Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

Vĩnh biệt Phạm Công Thiện




NVTPHCM- Phạm Công Thiện sinh ngày 01.6.1941 ở Mỹ Tho nay thuộc tỉnh Tiền Giang, đã qua đời vào ngày 08.3.2011 tại thành phố Houston, Texas, Hoa Kỳ. Ông là giáo sư, nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu triết học nổi tiếng từ trước năm 1975 ở Sài Gòn; tác giả của 2 tập thơ Ngày sanh của rắn và Trên tất cả đỉnh cao là im lặng cùng nhiều công trình nghiên cứu như: Nguyễn Du- đại thi hào dân tộc, Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử, Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, Hố thẳm của tư tưởng, Ý thức bùng vỡ, Tinh tuý trong sáng của đạo lý Phật giáo,… Năm 2009, tập thơ Trên tất cả đỉnh cao là im lặng của Phạm Công Thiện được NXB Văn Hoá Sài Gòn ấn hành ở Việt Nam.
Đối với nhiều người, Phạm Công Thiện trước hết là một nhà thơ tài năng, độc đáo. Ông làm thơ không nhiều, nhưng thơ ông thấm đẫm chất thiền, triết lý nhân sinh và nhiều chiều kích vũ trụ thể hiện qua ngôn ngữ thơ bay bổng, lạ lẫm vừa giống vừa khác với những nhà thơ cùng thời với ông.
Chúng tôi xin giới thiệu đến độc giả chùm thơ của Phạm Công Thiện- một thi sĩ Việt vừa đi vào cõi vĩnh hằng. (PH)


Đi

Đã đi thì đã đi rồi
Thượng phương trùng điệp thấy gì nữa đâu
Hạ phương ngày tháng bể dâu
Sắt son tình cũ phượng cầu túy hương
Có còn gì nữa mà thương
Buổi trưa nằm ngủ thấy nường năm xưa.

Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch trùng khơi phong kiều
Chuyển hình trên đỉnh cô liêu
Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn
Đại Huyền biến ngưỡng triêu tôn
Tiền thân Tây Tạng nhập hồn chiêm bao
Án nga nga nẵng bạch nào
Một luồng sáng rực chiếu vào trái tim

Năm nàng thiên nữ tôn nghiêm
Trùng quan ngũ sắc ứng điềm tán không
Án Đa La tịch mịch hồng
Mười phương xuất hiện những đồng sinh thiên
Bát Nhã là gái thiên tiên
Khoan thai cởi áo mây hiền trên cao
Gió lùa thơm tóc tơ đào
Thập bát Không Định tiêu dao tiếng đàn
Trời mưa chim ngủ trên ngàn
Sắt son tình cũ nước tràn sang sông

Đã đi rồi có đi không
Thượng phương trùng điệp cỏ hồng thúy hương
Đi đâu mà lại lên đường
Hạ phương còn gặp cô nường năm xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Sắt son triều ngưỡng tình xưa hiện về
Phượng cầu ngũ lĩnh sơn khê
Một bông hồng nở bốn bề lặng im
Năm nàng tiên đậu vào tim
Âm nhập dương khởi lim dim xuất thần

Nhập định tam muội tần thân
Trở về động cũ như lần gặp xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Đền thiêng triệu ngưỡng người xưa kiếp nào
Tình bay lên nóng trăng sao
Gió lùa thơm tóc cô nào năm xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Thương phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch bỏ đời biệt tăm.


Ngày Sanh Của Rắn
(trích)

I
tôi đi đông chìm
trời âm u thung lũng khô
nhiều mây chim bay không nổi

tôi đi
dưới kia sụp đổ
núi cấm nổ tôi ra
cửu long ca từ tây tạng

tôi về
tôi hiện
đèn tắt trời gió tắt trăng
chim lạ
kêu tiếng người
hố thẳm ra đời
tôi bay trên biển

II
tôi nằm cho rã chiếu cạp điều
nước chảy lên vùng phố tịch liêu
tôi nhớ một lần cây quế mọc
tôi đứng gọi hương trọn buổi chiều

III
mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
cây khế đồi cao trổ hết bông

IV
trời mưa nữu ước cây mọc
nhớ hương trời mưa ngày tháng
nhớ hương đường hoang mái vắng
nữu ước chỉ còn hương trong giấc ngủ
tim anh tràn máu
con chim đã bay về rừng đạn
anh không còn làm tu sĩ
anh chỉ còn hương trong giấc ngủ
anh chỉ còn máu để đổ vào tim hương
đổ vào tám tách cà phê đen anh uống mỗi đêm

tại greenwich village
tại làng thi sĩ
tại đường khói bay
tại hương trong giấc ngủ
tại chiều ba mươi tết ở việt nam
bây giờ anh xa hương đến mấy đại dương xanh
mấy phương trời cỏ mọc
mấy phương trời hương khóc
hương còn ca hát
hương còn phơi áo giữa phố buồn
hương còn cười
mười năm rồi cây quế vẫn mọc trên đời anh
trên mắt anh
môi anh
trên bước chân buồn phố mẹ ngày xưa
trên bước chân chiều phố lạ hôm nay
mưa làm tóc anh thơm
mùi cây quế
giữa hồ
mọc giữa hồ quế hương
tóc anh mọc dài
che chở hương
lúc mưa rơi
lúc đông lạnh
lúc chim chiều đi mất
mưa trên phố đêm
trên quán cà phê ý đại lợi
trên chiến tranh
của quê hương
của quế hương
còn anh

V
rạng đông tôi xin thề thức dậy ba giờ sáng
đợi kinh đào chảy ngược
cửa nhỏ đóng kín
những chiếc cầu tuổi dại
mười sáu năm tôi thức trong đời
mười sáu con kinh đào không bao giờ chảy ngược
đứng ngang cầu pont-neuf
nhìn sông seine tôi thấy cửu long
paris đuổi mất mây mộng hoang đường
đập vỡ cơn điên trên triền đá sương
tôi trốn giặc đời
tắm trong hồn hương
trái đu đủ
trong khu vườn xưa
con rắn nhỏ

VI
tôi chấp chới
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
mặt trời có thai!
sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt

VII
tôi nuốt nọc đen giữa đường guillaume apollinaire
từ xóm saint-germain-des-prés
mọc lên giáo đường hang động
cà phê biến hồn đầu thai
hoá thành một triệu con ma đen
nhảy múa trên núi lửa đầu tôi
tôi mặc đồ xanh
và mang đồng hồ da đen
tôi chứa chấp sáu ngọn lửa điên
trong sáu diêm quẹt còn rớt lại
tôi gọi hương và tôi chết giấc
tôi chạy lên trời làm rắn thâu đêm
máu đổ mưa đen
ồ cây mồng tơi
của thời trẻ dại
tôi gọi thầm
rắn cuộn tròn
tương lai

VIII
mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây
gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông
gió thổi đồi thu qua đồi thông
mưa hạ ly hương nước ngược dòng
tôi đau trong tiếng gà xơ xác
một sớm bông hồng nở cửa đông

IX
rắn trườn vỡ trứng chim rừng
tôi nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm
khuya buồn tủi nhục môi em
mưa bay nhỏ nhẹ qua thềm bơ vơ
tiếng ru chín đỏ điện thờ
hoang vu tôi đứng đợi chờ chim kêu
tay còn ôm giữ tình yêu
tôi về phố động những chiều hư vô
đời đi trên những nấm mồ
đau tim em hát cơ hồ khăn tang
phố chiều tôi bước lang thang
nuôi con sông nhỏ mơ màng biển xanh
nửa đêm khói đốt đời anh
yêu em câm lặng khô cành thu đông
lời ca ru cạn dòng sông
trọn đời chạy trốn mống vồng cầu điên
bỏ mình nước chảy đồi tiên
theo con chim dại lạc miền thiên hương
về đâu thương những con đường
lê thê phố cũ nghe buồn hè xưa

X
mùa xuân bay thành khói
tôi ca hát một mình
suốt đời không biết nói
nước chảy tràn con kinh
quá khứ bay lên trời
biến thành cánh chim non
tôi quì hôn lá mới
đau khổ trắng linh hồn
hư không đổ ra khơi
kỷ niệm trôi qua cầu
bãi chiều chưa người tới
tình nhỏ quên từ lâu
xuân bay trắng núi đồi
tôi nằm ngủ mơ chim
bỗng hét lên trong tối
ngồi thức dậy bảy đêm
trời cuối năm gác trọ
đèn tắt suốt đêm dài
con chim mười năm nhỏ
bay về đậu nơi đây
hơi thở giết thời gian
bướm nằm chết thang lầu
tiếng chim ru ngày tháng
máu chảy về sông sâu
suốt đời không biết nói
tôi ngồi thức một mình
đốt thuốc lên nhìn khói
đêm rạng điềm hư linh


Hãy ca hát đi và đừng nói nữa
Singe! Sprich nicht mehr!

Trang giấy trắng sống trăm ngàn thế kỷ
Có gì trong tơ sợi nga my
Lời nói ngang dọc đan hình
Vũ trụ nở ngài trong hắc đạo
Mòng tơ se trời cho óc não
Mật gan bắn máu ven rừng
Vành nước đen linh hiện không ngừng
Tôi còn sống mấy giờ chơi nữa
Mửa máu ra dập tan ngọn lửa
Xanh màu xanh ôi chết đợi mình
Không nữa đâu linh
Nhắn đường đi băng qua sơn đạo
Cái trà my bay lên ngoài đảo
Ôi còn chi thôi về dưới nga my
Phi bản chất vô luân nguyên hạo
Toàn thể nguyện thề chung thí
Ngựa hí
Đi về đi
Ngồi không động đậy
Hình tượng trong đầu
Ngồi lâu nín thở
Gõ đầu tay vào trong bích thảo
Hồn không bay vì hồn ở trong mương
Bạch dương năm nhuận
Sống không cần hứng
Khô cho khô màu đỏ ban trưa
Nằm ngó lên ngó xuống như rùa
Thời dĩ vãng leo lên đầu cây ngủ
Bói kinh kệ trong cơn mưa tàn rữa
Ôi em ơi xanh lên biển xanh đùa
Con gà gáy vu đồng ngã ngửa
Nhìn mặt trăng báo triệu thua rồi
Về đi chưa
Không ai hỏi
Tôi trả lời
Nghe không rõ
Buổi chiều dưa leo
Tiếng trẻ con kêu gọi cái về
Bắt tréo chim heo


Thứ Tư, 9 tháng 3, 2011

Cao Huy Khanh - VIỆT NAM : HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011:NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ


Kể từ tuần này trích đăng lại Hồ Sơ Hậu Chiến 1975 - 2011 của Cao Huy Khanh

từ trang của Văn Viết Lộc.

Kỳ 62 – 7.3. 2011 (Trích đăng từ 1.1.2010)

621 - Donna Jean Johnson
TÌM CHA TRÊN ĐẤT MỸ

Sinh tại Quy Nhơn khoảng năm 1974. Sống ở Mỹ (2009).
Trước 75 mẹ lấy lính Mỹ ở Quy Nhơn, sinh được một chị gái thì cha bỏ về Mỹ để lại 3 mẹ con (mẹ đang mang thai mình).
Khoảng năm 1989 cùng mẹ và chị đi Mỹ theo diện con lai Mỹ.
Trên đất Mỹ đã bỏ ra hơn 20 năm làm đủ cách để truy tìm tông tích cha đẻ, một việc rất khó vì hầu hết ông bố Mỹ đều đã có gia đình “nội địa” cả trước hoặc sau khi đến VN. May mắn là kếùt quả cuối cùng cũng đã tìm được ông. Một kết quả có hậu rất hiếm hoi thực hiện được đối với đa số con lai Mỹ dù đã được đưa về quê cha.

622 - Nguyễn Khải
“TÙY BÚT CHÍNH TRỊ”


Nhà văn tên thật Nguyễn Mạnh Khải sinh 1930 tại Hà Nội – Mất 2008 ở TPHCM (79 tuổi).
Mẹ là vợ sau một quan chức thời Pháp nên 1954 bố và gia đình vợ trước di cư vào Nam, để mẹ và 2 anh em ở lại miền Bắc. Trướùc đó đã vào bộ đội làm y tá tham gia kháng chiến đánh Pháp.
Sau đó nhờ có học thức và văn tài nên chuyển sang thành nhà văn quân đội. Từ đó sự nghiệp thăng tiến với những tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết về đề tài gắn liền với các chủ trương xây dựng nông thôn mới dướùi chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc được đề cao như “Mùa lạc”, “Xung đột”…
Sau 75 vào Sài Gòn tìm lại ông bố và anh chị em khác mẹ đều là những nhân vật của chế độ Sài Gòn, cả quan chức lẫn chính trị gia có máu mặt. Lấy tư liệu, cảm hứng từ thực tế này để viết vở kịch “Cách mạng” và truyện vừa “Gặp gỡ cuối năm” gây tiếng vang thời đó. Rồi ở lại sống luôn tại TPHCM.
Được cử làm Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn VN, bầu làm đại biểu Quốc hội (một khóa). Năm 1988 giải ngũ hàm đại tá để về hưu ở nhà tiếp tục chuyên viết văn.
Trong giai đoạn cuối đời bắt đầu thực hiện một cuộc tự kiểm về đời mình, cả cách sốâng lẫn nghiệp văn chương. Đặc biệt thể hiện những trăn trở về thời cuộc, tự mổ xẻ dằn vặt hoài nghi về chế độ mà mình đã suốt đời phục vụ (vợ cũng xuất thân bộ đội). Về cả bản thân vốn xưa nay bị xem là một con người sống khôn ngoan, thực dụng, biết tiến thối trên đường đời, chỉ muốn yên thân, an phận ngại “đụng chạm” dù được giao cương vị xã hội trọng vọng. Từ đó còn dẫn đến cái nhìn bi quan khi đánh giá về sự nghiệp viết văn của mình: “Cái tài sản tinh thần thâu gói một đời ấy chỉ là một cái kho chứa đủ tạp nham chẳng có một chút giá trị gì”!
Kết quả của quá trình “xét lại” bản thân đó là 2 tập sách đậm chất hồi ký “Thượng đế thì cười” và “Đi tìm cái tôi đã mất” được chính mình tự mệnh danh là “tùy bút chính trị”, một cách đặt tên khá táo bạo, mới mẻ vào thời này. Qua đó tự bộc lộ bản chất mình trong tư cách một nhà văn lẫn một con người có địa vị trong xã hội, bày ra để cho mọi người muốn phán xét sao tùy ý: Có “một Nguyễn Khải khôn khéo giả dối và một Nguyễn Khải thành thật trắng trợn, một Nguyễn Khải hèn nhát và một Nguyễn Khải khinh ghét tay Nguyễn Khải hèn nhát kia. Và sự tranh chấp giữa 2 con người ấy không bao giờ ngã ngũ” (Dương Tường).
Dù sao sự phản tỉnh đó vẫn đáng ghi nhận, trân trọng bởi sự can đảm tự bóc trần mình mà vẫn giữ được sự liêm sỉ đồng thời thực tế, trung thực với con đường mình đã chọn như những dòng di chúc viết 10 năm trước khi mấtï: “Mươi năm trở lại đây tôi đã có ý thức điều chỉnh lại cách sốâng của mình, cố gắng sống thật tử tế, thật đàng hoàng. Bớt đi một nửa những cái chưa tử tế cũng là tốt rồi. Tôi tự đánh giá là một cây bút nhẫn nại trong cái nghề của mình chứ không phải là một cây bút tài hoa, có tài bẩm sinh. Nếu không có cuộc Cách mạng Tháng tám và 2 cuộc kháng chiến thì tôi chỉ là một kẻ vô danh chứ không thể làm được gì nên chuyện. Cho nên chế độ chính trị hiện nay dẫn có bao nhiêu thiếu sót, có bao nhiêu chuyện đáng buồn, đáng giận tôi vẫn gắn bó máu thịt với hôm nay.”
Một trường hợp về già như Chế Lan Viên bức xúc trước tình hình chế độ, xã hội tiêu cực ngày càng nặng nề phức tạp buộc phải đặt lại vấn đề về thần tượng chủ nghĩa xã hội, chợt muốn “đổi ý”, “sang ngang” nhưng đã muộn. Tuy nhiên với cách hành xử có mức độ để không mang tiếng “phản bội” lý tưởng, phản bội chính mình khác với không ít trường hợp nhiều đồng chí của mình.
Nhà văn kể cả nhà văn danh giá có chức vị được chế độ ưu đãi cũng vẫn là con người trần thế “bị thịt” đâu phải ông thánh nên dù sao sớm muộn cũng là chuyện phôi pha rồi sẽ quên đi, sẽ rơi vào quên lãng. Còn giá trị để lại ở đây – “công” hay “tội”? -- vẫn là một nhà văn có tư duy sâu sắc, lý tính sắc bén, đề tài gắn liền thời sự, văn phong cô đọng mẫu mực với nét hiện đại trong cấu tứ, bố cục tác phẩm đặc biệt ở thể loại truyện vừa khá mới mẻ thời này.

623 - Nguyễn Xuân Nghĩa
ĐỘI TRƯỞNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CỤT 2 TAY

Sinh viên sinh 1988 tại TPHCM. Sống ở TPHCM (2011).

Sinh ra đã không có 2 cánh tay do ảnh hưởng CĐDC từ cha nguyên bộ đội đánh Mỹ bị nhiễm. Mới được 4 tuổi thì cha lại bị tai nạn giao thông qua đời, mẹ ở vậy nuôi 3 con.
Lớn lên không khuất phục số phận, tập làm mọi việc bằng 2 chân thay cho 2 tay. Mê máy tính nên tập cả mấy ngón chân… bấm bàn phím. Vậy mà vẫn vào đại học được, cùng lúc học cả ĐH Mở (khoa Côngnghệ thông tin) và ĐH Luật TP.
Không chỉ thế, còn rất nhiệt tình với các công tác xã hội. Vì thế được bầu làm đội trưởng đội công tác xã hội phường, từ đó đã vận động xin học bổng, mua xe đạp cho học sinh nghèo trong xóm…
Năm 2007 đượïc bầu chọn là Công dân tiêu biểu của TPHCM.

624 - Thái Ngọc San
TRẢ THẺ ĐẢNG

Nhà thơ, nhà báo sinh 1947 tại Quảng Bình – Mất 2005 ở Huế (59 tuổi).

Từ 1966-1969 trốn lính từ miền Trung vào Sài Gòn. Bị bắt lính 3 lần đều đào ngũ khiến có lúc bị chế độ cũ bắt làm lao công đào binh chuyên làm việc thu dọn xác chết trên chiến trường.
Tiếp tục bỏ trốn rồi về TP Huế tham gia hoạt động cách mạng trong lực lượng sinh viên học sinh tại đây. Nổi tiếng với những bài thơ văn ca ngợi cách mạng, chống chế độ Mỹ – Ngụy.
Đến 1972 bị lộ nên “lên núi” tức rút vào chiến khu. Từ đó được đưa ra Bắc rồi đưa ra nước ngoài đại diện tuyên truyền cho Mặt trận Giải phóng Miền Nam.
Sau 75 trở về Huế ban đầu làm công tác Mặt trận, sau đó được bố trí về làm chuyên môn làm thư ký tòa soạn tạp chí Sông Hương mới ra đời. Làm rất tốt công việc đó từ việc góp phần tạo cho Sông Hương một bản sắc và tính chiến đấu riêng đến việc khuyến khích, phát hiện những tài năng văn chương trẻ bằng tất cả tấm lòng tràn đầy nhiệt huyết hướng đến xây dựng một xã hội mới công bằng, tốt đẹp như lý tưởng cách mạng:
“Trong tôi hưng phấn cứ tràn đầy
Tôi muốn ôm cả nhân loại trong tay
Như ôm em với tình yêu ngọn lửa.”
(“Khát vọng” – tậïp thơ duy nhất in 1985)
Tuy nhiên đến năm 1988 xảy ra sự cố báo Sông Hương đấu tranh để đổi mới không được sự đồng ý của lãnh đạo địa phương khiến xảy ra mâu thuẫn đôi bên từ đó đưa đến hệ quả thay đổi lãnh đạo báo cũng như một số thành viên sáng lập từ đầu dứt áo ra đi (Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bửu Chỉ… ) trong đó có mình.
Một trường hợp xung đột giữa bản chất người nghệ sĩ – trí thức trong sáng mà thẳúng thắn, gan lì với phạm trù chính trị khó thể dung hòa hay thỏa hiệp vì như thế là tự đánh mất mình.Tan vỡ lý tưởng cách mạng đầu đời, thất vọng trước thực tế chế độ không như mơ ước nên quyết định trả lại thẻ Đảng!
Nhưng không thẻ Đảng vẫn tiếp tục đóng góp, cống hiến trên cương vị mới làm đại diện của báo Thanh Niên ở Thừa Thiên – Huế để một lần nữa lại dấn thân vào một cuộc đấu tranh khác: Dùng vũ khí báo chí để chống tiêu cực xã hội đang phát triển thiên hình vạn trạng trong chế độ mới, bảo vệ và giúp đỡ tầng lớp dân nghèo… Với tính cương trực, dũng cảm “uy vũ bất năng khuất” sẵn có:
“Hãy làm việc làm việc
Với tất cả sức mình
Bằng trái tim
Trung thực
…………………………..
Coi chừng vỏ giả dối
Của ngôn từ
Chất phù du
Của bọt nước

Coi chừng bệnh lười nhác
Thói xu thời
Và sự ngọt bùi
Đôi khi là cây dao hai lưỡi

Hãy bước đi thẳng đầu gối
Sòng phẳng với mọi người
Việc gì phải sợ hãi!”
(Thơ dán trên bàn làm việc)
Sự nghiệp bắt đầu một bước ngoặt khác đang tìm đường chiến đấu tiếp mà chưa đến nơi như thế thì một tai nạn giao thông bi thương đã cướp mất một người bạn chí tình của giới văn nghệ sĩ xứ Huế. Ngậm ngùi chia tay ước mơ lý tưởng ấp ủ thì nhiều mà hiện thực chưa thấy được bao nhiêu đành để cho dang dở giữa chợ đờøi:
“Tôi biết thời gian sẽ chẳng đợi tôi
Nên tôi cứ đi và đi mãi
Sợ mai kia đôi chân mỏi
Những buồn vui sẽ chết với cuộc đời.”

625 - Thủy Smith
SƯU TẦM KỶ VẬT CHIẾN TRANH TỪ LÍNH MỸ

Công dân Mỹ gốc Việt\õ. Sống ở Mỹ (2011).
Trước 75 sinh ra ở Sài Gòn từ mẹ người Campuchia sống chung với một người lính Mỹ. Đến 1975 theo cha về Mỹ.
Lớn lên vào nghề làm khóa dây lưng kiếm sống. Tuy vốn gốc Campuchia nhưng vẫn nhớ nhiều kỷ niệm thời thơ ấu ở VN nên luôn xem mình là người VN.
Từ đó qua kinh nghiệm của người cha lính Mỹ trở về với di chứng mối ám ảnh chiến tranh VN mới có sáng kiến lập ra một trang web tập hợp những cựu binh Mỹ như cha mình để cùng nhau chia sẻ tâm tư, nguyện vọng giúp họ vượt lên mặc cảm tội lỗi. Được hơn 700 cựu binh Mỹ hưởng ứng tham gia.
Sau đó tiến tới thành lập tổ chức mang tên mình để mở cuộc vận động sưu tầm kỷ vật chiến tranh VN mà nhiều người lính Mỹ còn lưu giữ để tìm cách gửi trả lại về VN cho chủ nhân hoặc gia đình, thân nhân họ. Mỗi lần như vậy đều đích thân mang kỷ vật về VN tổ chức trao lại.
Từ những chuyến đi đó còn tổ chức thêm các cuộc vận động cựu binh Mỹ đóng góp giúp đỡ trẻ em nghèo kém may mắn từ những gia đình nạn nhân chiến tranh ở VN.

626 -Trần Quang
RA ĐI MUỘN MÀNG, TRỞ VỀ MUỘN MÀNG

Diễn viên điện ảnh sinh 1942 tại Lào. Sống ở TPHCM (2011).

Trước 75 được xem là nam diễn viên điện ảnh số 1 miền Nam đoạt nhiều giải thưởng qua các bộ phim nổi tiếng, ăn khách như “Vết thù trên lưng ngựa hoang”, “Điệu ru nước mắt”…
Làm quen rồi yêu một nữ đồng nghiệp Nhật Bản, đôi bên chuẩn bị làm đám cưới vào tháng 7.1975 thì xảy ra biến cố 30.4.75 làm dự định bất thành, cuộc tình cũng tàn phai theo thời cuộc!
Sau 75 vẫn ở lại ngay từ đầu tiếp tục tham gia đóng phim ở chế độ mới với một số bộ phim được hoan nghênh như “Tội lỗi cuối cùng”, “Con thú tật nguyền”, “Vết thù năm tháng”… Về sau còn tham gia viết kịch bản và làm đạo diễn phim.
Nhưng đến năm 1992 lặng lẽ chia tay điện ảnh và quê hương theo vợ qua Mỹ định cư.
Trên đất Mỹ có đi học thêm về nghề điện ảnh với ý muốn làm phim Việt tại đây nhưng điều kiện quá khó khăn nên không thành. Đành quay qua làm vài nghề khác trong đó có cả nghề tiếp khách ở sòng bạc.
Tuy cuộc sống ổn định, đời sống vật chất thoải mái nhưng trong lòng vẫn trăn trở nỗi buồn không được làm nghề, không được theo nghiệp điện ảnh mà đam mê đã ăn vào máu rồi: “Ở nơi tưởng chẳng thiếu thứ gì tôi biết rằng mình đang thiếu thứ gì đó rất quan trọng, nỗi nhớ nghề quay quắt. Bởi vậy muốn tìm về con đường ngày xưa đã đi tôi chỉ mong tìm lại chính mình…”
Từ đó năm 2007 quyết định về nước ở luôn dù phải chấp nhận vì thế mà từ bỏ cả gia đình yên ấm lâu nay trên đất Mỹ: “Đó là sự đánh đổi, hy sinh mà tôi chấp nhận”.
Trở về thuê một căn phòng nhỏ sống cô đơn một mình với nhiều dự án làm phim ấp ủ mong tìm lại dư âm một thời hạnh phúc nghề nghiệp dưới cả 2 chế độ. Nhưng có thể do thời thế đã đổi thay – cả điện ảnh cũng đổi thay - quá khứ đã qua một đi không trở lại nên đã hơn 3 năm qua vẫn chưa thấy tái xuất giang hồ xứng đáng như hằng mong ước.

627 - Trần Thị Nguyệt
NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÔNG SỢ MA

Quản trang sinh tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2008).

Thời chống Mỹ vào bộ đội đi mở đường Trường Sơn.
Sau chiến tranh, năm 1981 bị sốt rét ác tính nên xin ra quân.
Sau 2 năm dưỡng bệnh đã tương đối khỏe lại. Một hôm tình cờ đi ngang qua nghĩa trang liệt sĩ huyện Vĩnh Linh quê mình mới được lập bấy giờ còn sơ khai chỉ là một bãi đất hoang nằm chơ vơ nơi đồng không mông quạnh không người chăm sóc trông lạnh lẽo hoang vu quá thấy “thương các anh” nên về làm đơn xin tình nguyện làm người trông coi nghĩa trang. Từ đó hàng ngày sáng đạp xe lọc cọc từ nhà lên cách xa hàng chục cây số làm cỏ, phụ giúp mai táng hài cốt liệt sĩ đến tối mới lại một mình đạp xe về nhà.
Năm 1984 lập gia đình sinh được 2 con gái nhưng khi con vẫn còn nhỏ thì chồng bỏ ba mẹ con đi theo vợ nhỏ. Thế là một mình vừa vất vả nuôi 2 con vừa phải lo công việc nghĩa trang không ngày nào vắng mặt. Có nhiều ngày bận việc giúp đỡ thân nhân liệt sĩ đi tìm mộ ở lại luôn nghĩa trang cả đêm cùng họ nên nổi tiếng là “bạn của ma”!
Bởi như tâm sự, chính công việc đó lại giúp mình khuây khỏa nỗi buồn tình cảm, thế sự: “Hàng ngày gần gũi phần mộ các anh, tôi như được an ủi vỗ về xoa dịu nỗi đau riêng”.
Hai con nay đều ăn học đàng hoàng sắp ra trường. Khi rảnh rang con lại lên nghĩa trang giúp đỡ đần mẹ một tay, để nghe lời mẹ dạy: “Điều mẹ mong muốn hơn cả là con phải sống cho tử tế. Bao năm qua sống ở nghĩa trang này với bao anh hùng liệt sĩ ở đây, với bao câu chuyện của những người đi tìm mộ liệt sĩ đã dạy cho mẹ làm người tử tế con ạ.”

628 - Trần Thị Như Hoa
THƯƠNG HIỆU NƯỚC MẮM BÌNH ĐỊNH

Doanh nhân sinh 1953 tại Bình Định. Sống ở Bình Định (2007).

Năm 1968 vào bộ đội đánh Mỹ.
Năm 1976 phục viên thương binh 3/4 và lấy chồng cũng là bộ đội chuyển qua chiến trường Campuchia.
Năm 1984 chồng xuất ngũ về làm công nhân còn mình vào nghề buôn bán lẻ nhưng gặp thời buổi kinh tế cả nước khó khăn ngập mặt mà sinh đến 4 con nên cả nhà lâm vào cảnh túng thiếu ngặt nghèo. Đã vậy mình lại mắc bệnh dính ruột phải mổ 2 lần nên cảnh nhà đã khó càng khó hơn khiến chồng sinh ra đổi tính nết bỏ việc bỏ cả 5 mẹ con đi theo người đàn bà khác có tiền bạc chu cấp hơn.
Còn lại đơn thân độc mã đi làm bất cứ việc nặng nhọc nào cũng không từ nan, đều từ nghề biển truyền thống của xứ đất cát Bình Định – gánh cát, gánh cá thuê, phơi cá khô, nhặt đầu cá phế thải đem bán… -- để nuôi 4 con.
May sao đồng đội cũ biết được tìm cách cho vay ít vốn làm ăn, liền chọn nghề đã làm quen lâu nay là nghề nước mắm – cũng là một trong các nghề “ruột” của dân Bình Định – ban đầu là đi buôn nước mắm. Từ đó lân la học nghề làm nước mắm tiến đến tự sản xuất nước mắm để bán. Phải trải qua sáu năm trầy trật gian nan mới tạm thành công bướùc đầu.
Từ đó chuyên tâm phát triển nghề mới này, năm 1998 mởù rộng cơ sở sản xuất, năm 2001 chính thức mở thương hiệu nước mắm “Như Hoa Tam Quan” (Tam Quan tên huyện nhà). Nhanh chóng trở thành một thương hiệu uy tín tiến tới xuất khẩu, một thương hiệu gắn bó với con em bộ đội Bình Định một thời là đồng đội cũ như một cách bộ đội trả nghĩa bộ đội.

629 - Trần Thị Thanh Hương
TỪ BÀ MẸ NUÔI BẤT ĐẮC DĨ THÀNH MẸ NUÔI KHÔNG CHỒNG

Nhà hoạt động từ thiện sinh khoảng 1948 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Hải Phòng (2011).

Năm 1966 tình nguyện đi thanh niên xung phong chống Mỹ, được điều ra chiến trường Quảng Trị rồi ra Bắc.
Đinh mệnh đưa đẩy cô gái chưa chồng từ năm 1972 trong thời gian lăn lộn chiến trường lại trở thành… bà mẹ nuôi ngoài ý muốn khi được các đồng đội nhờ nuôi giùm 2 đứa trẻ rồi ra đi không về. Thế là một mình nuôi 2 cháu bệnh tật vì ảnh hưởng CĐDC trên đất Bắc từ đó đến ngày lập lại hòa bình.
Trên quê người cả 3 “mẹ con” lưu lạc từ nơi này qua nơi khác, từ Hưng Yên, Hải Dương cuối cùng trôi giạt đến Hải Phòng năm 2003 tìm một miếng đất hoang ngoài đồng dựng lều tranh nuôi 2 con khôn lớn. Từ đó như “mệnh trời phải thế” đã vận vào thân, tiếp tục sứ mạng làm mẹ bất đắc dĩ bằng cách dần dà tìm cách xin địa phương lập một trung tâm nuôi con bộ đội bị nhiễm CĐDC mang tên cơ sở “Thiện Giao”. Nuôi dạy hơn 100 em khôn lớn, cho học nghề ra đời.
Vì thiên chức làm mẹ những đứa trẻ “không bao giờ lớn” đó mà chấp nhận hy sinh cuộc đời riêng, không thể lấy chồng vì người yêu nào cũng đòi mình phải từ bỏ những đức con “không máu mủ” ruột thịt gì. Nếu không thì cũng nghi ngờ có ai lại “làm mẹ” không công như thế?
Gần cuối năm 2010 gặp cơn bão số 1 tàn phá, cả cơ sở toàn dựng bằng lán tre đổ sập lại phải chạy vạy khắp nơi xin trợ giúp xây đỡ một căn nhà cấp 4 cho các em trú đỡ. Cùng lúc bị chẩn đoán… mắc bệnh ung thư!

630 - Trần Thị Thiết
RA NƯỚC NGOÀI HIẾN THẬN CHO EM


Thường dân sinh 1969 tại VN. Sống ở VN (2007).
Sống ở quê với chồng và bốn con bỗng nhiên năm 2004 được em trai ở Canada kêu gọi thống thiết qua Canada để hiến thận cho em mắc bệnh cần ghép một quả thận từ hơn một năm nay mà không có. Thế là tất tả lên đường đến xứ sở xa lạ để lại chồng con ở làng.
Nhưng sau khi hiến thận cứu sống em thì đến phiên mình bị biến chứng mắc loại bệnh lở chốc (psoriasis) khắp người biến thân thể thành ra “trầy vi tróc vảy” thân tàn ma dại trông rất ghê người khiến có mặc cảm không dám ló mặt ra ngoài! Trong lúc đó visa sắp hết hạn phải quay về nước, nơi mà theo các chuyên gia vốn là xứ khí hậu nhiệt đới nóng bức càng rất khó chữa bệnh này.
Cuối cùng đích thân Chánh án Toà án Liên bang Canada – một phụ nữ – phải ra lệnh cho cơ quan Di trú gia hạn giấy phép ở lại cho chị trị bệnh khỏi mới về nước, nếu không thì “thật hết sức bất thường và bất công” cho chị.
(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Sài Gòn tôi yêu - Nguyễn thị Hậu


So với hơn 300 năm Sài Gòn - Gia Định được thiết lập nền hành chánh, so với hơn 3000 năm vùng đất này in dấu tích những con người cổ xưa nhất, 35 năm tôi sống ở Sài Gòn chỉ là chớp mắt! Chớp mắt tuổi thanh xuân qua đi, tuổi mùa thu đến, nhìn lại những năm tháng qua chợt nhận ra dường như mình chưa một lần nói lời yêu với thành phố này, nơi mình đã sống những tháng năm dài, và có lẽ là cả cuộc đời.
Nhiều người đã yêu, rất yêu Sài Gòn. Có thể đối với họ đây là quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi họ đã rời xa quê nhà vào kiếm sống và được Sài Gòn rộng rãi sẻ chia. Có thể là nơi để lại mối tình đầu đau đáu nỗi chia ly, là nơi họ rời bỏ mà luôn mong một ngày quay lại… Nhưng cũng với nhiều người tình yêu Sài Gòn thật khó có thể bộc lộ thành lời, phải chăng vì Sài Gòn không như một cô gái đẹp dịu dàng, yểu điệu kiêu sa làm người ta dễ cảm mến để rồi thốt vội lời yêu? Sài Gòn mang dáng vẻ của cô gái hiện đại, năng động và bình dị, một vẻ đẹp mà người ta thường ngại ngùng khi muốn ngỏ lời yêu… Nhiều năm trước tôi cũng vậy, mải mê nhớ về thành phố êm đềm đẹp đến nao lòng của thời thơ ấu, để rồi đến một ngày thu tôi mới nhận ra mình đã yêu Sài Gòn từ khi nào không rõ…
Ấn tượng của tôi lần đầu gặp Sài Gòn là bến Bạch Đằng sông rộng nước đầy với những con tàu lớn nằm sát đại lộ Nguyễn Huệ đẹp nhất Sài Gòn. Đường phố thênh thang luôn tấp nập, hàng cây xanh cao vút trong ánh nắng chói chang, những cô gái đạp xe mini tà áo dài trắng bay bay trong hơi gió biển mát lành. Những ngôi biệt thự sang trọng kín đáo ẩn hiện sau tường rào cây xanh, những ngôi chùa rực rỡ đèn điện vôi màu… So với Hà Nội hay Huế có vẻ như Sài Gòn thiếu sự lắng đọng “hồn núi sông ngàn năm” vì đây là thành phố hiện đại kiểu Âu – Mỹ. Nhưng Sài Gòn mang hình hài đặc sắc một đô thị phương Nam “trên bến dưới thuyền”. Khởi thủy, thành Gia Định dựng bên góc sông Sài Gòn và sông Thị Nghè. Kéo dài về phíá tây nam vài cây số, là Chợ Lớn, thành phố của đa số người Hoa, nằm trên những mối giao nhau của kinh rạch chằng chịt, nối ra sông Sài Gòn bằng rạch Tầu Hũ hay còn gọi là rạch Bến Nghé. Nhắc đến Sài Gòn người ta nhớ ngay đến hai cái chợ nổi tiếng: chợ Bến Thành – bến sông thị tứ buôn bán quan trọng nhất của thành Gia Định; và Chợ Lớn – đầu mối giao thương lớn nhất Đàng trong. Rạch Bến Nghé hay rạch Tàu hũ nối liền hai khu vực trung tâm của thành phố. Thành Gia Định nằm ở khu vực trung tâm cao nhất, khoảng từ Dinh Độc Lập cho tới gần Thảo Cầm Viên. Từ đó dốc thoai thoải đều ra chung quanh cho tới kinh rạch và sông Sài Gòn. Phiá tây Sài Gòn lúc ấy vườn ruộng kéo dài nối vào Chợ Lớn, khu vực này có nhiều kinh rạch chảy vào Kinh Bến Nghé hay Tầu Hũ, kinh Đôi. Sông rạch là con đường thông thương của Sài Gòn – Chợ Lớn với miền Đông, miền Tây Nam bộ. Ngã ba Nhà Bè nơi sông Đồng Nai gặp sông Sài Gòn hòa dòng đổ ra biển tại Cần Giờ - cửa ngõ cho Sài Gòn vươn ra biển đông. Giai đoạn hình thành Bến Nghé – Sài Gòn cũng là giai đọan tụ cư nhanh chóng của những cộng đồng người từ nhiều nơi, nhiều nguồn gốc đến đây. Quá trình khẩn hoang lập ấp, phát triển sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp… lưu dân đã duy trì những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của quê hương làm chỗ dựa tinh thần ở vùng đất mới. Đình, chùa, đền, miếu, hội quán… xây dựng trong khoảng 300 năm nay thể hiện sự đa dạng và hội tụ văn hóa của các cộng đồng cư dân và sinh hoạt tinh thần của người Việt, người Hoa, Khmer, Chăm.
Cũng như nhiều nước Đông Nam Á, kiến trúc thời thuộc địa cuối thế kỷ 19 nửa đầu thế kỳ 20 đã để lại cho Sài Gòn nhiều di sản kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao. Không những thế những công trình này còn thể hiện vị trí quan trọng của Sài Gòn trong từng giai đoạn lịch sử. Những di sản kiến trúc nằm trong tổng thể quy hoạch Sài Gòn từ một đô thị chính trị - quân sự thành một thương cảng, trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa. Những con đường ngang dọc lấy sông Sài Gòn làm chuẩn chia thành phố thành những ô vuông. Trên những đường chính là các công sở, khu buôn bán, khách sạn nhà hàng… Những đường nhỏ là khu cư trú của giới công chức nhân viên, những biệt thự xinh xắn mang vẻ đẹp của kiến trúc cổ điển châu Âu nhưng gần gũi và đã trở nên quen thuộc với người Sài Gòn, rồi những dãy nhà phố, sâu hơn trong hẻm là xóm “nhà lá” của người lao động… Cứ vài ô vuông lại có nhà thờ làm trung tâm sinh hoạt tinh thần. Có thể thấy 3 đỉnh của tam giác trung tâm thành phố chính là 3 nhà thờ: Đức Bà – Tân Định - Huyện Sĩ (thuộc quận 1, quận 3 ngày nay). Đây cũng là 3 khu vực địa hình cao nhất của thành phố, vì vậy xây dựng nhà thờ ở vị trí này là sự kết hợp tuyệt vời giữa hình thức kiến trúc và chức năng tôn giáo của kiến trúc.
Những kiến trúc công sở hay tôn giáo, bên cạnh yếu tố hài hoà, phù hợp với cảnh quan thiên nhiên, phù hợp với đường phố theo quy hoạch, phù hợp với công năng của công trình còn có một đặc điểm đáng chú ý là có nhiều các chi tiết trang trí mang yếu tố của mỹ thuật Việt, Champa, Khơmer… Sự kết hợp giữa kết cấu, kiểu dáng kiến trúc, vật liệu xây dựng, đề tài trang trí, giữa phương Tây và phương Đông – bản địa và ngoại sinh, làm cho các công trình kiến trúc ở Sài Gòn thời thuộc Pháp có một phong cách kiến trúc khá đặc biệt, được gọi là phong cách kiến trúc Đông Dương, thể hiện xu thế “chủ nghĩa văn hoá” của kiến trúc đô thị phương Tây trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20 ở nhiều nước châu Á. Cho đến nay những yếu tố về quy hoạch, kiến trúc, đặc trưng, trang trí… của các công trình kiến trúc này vẫn được xem là “chuẩn mực” cho việc quy hoach - xây dựng một thành phố lớn.
Tính đến tháng 4 năm 2010 toàn thành phố có 124 công trình, địa điểm được xếp hạng di tích, trong đó: 1 di tích quốc gia đặc biệt (Dinh Thống Nhất); 53 di tích quốc gia (25 di tích lịch sử, 26 di tích kiến trúc nghệ thuật, 2 di tích khảo cổ), 70 di tích cấp thành phố (29 di tích lịch sử, 41 di tích kiến trúc nghệ thuật). Hệ thống di tích trong cảnh quan chung của một “Sài Gòn xưa” làm nên “bản sắc Sài Gòn”. Nhưng giờ đây “bản sắc Sài Gòn” đang mai một, vì một nghịch lý nhưng lại rất phổ biến ở các thành phố nước ta: những gì đã từng đem lại bản sắc độc đáo cho một Sài Gòn ngày xưa và còn tồn tại đến ngày nay, thì đang dần bị phá hỏng bởi các công trình cao tầng hiện đại có lối kiến trúc và trang trí vô cảm với khung cảnh lịch sử xung quanh. Con đường Đồng Khởi là một trường hợp như thế. Đây có lẽ là con đường nổi tiếng nhất trong những con đường đẹp, buôn bán sầm uất và có tuổi đời xưa nhất của Sài Gòn.Nằm ở
quận 1 và dài gần một km, bắt đầu từ ngã tư với Nguyễn Du ngay trước mặt Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn và kết thúc là đường Tôn Đức Thắng nhìn ra sông Sài Gòn, con đường này tập trung nhiều khách sạn sang trọng, cửa hàng, tiệm cà phê, hiệu sách… là địa chỉ văn hóa quen thuộc và in đậm dấu ấn trong tâm trí nhiều thế hệ người Sài Gòn và những người từng đến, từng ở Sài Gòn. Hình ảnh những khách sạn, cửa hàng như thế đã trở thành biểu tượng văn hóa của con đường. Khu hành lang Eden với rạp chiếu phim, các cửa hàng tơ lụa, đồ lưu niệm, nhà sách Xuân – Thu, đối diện Nhà hát thành phố là tiệm cà phê Givral nổi tiếng, nhưng gần đây nó nổi tiếng hơn bởi ca khúc “Vĩnh biệt Givral” – C’est fini Givral. Ca khúc này làm ta nhớ đến bộ phim lãng mạn “Mùa hè cuối cùng ở Capri” đã làm rung động biết bao trái tim, còn bây giờ nó làm nhiều người rưng rưng nước mắt. Một phần quá khứ của Sài Gòn, một phần quá khứ của nhiều người không còn nữa. Givral và những di tích khác mất đi, Sài Gòn có nguy cơ là một thành phố không còn ký ức, những thế hệ con người sau này sẽ không có ký ức lịch sử… Tôi cũng như mọi người, chẳng ai muốn phải nghe “C’est fini…” đối với những di sản văn hóa còn lại của Sài Gòn.
Nhưng Sài Gòn không chỉ có “mất đi” mà những năm gần đây thành phố đã mở rộng và cảnh quan thay đổi từng ngày. Kênh Nhiêu Lộc, Thị Nghè “nổi tiếng” kênh đen với những ngôi nhà chênh vênh cọc gỗ che kín mặt nước đọng dày rác rưởi, bây giờ đang được nạo vét, kè bờ, không lâu nữa sẽ là những “con kênh xanh xanh” chảy giữa lòng thành phố, dọc hai bờ kè mát bóng cây xanh, vườn hoa. Một dự án con đường trên cao dọc theo hai con kênh này với hàng chục cây cầu bắc ngang sẽ trở thành “điểm nhấn” cho vùng trung tâm cũ của Sài Gòn. Khu quận 4 bên kia cầu Khánh Hội nổi tiếng “xã hội đen” một thời, giờ có lẽ nhiều người sẽ không nhận ra nơi này. Những xóm nhà lá lụp xụp trong những con hẻm nhỏ chằng chịt hầu như biến mất. Những con đường rộng rãi, những ngôi nhà khang trang đã hiện lên, và gương mặt những con người nơi đây dường như đã bớt đi nhiều vẻ lo toan khắc khổ. Vùng trũng Nhà Bè mênh mông dừa nước đất vàng phèn mặn, giờ nơi này là đại lộ 8 làn xe chạy giữa khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng đẹp như mơ! Những làng xóm ruộng vườn phía Gò Vấp, Tân Bình hay Hốc Môn, Củ Chi cũng đã thành phố mới. Tốc độ đô thị hóa ở Sài Gòn khá nhanh, việc quy hoạch thành phố còn chưa theo kịp sự phát triển vì vậy không tránh khỏi sự lộn xộn trong cảnh quan đô thị, việc xây dựng tự phát, sự tùy tiện phát triển các khu dân cư trú xen lẫn thương mại, khu công nghiệp… là rất rõ. Có thể dùng cụm từ “làng trong phố” để hình dung về cảnh quan văn hóa nhiều khu đô thị mới. Nhiều đường phố xưa êm đềm với hàng cây cao cao nay vào giờ tan tầm bỗng biến thành “hẻm nhỏ” bởi nhà cao tầng đã xây kín mặt đường, bởi dòng xe như nước chảy tràn không dứt.
Sài Gòn bây giờ dân số đã hơn 7 triệu dân mà phần lớn là người tứ xứ từ các tỉnh miền Tây lên, miền Trung miền Bắc vào. Bằng sức lao động cần mẫn họ đã góp phần tạo nên sức sống trẻ trung năng động của thành phố đồng thời cũng được nơi đây nuôi dưỡng, cưu mang. Qua nhiều năm khó nhọc mưu sinh, nhiều người đã hiểu nơi ta sinh ra là nơi để gửi nhớ gửi thương mỗi dịp năm hết Tết đến, còn Sài Gòn là nơi mỗi ngày ta có thể được sống hết mình trong suốt cuộc đời … Nếu đừng quá “thiên lệch” lòng yêu thương đối với nơi chôn nhau cắt rốn thì tình cảm của ta đối với Sài Gòn sẽ công bằng hơn, vì đó là thành phố của mình, vì ta cũng đã là người Sài Gòn! Hiểu người Sài Gòn hơn, ta sẽ nhận ra tấm lòng nặng tình đầy nghĩa của những con người bộc trực phóng khóang nơi đây.
Ba mươi lăm năm sống ở Sài Gòn, sống với Sài Gòn liệu tôi có thể nói “Sài Gòn của tôi”? Của tôi, như một quê hương. Của tôi, như một nơi đã cho tôi trưởng thành. Của tôi, như một mối tình nồng nàn mà lặng lẽ thủy chung suốt cả cuộc đời…
“Dù đến rồi đi tôi cũng xin Tạ ơn người…” với Sài Gòn đó là điều mà nhiều người muốn nói.

Sài Gòn 8/12/2010

Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2011

Thơ Hoàng Xuân Sơn


TỊCH MỊCH CUỒNG


trôi giữa biển nghe lòng vòng nhớ biển
ở lâu năm trên đất hóa điên khùng
cây trụi nắng thổ vàng ra quận huyện
cạn điêu phù nên ngấn lệ hồng chung

ngân tiếng khẽ suốt dặm hành tất bật
rồi ca xang như một kẻ vô nghề
cho miệng đắng nuốt tinh ròng môi mật
của trân kỳ thơm buổi ấy hồng nghê

khi thấm mệt luồn theo người vô rú
cuối hang dơi sẽ đụng bóng chiều tà (*)
cành nhan rỗi treo biển cuồng sông lú
con mắt chìm khúc mặc niệm trường ca

bơi hết đảo nhóm một phường vô vọng
từ chim hoang còn giọng khản trên đồi
cứ nổi lửa cho người về mong ngóng
một bếp hồng xuân vạn đại trùng khơi

jan.2011
(*) ý Nguyễn Đức Sơn


Trích lại từ damau.org

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

Một vài kỷ niệm về tạp chí Văn



Văn số 132 tháng 6 năm 1969

Hoàng Xuân Sơn: Ghi chú



Ghi chú: một đoạn viết ngắn nhằm bổ túc tư liệu về một giai đoạn văn học trước 1975

Ghi chú? một cái tựa đề không giống con giáp nào. Thật ra, đây chỉ là một đoạn viết ngắn nhằm bổ túc tư liệu về một giai đoạn văn học trong nước trước 1975 qua những bài viết của Nguyễn Xuân Hoàng trên trang blog này (Tủ Sách Của Trần Phong Giao 1&2) và của các tác giả khác như Trần Hoài Thư, Trần Doãn Nho v.v. trên mạng Da Màu.
Ảnh : Tạp chí Văn, số cuối cùng.
Ngoài những tạp chí tiên phong như Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Hiện Đại (?), Tân Phong . . ., phải công nhận Trần Phong Giao rất có công trong việc xây dựng tờ Văn thành một mảnh đất văn học nghệ thuật uy tín với nhiều hạt giống tốt. Thập niên 60 là thời kỳ cực thịnh của các diễn đàn văn nghệ : Văn [ Nguyễn Đình Vượng - Trần Phong Giao; kế thừa là Mai Thảo - Nguyễn Xuân Hoàng ], Văn Học [ Phan Kim Thịnh và nhóm anh em miền Trung, Quảng Nam, Quảng Ngãi . . .], Bách Khoa [ Lê Ngộ Châu, Võ Phiến . . .] .

Tờ Bách Khoa có vẻ thiên về chính trị hơn là văn học, tuy nhiên cũng quy tụ đươc. nhiều khuôn mặt văn nghệ trẻ khá nổi bật : Trần Huiền Ân, Hoàng Đình Huy Quan, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Mộng Giác v.v. . Tờ Văn Học đứng đầu sào là Phan Kim Thịnh, quy tụ một số anh em gốc miền trung Huế , Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Tín v.v. như Luân Hoán, Thành Tôn, Khắc Minh, Hà Nguyên Thạch, Phan Nhự Thức, Đynh Hoàng Sa, Vĩnh Điện, Phùng Kim Chú, Viêm Tịnh v.v. . Riêng tờ Văn với khẩu hiệu “ tập san của những người ham đọc, hiếu học, ưa suy nghĩ “đã gầy dựng nên một lực lượng hùng hậu người viết ở khắp ba miền - thời đó được mệnh danh là Những Cây Bút Trẻ hoặc Những Người Viết Mới – như Hạc Thành Hoa, Lương Thái Sỹ, Ngụy Ngữ, Phan Tấn Uẩn, Lưu Vân, Tần Vy, Từ Hoài Tấn v.v. đông đảo không sao kể xiết. Những tạp chí này đã góp sức làm nên bề dày của tác phẩm Văn Học Nghệ Thuật Miền Nam VN Toàn Thư đồ sộ.

Sau 1975 chủ xướng bởi những thành phần vô văn hóa, có nhìn lại mới thấy tiếc nuối công trình tim óc của hàng trăm cây bút tự do miền Nam. Sau hơn ba mươi năm cuộc đổi đời, đã có nhiều ngòi bút một thời tung hoành bị cưỡng bách hoặc tự nguyện chôn vùi tên tuổi, chấp nhận thân phận lưu đày thân và tâm ngay trên phần đất quê nhà. May thay, mảng văn học khai phóng và nhân bản của miền nam VN trước 75 vẫn được tiếp nối và nuôi dưỡng ở nước ngoài bởi những người viết tự do khắp cùng năm châu bốn bể sau cuộc tan hàng rả ngũ bi thương. Viết đến đây xin mở một dấu ngoặc để hoan nghinh công trình tim óc của nhà văn Trần Hoài Thư và nhóm anh chị em Thư Quán Bản Thảo đã bỏ nhiều công sức, thì giờ và tiền bạc để sưu tập và in ấn một phần nào giá trị tinh thần của văn học miền nam trước 75 qua các tác phẩm Thơ Lục Bát Miền Nam (?), Thơ Miền Nam Thời Chiến . . .

Lúc còn cộng tác với tờ Thư Quán Bản Thảo, kẻ này có gợi ý cùng nhà văn Trần Hoài Thư về việc thực hiện một số kỷ niệm với bài vở của những cây bút đã từng cộng tác với tờ Văn, hiện đang sinh sống tại nước ngoài. Tiếc thay, sự việc này chưa được thực hiện như lòng mong muốn. Giờ đây, nhân đoạn viết này, với trí nhớ cùn nhụt ( mà chắc đã thập phần tồi tệ ), thử ghi lại danh tính của những người có bài vở đăng trên Văn trước kia, nay vẫn còn tiếp tục sáng tác ở hải ngoại. Xin chư quân vui lòng bổ sung (nếu thiếu tên) và đính chính (nếu ghi nhầm) . Mong thay!

Danh sách những cây bút một thời của tờ Văn, nay đã vào hàng ông mệ mà vẫn còn múa . . . bút khắp nơi gồm :
- Ở Pháp có Trần Thiện Đạo, Trần Công Sung, Kiệt Tấn, Đặng Tiến . . .
- Ở Úc Đại Lợi có Hoàng Ngọc Biên, Phạm Công Thiện, Phan Việt Thủy . . .
- Ở Gia Nã Đại có Lâm Hảo Dũng, Đỗ Khánh Hoan, Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn . . .
- Ở Hoa Kỳ đông đảo nhất, có Nhã Ca, Lâm Chương, Đinh Cường, Hoài Ziang Duy, Hồ Minh Dũng, Nguyễn Bạch Dương (đã khuất), Trùng Dương, Nghiêu Đề (đã khuất), Lê Tất Điều, Nguyễn Tịnh Đông (Trần Bang Thạch), Nguyễn Mộng Giác, Thái Tú Hạp, Nguyễn Xuân Hoàng, Túy Hồng, Khê Kinh Kha, Nguyễn Chí Kham, Du Tử Lê, Trần Vấn Lệ, Hoàng Ngọc Liên, Viên Linh, Bình Nguyên Lộc (đã khuất), Hoàng Lộc, Đào Mộng Nam, Thanh Nam (đã khuất), Nguyễn Văn Ngọc, Hoàng Ngọc Nguyên, Nguyễn Thiếu Nhẫn, Trần Doãn Nho, Nguyễn Minh Nữu, Võ Phiến, Hải Phương, Nguyễn Quỳnh, Nguyên Sa (đã khuất), Hà Thúc Sinh, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo (đã khuất), Trần Hoài Thư, Trần Mộng Tú (?), Hoàng Anh Tuấn (đã khuất), Thanh Tâm Tuyền (đã khuất), Nguyễn Tuyển, Trần Dạ Từ, Huỳnh Hữu Ủy, Ngô Thế Vinh, Kinh Dương Vương, Nguyễn Vũ Đan Vy (Đặng Tường Vy – đã khuất), Nguyễn Lương Vỵ, Phạm Ngũ Yên . . .

Xin nhắc lại : ai sót tên, thừa tên, vui lòng ới cho một tiếng .

Đa tạ,
Hoàng Xuân Sơn
décembre/2009

Tựa đề của tác giả chỉ có 2 từ Ghi chú, đọan thêm do tòa sọan, Riêng LVT chỉ ở VN nên không đưa vào ở Hoa Kỳ, và nếu được xin các bạn bổ sung. VCV sẽ cập nhật thêm.

Nguồn: Trích lại từ vanchuongviet.org



Ghi thêm:
Có lẽ bạn HXS nhầm chăng !
- Nguyễn Bạch Dương ở Việt Nam - đã qua đời
- Nguyễn Tịnh Đông vẫn ở Việt Nam (Khu Thanh Đa - TPHCM)