Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012

Trần Ngọc Bảo: TOUR THĂM LĂNG VUA ĐẦU TRIỀU

Mời cả nhà cung 3 anh em chúng tôi ( Dũng, Bảo, Sum ) đi thăm lăng mộ vị vua đầu triều Nguyễn, lăng vua Gia-Long. Hay cũng còn gọi là lăng Diên-Thọ.
 Vua Gia-Long ( 1762-1819), lên ngôi Hoàng-Đế 1802, lập nên triều Nguyễn
 Quần thể lăng Diên-Thọ tọa lạc tại làng Đinh-Môn, huyện Hương-Trà tỉnh TT Huế, rông chừng 28km2. Gồm có lăng mộ nhà vua và những người thân thuộc như lăng Quang-Hưng, lăng Vĩnh-Mậu, lăng Trường-Phong, lăng Thoại-Khánh, lăng Hoàng-Cô v.v…
Khởi hành từ nhà anh Bảo lúc 9g30, 28/12/2011.
 
 
 
Sau khi đi 18km thì đến bến đò Kim-Ngọc.

 
Điện Minh-Thành, nơi thờ Hoàng-Đế và Hoàng-Hậu thứ nhất, bà Thừa-Thiên-Cao Hoàng-Hậu.
 
Di ảnh vua Gia-Long.
 
Bên trong điện Minh-Thành mùa mưa.
 
Từ điện Minh-Thành nhìn ra cổng, hai bên có nhà Đông-Tây phối điện.
 
 
Góc nhìn từ cổng điện Minh-Thành xuống sân.
 
 
Bửu-Thành. Nơi an táng nhà vua và bà chánh phi, được dẩn vào bởi 7 cấp sân chầu
 
 
 
 
2 quan văn và 3 quan võ.
 
Quan chầu hàng dọc 2 eng chầu hàng ngan.
 
Voai và ngạ cùng chầu.
 
Vua và hoàng-hậu được song tán dạng thạch thất theo quan niệm CÀN KHÔN HIỆP ĐỨC.
Đáng chú ý là các vua triều Nguyễn chỉ có duy nhất vua Gia-Long được an táng chung với vợ. Các vua khác nằm một mình.
 
Phía xa là núi Đại-Thiên-Thọ, làm bình phong cho khu tẩm.
 
2 cổng và 3 lớp tường thành.
 
 
Lối vào Bi-Đình.
 
 
Bên trong Bi-Đình có bia lớn khắc bài THÁNH ĐỨC THẦN CÔNG do vua Minh-Mạng soạn để ca ngợi công đức cha mình.
 
 
 
Bi-Đình nay được làm mới quá nhiều.
 
Lăng Thiên-Thọ-Hữu nhìn từ xa. Đây là nơi an táng bà Thuận-Thiên-Cao Hoàng-Hậu, vợ thứ nhì của vua Gia-Long và là mẹ vua Minh-Mạng sau này.
 
 
Bà nằm một mình sao . . .
 
Dấu tích của thời tiết và chiến tranh.
 
 
Trước lăng bên lỡ bên bồi.
 

  
                             NGHE CHUÔNG PHIỀN NÃO TAN MÂY KHÓI.
                             Ý LẶNG THÂN AN MIỆNG MĨM CƯỜI.

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2012



KÍNH CHÚC QUÝ THÂN HỮU VÀ BẠN ĐỌC
MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG
SÁNG TÁC DỒI DÀO


Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

R. M. Rilke và thơ hài cú

Thi hào Rainer Maria Rilke - Ảnh: internet
LGT: Lần đầu tiên khi tiếp cận với thể thơ Hài cú (Haiku) của Nhật Bản, R. M. Rilke (1875 - 1926) đã lập tức bị lôi cuốn vì vẻ đẹp dung dị và thuần khiết của thể thơ nhỏ bé, ngắn ngủi, ít lời nhất trên trường văn chương quốc tế.

Trong thư gửi cho bà Guidi Noelke ngày 4. 9. 1920, Rilke viết về khám phá đầy ngạc nhiên và thú vị này: “Bà có biết loại đoản khúc thơ (ba dòng) nho nhỏ của Nhật Bản, gọi là Hay Kay?... Tờ “Nouvelle Revue Francaise” vừa mới đăng bản dịch của những bài thơ ấy, trong vẻ dung dị mà chín muồi, thuần chất không thể tả…”(1)

Chạm mặt đầu tiên với những vần Hài cú, trực cảm thi ca của nhà thơ về “khoảng trống”, “sự im lặng”, “cái rỗng không quá thực” như thứ “rỗng của tấm gương hay của một ví đựng tiền” đã từng bàng bạc trong ngôn thi của ông, trở nên tri giác rõ rệt về cách thể nghệ thuật đến từ tĩnh không, khổ hạnh ngôn ngữ, đến từ chiều kích đảo ngược, từ bỏ âm thanh, sắc màu:

…“Đó là một câu hỏi lớn về nghệ thuật, về tất cả mọi nghệ thuật… bao nhiêu quằn quại để cảm nhận được mảnh im lặng chen giữa những âm thanh trong một nhạc phẩm, một thứ im lặng thế tục… Và trong thi ca, biết bao nhiêu khoảng trống thực sự bàng bạc khắp nơi, giữa những chữ, giữa những đoản khúc cấu kết nên bài thơ...; sự thành công hiếm có và diễm tuyệt trong cách đưa một sự vật (chose) tưởng tượng vào trong một không gian thích hợp, có nghĩa hội nhập nội tại, như bà đã thực hiện, làm cho tôi nhớ đến những bài thơ Hay Kay, những hợp thể nhỏ bé thi vị đã được những người Nhật Bản sáng tạo từ thế kỷ thứ 15. Bà hãy tự mình phán xét về nghệ thuật này, mà người ta gọi là “một chấn động ngắn ngủi”, tuy nhiên nó bắt người gặp nó dừng lại lâu hơn (…)”
(2)

Dĩ nhiên “Hay Kay” đã là một thử nghiệm ngôn thi thú vị cho nhà thơ đang ở trên bước đường sáng tác mang tính toàn hoàn vũ không ngừng nghỉ với bất cứ một ngôn ngữ nào. Ba bài thơ “ba dòng” “Hai Kai” của R. M. Rilke được xem như là những bài thơ đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật thơ Hài cú tiếng Đức. Với chúng, thơ của Rilke thường đem lại những chấn động bất ngờ làm người đọc dừng lâu.


Một số bài thơ Hài cú của R. M.Rilke

gồm những bài bằng tiếng Pháp và tiếng Đức


I. Những bài có tựa đề “Hai-Kai”

1.
Hừm, mang trái nặng hơn hoa
Nhưng đó không phải cái cây nói
Mà một người đang yêu

C’EST pourtant plus lourd de porter des fruits que des fleurs
Mais ce n’est pas un arbre que parle
C´est un amoureux
(R.M.Rilke, SW I I, S. 638)

2.
Thiêu thân chập choạng huyên thiên từ bụi cây
Chúng chết chiều hôm nay và sẽ không bao giờ biết
Rằng xuân chưa đến

Kleine Motten taumeln schauernd quer aus dem Buchs
Sie strerben heute Abend und werden nie wissen,
daß es nicht Fruhling war

3.
Giữa hai mươi thứ phấn
Nàng tìm một lọ đầy:
đã hóa đá

ENTRE ses vingt fards
Elle cherche un pot plein: devenu pierre
(R.M.Rilke SW I I, S. 745; viết vài tháng trước khi mất)


II. Những bài thơ ba dòng theo thể Hài cú

1.
Tôi họa mi, tôi, mà em đang hát
đây. Tận trong tim tôi, giọng đó thành bạo lực
Không sao tránh khỏi
Ich bin Nachtigall, ich, den du singst,
hier. Mir im Herzen, wird diese Stimme Gewalt
nicht langer vermeidlich
(R.M.Rilke, SWI I, S. 61)

 2.
Chúng đã muốn nở hoa
Và nở hoa là đẹp; nhưng chúng ta muốn chín
Có nghĩa thành tăm tối và khổ công

Sie wollten bluhn,
und bluhn ist schon; doch wir wollen reifen,
und has heißt dunkel sein und sich bemuhen
(R.M.Rilke, SW I, S. 521)

3.
Sao, suối, hoa hồng, nhà,
và như luôn biết, càng nhiều tên
càng
không tên nào
nói đủ nghĩa hồng hoa

Stern, Quelle, Rose, Haus,
und wie er immer weiß, je mehr der Namen
kamen
es reicht kein Name je fur ihr Bedeuten aus
(R.M.Rilke, SW I I, S. 477)

4. Những dòng thơ trên mộ của nhà thơ
được xem là những dòng Hài cú huyền diệu
 
Hồng hoa, ôi mâu thuẫn trong veo, khoái lạc,
Là giấc ngủ của không ai dưới bao nhiêu
Bờ mi

Rose, oh reiner Widerspruch, Lust,
Niemandes Schlaf zu sein unter soviel
Lidern
     (R.M.Rilkes Grabspruch)

THÁI KIM LAN
(giới thiệu và chuyển ngữ)

(SH274/12-11)



----------------------
1. R. M. Rilke, thư  gửi bà Gudi Nolke ngày 4. 9. 1920 trong Những bức thư gửi bà Gudi Nolke trong những năm ở Thụy Sĩ, Paul Obermuller chủ biên, Insel-verlag, Wiebaden 1953, S. 63
2. Briefe aus den Jahren 1914-1926, thư gửi bà Sophy Giaque (một nữ họa sĩ người Pháp-Thụy Sĩ) ngày 26. 11. 1925

http://tapchisonghuong.com.vn

PHÂN ƯU

ĐƯỢC TIN
THÂN PHỤ NHÀ THƠ PHAN LỆ DUNG
(Nhạc phụ của cố nhà thơ THÁI NGỌC SAN)

VỪA QUA ĐỜI TẠI HUẾ
HƯỞNG THỌ 86 TUỔI

THÀNH THẬT CHIA BUỒN CÙNG CHỊ PHAN LỆ DUNG VÀ TANG QUYẾN
CẦU NGUYỆN HƯƠNG HỒN CỤ THANH THẢN Ở CÕI VÔ THƯỜNG


Nguyễn Tịnh Đông - Trần Vàng Sao - Viêm Tịnh - Huy Vĩnh - Nguyễn Văn Trai
Nguyễn Miên Thảo -Thái Nguyên Hạnh - Phạm Tấn Hầu - Lê Ngọc Thuận
Từ Hoài Tấn - Hồ Trọng Thuyên - Văn Viết Lộc - Trần Dzạ Lữ - Hồ Đăng Thanh Ngọc 
Lê thị Ngọc Quý - Bùi Ngọc Long - Nguyễn Hải Trung - Nguyễn Đông Nhật
Trần Phá Nhạc - Đức Phổ - Lê Hùng Vọng và các bằng hữu Huế , Sài Gòn ...

NGUYỄN LƯƠNG VỴ : CUỐI NĂM NHỚ NGUYỄN TÔN NHAN


Bồng bềnh bồng bềnh như u mộng ảnh
Đêm cuối năm sóng sánh một trời thơ
Chữ biệt tích ý biệt tăm quá lạnh
Nhớ bạn hiền ngồi độc ẩm bơ vơ

Tay gõ phím vu vơ chờ tiếng vọng
Tiếng cười năm xưa giọng nói vang trầm
Hất mái tóc nhắc Lão Đam lồng lộng
Đạo khả Đạo… phiêu bồng cao hứng ngâm

Thi khả Thi…cười khì em quá mượt
Quá huyền vi say khướt nụ xuân thì
Giọt khuya thấm rầm rì đầy ơn phước
Thơ cũng say mèm vì em đã đi

Thánh Ca rất xanh dưới trời Tượng Số
Lá tương tư tự vẫn dưới chân đồi
Thi sĩ để tang cùng mây vạn cổ
Rồi trầm mình trong huyệt mộ mồ côi

Tay gõ phím tìm nhau nơi đất lạ
Mà trời rất quen Lục Bát Ba Câu
Câu lục cuối nhẹ thênh mà buốt quá
Khều cái mênh mông sấm động gió đau

Tiếng chuông trên đồi xưa nở tím ngát
Bóng mây điên kia trổ nhạc khóc òa
Ta uống thêm một ly nghe âm ngất
Nghe đá rền đỏ mắt hát bi ca

Hãy dựng sẵn ngôi nhà mây Ngu Cốc
Chờ ta về cùng đọc thơ huyền âm
Lạnh lạnh lạnh trầm trầm trầm tán dóc
Huyền chi hựu huyền nhậu với sương câm…

12.2011

NGUYỄN LƯƠNG VỴ

http://www.gio-o.com

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011

NHÀ VĂN VÀ BỐN TRÙM "MAFIA" - NGUYỄN HUY THIỆP

Người xưa cho rằng văn chương là gốc lớn của sự lập thân, là việc lớn của sự "kinh tế" (kinh bang tế thế). Song, cũng thấy rõ tính chất phiêu lưu hiểm nguy của văn chương, bởi thế người xưa cũng hết lời khuyên răn đe nẹt nó.
Kinh thánh bắt đầu bằng câu: "Khởi thủy là lời". Câu ấy đi kèm với cái lắc đầu của Chúa. Chúa cũng sợ rằng những hành động tiếp theo Lời không khéo chẳng hay ho gì.
Vậy sau khởi thủy là gì?
Không phải tự dưng mà trong văn chương người ta đề cao chữ tâm. Tôi sẽ nói về điều này sau khi đã trình bày một vài điểm có vẻ như ít siêu hình hơn.
Trong việc làm văn, yếu tố quan sát giữ vai trò tích cực hàng đầu. Những nhà văn nhạy cảm và có tài năng, sau khi quan sát xong sẽ mệt khủng khiếp. Sự lãnh cảm dửng dưng của thói đời, tính chất vô nghĩa của những việc làm, sự đểu giả trong nhân cách và chi chít những hình ảnh thối tha trong xã hội đập vào giác quan họ, họ không mệt sao được?
Sau khi quan sát, nhà văn ngẫm nghĩ để xử lý những lời nói dối và những lời nói thật, xử lý những hành động bất nhẫn và những cử chỉ cao thượng, xử lý của cải vật chất có thật và tinh thần lãng mạn mang màu sắc huyền ảo giống như cách ta lựa chọn thực đơn. Rất ít khi người ta chọn được thực đơn hợp vị. Tôi không tin là nhà văn nào cũng biết phân biệt chính xác tuyệt đối các dữ kiện mà anh ta thu lượm được sau quan sát. Hơn lúc nào hết, đây là lúc nghề nghiệp đòi hỏi trái tim nhà văn lên tiếng, tức là đòi hỏi chữ tâm trong lòng.
Việc ngẫm nghĩ về các dữ kiện thu lượm được sau quan sát đọng lại trong lòng nhà văn thành một thứ kiến thức rời rạc, lỏng lẻo. Chính Lê Quý Đôn đã nhận thấy điều này và điều ông thấy cũng chỉ mờ nhạt chẳng đáng tin cậy chút nào. Ông viết: "Kiến thức do thanh khí sinh ra; bản nguyên của thanh khí có gốc ở trời và cũng liên quan đến thời, từ đó tan vào lòng người, rất kỳ diệu và sinh động. Cảm thấy, ứng thấy, rất lạ lùng, tinh vi, không hình dung được". Trong điểm lưu ý này của Lê Quý Đôn, chứa đựng một phát hiện tài tình, đấy là quy luật "văn đẻ ra văn". Nếu không gọi là quy luật, ta cũng có thể gọi đó là tình trạng phổ biến.
Hầu hết các nhà văn đều chịu ảnh hưởng của người đồng nghiệp đi trước. Tính chất truyền lửa hết sức khó chịu này của trí thức làm cho tất cả các nhà văn khi mới bắt đầu cầm bút đều ngượng chín người. Họ lố bịch lặp lại tư duy, cách xây dựng hình ảnh, thậm chí bố cục của ai đó. Guy de Maupassant cũng đã từng ca hát theo kiểu Flaubert, Gogol thì phải làm theo Puskin, còn Nguyễn Du ở Việt Nam thì dựa theo Thanh Tâm Tài Nhân là một người gần như không có tên tuổi gì ở mãi Trung Quốc.
Trong tác phẩm của nhà văn thiên tài, chứa đựng một số câu văn nào đó làm mồi cho bọn hậu sinh. Việc đọc tác phẩm của họ hết sức quan trọng. Song, nếu đọc họ mà chỉ dừng ở hình thức nghĩa là không đọc. Lê Quý Đôn cũng lại nhận ra điều này nữa. Ý kiến sau đây của ông rõ ràng và minh bạch hơn ý kiến trước nhiều: "Vô luận cổ văn hay kim văn, tuy thể loại và câu văn có khác nhau, nhưng đại để đều phải có nội dung là đạo. Có nội dung ấy thì văn chương phát đạt, không có thì hỗn loạn. Phải viết có nội dung thì văn chương thịnh, không như thế thì suy".
Vậy thế nào là đạo? Và đạo là gì?
Ở phương Đông người ta coi sự kết hợp âm dương là Đạo, sự kết hợp ấy được hình dung như con đường. Ta cũng có thể coi đạo như một mạch sống. Cảm nhận được mạch sống của thời, thể hiện được bằng con chữ, đấy là văn chương thần thánh.
Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, sống cách đây hơn trăm năm, người từng được nhân dân coi là "thần nhân" giải thích về đạo rất kiêu ngạo: "Đạo là cái tâm mà ta sẵn có". "Ta" ở đây không phải là mọi người mà chỉ là một thiểu số cá nhân siêu việt có "lời đạt" (đây là chữ của Tô Đông Pha) mà thôi. Phương Đình coi "lời đạt" bởi "có gốc". Ông giải thích: "Ví như nước vậy. Nước ở biển khơi, tuy gò đảo chắn ở phía trước nhưng dòng không rối loạn. Ao vịnh rất xa, nhưng nguồn mạch thường thông. Được thế, là vì biển chất chứa sâu dày vậy. Tĩnh thì thể nghiệm nó ở thân, động thì tham cứu nó ở sự. Nó là cái mà ta nắm được, để làm trọn vẹn cho "cái vốn có" ở mình. Sau đó, tiếp xúc với sự vật thì nó bật ra. Không một ý nào là không ngân vang..."
Tất cả những điều trên đều đưa đến hệ quả sau đây: "Văn chương hay là có "lời đạt", "lời đạt" là bởi có "đạo", "đạo" xuất phát từ "tâm" tức là từ trái tim người viết". Đã không viết thì thôi, chứ đã viết ắt phải có tâm, phải có tấm lòng. Nhưng vì sao người ta cứ phải cảnh tỉnh văn chương, vẫn cứ phải khuyên răn đe nẹt người viết. Trong văn chương chất chứa sự hiểm nguy gì?
Ở Trung Quốc người ta kể rằng khi xuất hiện chữ viết, thứ chữ viết trên mu rùa của vua Phục Hy thì Quỷ cốc tử nhảy ra ôm mặt khóc ba ngày ba đêm rồi than rằng: "Thiên hạ từ đây đại loạn". Trong chữ viết, trong văn chương, chứa mầm mống loạn. Điều ấy là một thực tế và thực tế ấy đã được chứng minh từ xưa đến nay.
Chúng ta hãy thử hình dung một người sinh ra, làm lụng, ăn uống, sống hoàn toàn mê man trong những phép tắc lề luật, những khuôn khổ đạo đức tù đọng, "hết ngày dài lại đêm thâu", thời gian cứ thế trôi đi, rồi chết. Tất cả những điều ấy diễn ra vô nghĩa, tầm thường, quanh quẩn, không so sánh, không đối chiếu... như thế sẽ kinh khủng như thế nào. Văn chương không cho phép người ta sống thế, văn chương thôi thúc, đánh thức tất cả tiềm năng con người trong họ và cảnh tỉnh rằng: "Này! Sống thế nào thì sống, sống như thế khổ lắm, nhục lắm, sống như thế đểu lắm, khốn nạn lắm... Mau mau lên, sắp hết đời rồi". Sự thôi thúc của văn chương dựng người ta dậy...
Sự thức tỉnh con người ở văn chương có ba bảy đường. Thường các nhà văn xoàng xĩnh lại đặt lòng tin ở ý nghĩa xã hội của văn chương nhiều hơn các thiên tài đặt lòng tin vào nó. Các nhà văn kém cỏi, không tự tin ở tài năng cá nhân mình nên ra sức ráo riết "hoạt động xã hội" để "phản ánh xã hội". Họ lớn tiếng và tin chắc rằng chỉ riêng mình mới có "ý thức công dân", riêng mình mới có lương tâm mà thôi. Tôi đã thấy chuyện ấy xảy ra ở Hà Nội và ở các thị xã tỉnh lẻ. Thường "các hoạt động xã hội" của loại nhà văn này bao gồm việc tụ tập ở quán cà phê, salon và các cuộc hội thảo có nội dung chính là "vấn đề nhân sự". Họ lảng vảng quanh các hội trường, nơi các nhà chính trị bàn bạc và liếc nhìn với ánh mắt lườm lườm. Việc "phản ánh xã hội" của họ trong tác phẩm thường sốt sắng nhưng cũng thường sai be bét. Làm sao mà không sai be bét được? Ngay các nhà chính trị khi định ra "chế", định ra chính sách, hướng dẫn chúng thực hiện chính sách đó, phấp phỏng theo dõi hàng ngày cũng còn không tin sự sai đúng, nữa là một người đứng ngoài cuộc?
Vấn đề "ý thức công dân" và "lương tâm", tôi không muốn đề cập ở đây. Chúng ta đều có ý thức công dân và lương tâm cả thôi, nó có chạy đi đâu mà phải lo lắng sợ hãi.
Ở Việt Nam từ xưa đã lưu truyền một bài ca dao mà tất cả các lời giải thích về nó đều chết cười:
Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi một xâu cá mè
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi cục xôi Bờm cười...
Người viết bài ca dao kia vui tính diễn đạt tư tưởng "ăn ngay", "nuốt được vào bụng" của mình hết sức tài tình. Tư tưởng "ăn ngay", "nuốt được vào bụng" có thể ví dụ như tinh thần hiện sinh trong triết học phương Tây. Người viết bài ca dao đó quá hiểu xã hội phương Đông, một xã hội đầy thành kiến nặng nề, chất chứa nhiều ràng buộc, rất nhiều hứa hẹn thề nguyền nên chẳng tin gì hết. Nhà văn Nguyễn Văn Bờm chỉ tin ở mình, chỉ tin hiệu quả ăn ngay và những tri thức anh ta có thể tiêu hóa được.
Tinh thần hiện sinh giúp con người nhận thức ra bản ngã mình. Song tai hại của việc nhận thức ra bản ngã mình là dẫn đến những hành động bất nhân, bất lương, vị kỷ. Hơn lúc nào hết, ở đây "văn" đóng vai trò quan trọng. Vậy "văn" là gì? Phải chăng đấy là việc tự mình quan sát, xử lý dữ kiện, hành động ra sao hợp với mình và hợp với thời. Chu tử, tức Chu Hy đời nhà Tống Trung Quốc quan niệm: "Uy nghi đúng mực, nói năng phải lẽ, đều là văn". Quan niệm ấy hết sức chính xác, Lê Quý Đôn cũng quan niệm như thế nhưng văn hoa hơn: "Mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú là văn của bầu trời - Núi, sông cây cỏ là văn của đất - Lễ nhạc, pháp độ là văn của người". Lê Quý Đôn cũng lưu ý "đừng nhầm lẫn đức với văn là hai". Như thế, văn hay tức là đức tốt, chẳng có gì mà bàn bạc, đấy là xét về phương diện người viết.
Tính chất hết sức cá nhân trong các tác phẩm văn học lừng danh cảm động bởi chính bởi chính tấm lòng người viết. Khi người viết không sợ ngượng, bày tỏ mình và thông cảm được với mọi người thì gì thì gì, chúng ta cũng phải kính nể anh ta. Tại sao anh ta nói được điều mọi người không nói được, hơn nữa "không một lời nào không bình dị, không một ý nào là không ngân vang" thì chắc chắn ở đấy không phải có cái gì siêu phàm, ở đấy chắc chắn phải có ánh sáng.
Song, tôi vẫn cứ quay lại câu hỏi ban đầu: "Vì sao người ta cứ phải cảnh tỉnh, đe nẹt văn chương?"
Khi đề cập đến tính chất cá nhân của những tác phẩm văn chương lừng danh tức là đề cập đến tính chất người của nó. Nó ở đây là hai: Tác giả và tác phẩm. Ở tác phẩm, độ lớn của nhà văn tính bằng khả năng đẩy tính cách nhân vật và các vấn đề nêu ra đến hết, thậm chí đến cái chết. Không phải tự dưng Dostoevski lý giải sự thành công của ông là ông đã đẩy hết "điều mà các ngài chỉ đẩy nửa chừng". "Các ngài" đây, tôi cũng không hiểu Dos muốn ám chỉ đồng nghiệp của ông (tức là các nhà văn Nga cùng thời), ám chỉ các nhà chính trị hay là nhân dân Nga? Song, tôi biết rõ Dos cũng sẽ gọi con người công chức trong ông là ngài, ông chồng chung thủy trong ông là ngài, thằng người nô lệ trong ông là ngài, tất cả con người đạo đức trong ông là ngài.
Việc đẩy hết, đẩy đến cùng nhân vật cũng như những vấn đề nêu ra trong tác phẩm đòi hỏi nhà văn phải trung thực với mình đến tận đốt xương sống. Việc trung thực đến mức dám "thổi sáo bằng xương ống" như trường hợp Maiakovski đã khiến ông trở nên vĩ đại, dù rằng tài năng biểu hiện nghệ thuật còn hạn chế. Ta biết cách dùng từ ngữ và cách văng tục trong thơ của Maiakovski chẳng hay hớm và sang trọng gì, nhưng không phải vì thế mà ông không phải là nhà thơ vĩ đại. Hành động tự dí súng vào trán bóp cò của ông hết sức nên thơ. Trước một tấm lòng như thế thì những người cầm bút khác chỉ còn cách lắc đầu, phải công nhận ông ta là thiên tài cho yên chuyện.
Dầu khâm phục Maiakovski, thâm tâm nhiều người cầm bút cũng chẳng muốn noi gương ông. Ở phương Đông, người ta coi danh toàn thân vẹn mới là anh hùng kỳ tài. Ngày xưa, Triệu Tử Long cũng là một anh hùng như thế: lập chiến công, không hề bị thương tích, sau đó chết vì già. Song, Triệu Tử Long hành nghề võ. Còn nghề văn phức tạp hơn nhiều, không phải khỏe cơ bắp là đã chiến thắng.
Khi đọc cổ văn, tôi sợ nhất câu: "Hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn"  tức là có làm dư sức thì mới học văn. Rất ít người có khả năng như thế, điều mà Maxim Gorki diễn đạt có phần nào lỗ mãng và không lường hậu quả để lại. Ông nói: "Nhà văn phải cao hơn điều mình viết". Nói như thế, nhà văn bị đẩy vào thế buộc phải chứng minh, phải chứng tỏ điều gì đấy (nhất là phải chứng minh, chứng tỏ với trí tưởng tượng của chính mình thì rất mệt, rất dễ quá sức). Phật Thích Ca cao siêu hơn nhiều khi Ngài truyền giảng: "Ngươi đừng tin vào văn của ta, đừng tin vào cái tâm mà ta mong muốn, ngươi hãy tin vào lòng mình". Đến như thế là tuyệt đối, là đến hư không. Phật trường tồn bởi rất nhiều những lời truyền giảng như thế này.
Trong việc thức tỉnh con người, văn chương buộc phải đụng chạm đến dục vọng. Lý do hết sức đơn giản: bạn đọc không phải ai cũng đã biết đạo, hiểu đạo, hành đạo. Chất thú, chất bản năng trong con người nhiều vô kể. Mối hiểm nguy của nhà văn là khi đối mặt với dục vọng, không khéo anh sẽ thất bại ngay từ "cú ra quân" đầu tiên. Phật Thích Ca là đàn ông, khi biết đạo của mình có các tín nữ tham gia, Ngài hiểu rằng có sẽ mất đi 50% màu nhiệm, 50% thời gian tồn tại, kiểu như nếu đạo tồn tại 10.000 năm thì thực tế chỉ còn 5.000 năm thôi. Thật đúng là Phật. Ngài vừa độ lượng nhân từ lại vừa hào phóng. Có tín nữ tham gia đạo mất 50% màu nhiệm Ngài vẫn như không, mất 50% thời gian tồn tại mà Ngài vẫn chịu được.
Dĩ nhiên, thể hiện dục vọng trong văn chương không phải chỉ có chuyện nam nữ. Nó còn là chuyện tiền bạc, là quyền lực, thậm chí là tôn giáo. Chính trị, ái tình, tôn giáo và tiền bạc là bốn lĩnh vực khi đề cập đến, dấn sâu vào, nhà văn không khéo rất dễ ăn đòn. Mức độ hiểm nguy của bốn khu vực trên là ngang bằng nhau và bốn trùm "mafia" ấy chơi với nhau thân thiết, luôn tìm cách cứu độ lẫn nhau.
Cuộc đấu tranh của nhà văn là nhằm hướng con người thoát khỏi những mê man về quyền lực chính trị, ái tình, tiền bạc và cuồng vọng hóa thánh chính mình. Ở đây, nhà văn là kẻ phải một mình chống bốn "mafia". Có thể nói, chọn nghề văn là chắc chắn chọn sự thất bại về mình, bởi vì trong mỗi con người ai cũng phải dính dấp đến bốn phạm trù này, không sao thoát được. Vừa chấp nhận nó, vừa thoát được nó, vẫn giữ được đạo, đấy là mơ ước của người cầm bút.
Đời sống con người hết sức đa dạng. Người viết cũng thế, hết sức đa dạng. Chỉ rất ít nhà văn vượt qua được biển cả chông bút rồi cắm được ngọn cờ ghi tên mình vào một mô đất nhỏ nhoi nào đó. Đa số đến nơi thì đã kiệt sức, trên người cắm chi chít bút chì, bút bi, bút mực, bút kim, các vũ khí đủ loại sang trọng và bỉ ổi, thậm chí cả đạn. Vậy thì ai đến đích? Ai không đến đích?
Số đông nhà văn, có lẽ chiếm đến 99,99% người viết vướng vào những hóc hiểm của đường đời, lúng túng trong các mê lộ của lòng người và trong các mê lộ của từ ngữ, không sao thoát ra được. Số này không biết rũ bỏ sự kiện để tìm đến bản chất. Đặc điểm nghệ thuật của những nhà văn này là sự hoa mỹ ngôn từ, sự rườm lời. Họ không bắt mạch được tính cách nhân vật và thường để cho nhân vật cư xử nói năng nhầm lẫn. Các nhân vật đó yêu đương nhăng nhít, không biết kiếm tiền và tiêu tiền sai, chẳng biết gì về chính trị và tất nhiên sẽ vô đạo. Bản thân nhà văn vấp phải chông gai trong đường đời sẽ mắc phải chông gai trong ngôn từ và làm cho độc giả cũng bị thiệt mạng nốt. Rất nhiều nhà văn tưởng như lý giải được điều gì đó nhưng thực ra lại làm rối vấn đề thêm.
Dĩ nhiên, trong tác phẩm của 99,99% số nhà văn đó không phải vứt đi hết cả, lấp lánh ở đâu đó vẫn có vài hạt vàng bé nhỏ. Người đọc tinh ý biết cách thâu lượm những hạt vàng đó sẽ có được một số vàng kiến thức đáng kể, có điều như vậy sẽ phải mất công sức và thì giờ. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi ngẫm nghĩ về sự đời đã nói về điều này rất gan ruột:
Không có gì hiểm bằng đường đời
Nếu không biết cắt bỏ thì toàn là chông gai cả.
Chữ "cắt bỏ" này trong nghề văn Maxim Gorki gọi là "vặt lông gà" tức là biết cách rũ sạch các sự kiện không bản chất, rũ sạch các hư từ, hình dung từ, phiếm từ... Trong đời sống, ta có thể coi nó là việc cắt bỏ những ràng buộc của thể chế xã hội tiến tới tự do cá nhân tuyệt đối, giấu mình vào thế giới nội tâm chính mình.
Khi giấu mình vào thế giới nội tâm chính mình, đối mặt với khoảng không tự do cá nhân tức là lúc con người đối mặt với quỷ. Viết đến đây, tôi nhớ đến chuyện kể về hai người phụ nữ. Một bà hỏi: "Bạn thân mến, nếu chết bạn sẽ chọn thiên đường hay địa ngục?". Bà kia trả lời: "Kể ra thiên đường thì khí hậu tốt thật, nhưng ở địa ngục thì nhiều chuyện vui hơn". Giai thoại này chứa ẩn một nụ cười khúc khích. Những nhà văn cao thủ mà tôi cho là chiếm tỷ lệ 0,001% số người cầm bút đã thể hiện tài tình đời sống tự do cá nhân của mình và nhân vật. Đọc họ rờn rợn, ghê ghê là phải. Nhưng thích. Hơn nữa thỉnh thoảng lại được cười tủm. Loại văn chương này ngày xưa gọi là "văn trung hữu quỷ". Ngay Tú Xương cũng thuộc loại này. Thậm chí cả Nguyễn Khuyến nữa. Khi Nguyễn Khuyến trách Tú Xương:
                  Rằng hay thì thật là hay
      Đem "Trời" đối "chó" lão này không ưa
Thì thật ra cũng là chuyện "chó chê mèo lắm lông". Khi rơi vào hoàn cảnh hỏng thi như Tú Xương thì Nguyễn Khuyến cũng phải viết như thế chứ còn viết thế nào.
0,001% số nhà văn hiếm hoi trên chắc chắn từng trải, tốt bụng, uyên thâm. Ở họ ranh giới tốt xấu có khi nhòe vì họ chỉ quen làm điều tốt chứ có làm điều xấu bao giờ đâu mà biết điều xấu là gì. Song, những nhà văn này bao giờ cũng bị búa rìu dư luận phang vào không thương tiếc. Lỗi duy nhất của họ là họ quá thật với mình và với bạn đọc. Đây là thứ văn chương nổi loạn. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã suy nghĩ về điều này rất gan ruột:
"Không gì nguy bằng lòng người. Nếu không biết giữ gìn mà buông phóng ra thì thành quỷ quái cả".
Trong lời sấm ấy của Trạng Trình chứa ẩn chân lý sau đây: đấy là tính mức độ, tính hữu hạn của thiên tài.
Đến đây, chúng ta sẽ gặp khái niệm "hài hòa" của mỹ học hay tình trạng mà ta vẫn quen gọi là đắc đạo. Số nhà văn đắc đạo chiếm tỷ lệ ít đến kinh người, nó chỉ chiếm 0,001% số người cầm bút mà thôi. Họ là những thiên tài và bao giờ họ "cũng lấy điều chí thiện làm tiêu chuẩn tuyệt đối". Việt Nam may mắn đã có Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, còn sau Nguyễn Du thì hình như chưa thấy ai cả.
Có thể có người sẽ phản đối tôi về việc chia tỷ lệ ba loại văn chương kia. Ở đây tùy quan niệm về "người cầm bút". Cách chia tỷ lệ của tôi là từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, từ Tư Mã Thiên trở xuống chứ không phải là từ dưới lên trên.
Tóm lại, dù ở loại văn chương nào, cũng phải lấy chữ tâm, lấy điều chí thiện làm gốc. Cảnh tỉnh, đe nẹt người viết là cảnh tỉnh, đe nẹt loại nhà văn chiếm số đông kia. Đối với 0,001% nhà văn đắc đạo, cảnh tỉnh đe nẹt họ là thừa.
Đến đây bật ra câu hỏi: ai sẽ là người có quyền cảnh tỉnh đe nẹt văn chương? Chẳng ai hết cả, đấy chính là bốn trùm "mafia" tồn tại hết mọi thời: chính trị, ái tình, tiền bạc và tôn giáo. Bốn thế lực này giăng bẫy khắp nơi, hành hạ con người. Văn chương giúp cho con người nhận thức về mình, nhận chân sự hiểm nguy trong đường đời. Cuộc chiến tranh nhận thức diễn ra liên tục, khi quyết liệt, khi hòa hoãn và thường người cầm cờ ở mọi thời bao giờ và cũng chỉ có kẻ ấy mới có khả năng này. Đấy là nhà văn bất hạnh.
Gã đang đi trên con đường kia, bút và giấy trong túi, tiền bạc cũng không, chẳng có bổng lộc gì, trái tim tan nát...
Nguồn: Sông Hương, Huế, số 46-1991

http://www.viet-studies.info