Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

Tiếu ngạo giang hồ

Những năm 90, xóm tôi chỉ có duy nhất một nhà có đầu video, nơi lũ trẻ con hay trốn ba mẹ ngồi xem những Anh hùng xạ điêu hay Hiệp khách hành. Những hàng rào bằng nứa ở xóm cũng phải thay liên tục, bởi lũ trẻ con nghịch dại thường ăn trộm để luyện Độc cô cửu kiếm và Tịch tà kiếm phổ.
Có lẽ ít ai thuộc thế hệ tôi mà không dính vài trận giao đấu sứt sẹo tay chân bởi muốn biến thành “võ lâm minh chủ” như trong phim chưởng. Bây giờ nhớ lại những năm tháng đó, trong đầu tôi vẫn hiện lên những mảng màu sắc sặc sỡ, nhòe nhoẹt vì chất lượng thấp, những đoạn băng nhiễu sóng, và giọng lồng tiếng miền Nam nhả từng chữ rành rọt.
Tôi chỉ biết đó là những câu chuyện nguyên tác từ Kim Dung khi lớn hơn một chút, biết dành mấy trăm đồng ăn sáng để thuê truyện kiếm hiệp. Thế giới mơ mộng của những giang hồ nghĩa hiệp, lãng tử không biết hồi đầu, những giai nhân tuyệt sắc, bang hội đầy mưu mô, với biết bao câu chuyện kì bí dễ dàng hấp dẫn những đứa trẻ mới lớn mơ mộng giải cứu thế giới. Với người lớn, trong một thực tại đầy khó nhọc và vất vả mưu sinh, thế giới của Kim Dung gần như đưa ra một sự giải thoát. 
Nhưng “sự giải thoát” đó không đồng nghĩa với phi thực tế. Không phải ngẫu nhiên mà những Tiếu ngạo giang hồ hay Thiên Long bát bộ thu hút được đông đảo thế hệ độc giả đến từ mọi độ tuổi. Có thể chính độc giả không nhận thấy: ẩn chứa trong những tác phẩm của ông không chỉ là các màn luyện chưởng võ biền, mà là thông điệp về cuộc sống, xã hội, nhân sinh. Bằng những hình ảnh các vị anh hùng, độc giả “cảm” được những ý niệm xã hội của Kim Dung, trước khi biết gọi tên chúng.
Thập kỷ 70, giữa giai đoạn Trung Quốc đang trải qua Cách mạng văn hóa, Kim Dung đứng ra và nói thẳng rằng các tác phẩm của ông tấn công chủ nghĩa sùng bái cá nhân. Thật vậy, những nhân vật nào được tôn lên mây xanh làm “võ lâm minh chủ” như Đông Phương Bất bại hay Nhạc Bất Quần rốt cuộc là những kẻ “lòng lang dạ sói”, đầy mưu mô hiểm độc. Đi cùng với đó tất yếu là sự phê phán quyền lực tuyệt đối, không từ thủ đoạn để thành công: cả Đông Phương Bất bại và Nhạc Bất Quần đều “tự cung” để luyện Quỳ hoa bảo điển và Tịch tà kiếm phổ, lên đến đỉnh cao của thiên hạ, rồi cùng có kết cục bi thảm.
Trong bài phỏng vấn, có lẽ là cuối cùng, của ông với New Yorker vào tháng 4 vừa rồi, Kim Dung còn khẳng định Hồng giáo chủ và Thần Long giáo - một giáo phái cuồng tín trong Lộc Đỉnh ký - là phép hoán dụ của ông với các phái chính trị trong giai đoạn đó.
Tác giả của những câu chuyện kiếm hiệp, nơi mà trong mắt nhiều độc giả khó tính, chỉ biết uống rượu, lang bạt, múa kiếm và tung chưởng, năm 1967 từng phải trốn sang Singapore khi bị liệt vào danh sách ám sát của một nhóm cực tả tại Hong Kong.
Những câu chuyện của ông còn là sự lựa chọn khó khăn giữa chính và tà, giữa lòng yêu nước và lợi ích của bản thân, giữa thuận theo cường quyền hay đi theo tiếng gọi của lương tri: Quách Tĩnh - một nhân vật người Hán sinh ra ở Mông Cổ - phải lựa chọn đi theo sức mạnh không thể cưỡng nổi của Thành Cát Tư Hãn hoặc đứng về phía dân tộc mình, hay Kiều Phong - một người Khiết Đan nhưng trưởng thành ở Trung Nguyên - nghe theo lệnh nhà vua hay đứng về phía anh em thân hữu của mình.
Những hình tượng đó là to tát, nhưng nếu quán chiếu lại, nó có thể đúng cho không chỉ là nhà nước, mà còn là với những cộng đồng nhỏ hơn ở các mức độ khác nhau. Những lựa chọn chính nghĩa, như trong truyện Kim Dung, nhiều khả năng mang lại thiệt thòi. Kiều Phong tự sát ở Nhạn Môn Quan, Quách Tĩnh - thay vì trở thành một ông vua dưới trướng Đại Hãn - phải chống lại kẻ chinh phục vĩ đại nhất. Với chủ nghĩa lãng mạn của mình, Kim Dung không cho phép các nhân vật chính, những người vô cùng lương thiện và có tâm hồn trong sáng, chịu đựng suốt đời.
Lớn lên, nhìn ra xã hội, soi chiếu tinh thần ấy vào những cuộc đấu tranh trong xã hội, tôi kịp nhận ra rằng duy trì tinh thần của Kim Dung khó khăn vô cùng; những anh hùng bảo vệ thành Tương Dương hiếm hoi ra sao; những Nhạc Bất Quần và Đông Phương Bất Bại dễ xuất hiện đến thế nào. Và chính lúc đó, tôi hiểu rằng việc nuôi dưỡng niềm tin trong sáng vào chính nghĩa, qua những tác phẩm chân phương in trong giấy màu nâu đã mủn năm xưa, quan trọng với đời người.
Trong “giang hồ” của Kim Dung, hay là trong xã hội thực của những mưu cầu chính trị và lợi ích, tác giả ấy đã tìm được cách truyền tải rất bình dị đến cho nhiều tầng lớp, về niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi sau cùng của chính nghĩa và lương tri.
Những đứa trẻ chúng tôi, đã rút trộm hàng rào để đuổi theo những ý niệm ấy, từ trước khi biết chúng thực sự là gì. Kim Dung nuôi dưỡng các thế hệ người đọc bằng việc thắp sáng hy vọng, rằng cứ sống tử tế, không vụ lợi, thì cuối cùng bạn sẽ được đền đáp. Mọi xã hội đều cần có niềm tin và hy vọng vào điều thiện, và có lẽ vì thế di sản của Kim Dung sẽ còn rất lớn dù ông đã đi về thế giới của riêng mình.
Nguyễn Khắc Giang
https://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/tieu-ngao-giang-ho

Nhà văn Kim Dung qua đời ở tuổi 94

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhà văn Kim Dung qua đời ở tuổi 94 tại Bệnh viện Hong Kong sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh tật.

Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung (phồn thể: 查良鏞, giản thể: 查良镛, bính âm: Cha Leung Yung), sinh vào ngày 6 tháng 2 năm 1924 tại trấn Viên Hoa, huyện Hải Ninh, địa cấp thị Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, trong một gia tộc khoa bảng danh giá. . Ông nội là Tra Văn Thanh làm tri huyện Đan Dương ở tỉnh Giang Tô. Tra Văn Thanh về sau từ chức, đến đời con là Tra Xu Khanh bắt đầu sa sút; Tra Xu Khanh theo nghề buôn, sau sinh 9 đứa con, Kim Dung là con thứ hai.


KimDung
nhà văn Kim Dung (Hình: Ngôi Sao)


Thuở nhỏ Kim Dung thông minh, lanh lợi, nghịch nhưng không đến nỗi quậy phá. Ông yêu thiên nhiên, thích nghe kể chuyện thần thoại, truyền thuyết, nhất là về những ngọn triều trên sông Tiền Đường. Đặc biệt ông rất mê đọc sách. Dòng họ Kim Dung có một nhà để sách gọi là "Tra thị tàng thư" nổi tiếng khắp vùng Chiết Tây, chứa rất nhiều sách cổ, những cuốn sách này làm bạn với ông từ rất bé.

Sáu tuổi, ông vào học tiểu học ở quê Hải Ninh. Ông rất chăm học, lại thêm mê đọc sách nên trở thành một học sinh giỏi của lớp. Thầy dạy văn cho ông lúc bé tên Trần Vị Đông, là người rất thương yêu và tin tưởng Kim Dung, đă cùng ông biên tập tờ báo lớp. Một số bài làm văn của Kim Dung, nhờ sự giới thiệu của thầy Đông đă được đăng lên Đông Nam nhật báo, tờ báo nổi tiếng nhất Trung Quốc bấy giờ.

Năm lên tám tuổi, ông lần đầu đọc tiểu thuyết võ hiệp, khi đọc đến bộ truyện Hoàng Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo, cảm thấy rất say mê, từ đó thường sưu tầm tiểu thuyết thể loại này.

Năm 13 tuổi, xảy ra sự biến Lư Câu Kiều, Kim Dung được gửi đến học trường trung học Gia Hưng ở phía Đông tỉnh Chiết Giang. Tuy xa nhà nhưng cuộc sống của ông cũng không khác mấy, ngoài đi học vẫn chúi đầu đọc sách, và vẫn đứng đầu lớp. Một hôm nhân dịp về thăm nhà, ông khoe gia đình cuốn sách Dành cho người thi vào sơ trung, một cuốn cẩm nang luyện thi, có thể coi là cuốn sách đầu tiên của ông, viết năm 15 tuổi và được nhà sách chính quy xuất bản. Đến khi lên bậc Cao trung, Kim Dung lại soạn Hướng dẫn thi vào cao trung. Hai cuốn sách in ra bán rất chạy, đem lại cho ông khoảng nhuận bút hậu hĩnh.

Năm 16 tuổi, ông viết truyện trào phúng Cuộc du hành của Alice có ý châm biếm ngài chủ nhiệm ban huấn đạo, người này tức giận, liền ép hiệu trưởng phải đuổi học ông. Cuộc du hành của Alice tuy đem lại tai hại, nhưng đã cho thấy tài tưởng tượng, cũng như tinh thần phản kháng của Kim Dung, mà sau này thể hiện rất rõ trên các tác phẩm. Ông lại chuyển đến học trường Cù Châu. Tại trường này có những quy định rất bất công với học trò, học sinh không được quyền phê bình thầy giáo, nhưng thầy giáo có quyền lăng nhục học sinh. Năm thứ hai tại trường, ông viết bài Một sự ngông cuồng trẻ con đăng lên Đông Nam nhật báo. Bài báo làm chấn động dư luận trong trường, được giới học sinh tranh nhau đọc. Ban giám hiệu trường Cù Châu đành phải bãi bỏ những quy định nọ. Không những vậy, một ký giả của Đông Nam nhật báo là Trần Hướng Bình do hâm mộ tác giả bài báo, đã lặn lội tìm đến trường học để thỉnh giáo, mà không biết tác giả chỉ là một học sinh.

Năm 1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, trường Cù Châu phải di dời, ban giám hiệu quyết định cho học sinh lớp cuối tốt nghiệp sớm để bớt đi gánh nặng. Kim Dung cũng nằm trong số đó. Sau ông thi vào học Luật quốc tế tại học viện chính trị Trung ương ở Trùng Khánh. Thi đậu, nhưng để đến được trường phải trải qua nhiều ngày đi bộ.

Tại học viện chính trị Trung ương, Kim Dung vẫn học rất giỏi, cuối năm nhất ông được tặng phần thưởng cho sinh viên xuất sắc nhất. Thời kỳ này, ông ngoài tham gia viết bình luận chính trị trên các báo, còn bắt tay vào làm cuốn Anh - Hán tự điển và dịch một phần Kinh Thi sang tiếng Anh, hai công trình này về sau dở dang. Ông học lên năm thứ ba thì tại trường bắt đầu nổi lên các cuộc bạo loạn chính trị. Có lần viết thư tố cáo một vụ bê bối trong trường, Kim Dung lần thứ hai trong đời bị đuổi học, năm 19 tuổi.

Sau ông xin làm việc tại Thư viện trung ương. Ở chung với sách, tri thức nâng cao lên rất nhiều. Ngoài đọc sách sử học, khoa học và những tiểu thuyết võ hiệp đương thời, ông còn đọc những cuốn như Ivanhoe của Walter Scott, Ba người lính ngự lâm, Bá tước Monte-Cristo của Alexandre Dumas (cha), những truyện này đã ảnh hưởng đến văn phong của ông. Tại đây ông bắt đầu nảy sinh ý định sáng tác truyện võ hiệp. Ông cũng sáng lập ra một tờ báo lấy tên Thái Bình dương tạp chí, nhưng chỉ ra được một số đầu, số thứ 2 nhà xuất bản không chịu in, tờ báo đầu tiên của ông xem như thất bại.

Năm 1944, ông đến làm việc cho một nông trường ở Tương Tây. Nơi này rất tịch mịch hẻo lánh, đến năm 1946, không chịu nổi ông xin thôi việc, người chủ nông trường không cản được, tiễn ông bằng một bữa thịnh soạn. Mùa hạ năm đó, ông về lại quê cũ ở Hải Ninh, cha mẹ nghe tin ông bị đuổi học, rất buồn. Điều ấy khiến ông quyết tâm ra đi lập nghiệp.

Năm 1946 từ biệt gia đình, ông về Hàng Châu làm phóng viên cho tờ Đông Nam nhật báo theo lời giới thiệu của Trần Hướng Bình, người ngày xưa đã tìm đến trường ông. Ông làm việc rất tốt, tỏ ra có tài thiên phú về viết báo. Năm sau, theo lời mời của tạp chí Thời dữ triều, ông thôi việc ở Đông Nam nhật báo, sang Thượng Hải tiếp tục nghề viết hay dịch thuật từ máy Radio. Chẳng bao lâu ông lại rời toà soạn Thời dữ triều, xin vào làm phiên dịch của tờ Đại công báo. Lúc này anh trai của Kim Dung là Tra Lương Giám đang làm giáo sư ở học viện Pháp lý thuộc đại học Đông Ngô gần đó, ông liền xin vào học tiếp về luật quốc tế.

Năm 1948, tờ Đại công báo ra phụ bản tại Hồng Kông, ông được cử sang làm việc ở đó, dịch tin quốc tế. Trước khi ra đi vài ngày, ông chạy đến nhà họ Đỗ để ngỏ lời cầu hôn cô con gái 18 tuổi, được chấp nhận. Hôn lễ tổ chức trang trọng tại Thượng Hải, người vợ đầu tiên Đỗ Trị Phân của ông rất xinh đẹp.

Năm 1950, trong cuộc Cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, gia đình ông bị quy thành phần địa chủ, cha ông bị đấu tố, từ đó ông mất liên lạc với gia đình. Trong lúc này, vợ ông không chịu nổi cuộc sống ở Hồng Kông, trở về gia đình bên mẹ, không chịu về nhà chồng nữa. Năm 1951 họ quyết định ly hôn.

Năm 1952, ông sang làm việc cho tờ Tân văn báo, phụ trách mục Chuyện trà buổi chiều, chuyên mục này giúp ông phát huy khả năng viết văn của mình hơn, ông rất thích, một phần vì khán giả cũng rất thích. Ông còn viết phê bình điện ảnh. Từ đó dần đi sâu vào lĩnh vực này. Từ 1953, rời Tân Văn báo, bắt tay vào viết một số kịch bản phim như Lan hoa hoa, Tuyệt đại giai nhân, Tam luyến… dưới bút danh Lâm Hoan. Những kịch bản này dựng lên được các diễn viên nổi tiếng thời bấy giờ như Hạ Mộng, Thạch Tuệ, Trần Tứ Tứ… diễn xuất. Được nhiều thành công đáng kể.

Từ khi mới vào làm cho Tân Văn Báo, ông quen thân với La Phù và Lương Vũ Sinh. Đến năm 1955, được hai người ủng hộ và giúp đỡ, ông viết truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu lục, đăng hàng ngày trên Hương Cảng tân báo, bút danh Kim Dung cũng xuất hiện từ đây. Hai chữ "Kim Dung" 金庸 là chiết tự từ chữ "Dung" 鏞, tên thật của ông, nghĩa là "cái chuông lớn". Thư kiếm ân cừu lục ra đời, tên Kim Dung được chú ý đến, dần dần, ông cùng Lương Vũ Sinh được xem như hai người khai tông ra Tân phái của tiểu thuyết võ hiệp. Ông viết tiếp bộ Bích huyết kiếm được hoan nghênh nhiệt liệt, từ đó chuyên tâm vào viết tiểu thuyết võ hiệp và làm báo, không hoạt động điện ảnh nữa.

Năm 1959, cùng với bạn học phổ thông Trầm Bảo Tân, ông lập ra Minh Báo. Ông vừa viết tiểu thuyết, vừa viết các bài xă luận. Qua những bài xă luận của ông, Minh Báo càng ngày được biết đến và là một trong những tờ báo được đánh giá cao nhất. Không như một số tờ báo do ông sáng lập khác, Minh Báo theo ông đến khi kết thúc sự nghiệp.

Năm 1972 sau khi viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng, ông đă chính thức nghỉ hưu và dành những năm sau đó biên tập, chỉnh sửa các tác phẩm văn học của mình. Lần hoàn chỉnh đầu tiên là vào năm 1979. Lúc đó, các tiểu thuyết võ hiệp của ông đă được nhiều độc giả biết điến. Các tác phẩm đã được chuyển thể thành phim truyền hình. Năm sau, ông tham gia giới chính trị Hồng Kông. Ông là thành viên của ủy ban phác thảo Đạo luật cơ bản Hồng Kông. Ông cũng là thành viên của Ủy ban chuẩn bị giám sát sự chuyển giao của Hồng Kông về chính phủ Trung Quốc.

Vào tháng 10 năm 1976, sau cái chết đột ngột của con trai trưởng của mình, Kim Dung đã quyết định tìm hiểu nhiều vào các triết lý của tôn giáo. Kết quả là ông tự mình quy y Phật giáo hai năm sau đó.

Năm 1993, ông thôi làm chức chủ bút, bán tất cả các cổ phần trong Minh Báo.

Năm 2006, ông xuất bản cuốn tản văn đầu tiê

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018

THƠ SƯU TẬP THANH TÂM TUYỀN




THƠ SƯU TẬP
THANH TÂM TUYỀN
(1936-2006)


TTT 9


TẠI SAO ANH LÀM THƠ
Bài Tựa Tập Thơ Vào Đời của nhà thơ Trần Thanh Hiệp
Sáng Tạo xuất bản,1966.

Tại sao làm thơ?  Tại sao làm thơ lúc này? Tại sao anh làm thơ không làm gì khác?... Phải không anh những tự vấn, tự khảo miên man úp chụp xuống đầu không gỡ thoát, mỗi khi thấp thoáng tiếng đập cánh cửa của một loài chim muốn bay lên?   Loài chim nào đó?  Của hoàng hôn hay của đêm khuya?  Đã lâu rồi chúng ta chẳng còn tin thơ là nhịp động phiêu mù của con tim, con tim rãy rụa vì ghi nhận cảm xúc của chấn động ngoại giới lan truyền.  Con tim đã ốm yếu chỉ biết lắng nghe rồi than thở con tim rách rưới nghèo nàn vì lãng mạn bán rao những tuyệt vọng chán chường.  Đã lâu rồi phải không anh?  Thơ là mở cho nhìn thấy, nói như một nhà thơ hiện đại.  Trong đời người rối mù hỗn độn, tan nát và điên khùng che khuất mọi viễn tượng, trong lịch sử khắc nghiệt, tàn nhẫn quay cuồng như cửa ngỏ hư vô, mở cho nhìn thấy những thực tại còn lánh mặt, bi chôn vùi, những điều khả hữu của đời người của lịch sử.  Mở và nhìn thấy là tác động của trí tuệ – một trí tuệ tiến về mọi chiều đến tận cùng các giới hạn, một trí tuệ tự tạo tự do và muốn thực tại cũng tự do.

 Thơ chính là trí tuệ thiên nhiên lang thang kiếm tìm sự thật và hủy diệt sự thật – trí tuệ nảy sinh từ thực tại chia lìa, muốn đi thoát ôm theo thực tại vào vùng trời nào, nhưng chúng ta, chúng ta nhìn thấy được gì phải nhìn thấy được gì không?  Hay bị dìm ngập trong hồi tưởng sót xa trong huyễn ảnh thảng thốt?  Trí tuệ chúng ta có đủ sức thành hình hay bị trói liệt trong cảnh ngộ?  sa đọa vào vũng lầy ngôn từ – ôi những ý niệm giáo điều, hệ thống mòn mỏi, những bộ mặt lem luốc của thực tại – trong giả trá kỹ thuật – như tên hề đùa rỡn bằng cung cách buồn bã – quỵ lụy hèn mọn, phô bầy như một sản phẩm dư thừa?  Phải chăng trí tuệ của chúng ta đã chỉ còn là trí nhớ ray rứt về cuộc hành trình không thực hiện nổi – trí nhớ bi thảm đui mù - ? Và, thơ của chúng ta như con chim cất cánh bay cao trong đêm giá cô đơn tìm về mặt trời hay chỉ là con chim đã sập bẫy kêu những tiếng mê sảng?

Tại sao anh làm thơ không làm gì khác?  Tại sao anh làm thơ lúc này?  Tại sao làm thơ?
(10-1966)

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018

Nhà văn Kim Thúy ‘nhìn chữ là thấy thương’



 Nhà văn Kim Thúy tại Festival America, tháng 9, 2010. (Hình: Camille Gévaudan)


“Không có. Không có.” Kim Thúy cười lớn, khẳng định “không có” chuyện cô sẽ đoạt Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương (the New Prize in Literature), được mệnh danh “giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương 2018.”
Giải thưởng mới “tính theo số người bỏ phiếu.” Kim Thúy nói với VOA, cô ngạc nhiên, và độc giả của cô cũng ngạc nhiên, về việc cô có tên trong số 47 tác giả được đưa ra cho công chúng bình chọn.
“Chẳng hạn, trong 47 người đó, có nhà văn Rowling. Chỉ cần 0.01% độc giả của Rowling bỏ phiếu, thì tôi đã không có tên trong số 4 người [vào vòng trong].” Rồi cô cười lớn, “chắc Rowling không để ý.”
Hàn Lâm Viện Thụy Điển quyết định hoãn công bố giải Nobel Văn Chương 2018 do các điều tiếng về scandal liên quan đến giám khảo của giải thưởng danh giá này. Vì lý do ấy, các quản thủ thư viện Thụy Điển cùng thành viên trong cộng đồng văn hóa và nghệ thuật quyết định lập ra một giải thưởng khác, chỉ trong năm nay, để lấp vào khoảng trống của Nobel Văn Chương.
Tôi hãnh diện về vẻ đẹp của Việt Nam mình. Có những cái nhỏ, nhỏ, nhỏ của Việt Nam mình mà mình không để ý tới. Chẳng hạn chữ “ru,” không ngờ một chữ “ru” mà đẹp đến như vậy.
Nhà Văn Kim Thúy
Văn bản nói về lý do ra đời của Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương có đoạn: “Trong thời điểm mà giá trị nhân văn ngày càng bị thách thức, thì văn chương trở thành lực đối kháng với sự đàn áp và thái độ vô cảm. Bây giờ là thời điểm quan trọng hơn bao giờ hết giải thưởng văn chương cao quý nhất thế giới phải được trao tặng.”
Các thành viên trong ban tổ chức Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương chọn ra danh sách 47 nhà văn trên toàn thế giới, rồi để công chúng bình chọn. Bốn người có số phiếu cao nhất sẽ được xét chọn bởi ban giám khảo, gồm giáo sư văn chương Lisbeth Larsson, nhà báo kiêm thủ thư Marianne Steinsaphir, nhà phê bình kiêm chủ bút Peter Stenson, và giám đốc thư viện, Gunilla Sandin.
Trả lời tờ báo National Post, Kim Thúy cũng nói xác suất để mình thắng giải thưởng này là “dưới zero phần trăm.” Cô nói về 3 nhà văn trong danh sách được bình chọn (Maryse Condé - the Guadeloupe và Pháp, Haruki Murakami - Nhật Bản; và Neil Gaiman - Anh): “Họ là những biểu tượng văn hóa – những nhà văn dày dạn kinh nghiệm – trong khi tôi chỉ mới bắt đầu hành trình của mình.”
Rồi cô nói đùa: “Có thể gia đình tôi hơi đông người!”
Kim Thúy thật lòng không tin mình sẽ thắng giải, và cô bông đùa thoải mái về giả thuyết sẽ trở thành “khôi nguyên giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương.”
Thế nhưng, con đường đi vào văn chương của tác giả các tác phẩm có tựa đề độc đáo, “Ru,” “Vi,” “Man,” lại mang đậm sự ray rứt về thân phân con người di dân, tị nạn, và lòng yêu mến đến sâu thẳm giá trị văn hóa Việt Nam.
“Tôi hãnh diện về vẻ đẹp của Việt Nam mình. Có những cái nhỏ, nhỏ, nhỏ của Việt Nam mình mà mình không để ý tới. Chẳng hạn chữ “ru,” không ngờ một chữ “ru” mà đẹp đến như vậy. Khi tôi tìm đến tiếng Pháp thì chữ “ru” trong tiếng Pháp rất dài. Ru con ngủ là một cái gì rất là dài, thế mà “ru” chỉ là một chữ thôi. Thành ra tôi thấy nó hay quá đi, và thấy mình phải chia sẻ.” Kim Thúy nói với VOA.
Cách “chia sẻ” của Kim Thúy cũng rất lạ: Cô muốn, qua mỗi tác phẩm của mình, độc giả ngoại quốc lại được học thêm một vài chữ tiếng Việt. Và sự chia sẻ ấy bắt đầu ngay từ tựa đề của sách.
“Chỉ một “sound” đã có ý nghĩa rồi. Chữ “Man,” tức là “Mãn”, đẹp thế nào. Mãn, là mãn nguyện. Nhìn chữ là thấy thương. Hay “ru,” tiếng Pháp cũng có ý nghĩa. “Man,” tiếng Anh cũng có nghĩa. “Vi,” cũng gần như “C’est la Vie” trong tiếng Pháp. Lúc nào cũng có ý nghĩa của 2, 3 ngôn ngữ. Nhưng lúc nào cũng muốn có tiếng Việt Nam. Tôi muốn độc giả thấy chữ viết của tiếng Việt mình. Tức là độc giả của tôi bây giờ biết ít nhất là một chữ tiếng Việt. Còn trong tác phẩm “Man,” gần như mỗi trang đều có một chữ tiếng Việt, để người ta thấy tiếng Việt mình có dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng…”
“Ru”, xuất bản cách đây gần 10 năm, là một trong những tác phẩm thành công nhất của Kim Thúy. Tác phẩm, được viết bằng tiếng Pháp, được dịch sang 27 ngôn ngữ, gần đây nhất là dịch sang tiếng Ukraine.
Nhưng Kim Thúy “thấy buồn” khi “Ru” đến nay vẫn còn “ăn khách.”
“Có nhiều nước mua và dịch Ru ra tiếng của họ, bây giờ vẫn còn, thành ra tôi thấy Ru cứ còn mới như là một em bé. Nhưng rất buồn là còn phải dùng chữ di dân, tị nạn trong tác phẩm, chỉ mong là một ngày nào không cần dùng chữ này nữa thôi. Nhưng mà rồi chiến tranh hết ở đây rồi ở kia. Thành ra ở phương diện ấy, nếu cuốn sách này còn mới hoài, còn nói về vấn đề của hiện tại bây giờ… Tôi mong là một ngày nào đó, cuốn sách này chỉ nói về một chuyện rất xa xưa trong quá khứ, không ăn nhập gì với thời hiện tại.”
Mặc dầu đã có mặt tại 27 quốc gia khác nhau, "Ru" vẫn chưa xuất hiện tại Việt Nam. Kim Thúy nói có lẽ vì Ru nói về chuyện vượt biển, là chuyện vẫn còn "khó nói" ở trong nước. Và cô cho rằng mình có thể "đợi một tý."
Tôi ngủ gục quá nhiều ở các đèn đỏ. Ngủ gục ở đèn đỏ thì rất nguy hiểm, nên lúc đầu tôi ăn hạt dưa. Nhưng ăn hạt dưa riết rồi hư răng. Thành ra đổi lại viết lúc dừng đèn đỏ. Thành ra cuốn sách này (Ru) là do những cái đèn đỏ.
Nhà Văn Kim Thúy
Kim Thúy vượt biên năm 1978, lúc mới 10 tuổi, rồi sang định cư tại Canada. Cô tốt nghiệp ngành Luật, đến năm 1998 thì về Việt Nam làm việc 4 năm. Đối với cô, 4 năm này là cơ hội để cô học lại văn hóa Việt Nam, là văn hóa mà cô tưởng mình “đã hiểu”.
“Thật ra thì tôi thấy tôi nhầm cơ. Tưởng là hiểu Việt Nam, mà thật ra trở lại Việt Nam sau 20 năm thì Việt Nam trở thành một xứ khác rồi. Mà ở đâu cũng vậy, luôn luôn có sự thay đổi. Tôi sanh ở Sài Gòn mà khi trở về làm việc là làm ở Hà Nội, lại là một xứ mới (cười lớn). Và như vậy phải học trở lại, và nhờ học trở lại tôi tìm ra cái đẹp đặc sắc của Việt Nam mình. Nếu không trở lại Việt Nam trong 4 năm đó, tôi không nghĩ có thể viết được; sẽ không thể biết làm sao để trân quý vẻ đẹp riêng của Việt Nam. Thành ra nhờ 4 năm ấy, trở về một nơi mình nghĩ mình biết, mà mình không biết, đó là một sự học hỏi phải làm lại từ đầu.”
Kim Thúy luôn khẳng định, rằng cô không chọn văn chương, mà văn chương chọn cô, từ một sự tình cờ nằm ở những đèn xanh, đèn đỏ ở các ngã tư đường tại Montreal.
“Tôi ngủ gục quá nhiều ở các đèn đỏ. Ngủ gục ở đèn đỏ thì rất nguy hiểm, nên lúc đầu tôi ăn hạt dưa. Nhưng ăn hạt dưa riết rồi hư răng. Thành ra đổi lại viết lúc dừng đèn đỏ. Thành ra cuốn sách này (Ru) là do những cái đèn đỏ. Mà tôi thích quá nên hay tìm những cái đèn đỏ lâu nhất, dài nhất ở Montreal để đi. Nhiều khi đi thành một vòng để tìm đèn đỏ dài thiệt dài để mình có thể viết tí xíu.”
“Lúc đầu cũng định thử [viết] một tháng thôi, và vì mình xuất thân là di dân, tị nạn. Rồi một tháng thành hai tháng, rồi năm tháng, rồi một năm, rồi thành một cuốn sách. Và cũng không nghĩ cuốn sách được nhiều người đọc như thế. Bây giờ nếu có ai mời nói về vấn đề di dân thì em cám ơn, vì có cơ hội nói cho những người đó; vì ít khi mình đưa microphone cho một người di dân, một người tị nạn nói. Thành ra, nếu tôi có cơ hội được đứng lên nói cho những người không có cơ hội, những người vượt biển mất tích hoặc chết ở biển, thì tôi nghĩ tôi có trách nhiệm nói giúp cho họ. Và hễ có cơ hội thì cứ nói, nhất là bây giờ có nhiều vấn đề về di dân.”
The CBC, hãng tin Canada, 47 nhà văn được chọn có nhiều lối viết và thể loại khác nhau, từ nhà văn hư cấu nổi tiếng Haruki Murakami, Cormac McCarthy, Don DeLillo, Zadie Smith và Elena Ferrante, đến các nhà văn viết cho thiếu nhi, như J.K. Rowling và Meg Rosoff, hay nhạc sĩ Patti Smith và nhà văn châm biếm giả tưởng nổi tiếng Neil Gaiman.
Trong khi ấy, Kim Thúy, nhà văn Canada gốc Việt, thì cho rằng mình được chọn chỉ vì nói đúng chuyện vào “đúng lúc, đúng thời.”
“Cuốn sách Ru là do một người bạn của Kim Thúy cầm mang đến một nhà xuất bản chứ bản thân tôi không có liếm tem, bỏ vào bao thơ để gởi. Thế rồi cuốn sách được chấp nhận rất nhanh. Thành ra cuốn sách này là ai chọn tôi chứ cá nhân chỉ là người gởi thông điệp.”
Và vai trò “gởi thông điệp,” theo Kim Thúy, chỉ có tính giai đoạn: “Rồi năm năm sau, vai trò đó lại trao cho người khác rồi tôi đi làm chuyện khác (cười lớn). Người Việt Nam mình hay nói “đúng lúc, đúng thời”, thì tôi chỉ nói cuốn Ru là đúng lúc, đúng thời.”
Lịch sử dân tộc là một cuốn sách dày, và Kim Thúy chỉ e rằng, một trang trong cuốn sách lịch sử ấy sẽ mất đi, hay bị bỏ trống, chỉ vì những chứng nhân của giai đoạn ấy không kịp viết lại những điều đã xảy ra. Viết, và viết đúng sự thật đã xảy ra, là thông điệp mà cô muốn gởi đến độc giả gốc Việt của mình: “Quan trọng là tất cả chúng ta đều viết, không chỉ văn sĩ mới viết. Những gì chúng ta viết là để lại cho thế hệ mới, giống như dây curoa, luôn tiếp tục vận hành. Mình là con cháu của ông bà mình, chứ không chỉ là mình, thành ra, tôi mong lúc nào cũng viết để để lại. Bởi vì “trang” ấy, không có sách lịch sử nào viết lại cả.”
Và mọi câu chuyện của từng người Việt Nam đã sống qua một giai đoạn nào đó, được cho vào một chiếc hộp, để các thế hệ sau có thể trở vô để đọc, từng câu chuyện một.

 https://www.voatiengviet.com/a/kim-thuy-nha-van-nobel-van-chuong-2018/4577080.html

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

Bài nói của nhà văn, dịch giả Bửu Ý trong buổi giới thiệu tập thơ “Đạp xe ra ngoại ô” của Từ Hoài Tấn tại tòa soạn tạp chí Sông Hương ở Huế






TỪ HOÀI TẤN, tác giả tập thơ
ĐẠP XE RA NGOẠI Ô

BỬU Ý

Cầm tập thơ của Từ Hoài Tấn trên tay, nhìn trang bìa trình bày thanh đạm mà đẹp, tôi đọc thấy nhan đề tập thơ
ĐẠP XE RA NGOẠI Ô
Một nhan đề gợi nhớ một không gian rộng mở, một không gian dự trữ năng lượng của một thành phố và có sức hấp dẫn có khi còn hơn cả lòng thành phố.
Cũng giống như ở Huế, ngày xưa người ta quen gọi là ngoại ô những vùng như Kim Long, Bãng Lãng, Bến Ngự, Vỹ Dạ … thì ở Saigon cũng có những vùng ngoại ô như Thủ Đức, Phú Lâm, Hóc Môn …
Khi bước chân đi đến ngoại ô tức là đã đi xuyên phá nội thành. Ngoại ô là một hấp lực ly tâm giúp thành phố dãn rộng và nó còn chứa đựng nhiều sản phâm riêng biệt mà nội thành không có. Thí dụ Saigon xưa nay làm gì có ánh trăng, cho nên muốn thưởng trăng thì phải ra ngoại ô. Thậm chí Saigon hầu như thiếu cả khí trời, muốn hít thở đầy phổi cũng phải ra ngoại ô.
Có những tác giả thơ, nhạc động lòng vì ngoại ô, vì bao nhiêu hình ảnh, âm thanh của ngoại ô bị bỏ quên một cách oan uổng, như trong ca khúc của Đỗ Kim Bảng hay Phạm Thế Mỹ …
Ngoại ô có mặt trong thơ cũa Từ Hoài Tấn nhưng lại bày ra một bộ mặt khác:

Đây khu ngoại ô
Đàn bà và đàn ông cùng một bộ đồng phục
(MỘT BUỔI CHIỀU RA KHU NGOẠI Ô, trích, trang 5)

Ngoại ô của Từ Hoài tấn, ngược lại với thông thường, không phải là bình oxy của Saigon, mà là một loại thông hành địa dịch đưa dẫn vào thành phố, trở thành một vùng đất hoạt động bên lề mà người ta dễ bỏ qua hoặc dể quên.

* * *

Đọc đi đọc lại thơ của Từ Hoài Tấn, rải rác có những câu thơ như thế này:

Nếu không có ngày lưu lạc
Sao ta  một chuyến về
Cầm tay người nghe đã khác
Màu da rám nắng chân quê
(XA HUẾ, trích, trang 38)
Hoặc là:
Định cư hay du cư
Chí là ý niệm hờ hững
(ĐỊNH CƯ, trích, trang 115)
Hoặc là:
Kỷ niệm ghi dấu cùng năm tháng
Khi bước qua cuộc đời này,
Sẽ còn ai để kể lại
Mười lăm năm chìm đắm ở miền Tây
(SÔNG NƯỚC MIỀN TÂY, trích, trang 22)

Đọc mấy câu thơ này, tôi tự nhiên giật mình, “Mười lăm năm chìm đắm ở miền Tây”. Giống như thể “mười lăm năm” là một hạn kỳ, không hiểu là ngắn hay dài, nhưng có lẽ là vừa đủ để nếm trải đủ mùi đủ vị của một cuộc sống lưu lạc, một hạn kỳ thu tóm lại một kiếp phù sinh.
Và cũng giống như Stendhal có nói tới hiện tượng “kết tinh” tình cảm trong Tình Yêu thì ở đây, thiết tưởng cũng tương tự như thế, mười lăm (15) năm là thời hạn kết tinh đắng xót của một con người.
Tôi lại còn miên man liên tưởng tới 15 năm đoạn trường của Thúy Kiều và luôn cả 15 năm cuối đời của Nguyễn Du sống ở Huế, xa quê hương, và viết nên Truyện Kiều.
Lưu lạc, lưu đày, là một vấn nạn của thời đại, và cũng có thể không chỉ là thời đại mà thôi, mà đó là vấn nạn muôn đời của nhân sinh.
Đó là chưa kể đến tình cảnh lưu lạc ngay trên quê hương của mình trong những thời khắc con người cảm nhận một nỗi khó sống, khó thích nghi dù là ở giữa một môi trường vốn quen biết của mình.
“Lưu đày” và “quê nhà” xưa nay là một cặp phạm trù đối lập nhau triệt để nhưng, ác thay, cả hai không loại trừ nhau mà lại bao hàm nhau làm điều kiện hiện hữu song đôi, vừa lẩn tránh nhau, vừa thách đố nhau: phải lưu đày mới biết quý quê nhà, có quê nhà rồi vẫn ngóng lưu đày …
Tập thơ của Từ Hoài Tấn vô hình trung là một lời nhắc nhở, một lời nhắn gửi đến mỗi một chúng ta

Huế 13/9/2018
                                                                                                BỬU Ý






Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

Giới thiệu tập thơ Đạp xe ra ngoại ô của tác giả Từ Hoài Tấn

08:02 | 14/09/2018
Chiều ngày 13/9,  Tạp chí Sông Hương đã tổ chức giới thiệu tác phẩm Đạp xe ra ngoại ô của nhà thơ Từ Hoài Tấn.
Giới thiệu tập thơ Đạp xe ra ngoại ô của tác giả Từ Hoài Tấn
Nhà thơ Lê Vĩnh Thái - Phó Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương phát biểu giới thiệu sách
Nhà thơ Từ hoài Tấn tên thật là Hồ Văn Hiền, sinh năm 1950 tại làng Chuồn - An Tuyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ tập niên 1960 - 1970 anh có nhiều sáng tác thơ xuất hiện trên các tạp chí Văn, Nghệ Thuật, Vấn Đề, Trình Bày, Khởi Hành, Ý Thức, Tuổi Ngọc… và tạp chí Văn, Thanh Niên, Văn Nghệ thành phố Hồ chí Minh, Tạp chí Sông Hương. Anh đã xuất bản nhiều tập thơ như: Hành tinh phiêu lạc, Nxb. Thuận Hoá, 2003; Đi, đứng và chạy... với thời gian, Nxb. Hội Nhà văn, 2012; Phục hưng tôi & em, Nxb. Hội Nhà văn, 2013.
Tác phẩm " Đạp xa ra ngoại ô" của tác giả Từ Hoài Tấn
Tập thơ “Đạp xe ra ngoại ô là tập thơ thứ tư của tác giả, với gần 80 bài thơ, tác giả đã ghi lại những khoảnh khắc của cảm xúc, những hành trình và những nơi anh đã đi qua. Ở đó, là quãng thời gian dài của sự chiêm nghiệm, của ký ức và của hiện tại, nhưng sau tất cả là nỗi nhớ nhà, nhớ Huế, nhớ những cơn mưa mùa đông xứ Huế.
Nhà thơ Từ Hoài Tấn

Nhà thơ Từ Hoài Tấn chia sẻ “ Đây là tập thơ mới nhất của tôi trong mười năm trở lại, trong những năm tháng ở miền Nam,với cuộc sống tấp nập, xô bồ, có những phút giây cần phải ra khỏi thành phố, ra ngoại ô để được ngắm trăng, được thở, được mở màn che mặt của mình để sống với chính mình, rời xa những lớp bụi đường và sự giả dối nào đó của con người”.
Nhà thơ Nguyễn. Quốc Thái

Theo nhà thơ Du Tử Lê: “ Thơ anh phản ánh nhiều mặt tình cảm, đời sống quê hương đất nước và tình người. tất cả chứa đựng chất hiện thực và hiện sinh trong thơ anh, có nhiều bài thơ đọc lên thấy hết sự thầm kín đó vào tehes giới nội tâm hơn là thế giới ngoại hình, rồi từ đó anh phá lệ, vượt thoát qua mọi thể thơ anh viết. Thơ anh tiềm ấn và sáng tạo, dòng thơ đi lần vào dạng thơ siêu thực, đó là khuynh hương siêu thực thơ mà rất ít tìm thấy ở nơi khác. Anh muốn vượt ra khỏi hiện hữu để trở về bản chất cố hữu của riêng anh”.
Một số hình ảnh tại buổi giới thiệu sách: 
Nhà thơ Võ Quê
Chị Như Nguyện - người bạn của tác giả ngâm thơ tại buổi giới thiệu sách
Dịch giả Bửu Ý
Nhà thơ Phạm Tấn Hầu
Phương Anh

http://tapchisonghuong.com.vn/

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

Người em sầu mộng vướng víu nợ thi nhân

21:41 31/08/2018

Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị (1920-2002) là một gương mặt xuất sắc của nền mỹ thuật Việt Nam, được thế giới công nhận.