Ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhà văn Kim Dung qua đời ở tuổi 94
tại Bệnh viện Hong Kong sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh tật.
Kim
Dung tên thật là Tra Lương Dung (phồn thể: 查良鏞, giản thể: 查良镛, bính âm:
Cha Leung Yung), sinh vào ngày 6 tháng 2 năm 1924 tại trấn Viên Hoa,
huyện Hải Ninh, địa cấp thị Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc,
trong một gia tộc khoa bảng danh giá. . Ông nội là Tra Văn Thanh làm tri
huyện Đan Dương ở tỉnh Giang Tô. Tra Văn Thanh về sau từ chức, đến đời
con là Tra Xu Khanh bắt đầu sa sút; Tra Xu Khanh theo nghề buôn, sau
sinh 9 đứa con, Kim Dung là con thứ hai.
Thuở nhỏ Kim Dung thông minh, lanh lợi, nghịch nhưng không đến nỗi
quậy phá. Ông yêu thiên nhiên, thích nghe kể chuyện thần thoại, truyền
thuyết, nhất là về những ngọn triều trên sông Tiền Đường. Đặc biệt ông
rất mê đọc sách. Dòng họ Kim Dung có một nhà để sách gọi là "Tra thị
tàng thư" nổi tiếng khắp vùng Chiết Tây, chứa rất nhiều sách cổ, những
cuốn sách này làm bạn với ông từ rất bé.
Sáu tuổi, ông vào học tiểu học ở quê Hải Ninh. Ông rất chăm học, lại
thêm mê đọc sách nên trở thành một học sinh giỏi của lớp. Thầy dạy văn
cho ông lúc bé tên Trần Vị Đông, là người rất thương yêu và tin tưởng
Kim Dung, đă cùng ông biên tập tờ báo lớp. Một số bài làm văn của Kim
Dung, nhờ sự giới thiệu của thầy Đông đă được đăng lên Đông Nam nhật
báo, tờ báo nổi tiếng nhất Trung Quốc bấy giờ.
Năm lên tám tuổi, ông lần đầu đọc tiểu thuyết võ hiệp, khi đọc đến bộ
truyện Hoàng Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo, cảm thấy rất say mê, từ đó
thường sưu tầm tiểu thuyết thể loại này.
Năm 13 tuổi, xảy ra sự biến Lư Câu Kiều, Kim Dung được gửi đến học
trường trung học Gia Hưng ở phía Đông tỉnh Chiết Giang. Tuy xa nhà nhưng
cuộc sống của ông cũng không khác mấy, ngoài đi học vẫn chúi đầu đọc
sách, và vẫn đứng đầu lớp. Một hôm nhân dịp về thăm nhà, ông khoe gia
đình cuốn sách Dành cho người thi vào sơ trung, một cuốn cẩm nang luyện
thi, có thể coi là cuốn sách đầu tiên của ông, viết năm 15 tuổi và được
nhà sách chính quy xuất bản. Đến khi lên bậc Cao trung, Kim Dung lại
soạn Hướng dẫn thi vào cao trung. Hai cuốn sách in ra bán rất chạy, đem
lại cho ông khoảng nhuận bút hậu hĩnh.
Năm 16 tuổi, ông viết truyện trào phúng Cuộc du hành của Alice có ý
châm biếm ngài chủ nhiệm ban huấn đạo, người này tức giận, liền ép hiệu
trưởng phải đuổi học ông. Cuộc du hành của Alice tuy đem lại tai hại,
nhưng đã cho thấy tài tưởng tượng, cũng như tinh thần phản kháng của Kim
Dung, mà sau này thể hiện rất rõ trên các tác phẩm. Ông lại chuyển đến
học trường Cù Châu. Tại trường này có những quy định rất bất công với
học trò, học sinh không được quyền phê bình thầy giáo, nhưng thầy giáo
có quyền lăng nhục học sinh. Năm thứ hai tại trường, ông viết bài Một sự
ngông cuồng trẻ con đăng lên Đông Nam nhật báo. Bài báo làm chấn động
dư luận trong trường, được giới học sinh tranh nhau đọc. Ban giám hiệu
trường Cù Châu đành phải bãi bỏ những quy định nọ. Không những vậy, một
ký giả của Đông Nam nhật báo là Trần Hướng Bình do hâm mộ tác giả bài
báo, đã lặn lội tìm đến trường học để thỉnh giáo, mà không biết tác giả
chỉ là một học sinh.
Năm 1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, trường Cù Châu phải di
dời, ban giám hiệu quyết định cho học sinh lớp cuối tốt nghiệp sớm để
bớt đi gánh nặng. Kim Dung cũng nằm trong số đó. Sau ông thi vào học
Luật quốc tế tại học viện chính trị Trung ương ở Trùng Khánh. Thi đậu,
nhưng để đến được trường phải trải qua nhiều ngày đi bộ.
Tại học viện chính trị Trung ương, Kim Dung vẫn học rất giỏi, cuối
năm nhất ông được tặng phần thưởng cho sinh viên xuất sắc nhất. Thời kỳ
này, ông ngoài tham gia viết bình luận chính trị trên các báo, còn bắt
tay vào làm cuốn Anh - Hán tự điển và dịch một phần Kinh Thi sang tiếng
Anh, hai công trình này về sau dở dang. Ông học lên năm thứ ba thì tại
trường bắt đầu nổi lên các cuộc bạo loạn chính trị. Có lần viết thư tố
cáo một vụ bê bối trong trường, Kim Dung lần thứ hai trong đời bị đuổi
học, năm 19 tuổi.
Sau ông xin làm việc tại Thư viện trung ương. Ở chung với sách, tri
thức nâng cao lên rất nhiều. Ngoài đọc sách sử học, khoa học và những
tiểu thuyết võ hiệp đương thời, ông còn đọc những cuốn như Ivanhoe của
Walter Scott, Ba người lính ngự lâm, Bá tước Monte-Cristo của Alexandre
Dumas (cha), những truyện này đã ảnh hưởng đến văn phong của ông. Tại
đây ông bắt đầu nảy sinh ý định sáng tác truyện võ hiệp. Ông cũng sáng
lập ra một tờ báo lấy tên Thái Bình dương tạp chí, nhưng chỉ ra được một
số đầu, số thứ 2 nhà xuất bản không chịu in, tờ báo đầu tiên của ông
xem như thất bại.
Năm 1944, ông đến làm việc cho một nông trường ở Tương Tây. Nơi này
rất tịch mịch hẻo lánh, đến năm 1946, không chịu nổi ông xin thôi việc,
người chủ nông trường không cản được, tiễn ông bằng một bữa thịnh soạn.
Mùa hạ năm đó, ông về lại quê cũ ở Hải Ninh, cha mẹ nghe tin ông bị đuổi
học, rất buồn. Điều ấy khiến ông quyết tâm ra đi lập nghiệp.
Năm 1946 từ biệt gia đình, ông về Hàng Châu làm phóng viên cho tờ
Đông Nam nhật báo theo lời giới thiệu của Trần Hướng Bình, người ngày
xưa đã tìm đến trường ông. Ông làm việc rất tốt, tỏ ra có tài thiên phú
về viết báo. Năm sau, theo lời mời của tạp chí Thời dữ triều, ông thôi
việc ở Đông Nam nhật báo, sang Thượng Hải tiếp tục nghề viết hay dịch
thuật từ máy Radio. Chẳng bao lâu ông lại rời toà soạn Thời dữ triều,
xin vào làm phiên dịch của tờ Đại công báo. Lúc này anh trai của Kim
Dung là Tra Lương Giám đang làm giáo sư ở học viện Pháp lý thuộc đại học
Đông Ngô gần đó, ông liền xin vào học tiếp về luật quốc tế.
Năm 1948, tờ Đại công báo ra phụ bản tại Hồng Kông, ông được cử sang
làm việc ở đó, dịch tin quốc tế. Trước khi ra đi vài ngày, ông chạy đến
nhà họ Đỗ để ngỏ lời cầu hôn cô con gái 18 tuổi, được chấp nhận. Hôn lễ
tổ chức trang trọng tại Thượng Hải, người vợ đầu tiên Đỗ Trị Phân của
ông rất xinh đẹp.
Năm 1950, trong cuộc Cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, gia đình ông bị
quy thành phần địa chủ, cha ông bị đấu tố, từ đó ông mất liên lạc với
gia đình. Trong lúc này, vợ ông không chịu nổi cuộc sống ở Hồng Kông,
trở về gia đình bên mẹ, không chịu về nhà chồng nữa. Năm 1951 họ quyết
định ly hôn.
Năm 1952, ông sang làm việc cho tờ Tân văn báo, phụ trách mục Chuyện
trà buổi chiều, chuyên mục này giúp ông phát huy khả năng viết văn của
mình hơn, ông rất thích, một phần vì khán giả cũng rất thích. Ông còn
viết phê bình điện ảnh. Từ đó dần đi sâu vào lĩnh vực này. Từ 1953, rời
Tân Văn báo, bắt tay vào viết một số kịch bản phim như Lan hoa hoa,
Tuyệt đại giai nhân, Tam luyến… dưới bút danh Lâm Hoan. Những kịch bản
này dựng lên được các diễn viên nổi tiếng thời bấy giờ như Hạ Mộng,
Thạch Tuệ, Trần Tứ Tứ… diễn xuất. Được nhiều thành công đáng kể.
Từ khi mới vào làm cho Tân Văn Báo, ông quen thân với La Phù và Lương
Vũ Sinh. Đến năm 1955, được hai người ủng hộ và giúp đỡ, ông viết
truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu lục, đăng hàng ngày trên Hương
Cảng tân báo, bút danh Kim Dung cũng xuất hiện từ đây. Hai chữ "Kim
Dung" 金庸 là chiết tự từ chữ "Dung" 鏞, tên thật của ông, nghĩa là "cái
chuông lớn". Thư kiếm ân cừu lục ra đời, tên Kim Dung được chú ý đến,
dần dần, ông cùng Lương Vũ Sinh được xem như hai người khai tông ra Tân
phái của tiểu thuyết võ hiệp. Ông viết tiếp bộ Bích huyết kiếm được hoan
nghênh nhiệt liệt, từ đó chuyên tâm vào viết tiểu thuyết võ hiệp và làm
báo, không hoạt động điện ảnh nữa.
Năm 1959, cùng với bạn học phổ thông Trầm Bảo Tân, ông lập ra Minh
Báo. Ông vừa viết tiểu thuyết, vừa viết các bài xă luận. Qua những bài
xă luận của ông, Minh Báo càng ngày được biết đến và là một trong những
tờ báo được đánh giá cao nhất. Không như một số tờ báo do ông sáng lập
khác, Minh Báo theo ông đến khi kết thúc sự nghiệp.
Năm 1972 sau khi viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng, ông đă chính thức
nghỉ hưu và dành những năm sau đó biên tập, chỉnh sửa các tác phẩm văn
học của mình. Lần hoàn chỉnh đầu tiên là vào năm 1979. Lúc đó, các tiểu
thuyết võ hiệp của ông đă được nhiều độc giả biết điến. Các tác phẩm đã
được chuyển thể thành phim truyền hình. Năm sau, ông tham gia giới chính
trị Hồng Kông. Ông là thành viên của ủy ban phác thảo Đạo luật cơ bản
Hồng Kông. Ông cũng là thành viên của Ủy ban chuẩn bị giám sát sự chuyển
giao của Hồng Kông về chính phủ Trung Quốc.
Vào tháng 10 năm 1976, sau cái chết đột ngột của con trai trưởng của
mình, Kim Dung đã quyết định tìm hiểu nhiều vào các triết lý của tôn
giáo. Kết quả là ông tự mình quy y Phật giáo hai năm sau đó.
Năm 1993, ông thôi làm chức chủ bút, bán tất cả các cổ phần trong Minh Báo.
Năm 2006, ông xuất bản cuốn tản văn đầu tiê
Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018
Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018
THƠ SƯU TẬP THANH TÂM TUYỀN
THƠ SƯU TẬP
|
Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018
Nhà văn Kim Thúy ‘nhìn chữ là thấy thương’

Nhà văn Kim Thúy tại Festival America, tháng 9, 2010. (Hình: Camille Gévaudan)
“Không có. Không có.” Kim Thúy cười lớn, khẳng định “không có” chuyện
cô sẽ đoạt Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương (the New Prize in
Literature), được mệnh danh “giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương
2018.”
Giải thưởng mới “tính theo số người bỏ phiếu.” Kim Thúy nói với VOA, cô ngạc nhiên, và độc giả của cô cũng ngạc nhiên, về việc cô có tên trong số 47 tác giả được đưa ra cho công chúng bình chọn.
“Chẳng hạn, trong 47 người đó, có nhà văn Rowling. Chỉ cần 0.01% độc giả của Rowling bỏ phiếu, thì tôi đã không có tên trong số 4 người [vào vòng trong].” Rồi cô cười lớn, “chắc Rowling không để ý.”
Hàn Lâm Viện Thụy Điển quyết định hoãn công bố giải Nobel Văn Chương 2018 do các điều tiếng về scandal liên quan đến giám khảo của giải thưởng danh giá này. Vì lý do ấy, các quản thủ thư viện Thụy Điển cùng thành viên trong cộng đồng văn hóa và nghệ thuật quyết định lập ra một giải thưởng khác, chỉ trong năm nay, để lấp vào khoảng trống của Nobel Văn Chương.
Văn bản nói về lý do ra đời của Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương
có đoạn: “Trong thời điểm mà giá trị nhân văn ngày càng bị thách thức,
thì văn chương trở thành lực đối kháng với sự đàn áp và thái độ vô cảm.
Bây giờ là thời điểm quan trọng hơn bao giờ hết giải thưởng văn chương
cao quý nhất thế giới phải được trao tặng.”
Các thành viên trong ban tổ chức Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương chọn ra danh sách 47 nhà văn trên toàn thế giới, rồi để công chúng bình chọn. Bốn người có số phiếu cao nhất sẽ được xét chọn bởi ban giám khảo, gồm giáo sư văn chương Lisbeth Larsson, nhà báo kiêm thủ thư Marianne Steinsaphir, nhà phê bình kiêm chủ bút Peter Stenson, và giám đốc thư viện, Gunilla Sandin.
Trả lời tờ báo National Post, Kim Thúy cũng nói xác suất để mình thắng giải thưởng này là “dưới zero phần trăm.” Cô nói về 3 nhà văn trong danh sách được bình chọn (Maryse Condé - the Guadeloupe và Pháp, Haruki Murakami - Nhật Bản; và Neil Gaiman - Anh): “Họ là những biểu tượng văn hóa – những nhà văn dày dạn kinh nghiệm – trong khi tôi chỉ mới bắt đầu hành trình của mình.”
Rồi cô nói đùa: “Có thể gia đình tôi hơi đông người!”
Kim Thúy thật lòng không tin mình sẽ thắng giải, và cô bông đùa thoải mái về giả thuyết sẽ trở thành “khôi nguyên giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương.”
Thế nhưng, con đường đi vào văn chương của tác giả các tác phẩm có tựa đề độc đáo, “Ru,” “Vi,” “Man,” lại mang đậm sự ray rứt về thân phân con người di dân, tị nạn, và lòng yêu mến đến sâu thẳm giá trị văn hóa Việt Nam.
“Tôi hãnh diện về vẻ đẹp của Việt Nam mình. Có những cái nhỏ, nhỏ, nhỏ của Việt Nam mình mà mình không để ý tới. Chẳng hạn chữ “ru,” không ngờ một chữ “ru” mà đẹp đến như vậy. Khi tôi tìm đến tiếng Pháp thì chữ “ru” trong tiếng Pháp rất dài. Ru con ngủ là một cái gì rất là dài, thế mà “ru” chỉ là một chữ thôi. Thành ra tôi thấy nó hay quá đi, và thấy mình phải chia sẻ.” Kim Thúy nói với VOA.
Cách “chia sẻ” của Kim Thúy cũng rất lạ: Cô muốn, qua mỗi tác phẩm
của mình, độc giả ngoại quốc lại được học thêm một vài chữ tiếng Việt.
Và sự chia sẻ ấy bắt đầu ngay từ tựa đề của sách.
“Chỉ một “sound” đã có ý nghĩa rồi. Chữ “Man,” tức là “Mãn”, đẹp thế nào. Mãn, là mãn nguyện. Nhìn chữ là thấy thương. Hay “ru,” tiếng Pháp cũng có ý nghĩa. “Man,” tiếng Anh cũng có nghĩa. “Vi,” cũng gần như “C’est la Vie” trong tiếng Pháp. Lúc nào cũng có ý nghĩa của 2, 3 ngôn ngữ. Nhưng lúc nào cũng muốn có tiếng Việt Nam. Tôi muốn độc giả thấy chữ viết của tiếng Việt mình. Tức là độc giả của tôi bây giờ biết ít nhất là một chữ tiếng Việt. Còn trong tác phẩm “Man,” gần như mỗi trang đều có một chữ tiếng Việt, để người ta thấy tiếng Việt mình có dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng…”
“Ru”, xuất bản cách đây gần 10 năm, là một trong những tác phẩm thành công nhất của Kim Thúy. Tác phẩm, được viết bằng tiếng Pháp, được dịch sang 27 ngôn ngữ, gần đây nhất là dịch sang tiếng Ukraine.
Nhưng Kim Thúy “thấy buồn” khi “Ru” đến nay vẫn còn “ăn khách.”
“Có nhiều nước mua và dịch Ru ra tiếng của họ, bây giờ vẫn còn, thành ra tôi thấy Ru cứ còn mới như là một em bé. Nhưng rất buồn là còn phải dùng chữ di dân, tị nạn trong tác phẩm, chỉ mong là một ngày nào không cần dùng chữ này nữa thôi. Nhưng mà rồi chiến tranh hết ở đây rồi ở kia. Thành ra ở phương diện ấy, nếu cuốn sách này còn mới hoài, còn nói về vấn đề của hiện tại bây giờ… Tôi mong là một ngày nào đó, cuốn sách này chỉ nói về một chuyện rất xa xưa trong quá khứ, không ăn nhập gì với thời hiện tại.”
Mặc dầu đã có mặt tại 27 quốc gia khác nhau, "Ru" vẫn chưa xuất hiện tại Việt Nam. Kim Thúy nói có lẽ vì Ru nói về chuyện vượt biển, là chuyện vẫn còn "khó nói" ở trong nước. Và cô cho rằng mình có thể "đợi một tý."
Kim Thúy vượt biên năm 1978, lúc mới 10 tuổi, rồi sang định cư
tại Canada. Cô tốt nghiệp ngành Luật, đến năm 1998 thì về Việt Nam làm
việc 4 năm. Đối với cô, 4 năm này là cơ hội để cô học lại văn hóa Việt
Nam, là văn hóa mà cô tưởng mình “đã hiểu”.
“Thật ra thì tôi thấy tôi nhầm cơ. Tưởng là hiểu Việt Nam, mà thật ra trở lại Việt Nam sau 20 năm thì Việt Nam trở thành một xứ khác rồi. Mà ở đâu cũng vậy, luôn luôn có sự thay đổi. Tôi sanh ở Sài Gòn mà khi trở về làm việc là làm ở Hà Nội, lại là một xứ mới (cười lớn). Và như vậy phải học trở lại, và nhờ học trở lại tôi tìm ra cái đẹp đặc sắc của Việt Nam mình. Nếu không trở lại Việt Nam trong 4 năm đó, tôi không nghĩ có thể viết được; sẽ không thể biết làm sao để trân quý vẻ đẹp riêng của Việt Nam. Thành ra nhờ 4 năm ấy, trở về một nơi mình nghĩ mình biết, mà mình không biết, đó là một sự học hỏi phải làm lại từ đầu.”
Kim Thúy luôn khẳng định, rằng cô không chọn văn chương, mà văn chương chọn cô, từ một sự tình cờ nằm ở những đèn xanh, đèn đỏ ở các ngã tư đường tại Montreal.
“Tôi ngủ gục quá nhiều ở các đèn đỏ. Ngủ gục ở đèn đỏ thì rất nguy hiểm, nên lúc đầu tôi ăn hạt dưa. Nhưng ăn hạt dưa riết rồi hư răng. Thành ra đổi lại viết lúc dừng đèn đỏ. Thành ra cuốn sách này (Ru) là do những cái đèn đỏ. Mà tôi thích quá nên hay tìm những cái đèn đỏ lâu nhất, dài nhất ở Montreal để đi. Nhiều khi đi thành một vòng để tìm đèn đỏ dài thiệt dài để mình có thể viết tí xíu.”
“Lúc đầu cũng định thử [viết] một tháng thôi, và vì mình xuất thân là di dân, tị nạn. Rồi một tháng thành hai tháng, rồi năm tháng, rồi một năm, rồi thành một cuốn sách. Và cũng không nghĩ cuốn sách được nhiều người đọc như thế. Bây giờ nếu có ai mời nói về vấn đề di dân thì em cám ơn, vì có cơ hội nói cho những người đó; vì ít khi mình đưa microphone cho một người di dân, một người tị nạn nói. Thành ra, nếu tôi có cơ hội được đứng lên nói cho những người không có cơ hội, những người vượt biển mất tích hoặc chết ở biển, thì tôi nghĩ tôi có trách nhiệm nói giúp cho họ. Và hễ có cơ hội thì cứ nói, nhất là bây giờ có nhiều vấn đề về di dân.”
The CBC, hãng tin Canada, 47 nhà văn được chọn có nhiều lối viết và thể loại khác nhau, từ nhà văn hư cấu nổi tiếng Haruki Murakami, Cormac McCarthy, Don DeLillo, Zadie Smith và Elena Ferrante, đến các nhà văn viết cho thiếu nhi, như J.K. Rowling và Meg Rosoff, hay nhạc sĩ Patti Smith và nhà văn châm biếm giả tưởng nổi tiếng Neil Gaiman.
Trong khi ấy, Kim Thúy, nhà văn Canada gốc Việt, thì cho rằng mình được chọn chỉ vì nói đúng chuyện vào “đúng lúc, đúng thời.”
“Cuốn sách Ru là do một người bạn của Kim Thúy cầm mang đến một nhà xuất bản chứ bản thân tôi không có liếm tem, bỏ vào bao thơ để gởi. Thế rồi cuốn sách được chấp nhận rất nhanh. Thành ra cuốn sách này là ai chọn tôi chứ cá nhân chỉ là người gởi thông điệp.”
Và vai trò “gởi thông điệp,” theo Kim Thúy, chỉ có tính giai đoạn: “Rồi năm năm sau, vai trò đó lại trao cho người khác rồi tôi đi làm chuyện khác (cười lớn). Người Việt Nam mình hay nói “đúng lúc, đúng thời”, thì tôi chỉ nói cuốn Ru là đúng lúc, đúng thời.”
Lịch sử dân tộc là một cuốn sách dày, và Kim Thúy chỉ e rằng, một trang trong cuốn sách lịch sử ấy sẽ mất đi, hay bị bỏ trống, chỉ vì những chứng nhân của giai đoạn ấy không kịp viết lại những điều đã xảy ra. Viết, và viết đúng sự thật đã xảy ra, là thông điệp mà cô muốn gởi đến độc giả gốc Việt của mình: “Quan trọng là tất cả chúng ta đều viết, không chỉ văn sĩ mới viết. Những gì chúng ta viết là để lại cho thế hệ mới, giống như dây curoa, luôn tiếp tục vận hành. Mình là con cháu của ông bà mình, chứ không chỉ là mình, thành ra, tôi mong lúc nào cũng viết để để lại. Bởi vì “trang” ấy, không có sách lịch sử nào viết lại cả.”
Và mọi câu chuyện của từng người Việt Nam đã sống qua một giai đoạn nào đó, được cho vào một chiếc hộp, để các thế hệ sau có thể trở vô để đọc, từng câu chuyện một.
https://www.voatiengviet.com/a/kim-thuy-nha-van-nobel-van-chuong-2018/4577080.html
Giải thưởng mới “tính theo số người bỏ phiếu.” Kim Thúy nói với VOA, cô ngạc nhiên, và độc giả của cô cũng ngạc nhiên, về việc cô có tên trong số 47 tác giả được đưa ra cho công chúng bình chọn.
“Chẳng hạn, trong 47 người đó, có nhà văn Rowling. Chỉ cần 0.01% độc giả của Rowling bỏ phiếu, thì tôi đã không có tên trong số 4 người [vào vòng trong].” Rồi cô cười lớn, “chắc Rowling không để ý.”
Hàn Lâm Viện Thụy Điển quyết định hoãn công bố giải Nobel Văn Chương 2018 do các điều tiếng về scandal liên quan đến giám khảo của giải thưởng danh giá này. Vì lý do ấy, các quản thủ thư viện Thụy Điển cùng thành viên trong cộng đồng văn hóa và nghệ thuật quyết định lập ra một giải thưởng khác, chỉ trong năm nay, để lấp vào khoảng trống của Nobel Văn Chương.
Tôi hãnh diện về vẻ đẹp của Việt Nam mình. Có những cái nhỏ, nhỏ, nhỏ của Việt Nam mình mà mình không để ý tới. Chẳng hạn chữ “ru,” không ngờ một chữ “ru” mà đẹp đến như vậy.Nhà Văn Kim Thúy
Các thành viên trong ban tổ chức Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương chọn ra danh sách 47 nhà văn trên toàn thế giới, rồi để công chúng bình chọn. Bốn người có số phiếu cao nhất sẽ được xét chọn bởi ban giám khảo, gồm giáo sư văn chương Lisbeth Larsson, nhà báo kiêm thủ thư Marianne Steinsaphir, nhà phê bình kiêm chủ bút Peter Stenson, và giám đốc thư viện, Gunilla Sandin.
Trả lời tờ báo National Post, Kim Thúy cũng nói xác suất để mình thắng giải thưởng này là “dưới zero phần trăm.” Cô nói về 3 nhà văn trong danh sách được bình chọn (Maryse Condé - the Guadeloupe và Pháp, Haruki Murakami - Nhật Bản; và Neil Gaiman - Anh): “Họ là những biểu tượng văn hóa – những nhà văn dày dạn kinh nghiệm – trong khi tôi chỉ mới bắt đầu hành trình của mình.”
Rồi cô nói đùa: “Có thể gia đình tôi hơi đông người!”
Kim Thúy thật lòng không tin mình sẽ thắng giải, và cô bông đùa thoải mái về giả thuyết sẽ trở thành “khôi nguyên giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương.”
Thế nhưng, con đường đi vào văn chương của tác giả các tác phẩm có tựa đề độc đáo, “Ru,” “Vi,” “Man,” lại mang đậm sự ray rứt về thân phân con người di dân, tị nạn, và lòng yêu mến đến sâu thẳm giá trị văn hóa Việt Nam.
“Tôi hãnh diện về vẻ đẹp của Việt Nam mình. Có những cái nhỏ, nhỏ, nhỏ của Việt Nam mình mà mình không để ý tới. Chẳng hạn chữ “ru,” không ngờ một chữ “ru” mà đẹp đến như vậy. Khi tôi tìm đến tiếng Pháp thì chữ “ru” trong tiếng Pháp rất dài. Ru con ngủ là một cái gì rất là dài, thế mà “ru” chỉ là một chữ thôi. Thành ra tôi thấy nó hay quá đi, và thấy mình phải chia sẻ.” Kim Thúy nói với VOA.
“Chỉ một “sound” đã có ý nghĩa rồi. Chữ “Man,” tức là “Mãn”, đẹp thế nào. Mãn, là mãn nguyện. Nhìn chữ là thấy thương. Hay “ru,” tiếng Pháp cũng có ý nghĩa. “Man,” tiếng Anh cũng có nghĩa. “Vi,” cũng gần như “C’est la Vie” trong tiếng Pháp. Lúc nào cũng có ý nghĩa của 2, 3 ngôn ngữ. Nhưng lúc nào cũng muốn có tiếng Việt Nam. Tôi muốn độc giả thấy chữ viết của tiếng Việt mình. Tức là độc giả của tôi bây giờ biết ít nhất là một chữ tiếng Việt. Còn trong tác phẩm “Man,” gần như mỗi trang đều có một chữ tiếng Việt, để người ta thấy tiếng Việt mình có dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng…”
“Ru”, xuất bản cách đây gần 10 năm, là một trong những tác phẩm thành công nhất của Kim Thúy. Tác phẩm, được viết bằng tiếng Pháp, được dịch sang 27 ngôn ngữ, gần đây nhất là dịch sang tiếng Ukraine.
Nhưng Kim Thúy “thấy buồn” khi “Ru” đến nay vẫn còn “ăn khách.”
“Có nhiều nước mua và dịch Ru ra tiếng của họ, bây giờ vẫn còn, thành ra tôi thấy Ru cứ còn mới như là một em bé. Nhưng rất buồn là còn phải dùng chữ di dân, tị nạn trong tác phẩm, chỉ mong là một ngày nào không cần dùng chữ này nữa thôi. Nhưng mà rồi chiến tranh hết ở đây rồi ở kia. Thành ra ở phương diện ấy, nếu cuốn sách này còn mới hoài, còn nói về vấn đề của hiện tại bây giờ… Tôi mong là một ngày nào đó, cuốn sách này chỉ nói về một chuyện rất xa xưa trong quá khứ, không ăn nhập gì với thời hiện tại.”
Mặc dầu đã có mặt tại 27 quốc gia khác nhau, "Ru" vẫn chưa xuất hiện tại Việt Nam. Kim Thúy nói có lẽ vì Ru nói về chuyện vượt biển, là chuyện vẫn còn "khó nói" ở trong nước. Và cô cho rằng mình có thể "đợi một tý."
Tôi ngủ gục quá nhiều ở các đèn đỏ. Ngủ gục ở đèn đỏ thì rất nguy hiểm, nên lúc đầu tôi ăn hạt dưa. Nhưng ăn hạt dưa riết rồi hư răng. Thành ra đổi lại viết lúc dừng đèn đỏ. Thành ra cuốn sách này (Ru) là do những cái đèn đỏ.Nhà Văn Kim Thúy
“Thật ra thì tôi thấy tôi nhầm cơ. Tưởng là hiểu Việt Nam, mà thật ra trở lại Việt Nam sau 20 năm thì Việt Nam trở thành một xứ khác rồi. Mà ở đâu cũng vậy, luôn luôn có sự thay đổi. Tôi sanh ở Sài Gòn mà khi trở về làm việc là làm ở Hà Nội, lại là một xứ mới (cười lớn). Và như vậy phải học trở lại, và nhờ học trở lại tôi tìm ra cái đẹp đặc sắc của Việt Nam mình. Nếu không trở lại Việt Nam trong 4 năm đó, tôi không nghĩ có thể viết được; sẽ không thể biết làm sao để trân quý vẻ đẹp riêng của Việt Nam. Thành ra nhờ 4 năm ấy, trở về một nơi mình nghĩ mình biết, mà mình không biết, đó là một sự học hỏi phải làm lại từ đầu.”
Kim Thúy luôn khẳng định, rằng cô không chọn văn chương, mà văn chương chọn cô, từ một sự tình cờ nằm ở những đèn xanh, đèn đỏ ở các ngã tư đường tại Montreal.
“Tôi ngủ gục quá nhiều ở các đèn đỏ. Ngủ gục ở đèn đỏ thì rất nguy hiểm, nên lúc đầu tôi ăn hạt dưa. Nhưng ăn hạt dưa riết rồi hư răng. Thành ra đổi lại viết lúc dừng đèn đỏ. Thành ra cuốn sách này (Ru) là do những cái đèn đỏ. Mà tôi thích quá nên hay tìm những cái đèn đỏ lâu nhất, dài nhất ở Montreal để đi. Nhiều khi đi thành một vòng để tìm đèn đỏ dài thiệt dài để mình có thể viết tí xíu.”
“Lúc đầu cũng định thử [viết] một tháng thôi, và vì mình xuất thân là di dân, tị nạn. Rồi một tháng thành hai tháng, rồi năm tháng, rồi một năm, rồi thành một cuốn sách. Và cũng không nghĩ cuốn sách được nhiều người đọc như thế. Bây giờ nếu có ai mời nói về vấn đề di dân thì em cám ơn, vì có cơ hội nói cho những người đó; vì ít khi mình đưa microphone cho một người di dân, một người tị nạn nói. Thành ra, nếu tôi có cơ hội được đứng lên nói cho những người không có cơ hội, những người vượt biển mất tích hoặc chết ở biển, thì tôi nghĩ tôi có trách nhiệm nói giúp cho họ. Và hễ có cơ hội thì cứ nói, nhất là bây giờ có nhiều vấn đề về di dân.”
The CBC, hãng tin Canada, 47 nhà văn được chọn có nhiều lối viết và thể loại khác nhau, từ nhà văn hư cấu nổi tiếng Haruki Murakami, Cormac McCarthy, Don DeLillo, Zadie Smith và Elena Ferrante, đến các nhà văn viết cho thiếu nhi, như J.K. Rowling và Meg Rosoff, hay nhạc sĩ Patti Smith và nhà văn châm biếm giả tưởng nổi tiếng Neil Gaiman.
Trong khi ấy, Kim Thúy, nhà văn Canada gốc Việt, thì cho rằng mình được chọn chỉ vì nói đúng chuyện vào “đúng lúc, đúng thời.”
“Cuốn sách Ru là do một người bạn của Kim Thúy cầm mang đến một nhà xuất bản chứ bản thân tôi không có liếm tem, bỏ vào bao thơ để gởi. Thế rồi cuốn sách được chấp nhận rất nhanh. Thành ra cuốn sách này là ai chọn tôi chứ cá nhân chỉ là người gởi thông điệp.”
Và vai trò “gởi thông điệp,” theo Kim Thúy, chỉ có tính giai đoạn: “Rồi năm năm sau, vai trò đó lại trao cho người khác rồi tôi đi làm chuyện khác (cười lớn). Người Việt Nam mình hay nói “đúng lúc, đúng thời”, thì tôi chỉ nói cuốn Ru là đúng lúc, đúng thời.”
Lịch sử dân tộc là một cuốn sách dày, và Kim Thúy chỉ e rằng, một trang trong cuốn sách lịch sử ấy sẽ mất đi, hay bị bỏ trống, chỉ vì những chứng nhân của giai đoạn ấy không kịp viết lại những điều đã xảy ra. Viết, và viết đúng sự thật đã xảy ra, là thông điệp mà cô muốn gởi đến độc giả gốc Việt của mình: “Quan trọng là tất cả chúng ta đều viết, không chỉ văn sĩ mới viết. Những gì chúng ta viết là để lại cho thế hệ mới, giống như dây curoa, luôn tiếp tục vận hành. Mình là con cháu của ông bà mình, chứ không chỉ là mình, thành ra, tôi mong lúc nào cũng viết để để lại. Bởi vì “trang” ấy, không có sách lịch sử nào viết lại cả.”
Và mọi câu chuyện của từng người Việt Nam đã sống qua một giai đoạn nào đó, được cho vào một chiếc hộp, để các thế hệ sau có thể trở vô để đọc, từng câu chuyện một.
https://www.voatiengviet.com/a/kim-thuy-nha-van-nobel-van-chuong-2018/4577080.html
Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018
Bài nói của nhà văn, dịch giả Bửu Ý trong buổi giới thiệu tập thơ “Đạp xe ra ngoại ô” của Từ Hoài Tấn tại tòa soạn tạp chí Sông Hương ở Huế
TỪ
HOÀI TẤN, tác giả tập thơ
ĐẠP
XE RA NGOẠI Ô
BỬU
Ý
Cầm
tập thơ của Từ Hoài Tấn trên tay, nhìn trang bìa trình bày thanh đạm mà đẹp,
tôi đọc thấy nhan đề tập thơ
ĐẠP
XE RA NGOẠI Ô
Một
nhan đề gợi nhớ một không gian rộng mở, một không gian dự trữ năng lượng của một
thành phố và có sức hấp dẫn có khi còn hơn cả lòng thành phố.
Cũng
giống như ở Huế, ngày xưa người ta quen gọi là ngoại ô những vùng như Kim Long,
Bãng Lãng, Bến Ngự, Vỹ Dạ … thì ở Saigon cũng có những vùng ngoại ô như Thủ Đức,
Phú Lâm, Hóc Môn …
Khi
bước chân đi đến ngoại ô tức là đã đi xuyên phá nội thành. Ngoại ô là một hấp lực
ly tâm giúp thành phố dãn rộng và nó còn chứa đựng nhiều sản phâm riêng biệt mà
nội thành không có. Thí dụ Saigon xưa nay làm gì có ánh trăng, cho nên muốn thưởng
trăng thì phải ra ngoại ô. Thậm chí Saigon hầu như thiếu cả khí trời, muốn hít
thở đầy phổi cũng phải ra ngoại ô.
Có
những tác giả thơ, nhạc động lòng vì ngoại ô, vì bao nhiêu hình ảnh, âm thanh của
ngoại ô bị bỏ quên một cách oan uổng, như trong ca khúc của Đỗ Kim Bảng hay Phạm
Thế Mỹ …
Ngoại
ô có mặt trong thơ cũa Từ Hoài Tấn nhưng lại bày ra một bộ mặt khác:
Đây khu ngoại ô
Đàn bà và đàn ông cùng một bộ đồng
phục
(MỘT
BUỔI CHIỀU RA KHU NGOẠI Ô, trích, trang 5)
Ngoại
ô của Từ Hoài tấn, ngược lại với thông thường, không phải là bình oxy của
Saigon, mà là một loại thông hành địa dịch đưa dẫn vào thành phố, trở thành một
vùng đất hoạt động bên lề mà người ta dễ bỏ qua hoặc dể quên.
*
* *
Đọc
đi đọc lại thơ của Từ Hoài Tấn, rải rác có những câu thơ như thế này:
Nếu không có ngày lưu lạc
Sao ta một chuyến về
Cầm tay người nghe đã khác
Màu da rám nắng chân quê
(XA
HUẾ, trích, trang 38)
Hoặc là:
Định cư hay du cư
Chí là ý niệm hờ hững
(ĐỊNH
CƯ, trích, trang 115)
Hoặc là:
Kỷ niệm ghi dấu cùng năm tháng
Khi bước qua cuộc đời này,
Sẽ còn ai để kể lại
Mười lăm năm chìm đắm ở miền Tây
(SÔNG
NƯỚC MIỀN TÂY, trích, trang 22)
Đọc
mấy câu thơ này, tôi tự nhiên giật mình, “Mười lăm năm chìm đắm ở miền Tây”. Giống
như thể “mười lăm năm” là một hạn kỳ, không hiểu là ngắn hay dài, nhưng có lẽ
là vừa đủ để nếm trải đủ mùi đủ vị của một cuộc sống lưu lạc, một hạn kỳ thu tóm
lại một kiếp phù sinh.
Và
cũng giống như Stendhal có nói tới hiện tượng “kết tinh” tình cảm trong Tình
Yêu thì ở đây, thiết tưởng cũng tương tự như thế, mười lăm (15) năm là thời hạn
kết tinh đắng xót của một con người.
Tôi
lại còn miên man liên tưởng tới 15 năm đoạn trường của Thúy Kiều và luôn cả 15
năm cuối đời của Nguyễn Du sống ở Huế, xa quê hương, và viết nên Truyện Kiều.
Lưu
lạc, lưu đày, là một vấn nạn của thời đại, và cũng có thể không chỉ là thời đại
mà thôi, mà đó là vấn nạn muôn đời của nhân sinh.
Đó
là chưa kể đến tình cảnh lưu lạc ngay trên quê hương của mình trong những thời
khắc con người cảm nhận một nỗi khó sống, khó thích nghi dù là ở giữa một môi
trường vốn quen biết của mình.
“Lưu
đày” và “quê nhà” xưa nay là một cặp phạm trù đối lập nhau triệt để nhưng, ác
thay, cả hai không loại trừ nhau mà lại bao hàm nhau làm điều kiện hiện hữu
song đôi, vừa lẩn tránh nhau, vừa thách đố nhau: phải lưu đày mới biết quý quê
nhà, có quê nhà rồi vẫn ngóng lưu đày …
Tập
thơ của Từ Hoài Tấn vô hình trung là một lời nhắc nhở, một lời nhắn gửi đến mỗi
một chúng ta
Huế
13/9/2018
BỬU
ÝThứ Ba, 18 tháng 9, 2018
Giới thiệu tập thơ Đạp xe ra ngoại ô của tác giả Từ Hoài Tấn
08:02 | 14/09/2018
Chiều ngày 13/9, Tạp chí Sông Hương đã tổ chức giới thiệu tác phẩm Đạp xe ra ngoại ô của nhà thơ Từ Hoài Tấn.
Nhà thơ Lê Vĩnh Thái - Phó Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương phát biểu giới thiệu sách
Nhà thơ Từ hoài Tấn tên thật là Hồ Văn Hiền, sinh năm 1950 tại làng
Chuồn - An Tuyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ tập niên 1960 -
1970 anh có nhiều sáng tác thơ xuất hiện trên các tạp chí Văn, Nghệ
Thuật, Vấn Đề, Trình Bày, Khởi Hành, Ý Thức, Tuổi Ngọc… và tạp chí Văn,
Thanh Niên, Văn Nghệ thành phố Hồ chí Minh, Tạp chí Sông Hương. Anh đã
xuất bản nhiều tập thơ như: Hành tinh phiêu lạc, Nxb. Thuận Hoá, 2003;
Đi, đứng và chạy... với thời gian, Nxb. Hội Nhà văn, 2012; Phục hưng tôi
& em, Nxb. Hội Nhà văn, 2013.
| Tác phẩm " Đạp xa ra ngoại ô" của tác giả Từ Hoài Tấn |
Tập thơ “Đạp xe ra ngoại ô là tập thơ thứ tư của tác giả, với gần 80 bài
thơ, tác giả đã ghi lại những khoảnh khắc của cảm xúc, những hành trình
và những nơi anh đã đi qua. Ở đó, là quãng thời gian dài của sự chiêm
nghiệm, của ký ức và của hiện tại, nhưng sau tất cả là nỗi nhớ nhà, nhớ
Huế, nhớ những cơn mưa mùa đông xứ Huế.
| Nhà thơ Từ Hoài Tấn |
Nhà thơ Từ Hoài Tấn chia sẻ “ Đây là tập thơ mới nhất của tôi trong mười năm trở lại, trong những năm tháng ở miền Nam,với cuộc sống tấp nập, xô bồ, có những phút giây cần phải ra khỏi thành phố, ra ngoại ô để được ngắm trăng, được thở, được mở màn che mặt của mình để sống với chính mình, rời xa những lớp bụi đường và sự giả dối nào đó của con người”.
| Nhà thơ Nguyễn. Quốc Thái |
Theo nhà thơ Du Tử Lê: “ Thơ anh phản ánh nhiều mặt tình cảm, đời sống quê hương đất nước và tình người. tất cả chứa đựng chất hiện thực và hiện sinh trong thơ anh, có nhiều bài thơ đọc lên thấy hết sự thầm kín đó vào tehes giới nội tâm hơn là thế giới ngoại hình, rồi từ đó anh phá lệ, vượt thoát qua mọi thể thơ anh viết. Thơ anh tiềm ấn và sáng tạo, dòng thơ đi lần vào dạng thơ siêu thực, đó là khuynh hương siêu thực thơ mà rất ít tìm thấy ở nơi khác. Anh muốn vượt ra khỏi hiện hữu để trở về bản chất cố hữu của riêng anh”.
Một số hình ảnh tại buổi giới thiệu sách:
| Nhà thơ Võ Quê |
| Chị Như Nguyện - người bạn của tác giả ngâm thơ tại buổi giới thiệu sách |
| Dịch giả Bửu Ý |
| Nhà thơ Phạm Tấn Hầu |
Phương Anh
http://tapchisonghuong.com.vn/
Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018
Người em sầu mộng vướng víu nợ thi nhân
21:41 31/08/2018
Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị (1920-2002) là một gương mặt xuất sắc của nền mỹ thuật Việt Nam, được thế giới công nhận.
Không chỉ để lại cho cuộc đời những tác phẩm mang phong cách độc đáo,
Điềm Phùng Thị cũng đã góp phần tạo ra cảm hứng để thi nhân tiền chiến
Lưu Trọng Lư (1912-1991) viết nên những vần thơ xao xuyến nhiều thế hệ "Em là gái trong khung cửa/ anh là mây bốn phương trời/ anh theo cánh gió chơi vơi/ em vẫn nằm trong nhung lụa"!
Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị có tên thật Phùng Thị Cúc, sinh ra ở làng Châu Ê nằm ven đô Huế. Mồ côi mẹ từ nhỏ, tuổi thơ Phùng Thị Cúc theo thân phụ Phùng Duy Cẩn - một vị quan triều đình nhà Nguyễn sống nhiều năm trên Tây Nguyên, trước khi về lại Huế để học trường Đồng Khánh.
Năm 1936, Phùng Thị Cúc được cha gửi ra Hà Nội tiếp tục đèn sách với ước mơ bước chân vào cao đẳng hoặc đại học. Thương Phùng Thị Cúc một mình phận gái đi xa, người nhà đã gửi gắm Phùng Thị Cúc cho một nhân vật nổi tiếng có cùng hành trình là thi sĩ Lưu Trọng Lư.
Lúc ấy đang chủ trương Ngân Sơn Tùng Thư ở Huế, nhưng thi sĩ Lưu Trọng Lư đã có không ít năm tháng lăn lộn giới báo chí và văn chương Hà Nội, nên không xa lạ gì mảnh đất Thăng Long. Nhận lời nhờ cậy, thi sĩ Lưu Trọng Lư đưa nữ sinh Phùng Thị Cúc lên tàu, và choáng ngợp trước vẻ đẹp đài các của cô gái đồng hành.
Tàu chuyển bánh rời khỏi núi Ngự sông Hương. Những cảnh vật khác lạ của đồi cao vực thấp qua ô cửa toa tàu khiến nữ sinh Phùng Thị Cúc ngắm nghía say mê. Và điều nữ sinh Phùng Thị Cúc không biết, hoặc có biết cũng làm lơ, đó là suốt chuyến đi thi sĩ luôn ngắm nghía cô không rời mắt.
Sẵn tính ga - lăng với người đẹp, cộng với sự nhờ cậy từ Huế, khi tàu đến ga Hàng Cỏ thì thi sĩ Lưu Trọng Lư đưa nàng về tận nơi ở trọ đã được gia đình sắp xếp trước. Đó là một căn phòng nằm trong ngôi biệt thự gồm nhiều gian thiết kế biệt lập và nguy nga. Nàng đã yên ổn chốn trú ngụ, nhưng chàng ngẩn ngơ không nỡ bước chân đi.
Thi sĩ Lưu Trọng Lư đứng bần thần trước cổng biệt thự nhiều giờ đồng
hồ, chưa biết tính toán làm sao thương lượng với trái tim đang rối bời,
thì… gặp đồng nghiệp Phạm Hầu.
Cùng tuổi với Phùng Thị Cúc, nhưng Phạm Hầu (1920-1944) là con trai của quan thượng thư Phạm Liệu nên được cha đưa từ Quảng Nam ra Hà Nội học hành vài năm trước Phùng Thị Cúc.
Và dĩ nhiên, đẳng cấp của Phạm Hầu thì cũng có một căn phòng trong ngôi biệt thự sang trọng mà Phùng Thị Cúc vừa được gia nhập. Tuy đang theo học trường mỹ thuật Đông Dương, nhưng Phạm Hầu cũng là một thi sĩ với những câu thơ tình như "Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ chẳng biết xa lòng có những ai".
Thi sĩ Phạm Hầu dù làm thơ không nhiều, nhưng cũng được Hoài Thanh - Hoài Chân đưa vào cuốn "Thi nhân Việt Nam" như Lưu Trọng Lư. Cũng nòi thơ phú, cũng nòi… đa tình, Phạm Hầu lập tức gật đầu đồng ý khi thi sĩ đàn anh Lưu Trọng Lư xin… ở ké.
Trong ngôi biệt thự ấy, từ căn phòng của Phạm Hầu, chỉ cần mở cửa sổ ra là thấy… cửa sổ của căn phòng mà Phùng Thị Cúc đang cư ngụ. Hàng ngày, mặc kệ Phạm Hầu cặm cụi hết vẽ chân dung đến vẽ phong cảnh, thi sĩ Lưu Trọng Lư chỉ đứng bên cửa sổ để chờ đợi bóng dáng của Phùng Thị Cúc xuất hiện.
Bất ngờ và ngỡ ngàng khi nhận ra người "hộ tống" mình trên chuyến tàu Huế - Hà Nội cũng sống ngay bên cạnh, Phùng Thị Cúc có những rung động riêng của thiếu nữ mới lớn. Cánh cửa sổ của hai căn phòng đối diện bắt đầu những đợt mở khép có chủ đích, có tâm tư.
Vậy là suốt mùa đông căm căm giá rét, thi sĩ Lưu Trọng Lư vẫn chấp nhận cái lạnh thấu thịt da chỉ để chiêm ngưỡng dung nhan cô gái Huế kiêu sa phía khung cửa sổ bên kia.
Ngoài trời thì lạnh, mà trong lòng vẫn… nóng, thi sĩ Lưu Trọng Lư viết những dòng thơ ấm áp cho Phùng Thị Cúc: "Đôi mắt em lặng buồn/ Nhìn thôi mà chẳng nói/ Tình đôi ta vời vợi/ Có nói cũng không cùng/ Yêu hết một mùa đông/ Không một lần đã nói/ Nhìn nhau buồn vời vợi/ Có nói cũng không cùng/ Trời hết một mùa đông/ Gió bên thềm thổi mãi/ Qua rồi mùa ân ái/ Đàn sếu đã sang sông/ Em ngồi trong song cửa/ Anh đứng dựa tường hoa/ Nhìn nhau mà lệ ứa/ Một ngày một cách xa…".
Một mối tình… câm, mà lai láng nỗi niềm. Khuôn mặt Phùng Thị Cúc thoắt ẩn thoắt hiện sau khung cửa sổ, trở thành nguồn cảm hứng lai láng cho thi sĩ Lưu Trọng Lư: "Em chỉ là người em gái thôi/ Người em sầu mộng của muôn đời/ Tình em như tuyết giăng đầu núi/ Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời/ Ai bảo em là giai nhân/ Cho đời anh đau khổ/ Ai bảo em ngồi bên cửa sổ/ Cho vướng víu nợ thi nhân?".
Nữ sinh Phùng Thị Cúc đi vào bài thơ "Một mùa đông" của thi sĩ Lưu Trọng Lư, không chỉ bằng một đoạn ngắn, mà bằng… bốn đoạn dài. Thực chất, "Một mùa đông" gồm bốn bài thơ, nhưng viết cho một người, nên thi sĩ Lưu Trọng Lư gộp chung lại.
Trong bài thơ "Một mùa đông", cũng không khó để hiểu có những ngày Phùng Thị Cúc không… mở cửa sổ, vì đi học hoặc đi chơi, khiến thi sĩ Lưu Trọng Lư thảng thốt: "Ngày một ngày hai cách biệt nhau/ Chẳng được cùng em kê gối sầu/ Khóc chuyện thế gian cười ngặt nghẽo/ Cùng cười những chuyện thế gian đau".
Sau khi học xong trung học, Phùng Thị Cúc chọn ngành nha và tốt nghiệp khoá đầu tiên của Đại học Y Hà Nội vào năm 1946. Toàn quốc kháng chiến, Phùng Thị Cúc về vùng tự do phục vụ trong ngành y tế nhưng chẳng may mắc bạo bệnh phải sang Pháp điều trị.
Người con gái sông Hương những ngày bên sông Seine đã kết hôn với bác sĩ Bửu Điềm, bỏ lại tái tê bất tận trong bài thơ "Một mùa đông" của thi sĩ Lưu Trọng Lư: "Hãy xếp lại muôn vàn ân ái/ Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau/ Thuyền yêu không ghé bến sầu/ Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng/ Hãy như chiếc sao băng băng mãi/ Để lòng buồn, buồn mãi không thôi".
Chuyện tình có vẻ lãng đãng và mơ hồ nhưng nhiều dư âm nồng nàn với nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị, đã làm nên bài thơ "Một mùa đông" mang đậm phong cách thi sĩ Lưu Trọng Lư.
Thử đắm chìm trong không gian của bài thơ "Một mùa đông" sẽ có sự
đồng cảm với những nhận định của Hoài Thanh - Hoài Chân về thi sĩ Lưu
Trọng Lư: "Trong thơ Lư, nếu có tả chim kêu hoa nở, ta chớ tin, hay
ta hãy tin rằng tiếng kêu kia, màu hoa kia chỉ có ở trong mộng. Mộng! Đó
mới chính là quê hương của Lư. Thế giới thực của ta với bao nhiêu thanh
sắc huy hoàng, Lư không nghe thấy gì đâu. Sống ở thế kỷ hai mươi, ngày
ngày nện gót giày trên các con đường Hà Nội, mà người cứ mơ màng thấy
mình gò ngựa ở những chốn xa xăm nào… Nhưng dầu sao con người mơ mộng ấy
cũng đã rơi xuống giữa cõi trần, người đã sống một cuộc đời rất thực ở
trần gian. Có điều mỗi khi kể lại những chuyện thực trong đời mình,
người kể xen vào rất nhiều chuyện mộng. Nhưng chuyện dầu là chuyện mộng,
tình bao giờ cũng thực. Và mối tình chan chứa trong bài thơ bắt ta phải
bồi hồi".
Sau năm 1975, người gợi hứng và người làm nên bài thơ "Một mùa đông" có dịp tái ngộ tại Hà Nội, nhưng thân phận đã khác xưa. Bởi lẽ, Phùng Thị Cúc không còn là nữ sinh Huế rụt rè nữa.
Năm 30 tuổi, lúc đã có học vị Tiến sĩ Nha khoa, Phùng Thị Cúc khởi nghiệp điêu khắc với nghệ danh ghép tên chồng vào họ mình mà thành Điềm Phùng Thị. Những tác phẩm của Điềm Phùng Thị nhanh chóng chinh phục công chúng Pháp và vang danh khắp thế giới.
Có giai thoại kể rằng, trong một cuộc gặp gỡ văn nghệ sĩ, nhà văn Nguyễn Tuân đã nắm tay nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị đến trước mặt thi sĩ Lưu Trọng Lư và bảo rằng: "Đối diện nhau rồi, ngâm lại bài thơ xưa đi!".
Thi sĩ Lưu Trọng Lư thoáng bối rối, và đọc luôn mấy câu thơ trong bài thơ "Một mùa đông" hôm nào được thai nghén trên căn gác của anh bạn Phạm Hầu tốt bụng cho ở ké: "Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm/ Em vẫn đùa nô uống rượu say/ Em có biết đâu đời vắng lặng/ Lạnh buồn như ngọn gió heo may".
Năm 1991, tên tuổi Điềm Phùng Thị trở thành một mục từ trong cuốn "Từ điển Larousse - Nghệ thuật thế kỷ 20". Năm 1992, Điềm Phùng Thị hồi hương, về lại cố đô sinh sống, và lập nên Không gian nghệ thuật Điềm Phùng Thị tại số 1 Phan Bội Châu, thành phố Huế. Trước khi qua đời ở tuổi 82, nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị hiến tặng toàn bộ sản nghiệp của mình cho tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Bây giờ, cả nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị và thi sĩ Lưu Trọng Lư đã không còn trên dương gian. Thế nhưng, mối tình của họ vẫn ở lại cùng bài thơ "Một mùa đông" mà nhiều nhạc sĩ khai thác để viết nên ca khúc chinh phục công chúng hôm nay, như Anh Bằng với bài hát "Ai bảo em là giai nhân", Phạm Đình Chương với bài hát "Mắt buồn", Y Vân với bài hát "Người em sầu mộng"…
Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị có tên thật Phùng Thị Cúc, sinh ra ở làng Châu Ê nằm ven đô Huế. Mồ côi mẹ từ nhỏ, tuổi thơ Phùng Thị Cúc theo thân phụ Phùng Duy Cẩn - một vị quan triều đình nhà Nguyễn sống nhiều năm trên Tây Nguyên, trước khi về lại Huế để học trường Đồng Khánh.
Năm 1936, Phùng Thị Cúc được cha gửi ra Hà Nội tiếp tục đèn sách với ước mơ bước chân vào cao đẳng hoặc đại học. Thương Phùng Thị Cúc một mình phận gái đi xa, người nhà đã gửi gắm Phùng Thị Cúc cho một nhân vật nổi tiếng có cùng hành trình là thi sĩ Lưu Trọng Lư.
Lúc ấy đang chủ trương Ngân Sơn Tùng Thư ở Huế, nhưng thi sĩ Lưu Trọng Lư đã có không ít năm tháng lăn lộn giới báo chí và văn chương Hà Nội, nên không xa lạ gì mảnh đất Thăng Long. Nhận lời nhờ cậy, thi sĩ Lưu Trọng Lư đưa nữ sinh Phùng Thị Cúc lên tàu, và choáng ngợp trước vẻ đẹp đài các của cô gái đồng hành.
Tàu chuyển bánh rời khỏi núi Ngự sông Hương. Những cảnh vật khác lạ của đồi cao vực thấp qua ô cửa toa tàu khiến nữ sinh Phùng Thị Cúc ngắm nghía say mê. Và điều nữ sinh Phùng Thị Cúc không biết, hoặc có biết cũng làm lơ, đó là suốt chuyến đi thi sĩ luôn ngắm nghía cô không rời mắt.
Sẵn tính ga - lăng với người đẹp, cộng với sự nhờ cậy từ Huế, khi tàu đến ga Hàng Cỏ thì thi sĩ Lưu Trọng Lư đưa nàng về tận nơi ở trọ đã được gia đình sắp xếp trước. Đó là một căn phòng nằm trong ngôi biệt thự gồm nhiều gian thiết kế biệt lập và nguy nga. Nàng đã yên ổn chốn trú ngụ, nhưng chàng ngẩn ngơ không nỡ bước chân đi.
| Nữ sinh Phùng Thị Cúc lúc học tại Hà Nội. |
Cùng tuổi với Phùng Thị Cúc, nhưng Phạm Hầu (1920-1944) là con trai của quan thượng thư Phạm Liệu nên được cha đưa từ Quảng Nam ra Hà Nội học hành vài năm trước Phùng Thị Cúc.
Và dĩ nhiên, đẳng cấp của Phạm Hầu thì cũng có một căn phòng trong ngôi biệt thự sang trọng mà Phùng Thị Cúc vừa được gia nhập. Tuy đang theo học trường mỹ thuật Đông Dương, nhưng Phạm Hầu cũng là một thi sĩ với những câu thơ tình như "Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ chẳng biết xa lòng có những ai".
Thi sĩ Phạm Hầu dù làm thơ không nhiều, nhưng cũng được Hoài Thanh - Hoài Chân đưa vào cuốn "Thi nhân Việt Nam" như Lưu Trọng Lư. Cũng nòi thơ phú, cũng nòi… đa tình, Phạm Hầu lập tức gật đầu đồng ý khi thi sĩ đàn anh Lưu Trọng Lư xin… ở ké.
Trong ngôi biệt thự ấy, từ căn phòng của Phạm Hầu, chỉ cần mở cửa sổ ra là thấy… cửa sổ của căn phòng mà Phùng Thị Cúc đang cư ngụ. Hàng ngày, mặc kệ Phạm Hầu cặm cụi hết vẽ chân dung đến vẽ phong cảnh, thi sĩ Lưu Trọng Lư chỉ đứng bên cửa sổ để chờ đợi bóng dáng của Phùng Thị Cúc xuất hiện.
Bất ngờ và ngỡ ngàng khi nhận ra người "hộ tống" mình trên chuyến tàu Huế - Hà Nội cũng sống ngay bên cạnh, Phùng Thị Cúc có những rung động riêng của thiếu nữ mới lớn. Cánh cửa sổ của hai căn phòng đối diện bắt đầu những đợt mở khép có chủ đích, có tâm tư.
Vậy là suốt mùa đông căm căm giá rét, thi sĩ Lưu Trọng Lư vẫn chấp nhận cái lạnh thấu thịt da chỉ để chiêm ngưỡng dung nhan cô gái Huế kiêu sa phía khung cửa sổ bên kia.
Ngoài trời thì lạnh, mà trong lòng vẫn… nóng, thi sĩ Lưu Trọng Lư viết những dòng thơ ấm áp cho Phùng Thị Cúc: "Đôi mắt em lặng buồn/ Nhìn thôi mà chẳng nói/ Tình đôi ta vời vợi/ Có nói cũng không cùng/ Yêu hết một mùa đông/ Không một lần đã nói/ Nhìn nhau buồn vời vợi/ Có nói cũng không cùng/ Trời hết một mùa đông/ Gió bên thềm thổi mãi/ Qua rồi mùa ân ái/ Đàn sếu đã sang sông/ Em ngồi trong song cửa/ Anh đứng dựa tường hoa/ Nhìn nhau mà lệ ứa/ Một ngày một cách xa…".
Một mối tình… câm, mà lai láng nỗi niềm. Khuôn mặt Phùng Thị Cúc thoắt ẩn thoắt hiện sau khung cửa sổ, trở thành nguồn cảm hứng lai láng cho thi sĩ Lưu Trọng Lư: "Em chỉ là người em gái thôi/ Người em sầu mộng của muôn đời/ Tình em như tuyết giăng đầu núi/ Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời/ Ai bảo em là giai nhân/ Cho đời anh đau khổ/ Ai bảo em ngồi bên cửa sổ/ Cho vướng víu nợ thi nhân?".
Nữ sinh Phùng Thị Cúc đi vào bài thơ "Một mùa đông" của thi sĩ Lưu Trọng Lư, không chỉ bằng một đoạn ngắn, mà bằng… bốn đoạn dài. Thực chất, "Một mùa đông" gồm bốn bài thơ, nhưng viết cho một người, nên thi sĩ Lưu Trọng Lư gộp chung lại.
Trong bài thơ "Một mùa đông", cũng không khó để hiểu có những ngày Phùng Thị Cúc không… mở cửa sổ, vì đi học hoặc đi chơi, khiến thi sĩ Lưu Trọng Lư thảng thốt: "Ngày một ngày hai cách biệt nhau/ Chẳng được cùng em kê gối sầu/ Khóc chuyện thế gian cười ngặt nghẽo/ Cùng cười những chuyện thế gian đau".
Sau khi học xong trung học, Phùng Thị Cúc chọn ngành nha và tốt nghiệp khoá đầu tiên của Đại học Y Hà Nội vào năm 1946. Toàn quốc kháng chiến, Phùng Thị Cúc về vùng tự do phục vụ trong ngành y tế nhưng chẳng may mắc bạo bệnh phải sang Pháp điều trị.
Người con gái sông Hương những ngày bên sông Seine đã kết hôn với bác sĩ Bửu Điềm, bỏ lại tái tê bất tận trong bài thơ "Một mùa đông" của thi sĩ Lưu Trọng Lư: "Hãy xếp lại muôn vàn ân ái/ Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau/ Thuyền yêu không ghé bến sầu/ Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng/ Hãy như chiếc sao băng băng mãi/ Để lòng buồn, buồn mãi không thôi".
Chuyện tình có vẻ lãng đãng và mơ hồ nhưng nhiều dư âm nồng nàn với nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị, đã làm nên bài thơ "Một mùa đông" mang đậm phong cách thi sĩ Lưu Trọng Lư.
| Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị bên tác phẩm của mình. |
Sau năm 1975, người gợi hứng và người làm nên bài thơ "Một mùa đông" có dịp tái ngộ tại Hà Nội, nhưng thân phận đã khác xưa. Bởi lẽ, Phùng Thị Cúc không còn là nữ sinh Huế rụt rè nữa.
Năm 30 tuổi, lúc đã có học vị Tiến sĩ Nha khoa, Phùng Thị Cúc khởi nghiệp điêu khắc với nghệ danh ghép tên chồng vào họ mình mà thành Điềm Phùng Thị. Những tác phẩm của Điềm Phùng Thị nhanh chóng chinh phục công chúng Pháp và vang danh khắp thế giới.
Có giai thoại kể rằng, trong một cuộc gặp gỡ văn nghệ sĩ, nhà văn Nguyễn Tuân đã nắm tay nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị đến trước mặt thi sĩ Lưu Trọng Lư và bảo rằng: "Đối diện nhau rồi, ngâm lại bài thơ xưa đi!".
Thi sĩ Lưu Trọng Lư thoáng bối rối, và đọc luôn mấy câu thơ trong bài thơ "Một mùa đông" hôm nào được thai nghén trên căn gác của anh bạn Phạm Hầu tốt bụng cho ở ké: "Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm/ Em vẫn đùa nô uống rượu say/ Em có biết đâu đời vắng lặng/ Lạnh buồn như ngọn gió heo may".
Năm 1991, tên tuổi Điềm Phùng Thị trở thành một mục từ trong cuốn "Từ điển Larousse - Nghệ thuật thế kỷ 20". Năm 1992, Điềm Phùng Thị hồi hương, về lại cố đô sinh sống, và lập nên Không gian nghệ thuật Điềm Phùng Thị tại số 1 Phan Bội Châu, thành phố Huế. Trước khi qua đời ở tuổi 82, nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị hiến tặng toàn bộ sản nghiệp của mình cho tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Bây giờ, cả nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị và thi sĩ Lưu Trọng Lư đã không còn trên dương gian. Thế nhưng, mối tình của họ vẫn ở lại cùng bài thơ "Một mùa đông" mà nhiều nhạc sĩ khai thác để viết nên ca khúc chinh phục công chúng hôm nay, như Anh Bằng với bài hát "Ai bảo em là giai nhân", Phạm Đình Chương với bài hát "Mắt buồn", Y Vân với bài hát "Người em sầu mộng"…
Tuy Hòa
http://antgct.cand.com.vn/Nhan-vat/30CUTHANG__-Nguoi-em-sau-mong-vuong-viu-no-thi-nhan-507935/
Thứ Hai, 27 tháng 8, 2018
ĐẠP XE RA NGOẠI Ô - Tập thơ mới nhất của TỪ HOÀI TẤN
Xin mời đọc:
Tập thơ mới nhất của TỪ HOÀI TẤN vừa được ấn hành:
ĐẠP XE RA NGOẠI Ô
Bìa: Lê Thánh Thư
Phụ bản : Tranh Nguyễn Đình Thuần
Ảnh chân dung: MPK
Phụ lục : Các bài viết của Khổng Đức, Cao Thoại Châu, Du Tử Lê, Thận Nhiên, Viêm Tịnh
Phụ bản : Tranh Nguyễn Đình Thuần
Ảnh chân dung: MPK
Phụ lục : Các bài viết của Khổng Đức, Cao Thoại Châu, Du Tử Lê, Thận Nhiên, Viêm Tịnh
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2018
Số lượng in hạn chế, Tác giả sẽ dành 100 tập gởi cho quý độc giả yêu thích thơ và đọc thơ Từ Hoài Tấn. Xin gởi 150 ngàn VND (bao gồm 120 ngàn ấn phí + 30 ngàn cước Bưu điện) về Tài khoản số 103002342878 Ngân Hàng VietinBank cùng tên và địa chỉ người nhận chính xác. Tác phẩm sẽ gởi đến tận tay quý bạn với chữ ký đề tặng của tác giả.
Trân trọng cảm ơn.
Email: tuhoaitan@gmail.com
Trân trọng cảm ơn.
Email: tuhoaitan@gmail.com
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




