mặt trời hiển linh
Bây giờ đất mới khai sinh
Và nhân loại mới tượng hình trong em”
Đây là bài thơ của ông Mường Mán đăng trong Cuồng Biền ký tên Trần thị Gioan. Sở dĩ tôi nhắc lại bài thơ này là để nhớ về … một kỷ niệm của một thời Cuồng Biển với những “ký ức xanh” như nhà thơ Từ Hoài Tấn nhắc lại một cách chính xác ở phần trên. Rất tiếc ký ức xanh đã trở thành vàng úa qua bài ghi chép của ông Mường Mán.
Nhắc lại “ký ức xanh”  tôi lại nhớ da diết những ngày cuối tuần “ba mống” đạp xe đạp trên con đường đá lởm chởm cả gần 10 cây số về nghỉ cuối tuần ở làng Chuồn, làng của ông Mường Mán và nhà thơ Từ Hoài Tấn (hai người hình như có bà con bạn dì gì đó). Chúng tôi được những bữa cơm ngon, được ở trong căn nhà ấm cúng, được sự chăm sóc thương yêu của một người mẹ hiền lành. Có tuần ở đến chiều chủ nhật, có tuần đến sang thứ hai mới về phố.
Tôi cũng nhắc thêm cho nhà thơ Từ Hoài Tấn nhớ tờ Cuồng Biển sau đó đổi tên Mặt Trời Đêm được 1, 2 số gì đó và cuối cùng đổi tên là Nội Dung vừa là nhà xuất bản. Lúc này nhóm không còn “ba mống” mà phát triển thêm như Thái Ngọc San, Ngụy Ngữ, Lê Ngọc Thuận (Nguyệt Nhật), Hồ Trọng Thuyên, Phạm Trần Nguyên (Phạm Tấn Hầu), Đoàn Phạm Túy Linh, Huỳnh Trường Cung …Có nhờ tạp chí Văn đăng quảng cáo (Văn số 110 ngày 15/7/1968)
Trong bài “ký ức xanh”  của ông Mường Mán chỉ còn lại đúng danh xưng hai chữ “CUỒNG BIỀN” nơi ông cho là “ vuông cỏ hẹn thứ nhất, nơi ấy đã cho tôi những rung động câu cú, chữ nghĩa, vần điệu, ý tưởng, thi tứ …đầu đời thực nhất, đẹp nhất và khó nguôi quên nhất .” Và ông lên giọng: “không ít anh chị em cầm bút sau này khi đã thành danh có tên tuổi trên văn đàn có người đã cố quên nó đi, riêng tôi thì luôn trân trọng, dành cho cái chiếu văn đầu tiên đã ghi dấu những bước chập chững ngây dại của mình một góc thật xanh trong ký ức.”
Tiếc rằng người chăm sóc, có công lao nhất ở tờ Cuồng Biển lại không hề được nhắc đến là nhà thơ Từ Hoài Tấn.
Đúng ra thì không nên có bài viết này vì mấy lẽ:
-         Ông Mường Mán là “nhà văn lớn”, có số má, là hội viên Hội nhà văn Việt Nam; Dính đến ông thì phiền lắm vì mang tiếng “thấy kẻ sang bắt quàng làm họ”
-         Hai là nhắc đến ông Mường Mán thì cực chẳng đã vì thật sự chả đáng quan tâm.
Tôi viết những dòng này là vì bạn tôi, nhà thơ Từ Hoài Tấn, và mong không phải nhắc lại việc này một lần nào nữa.

Phần 3: Viết chung
1.      Bài viết này không có mục đích vinh danh hay mưu cầu tên tuổi bất cứ cá nhân nào liên quan. Đó chỉ là sự thật của những tháng năm đẹp nhất đời người, của một thời hoa niên đáng nhớ.
2.      Bài viết này được công bố trên các phương tiện thông tin kể cả online.
3.      Bài viết này như là lần cuối cùng nhắc đến tên ông Mường Mán và những vụ việc liên quan.
4.      Bài viết này cũng sẽ được gởi đến ông Nguyên Minh, chủ biên tập san Quán Văn đề nghị cho đăng vào số gần nhất để độc giả của Quán Văn hiểu biết thêm về sự thật về bài văn “ký ức xanh” của ông Mường Mán trên tập san Quán Văn số 54 tháng 4 năm 2018.

Tháng 5 năm 2018
TỪ HOÀI TẤN – NGUYỄN MIÊN THẢO
Ghi chú: Những chữ in nghiêng là của ông Mường Mán trích trong bài “Ký ức xanh”

Ảnh chụp từ Tạp chí Văn số 110 ngày 15/7/1968


Thứ Hai, 30 tháng 4, 2018

30 tháng 4 năm 2018 - đọc vài bài thơ của minh


THÁNG TƯ, SÀI GÒN NẮNG



tháng tư, nhìn thấy những cơn mưa giông phía trước
nhưng Sài Gòn vẫn nắng miệt mài
ngày khởi đi bằng sự trông ngóng người khách lạ trong cơn mơ đêm qua
bằng một cuộc gặp gỡ
nơi quán cà phê của những gã thi sĩ nửa mùa
điên đảo bất tận cùng mối sầu hư ảo
cô chủ mang cái tên của một loại rượu rhum
oằn oãi với những ngày tháng trắng
những gã đàn ông đã mang niềm vui đi đâu
tưởng như cốc rượu nhạt đắng đã quá hạn

mỗi sáng tôi ngồi trên chiếc ghế gỗ này
cô phục vụ người K’ho đem ly cà phê đến
nụ cười sáng rừng cao nguyên
Sài Gòn lóa cùng ánh nắng
tháng tư, chiếc quạt treo kêu réo tội nghiệp
người đàn ông ngồi
ca cẩm về những ngày tháng cũ
giọng rè như cây đàn chùng dây
tháng tư, Sài Gòn của những ngày nhớ không hết

có thể ngày mai cô chủ quán mang tên rượu rhum rời xa Sài Gòn
theo một anh chàng lạ lẫm nào đó ở bên kia đại dương
không còn giữ cái tên rượu rhum
tôi và chúng ta không còn ngồi ở đây
với những mùa nắng tháng tư Sài Gòn
bởi vì cơn giông thực sự đã đến
cơn giông thực
sẽ đến

(Kỷ niệm một ngày tháng tư khi còn ỏ Sài Gòn nghiêng ngả 

quán Sống Chậm của cô Lynh Bacardi Cư xá Kiến Thiết năm 

nào đó…)




MỘT BUỔI CHIỀU



buổi chiều không phải buổi chiều

chỉ là buổi chiều không phải

buổi chiều

giọng giá băng

có một cành hoa

nơi cửa sổ ngôi nhà đối diện

hẻm sâu

buồi chiều không có buổi chiều

chỉ là buổi chiều

không thực


bởi vì đâu

ta bỗng nhiên mất tích

trong buổi chiều

không thực




BÀI TƯỞNG NIỆM KỀN KỀN



Những bãi đáp của chiến tranh không còn là nơi dung thân 

của lũ kền kền ngày đêm túc trực

Chiến tranh đã lùi sâu

Nhưng không phải chấm dứt

Đây là một cuộc chiến khác

Sẽ không có súng đạn

Thay vào những thứ khác

Cũng vẫn là những phương tiện của tội ác

Và như thế là không thể chấm dứt được

Không bao giớ chấm dứt được những cuộc chiến

Khi còn loài người

Không thể có bài tưởng niệm kền kền

Lũ kền kền lúc nào cũng có việc để làm

Lúc nào cũng nhiều thức ăn dành cho chúng

Chỉ có những kẻ mơ mộng và huyền hoặc mình

Bằng bài tưởng niệm kền kền tưởng tượng


Cho nên

Và vì thế

Không có bài tưởng niệm nào

Trong nghĩa địa đen

Kền kền vạn tuế





NGÀY THƯỜNG



ngày thường chắc chắn không phải là

ngày khác thường

nhưng ngày thường

cũng chỉ là ngày bình thường

bởi ngày thường

thật ra khó kiếm

là ngày khác thường



ngày thường

niềm mơ ước của mọi người

một ngày bỉnh thường

mọi việc đều bình thường

như cuộc sống



vì năm nay

khí hậu không bình thường

mưa nắng bão tố động đất nhiều lên ở các lục địa

con người không được bình thường

đối mặt với sự khổ ải khác thường


như hôm nay

tôi không có lấy một ngày

thật bình thường như cuộc sống này





VỀ THƠ TỰ DO



Ông TP nói tôi làm “thơ tự do … rất tự do”
Cám ơn ông tôi chỉ nhận vế đầu
Từ chối vế sau
Vì tôi làm thơ tự do 
(tạm gọi là thơ tự do)
Nhưng không phải tự do
Vì người bạn của tôi
Là anh NQT
Nói rằng tự do đang thiếu máu
Và thơ của tôi
Là thơ tư do thiếu máu.



TỪ HOÀI TẤN


Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2018

Lớp học chữ Nho trong thành phố

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Ở Đại học Văn khoa Sài Gòn, các sinh viên Ban Triết học Tây phương đều phải học chứng chỉ Lịch sử triết học Đông phương, và ngược lại. Từ năm thứ nhất, nhà trường xếp cho chúng tôi học một số giờ Hán văn, nhưng thời lượng quá ít, không đủ căn bản để đọc câu đối ở đền chùa, nói chi đến đọc tài liệu tham khảo. Tôi mua bộ sách Tự học chữ Nho của Đào Mộng Nam, nhưng không thật chí thú và tập trung nên chẳng có kết quả mấy. Kể điều này với một người bạn học lớn tuổi, tôi nhận được lời khuyên: nên đến xin học một lớp dạy chữ Nho miễn phí ở miệt Phú Nhuận.
Tôi ngạc nhiên quá, ở Sài Gòn mà lại có lớp học chữ Nho miễn phí hay sao? Theo lời dặn của người bạn, một buổi chiều cuối tuần, từ nhà trọ gần chùa Giác Ngạn, tôi đi bộ về phía cổng xe lửa số 6, rẽ trái theo đường Thiệu Trị có tòa soạn báo Thiếu Nhi, đi thêm một một quãng nữa là thấy chùa Quang Minh: lớp học ở phía đối diện chùa, gần bên đường sắt.
Đó là một ngôi nhà gạch nhỏ, cổng và hàng hiên bằng gỗ nâu, ánh sáng ngoài trời chiếu vào mát dịu. Lối vào nhà giữa hai hàng chè tàu cắt tỉa gọn gàng, qua một khoảng sân trồng hoa giấy và hoa mai. Cạnh cửa lớp đặt một bàn nước với trà nóng pha sẵn ủ trong bình để thầy trò thưởng thức trước giờ học hay khi ra chơi. Thầy giáo sẵn lòng nhận học trò mới, chỉ hỏi thăm vài câu về gia cảnh. Thầy tên Lê Xuân Mai, quê ở Kim Long - Huế, dáng thanh cao, đĩnh đạc, thường mặc bộ quần áo tràng nâu như một cư sĩ. Bạn tôi nói, thầy là anh rể họa sĩ Bửu Chỉ, người nổi tiếng với những bức tranh phản chiến, năm đó đang bị bắt giam trong nhà lao Chí Hòa.
Vốn là thầy giáo dạy toán và biên soạn sách giáo khoa, đồng thời tham gia dịch sách Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, thầy Mai có phương pháp giảng bài rất rõ ràng, khúc chiết, dễ hiểu, dễ nhớ. Nhiều chữ chỉ cần nghe thầy giải thích một lần là thuộc. Chẳng hạn chữ An là chữ Nữ nằm dưới bộ Miên  hình giống như mái nhà: người con gái ở dưới mái nhà thì bình yên. Chữ Nam gồm bộ Điền hội ý với bộ Lực , ý nói người đàn ông mạnh mẽ, giỏi giang trong việc đồng áng. Chữ Hảo gồm chữ Nữ và chữ Tử : người phụ nữ bồng con là điều tốt lành. Chữ Tínlà niềm tin/ tin tưởng, gồm có chữ Nhân là người, chữ Ngôn  là lời nói: người có chữ tín luôn giữ lời hứa, không nói một đằng làm một nẻo, không hứa rồi lật lọng. Chữ Xuân gồm chữ Nhật (mặt trời) , chữ Thảo (cây cỏ) , chữ Truân (tượng hình cây cỏ mọc lên) : đó là mùa vạn vật sinh sôi. Đến chữ Nhàn , có chữ Nguyệt  dưới chữ Môn thầy nhắc câu thơ của Nguyễn Công Trứ mà chúng tôi thuộc từ thời trung học: Thị tại môn tiền náo/ Nguyệt lai môn hạ nhàn. Có lần thầy nói đùa về chữ Gian  (gian dối) gồm có ba chữ Nữ  khiến các chị lắc đầu phản đối.
Thầy thường liên hệ với Kinh Dịch, với thuật bói toán (bốc phệ) nên bài giảng trở nên sinh động. Chữ thầy rất đẹp, chúng tôi nắn nót viết từng nét theo đúng thứ tự; lớp ít học viên nên thầy đến bàn hướng dẫn kỹ lưỡng cho từng người. Dạy học như một nguồn vui của thầy, nguồn vui đó truyền đến chúng tôi, nhờ đó giờ học trôi qua thật nhẹ nhàng.
Được ba tháng, thấy học trò có tiến bộ, thầy Mai bảo chúng tôi đến một hiệu sách trên Chợ Lớn mua bộ Tứ thư để thầy bắt đầu dạy những dòng đầu tiên trong sách Đại học: “Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện…”. Không hiểu sao, lúc đó cả thầy và chúng tôi đều thích gọi chữ Nho hơn là chữ Hán. Dường như nói “chữ Nho” thì âm thanh và ý nghĩa đều giàu chất văn hóa hơn. Mặc dù không mấy tin vào thuyết Việt Nho của thầy Kim Định, nhưng trong tâm trí tôi, hai tiếng “chữ Nho” gợi lên một tình cảm gần gũi với thánh hiền hơn là “chữ Hán”.
Lớp học chỉ chừng 20 người, hầu hết là học sinh, sinh viên, ai cũng học hành chăm chỉ, đúng giờ, mọi người thiện cảm với nhau nhưng giao tiếp có phần lặng lẽ. Hai người xuất sắc và viết chữ đẹp nhất lớp là hai nữ sinh viên đã học Ban Văn chương Việt Nam của Đại học Văn khoa rồi chuyển sang Ban Việt Hán Đại học Sư phạm, còn một năm nữa sẽ ra trường làm giáo sư trung học đệ nhị cấp. Sinh viên Sư phạm thời đó giỏi lắm, tỉ lệ trúng tuyển rất ít, đậu vào là có học bổng cao gần bằng lương công chức tập sự. Hai chị chở nhau đến lớp trên chiếc xe Honda PC, nhìn hai khuôn mặt phúc hậu biết đó là người yêu nghề, mai đây sẽ thành hai nhà giáo mẫu mực.
Gần Tết, chúng tôi bàn với nhau tổ chức tiệc tất niên để tạ ơn thầy và thêm tình liên kết cho lớp học. Cả lớp cùng đóng góp, nhưng thầy cô chỉ nhận một số tiền tượng trưng; thức ăn gia đình để dành cho ngày Tết được bày thành món mà chúng tôi không phải chuẩn bị gì nhiều. Sống ở quê từ nhỏ, vào Sài Gòn mới được vài năm, chưa bao giờ tôi tham dự một bữa tất niên đầm ấm như vậy. Cả lớp không ai vắng mặt, những học viên xa nhà cũng nán lại chưa về quê. Thầy Mai mời thêm mấy thân hữu đến dự, trong đó có một vị khách đặc biệt là nhà văn Thế Nguyên, chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Làm Dân và tạp chí Trình Bầy, hai tờ báo bị chính quyền tịch thu liên tục đến mức phải đình bản vì sắc luật 007. Thế Nguyên năm đó mới 33 tuổi mà trông dáng phong trần, khuôn mặt già trước tuổi. Tôi gặp ông lần đầu ba năm trước ở tòa soạn Trình Bầy khi đến gửi bài tùy bút đầu tay cho báo. Trong bữa tiệc, tôi được ngồi cạnh Thế Nguyên, lắng nghe câu chuyện của ông với thầy Mai và những người bạn lịch lãm của thầy.
Tính đến đầu năm đó (1975), Hiệp định Paris ký kết được hai năm nhưng chưa ráo mực đã bị vi phạm, súng vẫn nổ, thời cuộc chuyển biến như những lượn sóng ngầm, Sài Gòn chìm trong cơn sốt hầm hập truyền từ những tin chiến sự. Bàn tiệc của chúng tôi chẳng nói gì đến văn chương chữ nghĩa mà chỉ bàn chuyện thời thế. Ai cũng mong hòa bình mau đến để người Việt thôi bắn giết nhau. Biết tôi học Văn khoa, Thế Nguyên nói: “Lẽ ra Trường Văn khoa phải mở thêm phân khoa báo chí và điện ảnh. Triết học nên ít người học thôi, phải học làm báo mới thay đổi xã hội này được”. Vui miệng, ông nói tiếp: “Hòa bình về, tôi cũng sẽ đi học”. Thấy mọi người ngạc nhiên, ông giải thích: “Tôi sẽ học làm phim. Điện ảnh là nghệ thuật tác động sâu sắc và mạnh mẽ đến công chúng, điện ảnh ở mình còn non yếu quá. Cuốn phim đầu tay mà tôi muốn làm là câu chuyện dựa theo tác phẩm Nọc Nạn của Phúc Vân”.
Tác phẩm Nọc Nạn thì tôi vừa mới được biết nhờ thầy Nguyễn Văn Trung giới thiệu. Đó là cuốn truyện ký chân thực và cảm động về vụ án những người nông dân ở cánh đồng Nọc Nạn thuộc làng Phong Thạnh, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, dưới thời Pháp thuộc, do Biện Toại và Mười Chức cầm đầu, đã liều chết chống lại lũ cường hào câu kết với quan lại tham nhũng để bảo vệ mảnh đất của mình. Thế Nguyên trầm ngâm: “Bao đời nay người nông dân khổ trăm bề. Nạn tham nhũng như lóc thịt lóc xương đất nước này. Mong sao một mai hòa bình dân mình không còn bị cảnh cướp ruộng, cướp vườn và được hưởng cuộc sống công bằng, no ấm”.
Ôi, lớp học chữ thánh hiền bình lặng của chúng tôi, một buổi chiều cuối năm, bỗng xao động vì nỗi niềm trăn trở của Thế Nguyên. Chút vốn liếng chữ nghĩa ít ỏi của tôi như được câu nói từ gan ruột của ông lay tỉnh.
Hòa bình về, nhưng Thế Nguyên không có cơ hội làm bộ phim mà mình ấp ủ: ông từ trần khi mới 47 tuổi. Hoàn cảnh đổi thay, lớp học chữ Nho  không được duy trì, thầy Lê Xuân Mai nay cũng đã ra người thiên cổ. Những người bạn học chữ Nho của tôi giờ phân tán nơi đâu, có khi nào họ nhớ về lớp học đặc biệt ấy? Nếu có cơ duyên gặp lại nhau giữa Sài Gòn nay đã khác xưa, liệu ta có nhận ra người đã từng ngồi chung lớp suốt một năm tròn?

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Tác giả gởi cho viet-studies ngày 5-2-18

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

Trong giấc mơ tôi (kỳ 3)

Nguyễn Tuyết Lộc
*THỜI CỦA BIẾN CỐ
Ai cũng biết từ năm 1954 đến 1960 dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, Huế nói riêng cũng như cả miền Nam nói chung tưởng chừng như hưởng một nền hòa bình yên ả. Và ai cũng phải công nhận ông Diệm thành công rõ rệt trong những năm đầu. Để được như thế, thật ra ông không có một ngày được ngủ yên. Ông quyết lật đổ vua Bảo Đại – nói cách khác với sự góp ý và OK của người Mỹ, gạt bỏ mọi thành phần chống đối, trấn áp các phe đối lập, từ nhóm Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo cho đến các đảng Đại Việt, Quốc Dân đảng, xây dựng một bộ máy chính quyền có tổ chức chặt chẽ, lại có thêm ông em là Ngô Đình Nhu làm cố vấn, lập đảng Cần Lao để phục vụ chế độ. Nhiều trường đại học khác được thành lập ở các thành phố lớn, dân chúng nhìn chung đã tạm yên ổn làm ăn. Nhưng càng về sau, chính sách của ông ngày càng áp bức, không tin dùng ngay cả những người có công đưa ông về nước, chỗ nào cũng có mật vụ, nạn tham nhũng làm lũng đoạn cả guồng máy nhà nước dân sự cũng như quân sự. Nhất là chính sách kỳ thị tôn giáo rõ rệt. Ngày lễ Noel trường học được nghỉ, trong lúc ngày lễ Phật Đản bị huỷ bỏ trong học đường cũng như trong chính quyền và quân đội… Tôi nghe người ta nói mỗi người – ngay cả những bậc thông minh, kỳ tài – đều có một “điểm mù”. Có khi đây chính là “điểm mù” của toàn bộ thành viên họ Ngô Đình chăng?
Sự chống đối chính quyền gia đình trị họ Ngô cứ âm ỉ, ngày càng mạnh mẽ và căng thẳng hơn. Đặc biệt trong giai đoạn này là vụ tự tử của nhà cách mạng, nhà văn nổi tiếng Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam để lại nhiều bùi ngùi thương tiếc. Những thiện cảm mà quần chúng dành cho ông Ngô Đình Diệm trong những năm đầu ông vể nước giờ đã tiêu tan. Không thể chịu nổi tình trạng này, một số đơn vị quân đội đã nổi dậy chống đối.
Mở đầu là cuộc đảo chánh của Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông. Nguyễn Chánh Thi là Tư lệnh đầu tiên của Lữ đoàn Nhảy dù. Ông là sĩ quan rất được Tổng thống tin dùng, từng có lần tháp tùng Tổng thống viếng thăm Trung Hoa Dân Quốc trong chức vụ Tùy viên quân sự. Tuy vậy ông vẫn ngấm ngầm bất mãn với chính quyền mà ông cho là gia đình trị và tham nhũng. Tháng 11 năm 1960, ông cùng Trung tá Vương Văn Đông tham gia nhóm các sĩ quan mưu toan đảo chính, lật đổ Chính phủ, bao vây Dinh Độc Lập nhưng bị phản công, cả hai cướp máy bay đào thoát sang Campuchia tị nạn.

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Trong giấc mơ tôi (kỳ 2)

Nguyễn Tuyết Lộc
*SANG MÙA BIỂN ĐỘNG
Khi Ba tôi chuyển công tác từ Huế ra Lệ Thuỷ - Quảng Bình anh Hai khoảng 5, 6 tuổi, thường theo Mẹ đến chùa lễ Phật, chơi đùa múa hát với chú điệu Thích Trí Quang, Hoà thượng Thích Trí Quang bây giờ. Chú điệu Thích Trí Quang lớn hơn anh Hai hai tuổi theo tuổi khai sinh, còn theo tuổi âm lịch thì chú điệu tuổi Giáp Tí hơn anh Hai tuổi Ất Sửu chỉ một năm. Hoá ra đúng như người ta vẫn nói “trái đất tròn”, ai ngờ hai người “bạn” thân một thời thơ dại – Hoà thượng Thích Trí Quang và giáo sư Nguyễn Văn Hai, anh tôi – còn duyên kỳ ngộ về sau ở đất Huế đô lúc mỗi người đã có vị trí, thanh vọng riêng trong xã hội, hẳn có những ngần ngại tôi không dám hỏi.
Ông nội chúng tôi là thầu khoán xây dựng nên giàu có. Sau khi đỗ bằng Tiểu học Yếu lược, anh Hai được Ba Mẹ tôi cho vào Huế ở với ông nội tại Ô Hồ, khu vực sau lưng chùa Diệu Đế - Gia Hội - tiếp tục học lớp nhì nhất niên (Cours Moyen Première Année), nhì nhị niên (Cours Moyen Deuxième Année) và lớp nhất (Cours Supérieur) ở Khải Định.
Vì anh Hai là cháu đích tôn nên ông nội rất cưng chiều. Sáng anh đi bộ từ Ô Hồ đến Khải Định, chiều từ Khải Định về Ô Hồ, ăn trưa trong trường, ngày nghỉ thì rong chơi với bè bạn. Khi ông nội mất, do đau buồn anh không tập trung học hành và chỉ thi đậu bằng Tiểu học, viết tắt là CEPCI (Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise) mà lại rớt vào năm thứ nhất Cao đẳng Tiểu học. Ba Mẹ tôi phải đưa anh về Lệ Thuỷ, nhờ bạn là thầy Trần Tiếu Dư kèm cho anh học lại lớp nhất, nhờ vậy cuối năm anh thi đỗ vào Khải Định với thứ hạng rất cao, được cấp học bổng toàn phần vào nội trú. Từ đó anh hăng say học tập, không lêu lổng bạn bè nữa. Anh đọc đủ loại sách báo từ tiểu thuyết, thơ, kịch, cho đến khảo luận, lịch sử bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Có thứ anh nhịn tiêu dùng tiền Ba Mẹ tôi cho thêm hàng tháng để mua, có thứ do trao đổi với bạn bè hoặc đi mượn ở thư viện L'Accueil, hay chuyền tay nhau mà có. Hầu như học sinh nội trú đều lâm một bệnh chung là đọc sách. Càng đọc càng thấy say. Cả một chân trời mới mở ra trước mắt. Đọc sách, nghiên cứu, sưu tập tư liệu là công việc theo anh Hai tôi trọn một đời, có thể nói đó là hobby lớn nhất của anh.
Vào những năm 1945, chương trình áp dụng cho ban Cao đẳng Tiểu học và Tú tài bản xứ chịu ảnh hưởng nặng nề của chương trình Pháp, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ, tiếng Việt chỉ được xem như một sinh ngữ phụ. Đúng ra đây chỉ là chương trình Pháp thật sự nhưng có chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các trường Việt Nam. Chương trình này kéo dài đến hết Thế giới Đại chiến thứ hai trên toàn cõi Việt Nam. 1945, sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, chương trình Việt được ban hành gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn, được đem ra áp dụng trước ở Bắc Việt và Trung Việt, thêm giờ tiếng Nhật, riêng ở miền Nam thì vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục.

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

Trong giấc mơ tôi (kỳ 1)

Nguyễn Tuyết Lộc
*LOUISVILLE – HỘI NGỘ SAU 22 NĂM
1997.
Đây là lần đầu tiên tôi đi Mỹ thăm anh Hai tôi sau 22 năm xa cách kể từ 75.
Vào thời điểm này, không dễ dàng gì lấy được visa vào nước Mỹ. Thời Việt Nam đã “đổi mới” nhưng những ngăn trở, nghi ngại ở cả hai phía đối địch cũ chưa thể xóa nhòa. Những người vượt biên trước đây được nhà nước “xóa án phản bội Tổ quốc”, thậm chí họ được tiếp đón nồng hậu khi trở về thăm quê nhà với danh xưng rất đẹp: Việt Kiều Yêu Nước. Còn họ xác định thế nào là Việt kiều yêu hay không yêu nước thì thú thật tới giờ tôi vẫn chưa rõ. Bởi sau khi bộ đội cụ Hồ chiếm được miền Nam một thời gian ngắn ngủi thì hàng chục ngàn quân, dân, những người làm cho chế độ cũ phải vào tù, gọi là đi “học tập cải tạo”, với hàng loạt trại cải tạo tại rừng thiêng núi hiểm trên toàn quốc. Chính phủ Mỹ mất 8 năm trời điều đình với chính quyền Hà Nội để họ được trả tự do cùng gia đình sang định cư tại Mỹ, ưu tiên theo diện ODP (Orderly Departure Program) hay còn gọi là “Chương trình ra đi có trật tự”, với tư cách là những người tị nạn chính trị chứ không phải vì lý do nhân đạo. Mà thật, vì hầu hết ra đi do sợ chế độ khắt khe của Cộng sản, hoặc bế tắc kinh tế, mối lo cho tương lai học hành nghề nghiệp của con cái, hoặc do cha mẹ đi cải tạo trong tù, nhà trường không cho hoặc gây khó dễ việc học hành của con em họ. Mặt khác, họ cũng lao động hết sức mình nơi quê người để kiếm tiền gửi cho thân nhân ở quê nhà, đỡ một phần đất nước phải gánh vác.
Anh chị Hai đón tôi ở phi trường Kentucky, không có màn ôm nhau khóc hu hu, không mừng mừng tủi tủi, một phần tính anh Hai tôi nghiêm khắc, phần khác tôi vẫn còn rụt rè do hai anh em cách nhau hơn 20 tuổi, nhưng nhìn cách anh chuẩn bị đón em út rất chu đáo cũng biết là anh thương em lắm. Anh Hai cho biết anh Thạch cũng đang trên đường từ Paris bay qua New York rồi từ New York về thành phố này. Chiều mai anh Thạch sẽ đến, ba anh em sẽ được ở chung một nhà như hồi tôi còn nhỏ. Thích quá. Cuộc hội ngộ này chỉ có trong giấc mơ.
Trên đường về anh Hai lái xe “ngon lành” lắm, viu viu như thanh niên lái vậy. Tôi nhìn anh, nhìn chị. 22 năm! Bỗng dưng mắt tôi hoe hoe đỏ, mũi tôi phập phồng, có cái gì đó chặn nghẹn cổ tôi. Tôi muốn khóc òa lên nhưng không dám khóc. Tôi thương anh tôi quá.
Đây rồi xe dừng trước số nhà 8409 - Calm Lane - Louisville, địa chỉ mà tôi thường thấy trên những bức thư anh Hai tôi viết gửi về cho tôi với nét chữ thân thương. Anh chị dẫn tôi đi một vòng quanh nhà rồi bảo tôi lên phòng nghỉ ngơi.
Phòng anh chị ở basement, ba phòng ngủ tầng trên thì hai phòng dành cho tôi và anh Thạch. Anh Hai đã tự tay thay drap giường sạch sẽ tươm tất. Chuyến bay thật xa, mệt, tôi chỉ trông chui vào phòng để ngủ một giấc thẳng cẳng cho sướng cái đời.
Trời se lạnh. Đêm Louisville thật yên tĩnh.
Gần 12 giờ trưa thức dậy, tôi mở cửa đi bộ vòng vòng quanh nhà. Rất nhiều cây xanh trồng thành hàng ngăn nắp. Nhà này biệt lập với nhà kia bằng những khoảng sân cỏ rộng không có hàng rào ngăn cách, trước nhà là đường một làn dành cho xe hơi, sau lưng nhà nào cũng có một khoảng vườn lớn, người thì dùng khoảng đất trống này để dựng hồ bơi di động, hình dáng đủ kiểu thật đẹp mắt được lắp ráp bằng những thanh gỗ, keo gắn kết, dây kẽm to bản niềng lại rồi bơm nước vào, vườn nhà anh chị Hai thì để cỏ mọc hoang. Cuối biên vườn là con rạch nhỏ. Người Mỹ gắn tên tuổi mình với cuộc chiến mang tên Việt Nam, nước Mỹ gây ân oán khắp cả trên thế giới hoá ra rất yêu thiên nhiên, đất nước của không gian và lá xanh, xanh thật là xanh!
Tiếng lao xao gọi nhau trước sân nhà, khoảng năm sáu trẻ em độ chừng mười lăm tuổi, da đen có da trắng có, cả da vàng nữa đang chơi bóng chuyền, tôi cũng gia nhập, cũng hò hét. Bỗng tiếng anh Hai gọi:
- Tuyết Lộc, vô ăn sáng rồi đi mall.
Tôi ngồi vào bàn ăn nghe anh dặn dò:
- Chiều ni cả nhà đi đón chú Thạch, tối mới về. Ở đây o không nên lang thang ngoài đường, gặp bọn da đen kiếm chuyện nó đánh. Da trắng kỳ thị lắm, thấy da vàng hay đen nó khinh, cũng kiếm chuyện. O không được vào nhà người lạ cho dù họ có mời vào mình cũng đừng vào. Mình vào rồi họ đóng cửa lại gọi police tới, bảo mình đã vô nhà họ bất hợp pháp là o bị còng tay dẫn đi ngay. Tóm lại, muốn đi đâu o nói với anh, anh đưa đi. Nghe o và chú Thạch qua anh đã lên chương trình cho cả nhà rồi, nơi nào cần đi anh sẽ dẫn đi để biết văn hóa ở đây. O biết không, ở đây nhiều thứ căng thẳng lắm, ví dụ như trời đang nắng, ti vi báo sắp có mưa đá là mình phải lo tìm chỗ trú ẩn ngay. Vừa rồi anh được bảo hiểm đổi chiếc xe mới toanh vì trần xe của anh bị mưa đá làm thủng hết. Nhà phần nhiều làm bằng thứ dễ cháy chất liệu nhẹ, nếu cháy phải nhanh chóng thoát thân trước chứ ham lấy của cải cháy luôn cả người, nếu có lốc xoáy chạy tìm góc nào đó dưới basement ngồi niệm Phật, nhưng không may lốc đã đến nhà chỉ có cách cuốn theo nó mà thôi, Phật không kéo lại nổi. Mưa nữa, o thấy nhà cửa đẹp đẽ sang trọng ri chứ mưa lớn một trận là như lũ, nước tràn cả xuống tầng hầm, nước rút đi anh chị phải múc nước tát ra ngoài. Ống nước hư hay đường dây điện có vấn đề anh chị phải gọi người tới sửa chữa, tốn kém đã đành mà rất phức tạp, họ tháo banh mọi thứ ra, khi họ đi mình dọn dẹp cực lắm. Lúc còn trẻ, mình chịu được, lớn tuổi rồi cái chi cũng thấy mệt nên anh chị dùng đồ đạc phải rất cẩn thận, không hà tiện cũng như người hà tiện. Những ngày o và chú Thạch ở đây chị sẽ nấu cho cả nhà ăn, vì chỉ có chị dùng bếp ga, hỏng đâu chị biết đó. Tuyết Lộc đừng đụng vào bếp ga. Áo quần cũng để chị, hai, ba ngày chị bỏ máy giặt một lần, o rửa chén bát, anh làm tài xế nếu ngày đó anh không đi dạy, chú Thạch ưa cắt cỏ với anh thì cắt… Cỏ ở khu vườn sau nhà lên cao lắm rồi, anh chờ chú Thạch qua cắt đó.Anh lên chương trình xong cả nhà ra xe đến mall gần nhất. Mỗi người mua chi tùy thích. Anh nói đi chợ một lần để ăn hai ngày.