Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

NGUYÊN SA- Người làm mới ngôn ngữ thi ca

* Lê Ngọc Trác

Nguyên Sa nằm trong số ít nhà thơ ngay từ buổi ban đầu công bố tác phẩm đã được những người yêu thơ đón nhận một cách trân trọng và đầy nhiệt tình. Nhiều thế hệ, những người trẻ tuổi, những người đang yêu đã chép vào sổ tay, lưu bút của mình những câu thơ tình đầy lãng mạng của Nguyên Sa:
"Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Tôi thay mực cho vừa màu áo tím"
(Trích "Tuổi mười ba" – thơ Nguyên Sa)

Nguyên Sa tên thật là Trần Bích Lan, nguyên quán ở cố đô Huế - một nơi cổ kính và đầy thơ mộng. Ông sinh ngày 01/03/1932 tại Hà Nội. Trần Bích Lan còn có bút danh là Hư Trúc. Năm 1953, ông đậu tú tài Pháp, du học tại Pháp, Nguyên Sa theo học triết tại đại học Sorbonne. Trong thời gian theo học tại Pháp, Nguyên Sa đã gặp Trịnh Thúy Nga. Hai người yêu nhau và thành hôn. Trịnh Thúy Nga là một nàng thơ của Nguyên Sa. Chúng ta bắt gặp những bài thơ tình rất đẹp của Nguyên Sa viết dành tặng cho Trịnh Thúy Nga, người yêu, người vợ của mình. Năm 1956, vợ chồng Nguyên Sa trở về Việt Nam . Ở Sài Gòn, Nguyên Sa dạy triết tại trường trung học Chu Văn An, Văn Lang, Nguyễn Bá Tòng... và đại học Văn khoa Sài Gòn. Ông còn thành lập và điều hành trường trung học tư thục Văn học... Cùng với thiên chức của một nhà giáo, Nguyên Sa còn viết báo, làm thơ. Nguyên Sa qua đời vào ngày 18/04/1998 tại Hoa Kỳ. Nguyên Sa đã để lại cho đời những tác phẩm chính sau đây: Về thơ có Thơ Nguyên Sa tập 1, tập 2, tập 3, tập 4. Thơ Nguyên Sa toàn tập. Truyện dài có Giấc mơ 1, Giấc mơ 2, Giấc mơ 3; Truyện ngắn có Gõ đầu trẻ, Mây bay đi. Về biên khảo triết học và văn học có tác tác phẩm Descartes nhìn từ phương Đông, Một mình một ngựa, Một bông hồng cho văn nghệ. Về sách giáo khoa có Luân lí học, Tâm lý học...

Trên lĩnh vực sáng tác thơ, Nguyên Sa từ bỏ hẳn cách viết theo thể cổ truyền. Ngôn ngữ trong thơ của Nguyên Sa mới lạ, trẻ trung, sang trọng nhưng gần gũi, có độ rung và sức lan tỏa lớn, làm lay động tâm hồn nhiều, rất nhiều người yêu thơ. Nguyên Sa cho rằng: "Vần thơ nếu luôn luôn thật sát thì sẽ nhàm chán. Vần không sát hẳn, thậm chí lạc vận, nếu sử dụng đúng cách, đúng chỗ vẫn ra một bài thơ hay". Trong hồi ký của mình, Nguyên Sa đã viết: "Vần thơ có vần chỉnh vần thông, vần cưỡng áp và lạc vận. Vận chỉnh không cần sự hỗ trợ, không cần sự phối âm, nhưng sử dụng những nền âm thanh khác biệt có khả năng làm cho vần thông trở thành vần chỉnh, vần cưỡng và ngay cả vần lạc cũng được nắm tay giữ được trong khoảng không gian giữa trời, giữa đất mênh mông". Nhịp điệu trong thơ của Nguyên Sa có những nét riêng: Nhẹ nhàng, đằm thắm. Trong thơ Nguyên Sa đã sử dụng thể tỉ ứng, liên tưởng và so sánh một cách đầy mới lạ. Trong thơ, nhất là thơ tình, nhiều tác giả đã chọn lọc đưa vào thơ những hình ảnh, sự kiện, nhân vật cao sang. Nguyên Sa lại khác. Ông đã đưa vào thơ của mình những con vật gần gũi, làm hình tượng để so sánh. Nhưng, không phản cảm. Mọi người đều chấp nhận, cảm thấy thân thương trong cuộc sống. Những người yêu thơ rất thích những câu thơ ngộ nghĩnh, dễ thương của Nguyên Sa:

"Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Để anh giận sao chả là nước biển...
Tại sao Nga ơi, tại sao...
Đôi mắt em nghẹn như sát từng lần vỏ hến
Hơi thở trùng như sợi chỉ không căng
Bước chân không đều như chiếc thước kẻ ai làm cong

Ai dám để ở ngoài mưa, ngoài nắng!..."
(Trích "Nga" – thơ Nguyên Sa)

Và, một cách so sánh khác của Nguyên Sa đã cho chúng ta một bức tranh lung linh sắc màu của phương Đông đầy thơ mộng:

"... Anh nhớ em ngồi áo trắng thon
Ngàn năm còn mãi lúc gần quen
Em gầy như liễu trong thơ cổ
Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường"
(Trích "Em gầy như liễu trong thơ cổ"– thơ Nguyên Sa)

Từ cổ chí kim, thơ tình được viết bởi những nhà thơ tài hoa đều hấp dẫn đối với mọi lứa tuổi, nhất là đối với lứa tuổi chớm biết yêu, đang yêu. Chúng ta bắt gặp chính hình ảnh của mình trong thơ Nguyên Sa. Đó là tiếng lòng, nỗi niềm tâm sự kết nối yêu thương, là lời tỏ tình nồng nàn đầy ước vọng của con tim, đưa chúng ta vào thế giới mơ mộng của tình yêu:

"Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau nước mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa...
... Không có anh nhỡ một mai em khóc
Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi
Tóc sẽ dài thêm mái tóc buồn thơ
Không có anh thì ai ve vuốt
Không có anh lấy ai cười trong mắt
Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong
Ai cầm tay mà dắt mùa xuân
Nghe đường máu rung từng cành lộc biếc
Không có anh ngỡ ngày mai em chết
Thượng Đế hỏi anh sao tóc em buồn
Sao tay gầy, sao đôi mắt héo hon
Anh sẽ phải cúi đầu đi về địa ngục..."
(Trích "Cần thiết "– thơ Nguyên Sa)

Với thi phẩm "Thơ Nguyên Sa" xuất bản và phát hành rộng rãi vào năm 1958 đã đánh dấu một thời kỳ chuyển hướng trong dòng chảy thi ca Việt Nam. Thơ viết về tình yêu của Nguyên Sa có một sức hút mãnh liệt. Nhiều nhà nghiên cứu văn học đánh giá bài thơ "Áo lụa Hà Đông" là một trong những bài thơ tình hay nhất của Nguyên Sa:

... Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bày vội vã vào trong hồn mở cửa

Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn
Thơ học trò anh chất lại thành non
Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu

Em không nói đã nghe lừng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh đã trông lên bằng đôi mắt chung tình
Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại

... Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng...
(Trích " Áo lụa Hà Đông "– thơ Nguyên Sa)

Nguyên Sa xuất hiện trên bầu trời thi ca Việt Nam từ những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ 20. Đến nay, đã gần 60 năm, đi qua thế kỷ, thơ Nguyên Sa vẫn giữ nguyên vị trí và sự yêu quý trong lòng những người yêu thơ. Nguyên Sa thật sự trở thành là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20. Và, một nhà thơ thuộc trường phái lãng mạn.

Tài liệu tham khảo:
- Thơ Nguyên Sa (1958)
- Những nhà thơ hôm nay (Nguyễn Đình Tuyến – 1967)
- Nguyên Sa – thế giới tình yêu thơ mộng (Thái Tú Hạp)

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2011

HT - Những lá thư Tagore gửi hai người phụ nữ



Thư từ là một công cụ quen thuộc để trao đổi thông tin, tình cảm. Nhưng với những người như Rabindranath Tagore, chúng được coi là một phần của di sản văn học.
Dưới đây là câu chuyện về những bức thư nhà thơ gửi cho hai người phụ nữ gắn bó với cuộc đời ông.
Người thứ nhất là Victoria Ocampo - một quý bà người Argentina, còn người thứ hai là Mrinalini Devi - vợ nhà thơ. Tagore gắn bó sâu sắc với hai người phụ nữ này, dù trong thơ ông luôn thường trực nỗi cô đơn, lúc bảng lảng, lúc thê thiết.
Victoria, người phụ nữ ngoại quốc, xuất hiện trong đời Tagore một cách rất bất ngờ. Năm 1924, Rabindranath Tagore bất ngờ bị ốm trong chuyến hành trình đến Nam Mỹ và phải nghỉ lại ở Argentina. Ông làm khách trong hai tháng tại tư gia của Victoria Ocampo - một quý bà giàu có và là người hâm mộ cuồng nhiệt Tagore. Ocampo chuẩn bị cho nhà thơ cả một villa để ông nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Mối quan hệ của họ khá khác thường, vừa lãng mạn, thuần khiết, lại vừa như rất thực tế. Lúc bấy giờ Tagore 63 tuổi, góa vợ đã lâu. Còn Victoria Ocampo mới 34 tuổi, đã bỏ chồng.
Rabindranath và Victoria viết vô số thư cho nhau, bắt đầu từ năm 1924 khi họ đều đang ở thành phố Buenos Aires. Họ vẫn thỉnh thoảng thư từ cho đến tận khi nhà thơ qua đời vào năm 1941. Những bức thư vừa thể hiện sự ngại ngùng lại vừa bộc lộ sự mong mỏi giữa họ với nhau. Rabindranath gọi Victoria là ‘Vijaya' (tiếng Bengali, nghĩa là “chiến thắng”, Victoria trong tiếng Anh cũng có nghĩa là “chiến thắng”). Ông chỉ dạy cô từ tiếng Bengali duy nhất và quan trọng nhất, đó là “Bhalobasha”, nghĩa là “yêu”.
Nhà thơ Rabindranath Tagore.
Trong những bức thư đầy ẩn ý, họ thể hiện sự cần có nhau dù họ không bao giờ gọi được đúng tên mối quan hệ của mình. Victoria thường xuyên viết thư vào quãng từ 3 đến 6h sáng, sau cả một đêm thao thức, còn Tagore cũng luôn bày tỏ nỗi cô đơn mà ông đang phải gánh chịu.
Dưới đây là một vài dòng trích trong những bức thư họ gửi cho nhau:
Victoria: “Ông có thể quên đi bầu trời Ấn Độ không, cả khi ông sẽ không có cơ hội nhìn thấy nó lần nào nữa… Hãy để em uống cạn nỗi đau của ông. Em không có gì để dâng hiến cả. Em chỉ biết mong mỏi làm chỗ nương tựa cho 'sự nghèo khó' của ông bằng cách chia sẻ nỗi đau với ông (ngày 20 - 21/11/1924).
Victoria: “Em đã trải qua cả cảm giác hạnh phúc lẫn đau khổ trong những ngày qua. Hạnh phúc bởi em thấy rất gần với ông; đau khổ bởi ông không quan tâm đến sự gần gũi của em” (khoảng tháng 12/1924).
Vậy còn cảm giác của Tagore thì sao?
Trong bức thư đầu tiên gửi Ocampo, nhà thơ viết: “Thật khó cho em để tưởng tượng được sự cô đơn khủng khiếp tôi đang phải gánh chịu” (14/11/1924).
Khi rời khỏi Argentina, Tagore viết thư giải thích lý do với Victoria và hứa sẽ tiếp tục giữ liên lạc với cô. Bức thư nào Tagore viết cho Victoria Ocampo cũng có giọng rất nhẹ nhàng, tình cảm.
Vậy còn những lá thư Tagore gửi cho vợ? Nhà thơ kết hôn năm 22 tuổi, khi vợ ông mới 10 tuổi. Mrinalini Devi (tên thời con gái là Bhabatarini) là con gái của một người làm công trong điền sản của gia đình Tagore. Sau khi thành hôn, Bhabatarini đã được đổi tên thành Mrinalini, được thuê gia sư dạy để nói tiếng Bengali chứ không phải giọng địa phương. Bà còn được học nữ công gia chánh và cách quản lý gia đình. Mrinalini còn được gửi đến trường để học tiếng Anh.
Nhưng trong tất cả những gì được học, Mrinalini giỏi nhất với vai trò làm mẹ của 5 đứa con. Bà cũng rất quan tâm đến người ăn kẻ ở. Mrinalini đặc biệt giỏi nấu nướng, kể cả những món ngoại quốc mà Rabindranath mang công thức về cho bà. Bản thân nhà thơ cũng thường xuyên vào bếp giúp vợ. Mrinalini yêu cầu phụ nữ phục vụ trong nhà mình phải biết ăn mặc đẹp, nhưng bà lại không để ý nhiều đến bề ngoài của mình. Một tối, khi được mọi người khuyến khích nên cởi khăn để hở tai, Mrinalini đã ngay lập tức che tai lại khi Tagore đột ngột xuất hiện.
Rabindranath viết một vài lá thư cho vợ trong khoảng từ năm 1890 đến lúc bà qua đời (1902). Nhưng ông viết gì cho bà? Phần lớn là hỏi han về công việc trong nhà: Hai đứa con Beli và Khoka ra sao; việc ở điền trang thế nào, tiền nong đủ trang trải cho các khoản chưa; 15 lít sữa vừa mua hôm qua có bị hỏng không… Nếu cá nhân hơn một chút, thì ông hỏi vợ xem bà có chịu đi bộ hay có thường xuyên đọc sách hay không. Thỉnh thoảng, ông tỏ ra cáu gắt khi vợ chậm trả lời thư của mình. Thỉnh thoảng, ông thể hiện nỗi nhớ nhà nhưng tình yêu dành cho các con thường làm lu mờ tình yêu dành cho vợ. Có một bức thư, Tagore kể lại một giấc mơ trong đó khá nồng nàn tình cảm với vợ: “Ta nhớ em và tự bảo với mình rằng, liệu ta có thể rời bỏ cơ thể mình để về bên em” (29/8/1890).
Mrinalini qua đời năm 1902. Bà luôn là người vợ chịu khó, người mẹ nhẫn nại và là bạn đồng hành biết hy sinh của Tagore, nhưng bà chưa bao giờ được coi là nàng thơ của ông.


Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

CHUNG THẤT NHÀ THƠ NGUYỄN TÔN NHAN



TRIỆU TỪ TRUYỀN

KHÓC NGUYỄN TÔN NHAN


Cánh cửa mùa xuân chưa kịp hé

Sao vội qua lỡ bước ngoặt đời

Lùi xa hẳn bốn chiều trần thế

Nhan lao vào chiều thứ mấy không gian?


Mắt thơ ngây lấm mịt mù gió bụi

Tóc xanh non quanh quẩn Gia Định Thành

Pha đam mê với chán chường buồn tủi

Viết bài thơ cao ngất đụng trời xanh


Với tình yêu cột chân chạm đất

Vượt bể dâu trụ vững kiếp người

Dắt tay con lên đường thành đạt

Nhan không quên bằng hữu sống cầm hơi…


Những pho sách chất cao hơn tầm vóc

Gửi lại mai sau viên gạch xây nền

Nhan ra đi không vì thôi mơ ước

Phiêu lãng nhiều chân trời cho trọn nghiệp thơ văn

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Phòng tranh nhóm Cọ








Cuộc hội ngộ lần này của Nhóm Cọ gồm: Trương Thìn, Thân Trọng Minh, Dương Đình Hùng, Hồ Tịnh Tình, Lê Triều Điển, Rừng, Lê Thị Kim, tại Ami Art Gallery, ra mắt 17 giờ Thứ Bảy, ngày 07.5.2011 tại Khu Du lịch Văn Thánh 40/10 Điện Biên Phủ, P. 22,Q. Bình Thạnh.


Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

Võ Công Liêm : MATSUO BASHÕ - NƯỚC NON NGÀN DẶM


I was born to other things.*
(Tennyson-In Memoriam)

Hơn 300 năm qua,trên bước đường dấn thân của Bashõ;Oku-no-Hosomichi(1),có nghĩa là “Con Đường Hẹp dẫn đến Miền Xa” Narrow Road to a Far Province. Đó là tựa đề tập thơ của Bashõ;tức Ba Tiêu kẻ rong ruỗi,phiêu bồng để tìm nguồn thi hứng mới cho văn chương nước Nhật ngày nay.Những lời lẽ in sâu vào tâm tưởng,từng bước đi của Ba Tiêu là từng lời thơ tương ngộ,những con đường mòn,thấp thỏm dài hơn 1200 dặm mà Bashõ đã lê gót khắp các nẻo đường trên đất nước Phù Tang.
Bashõ khời hành vào năm 1689. Ông đi như để nhận biết,ấy là ông đang sống với tư duy của chính mình, để từ đó Bashõ làm nên những vần thơ tuyệt mỹ,vẽ lại một cảnh trí hài hoà giữa người với thiên nhiên,giữa tình người với người,thơ ông giản dị,giản dị như chính bản thân ông, buông thả để tìm kiếm con đường tự do; đó chính là lòng chân như của thân tâm vô lượng.Sau 3 thế kỷ “Con Đường Hẹp”đó như lời hứa hẹn với thế gian mà Bashõ đã để lại, đồng thời là người khai sáng thể loại thơ Haiku và tự nó biến dạng như haiku-thiền,mặc dù Bashõ không phải là thiền giả nhưng vô thủy vô chung ông trở thành thiền sư vì lời thơ của Bashõ là công án(koan)thiền.Haiku là một thứ ngôn ngữ mới mà thế giới ngày nay còn nhắc đến như một bộ môn khoa-học-văn-chương-thực-nghiệm của chiều sâu nội tại.

Bashõ sống qua một thời kỳ huyên náo của một xã hội đấu tranh về quyền sống cũng như quyền làm chủ,một trạng huống nhiễu nhương trong sự thay đổi vận mệnh đất nước Nhật thời ấy.Chính cái xáo trộn ngoại tại đã đưa ông đến nỗi buồn cho thân phận mà ông gánh chịu phần nào trong đời; từ đó ông trút hết tâm trạng bi thương vào thơ cũng như thúc bách ông bước đi để xa lánh trần gian đầy tục lụy nầy…
Có một vài chi tiết về cuộc đời của Matsuo Bashõ : Người ta dự ước Bashõ sinh vào năm 1644 trong một gia đình nông dân thuộc thị xã Ueno về hướng đông nam Tokyo.Cha Ba Tiêu là một kiếm khách Samurai hạng thấp,tên là Matsuo Yozaemon,nhưng hết lòng chăm sóc,dạy dỗ con cái nhất là khoa ngữ thuật calligraphy.Nhưng bên cạnh đó có nhiều hướng quan hệ khác có thể đưa Bashõ trở thành nông nghiệp.Tuy nhiên Bashõ lại có năng khiếu về văn chương hơn những điều khác.Có lẽ;sự kết thân với bạn đồng môn,con trai của vị lãnh chuá dòng dõi Tõdõ,vin vào đó Bashõ bước lần vào con đường thi văn.Bashõ học hỏi về kỷ năng của thi tứ Kigin và của những nhà thơ lừng danh ở Kyoto, từ đó Bashõ phát tiết sớm trong cuộc đời thi văn của ông..Bashõ chịu ảnh hưởng 2 dòng tư tưởng lâu đời:thi văn Trung Quốc và học thuyết Lão Tử qua thuyết vô-vi.
Sau khi sư phụ qua đời,Ba Tiêu quay về Edo (tứcTokyo bây giờ) cư ngụ ở đó để tu luyện về thi tứ,lúc đó ông học về thể loại thơ Haikai ở chùa Kinpukuji.
Những vần thơ đầu tiên trong thể loại Haika là những giòng thơ phát tiết cực kỳ trong sáng phản ảnh một cách đích thực và cụ thể, nói lên được tính nghệ thuật của thi ca, rồi từ đó biến thành thể loại riêng biệt đó là-Haiku-toàn bài thơ xây dựng qua những câu thơ không vần điệu unrhymed với cách gieo vần:5 chữ câu đầu,7 chữ câu giữa và 5 chữ câu cuối;cái loại thơ nầy có tính cách “chớp” được điều gì xẩy ra trong hiện trường hay bất luận hoàn cảnh nào,nếu sự việc xẩy đến đúng lúc và xuất thần hay cảm hứng mà thành thơ trong đối tượng của thiên nhiên và con người.Haiku không cần cùng vận,miễn sao trong bài thơ có chữ tượng trưng cho 4 mùa xuân,hạ,thu, đông là một bài thơ đúng nghĩa và hài hoà giữa người với thiên nhiên.
Bashõ cho xuất bản tập thơ đầu tay bằng thể haiku dưới nhiều tên gọi khác nhau và mỗi bài thơ có một dáng dấp riêng biệt và một ý nghiã quan trọng khác.Bashõ làm thơ từ thuở đi học cho đến khi giả từ cuộc đời, ông có 5 tập thơ nổi tiếng ghi lại những chặng đường ông đã đi qua:Du Ký Nắm Xương Phong Trần(1684-1685)Thăm Chùa Kashima,Ký Sự Cái Đẫy,Ký Sự Thăm Làng Sarashima(1687) và ký sự Con Đường Hẹp Dẫn Đến Miền Xa(1689).
Bashõ say đắm với thiên nhiên; núi đồi,sông hồ,cây cỏ và muôn thú, ông đã hoà nhập hồn ông qua sự sống thường ngày,tiếp cận những biến đổi của thời tiết và rung động như bản năng tự có của một nhà thơ,ngay cả sự tha thiết với đời, ông dâng tặng những án thơ hay đến thi bá Lý Bạch như tỏ lòng mến mộ.
Năm 20 tuổi là những năm Bashõ gặp khủng khoản về mọi mặt vật chất lẫn tinh thần,bởi Edo là thành phố vật lộn,tranh chấp ấy là điều khó cho một nhà thơ như Bashõ,cuộc sống đó trái ngược với tinh thần của ông,cái hào nhoáng của đô thị cũng như cái phồn vinh giả tạo , đó là nguyên cớ để Bashõ phải xa lánh, hầu phát huy lãnh vực văn chương,nhất là thơ. Ông thành lập được phong trào yêu thơ, đi từ nhóm sinh viên và những thương doanh đở đầu cho trường phái thơ của Bashõ.Từ đó thành hình một nhóm thơ ở ven sông Sumida vào năm 1680.Với bút danh mới Bashõ.Bởi cái sự yêu chuộng cây chuối(ba-tiêu) mà bạn đồng môn cũng như các đệ tử dựng cho ông một căn lều tranh với những cây chuối xanh um mọc quanh lều, đó cũng là điều tạo nguồn thi hứng cho Bashõ.
“Cây chuối trong mùa thu
Gió bão-ta nghe mưa nhỏ giọt
Xuống vũng nước đêm đen”
(Basho nowaki shite/Tarai ni ame o/Kiku yo kana)
1682 lều chuối của Bashõ cháy để lại đống tro tàn.Ngọn lửa vô tình xoá bỏ hết những gì trước đây mà ông để dành cho Edo. Ông não lòng,sống lất phất như kẻ không nhà.Năm sau đám đệ tử và đồng môn dựng lại một cái lều khác. Ông cảm thấy cuộc đời này không có gì là tồn tại,kể cả cuộc đời ông đang sống,nhờ có nghị lực ông vịn vào thơ để đứng dậy những khi cô độc và tuyệt vọng. Điều đó có thể xem như tin được;vì Bashõ đối đầu với bao tình huống xẩy ra trong đời, để rồi đưa ông vào con đường rối loạn tâm thần;Bashõ trở nên nghi ngờ cho chính mình.Cuối cùng ông tìm con đường giải thoát, ông dốc tâm học hỏi,nghiêng cứu Thiền Phật Giáo(Zen Buddhism). Đứng trước thiên nhiên ông cảm nhận được cái lý sự vô biên của vũ trụ. Ông nhận ra được điều đó và thấy mình như cảnh vật giữa tại thế. Đạo Phật đã mở cho ông con đường sáng để tìm thấy được chân như hiện hữu. Đọc thử bài thơ nầy của Bashõ xem ông nhận thức như thế nào giữa vũ trụ quan với nhân sinh quan có tương hợp như lòng mình?:
“Hoa anh đào ủ rũ
Thế gian nầy ủ rũ
Tôi ngồi đối mặt với bùn non trong tay rượu
Và;hạt gạo đen
(Tired of cherry/Tired of this whole world/I sit facing muddy sake/And black rice).
Năm 1684;từ hướng tây Edo,Bashõ bắt đầu cuộc hành trình,ròng rã cả tháng dài,chịu đựng nắng mưa trên những chặng đường gian khổ và mệt nhọc.Nhưng Bashõ không nao núng,tiến bước như thách đố với chính mình,một nghị lực khó lòng khuất phục
kể cả những hiểm nguy. Đó là cơ hội đầu đời trong bước đi để tìm thấy nước non ngàn dậm cho một cuộc viễn hành trên đất quê hương.Bashõ tự mãn điều nầy,vì chính sự chọn lựa như một giải pháp giữa đời và người,vừa thoát tục vừa thoát xác!Bước “giang hồ”của Bashõ thể hiện bằng đôi “chân trần”,thể hiện bằng tấm thân tàn tạ là thể hiện cả một sự chịu đựng vô bờ bến của kẻ phong trần để đi tới chân lý tánh không,bởi chấp nhận của Bashõ có nghĩa là chối bỏ mọi tham dục của trần thế bằng một tâm hồn giản đơn và bình dị như thơ ông diễn tả. Đọc những vần thơ cuối đời của Bashõ cho ta nhớ đến Huệ Khả(đệ tử của Phật Bồ-Đề-Đạt-Ma)cũng như Lục tổ Huệ Năng “Bản lai vô nhất vật/Hà xứ nhạ trần ai” đều có tâm chất giống nhau,nghĩa là phủi sạch bụi trần để đạt tới chân như.Sự dấn thân của Bashõ,nếu nhìn kỷ ta sẽ thấy cái mà Bashõ thực hiện được là Tính Không và Chân Như của Phật giáo. Đó là lối sống của người nghệ sĩ,nhà thơ là một người nghệ sĩ,một đời sống đầy sáng tạo,nếu không có những yếu tố đó chắc chắn Matsuo Bashõ không thể có những vần thơ siêu thoát như vậy.Bashõ chôn giấu cái bí mật hiện hữu đó,chính là cái vô tận tính không nó nằm trong từng bước du hành của Ba Tiêu.
“Hoa cúc trắng ngần
Nở ngay trước mắt tôi
Không mảy may hạt bụi”
(Shiragiku no/Me ni tatete miru/Chiri mo nashi)
Bashõ xem những bước đường của mình như một cuộc hành hương về những nơi của đất mẹ mà mỗi nơi chứa đựng đầy đủ một nền văn minh cổ đại,một tôn giáo truyền thống lâu đời và cả một lịch sử trường kỳ chiến đấu của những anh hùng dân tộc samurai…
Như có điều gì báo cho Bashõ biết về số phận của mình. Ông quyết đi lần nữa để được thấy trọn vẹn cái tình yêu đất nước trước khi lià đời.Có lẽ chuyến đi lần nầy là lần cuối mà chính ông cũng mong như vậy.Nhưng thời gian đâu có chiều lòng người; ông phải già,phải yếu như vạn vật khác giữa vũ trụ nầy, ông không nhìn đó làm tiếc nuối,hay chua xót khi chưa đạt tâm nguyện. Ông nhất định lên đường khởi hành vào mùa đông,nhưng sức khoẻ của ông quá bại hoại, qua lời khuyên môn đệ, ông đành khất lại và đợi tới mùa hè tháng 5/1689.Chuyến đi nầy cùng với đệ tử Sora.Thầy trò hành trang trong tay nải; bút nghiêng và ít quần áo.Bashõ quyết định lên đường như một hành trạng phiêu bồng -hyohakusha -Một hành giả không hướng đi “One who moves without direction”.Một hành trình dài đằng đẳng 5 tháng trời, xuyên qua bao con đường,đèo cao,biển cả từ đồng bằng đến miền cao,trực chỉ hướng bắc Edo dọc theo bờ biển,không ngại khó, thực hiện như hành đạo,như dấn thân với đời để thấy được nỗi khổ từ mình mà ra.Hành động nầy cũng hiếm thấy trên đời xưa và nay.Bashõ thành công con đường đi tới của mình.
Những bài thơ Bashõ để lại là những tuyệt tác,trong đó ký sự”Con Đường Hẹp dẫn đến Miền Xa”(Narrow Road to a Far Province) được coi là tập thơ được nhiều người biết đến và để lại một dấu ấn trong văn học Nhật và thế giới.
“Nếu được coi là linh hồn của người Nhật thì đó là điều ông đã viết ra”Lời nhận định của Miyazawa Kenji(nhà thơ Phật giáo thế kỷ XX).
Bashõ một nhà thơ lang thang,phiêu bồng, nhìn hành sự đó người ta cho nhà thơ đầy năng động tính.Không!Ba Tiêu trầm ngâm trong bước đi lặng lẽ đó. Động nhưng mà tĩnh cái đó mới là siêu lý tư tưởng. Ông đã thổi vào không gian vũ trụ một sự tỉnh lặng vô biên giữa hai trạng thái hữu và vô để thức tỉnh giữa chủ thể và đối tượng. Đọc bài thơ nổi tiếng của Bashõ mà D.T.Suzuki cho là công án thiền,ngần ấy thôi mà chứa đựng cả vũ trụ vô-vi.Biết rằng giữa haiku và thiền không có dấu hiệu gì là dính liền nhau,nhưng trong haiku có sự tương hợp của thiền:
“Kià cái ao xưa!
Con cóc nhảy vào
Tiếng nước nghe động”
(The old pond;ah!/A frog jumping/The water sound)
Bashõ đột phá những thể thơ của mình đến với văn chương,mỗi câu thơ được mài giũa bóng láng.Giọt nước rớt vào nước,tạo cho ta cảm giác của làn sóng vô cùng.
Bashõ raised the form to literature,each poem like a polished stone that.When dropped in water,creates an infinity of ripples. Đọc bài thơ dưới đây để nghe cái tỉnh lặng vô biên của Ba Tiêu diễn tả:
“Lắng nghe!con cóc
Nhảy vào trong cõi lặng
Của bờ ao thiên cổ”
(Ngày xuân 1686)
(Listen!a frog/Jumping into the stillness/Of an ancient pond!)
“Lắng nghe!con cóc nhảy vào trong cõi lặng của bờ ao thiên cổ”.Một câu văn ngắn gọn chứa toàn thể một không gian tỉnh lặng.Thấm nhuần tuệ giác của một chân tu,cao siêu vời vợi nhưng gần gủi vô cùng giữa cảnh giới và sắc giới.Thiền thi nó nằm ở cái chỗ đó!Tựu chung thi tứ của Bashõ đều vẽ lên cái sự huyền nhiệm giữa người và vật, quyện dưới một nhãn quang siêu thoát.Thơ Ba Tiêu hay ở cái giản dị,tầm thường mà đời không tìm thấy.Dù hiện tượng đó xẩy ra trước mắt mình.

“Con Đường Hẹp dẫn đến Miền Xa” là tập ký sự mô tả cả dặm trường mà Bashõ đi qua với một tinh thần khí khái,tương như,tư tưởng của Bashõ là lần bước trên lối mòn để nhận thấy và đi vào cõi như nhiên của thuyết nhà Phật.Bashõ đã tìm ra nơi an trú của mình dù là “hành khất” trên đường đời.Bởi sự đi của Bashõ là nhập định contemplation trong trực giác intuition;nhờ đó mà Bashõ chứng ngộ để đi tới minh mẫn và sáng suốt hơn.Nhưng ở đây;hành trạng của Bashõ có tính vật lý vì nó đưa tới một hành động thực nghiệm,có nhĩa rằng Bashõ tạo được cuộc sống cho chính mình như một sự chấp nhận của định mệnh.Xem Bashõ như một môn đồ vô thừa nhận,quẳng-đi-xa far-flung,nhờ cái nguyên lý,tự sự đó để Bashõ hoàn thành sứ mạng của kẻ du hành và sáng tạo những vần thơ tâm huyết của con người ưa phóng ngoại và thấy được cái vũ trụ ngoại giới trên một quê hương đích thực của mình.
Năm 1694 Bashõ chết.Có một nhà thư pháp lừng danh đề tựa cho tập ký sự “Con Đường Hẹp”Narrow Road như sau:”Mỗi lần tôi mặt áo mưa vào, ước làm sao dự một cuộc hành trình trong mưa và một lần được ngắm nhìn cái hình ảnh đó một cách thoả mãn mà mấy khi được nhìn thấy.Một cảm giác tràn ngập. Đúng là một hành trình!Cho một con người”.
Once had my raincoat on,eager to go on a like journey and then content to sit imagining those rare sights what a hoard to feelings.Such a journey!Such a man.
Qua nhiều thế kỷ.Bashõ có nhiều điều làm cho nhiều người phải để ý tới –“bụi đời”,bohemian,nhà thơ điên hay ông thánh sống! Đó là những lý sự xưa nay đời nhìn Bashõ dưới nhiều con mắt khác nhau.Những khi tại thế hay đi về cõi tịnh.Bashõ không nói,không cười, ông lặng câm để nhận thấy như luật điều im lặng được rao giảng,ngay cả Phật cũng đôi lần nói lên điều nầy,thì việc gì phải nói giữa cái thời ngổn ngang,gò đống.Bashõ nhận ra được; đó là thời kỳ mạt pháp của thế gian. Ông một mực giữ được tâm bình thường để hành sự. Đó là tinh thần của Thiền tông mà Matsuo Bashõ đã lãnh hội được.

*

Trên con đường hành du người ta thấy một Bashõ buông thả,bất cần đời,tóc tai, áo quần rối bời như một khất sĩ, ông không ngại những lời miệt thị.Không có gì là tối cần cho một thi sĩ du hoang như Bashõ.Ba Tiêu cho rằng: cuộc đời vốn là KHÔNG!
Lời dặn cuối cùng của Bashõ đến với đám môn đệ:”Hướng tới cái đi trước mà đi”.Nói xong; ông nhắm mắt đi về miền miên viễn. Đó là cơ duyên dành cho những vần thơ mà Bashõ đã đi qua và để lại; khác gì bóng ma thiên cổ.Ghost-to-be!

VÕ CÔNG LIÊM (muà phụcsinh 4/2011)
*”Tôi sanh ra để làm những việc khác” Tennyson-Trong Ghi nhớ.
(1)Oku-No-Hosomichi:Oku nghĩa:tận cùng ở một nơi,sâu hút xa xăm.No:là giới từ.Hosomichi:các tỉnh làng xa ở phương Bắc.Anh Ngữ dịch:Tỉnh thành,Có người dịch: Đường về nội tâm…

SÁCH THAM KHẢO:
-Basho’s Trail (On The Trail Of A Ghost) by:Howard Norman.The Bird Artist&Devotion 2007.USA
-Matsuo Basho by TH Chu Kim Hải.TGXB/PH 2007 USA.

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Cao Huy Khanh : VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ




Kỳ 69 – 2.5. 2011 (Trích đăng từ 1.1.2010)

691 - Trần Thị Lệ Hà
34 NĂM GIỮ HỒ SƠ QUÂN VỤ CỦA CHỒNG TỬ SĨ
Thường dân Việt kiều Mỹ sinh 1950 tại Cần Thơ. Sống ở Mỹ (2010).
Trước 75 làm công chức ở Sài Gòn, chồng trung úy nhảy dù, mới có con 7 tháng tuổi.
Đêm 29.4.1975 chồng ứng trực tại Bộ Chỉ huy nhảy dù trong trại Hoàng Hoa Thám ở Sài Gòn không may bị địch pháo kích chết ngay trước ngày kết thúc chiến tranh.
Còn lại một mình ôm con thu xếp thuê xe đưa quan tài chồng về quê chồng Rạch Giá làm đám ma tròn bổn phận. Sau đó tránh để bị chính quyền cộng sản mới soi mói nên về quê ngoại Cần Thơ buôn bán lặt vặt sống qua ngày.
Đến năm 1979 cùng mẹ mang con vượt biên. Tàu đến Malaysia không được vào phải tiếp tục lênh đênh qua Indonesia, sau đó một thời gian mới được nhập cư vào Mỹ.
Lấy chồng khác sinh được thêm 2 con, chồng mới gặp trên cùng chuyến tàu vượt biên có sự trùng hợp là cũng quê Rạch Giá và xuất thân từ trường Võ bị Đà Lạt như người chồng quá cố.
Dù đã làm lại cuộc đời ổn định hạnh phúc song qua hàng chục năm cho đến nay vẫn còn giữ nguyên vẹn “hồ sơ quân vụ” của chồng cũ gồm thẻ quân nhân, thẻ bài, chứng chỉ tại ngũ, bằng nhảy dù, thẻ căn cước, tờ khai gia đình trong trại gia binh, thậm chí cả… giấy nghỉ phép của chồng! Là những kỷ vật quý báu vẫn đặt lên bàn thờ khấn vái lễ kỵ giỗ hàng năm.
Một số kỷ vật đó đã được đưa vào Bảo tàng Thuyền nhân VN ở Mỹ mở cửa năm 2009.

692 - Trần Thị Miêng
HƠN 70 TUỔI TÓC ĐEN LẠI
Nông dân sinh 1930 tại Thanh Hóa. Sống ở Thanh Hóa (2004).
Có 2 con trai đi bộ đội vào chiến trường miền Nam.
Sau chiến tranh chỉ một con là thương binh trở về, còn con trai út mất tích trên đường Trường Sơn. Suốt 27 năm trời không tin tức không dấu tích nào giúp tìm con khiến mẹ bạc nhanh mái đầu.
May mắn tình cờ đến năm 2001 một lá thư từ khách đi thăm Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn (Quảng Trị) gửi về ghi lại danh sách mộ liệt sĩ Thanh Hóa tại đây trong đó có tên con. Mẹ mừng quá tới mức sau một đêm tóc mẹ như…. đen lại!
Dù vậy mãi đến 3 năm sau mẹ mới dành dụm được chút tiền để vào nghĩa trang thăm mộ con.

693 - Trần Thị Thanh Lịch
MỘT NĂM NẰM VIỆN 11 THÁNG
Cựu chiến binh sinh 1949 tại Bình Định. Sống ở Bình Định (2010).
Vào du kích tham gia đánh Mỹ, chống chế độ Ngụy, mấy lần bị địch bắt giam và được tổ chức cho vượt ngục. Có lần bị giam cầm năm 1969 bị tra tấn hành hạ dữ dằn nhất, 3 lần bị cưa cụt chân tới khớp gối.
Sau 75 xuấùt ngũ thương binh nặng, lấy chồng cũng cựu bộ đội.
Nhưng vết thương chiến tranh trên thân thể không bao giờ lành với đủ thứ bệnh động kinh, ngộp thở, suy mạch vành, suy tim, huyết áp cao… Mỗi lần động kinh bất thần kéo dài đến 5 phút mà nếu không quen tưởng như sắp chết đến nơi.
Trở thành khách quen của bệnh viện, gần như suốt năm ra vào như đi chợ, cả Tết cũng ăn tết trong bệnh viện, khi nào nhớ nhà trốn về thăm nhà giống như “đi phép” vậy!
May mà còn có người chồng già chung thủy hết lòng săn sóc, trở thành chuyên gia “chống động kinh” cho vợ mới giúp tránh được nguy hiểm tính mạng.

694 - Trần Thị Vũ
ĐIÊN BỊ MẸ NHỐT 20 NĂM
Cựu thanh niên xung phong sinh tại Hải Dương. Sống ở Hải Dương (2010).
Thời trẻ tham gia thanh niên xung phong bị thương rồi mắc bệnh nặng nên được cho trở về quê.
Sau chiến tranh, vết thương ở đầu biến chứng phát điên suốt ngày đêm cứ lảm nhảm kêu “Có bom”, “Bà con chạy đi” rồi giả tiếng súng nổ “pằng phằng, chíu chíu”!
Trong thời kỳ hậu chiến mới bắt đầu quá nhiều khó khăn, thiếu thốn nên địa phương, bệnh viện không có phương tiện, điều kiện chữa trị đều bó tay không cứu chữa gì được.
Bà mẹ già còn lại một mình nuôi con không còn cách nào khác phải nhốt con gái vào một cái buồng kín, ăn uống lẫn đi vệ sinh tại chỗ. Thậm chí sợ con phá phách trốn ra ngoài nên phải làm thêm hàng rào cắm mảnh ve chai và chêm các bụi tre gai ngăn lại!
Kéo dài 20 năm như thế mãi đến năm 2008 có tờ báo phát hiện đăng bài, lúc đó tỉnh mới ra lệnh bệnh viện đến đưa vào viện tâm thần chăm sóc nuôi nấng.

695 - Trần Thiện Hiệp
CUỐI ĐỜI VỀ NƯỚC LÀM THƠ

Việt kiều Mỹ sinh khoảng 1940 tại Quảng Bình. Sống ở VN (2010).
Sĩ quan hải quân VNCH 15 năm, đóng quân tại Biên Hòa.
Tháng 4.1975 chỉ huy tàu di tản có mặt nhiều tướng tá chế độ cũ cùng gia đình, riêng mình lại bị thất lạc vợ con. Tàu trôi giạt nhiều ngày trên biển, sau mới được chiến hạm VNCH vớt đưa đến Mỹ. Một thời gian dài sau đó mới được đoàn tụ với vợ và 5 con.
Trên xứ người chuyên tâm vào làm ngành nghề xã hội nuôi con, không quan tâm gì nữa đến chuyện thời cuộc chính trị. Thay vào đó lại bắt đầu tìm đến làm quen với thơ, làm khá nhiều như để cởi mở tấc lòng, trút niềm tâm sự tha hương. Năm 1987 xuất bản tập thơ đầu tiên ở Mỹ, tập tiếp theo in tại Canada…
Đến khi con cái trưởng thành ra đời làm việc có cuộc sống ổn định rồi mới quyết định hồi hương ở luôn từ năm 2000.
Từ đó tiếp tục làm thơ dài dài liên tiếp cho ra mắt nhiều tập in trong nước. Song song đó còn kết hợp đi thăm thú các miền đất nước và làm từ thiện đến các miền làng quê xa xôi từ trong Nam ra tới ngoài Bắc.
Càng về sau thơ càng mang phong vị tình cảm nhẹ nhàng phóng khoáng đượm đôi chút chất vị thiền của người đạt đạo thấu tình:
“Mõ chông vẳng tiếng vô thường
Hồng trần nghiệt ngã mà thương mãi đời.
Thơ gieo chén ấm rượu mời
Trăng còn đó cuộc chơi chia người…”
(Nhịp phách phù vân, 2002).

696 - Trần Tiễn Khanh
“TIẾN SĨ BÃO LỤT”
Nhà khoa học Việt kiều Mỹ sinh tại Huế. Sống ở Mỹ (2011).
Học trung học toàn trường Pháp lần lượt ở Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, đến năm 1970 được học bổng du học Mỹ.
Năm 1978 tốt nghiệp tiến sĩ khí tượng và môi trường, ra trường thành lập công ty chuyên ngành này. Năm 1982 là ngườøi đầu tiên có sáng kiến đưa mô hình dự báo thời tiết lên máy vi tính quảng bá rộng rãi.
Ở nước ngoài nhưng lòng luôn đau đáu nhớ về quê hương miền Trung luôn gặp nạn bão lụt nên từ năm 2001 tận dụng chuyên môn của mình – cùng sự hợp lực của vợcũng là đồng hương Huế từng dạy trường Hàm Nghi – đã lập nên trang web http://www.baolut.com/ tập hợp các thông tin thời tiết quốc tế từ nhiều nguồn giá trị để từ đó đưa ra dự báo thời thiết cho đủ 63 tỉnh thành VN mỗi ngày 4 lần cập nhật theo tình hình thay đổi liên tục.
Kèm theo đó viết nhiều bài liên quan chủ đề bão lụt VN trong đó có nhấn mạnh đếùn vấn đề Trung Quốc làm thủy điện gây tác động lên dòng Mekong gây hậu quả xấu cho vùng hạ lưu sông ảnh hưởng đến các nước Đông Dương.
Cung cấp các thông tin trên tất cả đều miễn phí vì xem đây là nhiệm vụ “góp phần bảo vệ sự an toàn cho đồng bào ở quê nhà”.
Song song đó đã vận động bạn bè góp tiền gửi về nước giúp đỡ nạn nhân bão lụt, tổ chức các nhóm bác sĩ thiện nguyện cùng vợ chồng mình trở về tham gia các đợt cứu trợ miền Trung. Còn ấp ủ một số dự án trang bị điện thoại vệ tinh giá rẻ cho dân làm nghề đánh cá đi biển xa, xây dựng mẫu nhà có kết cấu chống bão lụt…
Không chỉ thế, năm 2006 còn công bố phần mềm vi tính có khả năng dịch thuật Hán – Việt cực nhanh – nhanh nhất thế giới – có thể phiên âm và chuyển dịch được hơn 70 triệu từ của 2.372 bộ kinh Phật chỉ trong vòng… 28 tiếng đồng hồ!

697 - Trần Văn Bá
THÙ NHÀ NỢ NƯỚC
Giảng viên đại học Việt kiều Pháp sinh 1945 tại Sa Đéc – Mất 1985 ở TPHCM (41 tuổi).
Thân phụ là Trần Văn Văn nhà hoạt động chính trị Nam bộ kỳ cựu từng tham gia chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật rồi chính phủ Nam kỳ thân Pháp sau đó, sau 1954 làm dân biểu ở miền Nam chủ trương chống Cộng. Vì thế bị cộng sản ám sát chết năm 1966 tại Sài Gòn.
Bởi vậy người con năm 1967 đi du học Pháp với chí hướng tiếp tục con đường tranh đấu của cha. Năm 1971 ra trường làm trợ giảng ĐH Nantes đồng thời tham gia hoạt động tích cực trong phong trào sinh viên trí thức VN ở Pháp theo đường hướng chống Cộng. Từ năm 1973-1980 làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên VN ở Pháp, bộ phận theo khuynh hướng này.
Không chỉ dừng ở đó, từ 1980 bắt đầu dấn thân vào hành động chống Cộng theo con đường bạo lực nhắm tổ chức đưa quân và vũ khí xâm nhập VN chống phá chính qiuyền cộng sản. Hợp tác với nhóm Việt kiều Pháp của Mai Văn Hạnh, Lê Quốc Túy hai lần đưa lực lượng và trang bị vào VN từ đường biển theo ngõ Hà Tiên và Cà Mau với ý đồ kết hợp với nhóm giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài chống đối chế độ gây bạo loạn. Nhưng âm mưu bị dập tắt từ trứng nước, bị chính quyền cộng sản bao vây bắt trọn.
Bị bắt cùng Mai Văn Hạnh cuối năm 1984 ở Cà Mau, ra tòa 1985 lãnh án tử hình. Không chấp nhận ký biên bản tòa nhận tội “phản quốc” và cũng từ chối làm đơn xin ân xá nên bị thi hành án cùng năm (riêng Mai Văn Hạnh làm đơn xin ân xá nên được giảm án rồi nhờ mang quốc tịch Pháp nên sau được chính phủ Pháp can thiệp trả tự do sớm trục xuất qua Pháp).
Bản thân được cộng đồng hải ngoại xem như một tấm gương chiến sĩ trí thức tranh đấu cho quyền tự do dân chủ, được một tổ chức nhân quyền Mỹ truy tặng Huân chương Tự do Truman – Reagan năm 2007, được dựng bia tưởng niệm tại Bỉ, được đặt tên cho một con đường nhỏ ở bang Virginia – Mỹ.

698 - Trần Văn Ca
GIÚP THƯƠNG PHẾ BINH VNCH SỐNG CÒN
Doanh nhân Việt kiều Mỹ sinh 1952 tại Quảng Nam. Sống ở Mỹ (2011).
Trước 1975 làm thông dịch viên cho đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ, vợ làm y tá.
Đến biến cố 30.4.75 cùng vợ chạy di tản theo tàu qua Mỹ, để lại một con trai mới 2 tuổi gửi nhờ bà chị nuôi giùm.
Trên đất Mỹ, chồng đi làm việc quét dọn trung tâm thương mại về đêm (2 USD/giờ, ăn ngủ tại chỗ) rồi “tiến lên” làm bồi cho nhà hàng ăn Mexico, vợ hành nghề giữ trẻ tại gia. Dần dà nhờ có chí làm ăn vươn lên đã tự học nghề nhà hàng rồi dành dụm tiền bạc đến năm 1981 mua lại nhà hàng mình làm chủ khai thác bán món ăn VN. Sau đó phát triển mua thêm 4 nhà hàng khác nữa kinh doanh đắt khách.
Bao nhiêu năm lưu lạc xứ người tuy lòng vẫn nhớ quê – trong đó còn đứa con bé bỏng ngày nào - song khi ra đi đã thề “còn cộng sản, không về!” nên quyết ngoảnh mặt quay lưng. Tuy nhiên năm 1990 được tin cha bệnh nặng nên đành phải quay về, lần đầu tiên gặp lại đứa con trai nay đã trưởng thành.
Nhưng cũng từ chuyến đi này mới có dịp trực tiếp đối diện với một thực tế xã hội đau lòng là thảm cảnh người tàn tật, khuyết tập vì hậu quả chiến tranh trên đất nước quá nhiều (khoảng hơn 7 triệu người) quá khổ quá thiếu thốn đủ thứ. Từ đó động lòng trắc ẩn thấy mình cần phải làm một cái gì đó để chung tay giúp đỡ đồng bào.
Thế là quay về Mỹ lo thủ tục bảo lãnh con qua đồng thời bắt tay vào việc thành lập Hội Bạn người tàn tật năm 1991 với mục tiêu cung cấp trang thiết bị, phương tiện sinh hoạt cho người tàn tật – khuyết tật như các loại xe lăn, chân tay giả… Đặc biệt đối tượng được chú ý quan tâm là giới thương phế binh chế độ cũ lâu nay không được ai giúp đỡ (riêng giới thương binh chế độ mới đã có chính quyền hiện tại chăm sóc đủ rồi).
Ban đầu phải mua đồ ngoại đưa về nước, sau chuyển qua tự xây dựng cơ sở, xưởng sản xuất các loại phương tiện đó ngay trong nước qua nhiều điểm ở Hà Nội, TPHCM, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn… vừa đỡ tốn tiền vừa phù hợp kích cỡ với người VN hơn. Ngoài ra còn lập trung tâm dạy nghề cho họ. Đã tổ chức đưa 2 đại diện người tàn tật đi Mỹ ra điều trần trước Quốc hội Mỹ vận động hỗ trợ cho nạn nhân chiến tranh VN.
Năm 1993 còn lập thêm Hội Thiện nguyện y tế – giáo dục nhằm giúp đỡ VN.
Làm được những việc này không hề đơn giản vì phải tự vận động tài chính, phải bán bớt nhà hàng lấy tiền trang trải công việc chung chỉ giữ lại một điểm giao cho vợ phụ trách. Nhưng gay go, đau đầu nhất là đương đầu, đối phó với cả 2 phía -- về chính quyền VN thì nghi ngại “có ý đồ gì?” (có lần còn bị địa phương bắt giam 4 ngày tra vấn!), còn các thế lực chống Cộng hải ngoại thì lên án “phản bội”, “tiếp tay cộng sản”!
Chấp nhận “đi giữa 2 lằn đạn”, đáp lại sòng phẳng: “Tôi không quan tâm đến chính trị, tôi chỉ quan tâm đến đồng bào tôi. Họ cần được giúp đỡ… Không chỉ để hàn gắn vết thương trên cơ thể mà còn giúp họ phục hồi niềm hy vọng sống…”

699 - Trần Văn On
TỪ HÀNG BINH THÀNH ANH HÙNG

Nông dân sinh 1948 tại Tiền Giang. Sống ở Tiền Giang (2011).
Năm 1968 nhập ngũ ở Sài Gòn, được gửi đi Mỹ đào tạo phi công lái máy bay phản lực 18 tháng rồi về phần công ra đơn vị không quân chiến đấu ở Đà Nẵng.
Tháng 3.1975 Đà Nẵng giải phóng, mang lon trung úy đành chấp nhận đầu hàng.
Vào thời điểm này quân cộng sản có chiếm được 6 máy bay phản lực A37 của địch tháo chạy bỏ lại trong sân bay Đà Nẵng và Phan Rang nên muốn tận dụng bay vào không kích Sài Gòn. Nhưng lúc đó chỉ có một mình NguyễnThành Trung sĩ quan phi công VNCH nhưng là “Việt cộng nằm vùng” đã bỏ ra vùng giải phóng là biết điều khiển loại chiến đấu cơ này, phi công miền Bắc hoàn toàn không biết gì.
Sau khi được vận động, bản thân đã chấp nhận tham gia hợp sức cùng NT Trung sửa chữa máy bay hoàn chỉnh rồi bỏ công huấn luyện cho một số phi công miền Bắc được điều vào chuẩn bị cho chiến dịch đánh bom Sài Gòn. Tất cả lập thành “Phi đội Quyết thắng” gồm 5 phi công – 2 Nam kiêm thầy hướng dẫn và 3 Bắc mới huấn luyện cấp tốc – ngày 28.4 bay vào thả bom sân bay Tân Sơn Nhất, chính mình được bố trí bay vị trí quan trọng thứ hai là chót đội bay (NT Trung bay dẫn đầu, vị trí quan trọng nhất). Kết quả chiến dịch thành công trở về an toàn, gây tiếng vang lớn tạo áp lực thêm căng thẳng lên tâm lý chính quyền và quân đội VNCH đưa đến tan rã sau này.
Sau 1975 còn tiếp tục được “trưng dụng” đi đánh Khmer Đỏ trên chiến trường biên giới Tây Nam. Một thời gian sau xin ra quân, dắt vợ con về quê An Giang làm ruộng.
Trở thành nông dân lam lủ nuôi 6 con đời sống rất khó khăn. Vợ phải nghỉ dạy về phụ chồng lo việc đồng áng. Làm ruộng không đủ ăn nên xoay qua nuôi gà thì không may gặp mấy đợt dịch cúm phá sản trắng tay. Sau chuyển qua nuôi heo đỡ hơn chút đỉnh.
Sau chiến công sân bay Tân Sơn Nhất đã được trao tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất nhưng không được hưởng chế độ gì bởi trong quy định thủ tục làm hồ sơ cựu chiến binh không hề có khoản nào đề cập đến trường hợp “anh hùng chiêu hồi”, “anh hùng ngắn ngủi” ngàn năm có một này!

700 - Trần Văn Trà

TƯ LỆNH QUÂN GIẢI PHÓNG THẤT SỦNG
Thượng tướng QĐNDVN tên thật Nguyễn Chấn sinh 1918 tại Quảng Ngãi – Mất 1996 ở Singapore (79 tuổi).
Nguyên Tư lệnh quân Giải phóng miền Nam, sau 30.4.75 là Chủ tịch UB Quân quản TPHCM trong 7 tháng.
Sau khi thống nhất 2 miền và giải tán Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng từ 1978-1982.
Tuy nhiên sự kiện thống nhất 2 miền kể trên có lẽ không ít thì nhiều đã không được sự đồng thuận nhất trí cao của một số nhân vật thành viên chính phủ và Mặt trận Giải phóng miền Nam -- trong đó có thể có vị nguyên tư lệnh -- đối với chủ trương của cấp Trung ương miền Bắc,
Có thể vì vậy năm 1982 nổ ra scandal cho in bộ hồi ký “Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm” gồm 5 tập trong đó có nêu một số luận điểm trái ngược với quan điểm chính thống lâu nay của Trung ương ở miền Bắc như ai là chủ soái thực sự chiến thắng 30.4 (tướng Võ Nguyên Giáp chứ không phải tướng Văn Tiến Dũng), sai lầm của Bộ Chính trị trong cuộc tổng công kích nổi dậy Mậu Thân 1968…
Lập tức bộ sách bị thu hồi và cấm in tiếp. Riêng bản thân tác giả xem như “hạ tầng công tác” cho về hưu non.
Năm 1986 tham gia thành lập CLB Những người kháng chiến cũ ở TPHCM – cùng Nguyễn Hộ – có xu hướng đấu tranh yêu cầu Đảng thực thi mở rộng tự do dân chủ. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì bị chính quyền trấn áp, giải tán CLB, bắt giam Nguyễn Hộ.
Năm 1992 nhận chức “danh dự” Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh VN ngồi chơi xơi nước đến ngày mắc bệnh đưa qua Singapore chữa tưởng đã đỡ không ngờ đi thang máy xuống lầu bệnh viện chuẩn bị về nước thì bị sốc tim không cứu kịp.
(Còn tiếp)


Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Thơ Võ Chân Cửu

Tháng tư


Ta chỉ giữ ngọn gió
Trên bờ môi em
Tím phới ánh hoa cát đằng
Sắc lá như sao
Lung linh qua ngọn nắng
Và trôi nhanh tháng ngày
Ngón tay khuấy đều nhịp gõ
Như giọt cà phê rơi
Nhưng ánh trăng trôi hòai trong giấc mộng
Người ơi
Thôi đành quên



Yên ả

Đã trở lại bốn bề yên ả
Em có còn cho tôi nhớ thương
Đã nhen một que mồi bếp lửa
Ươm mầm cây chim hót trong vườn



Ở Chụtt

Cát buồn trôi biển lạnh
Và ánh trăng không lên
Nỗi nhớ như sương đọng
Thanh âm khắp mọi miền
27/3/2011



Đêm nay

Đêm nay sẽ làm một bài thơ…
Là anh không ngủ cũng nằm mơ
Trăng xuống đáy sông in mặt nước
Như những chàng trai quá dại khờ.

Tưởng tượng. Nhưng không hề có nữa…
Bài thơ ghi dấu đã mang theo.
Nàng đi suốt buổi trăng hăm mốt
Một bóng thuyền in dưới bóng đèo !

Nàng ơi đôi mắt vẫn trông theo…


Võ Chân Cửu