Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012

Thơ Nguyễn Miên Thảo - Lê Ngọc Thuận

THƠ LÊ NGỌC THUẬN

CHƯƠNG HÔN MÊ
Cái đầu mụ mẫm hôn mê
Chiêm bao cứ tưởng người về đêm nay
Hóa ra nửa tỉnh nửa say
Cầm ly rượu ngỡ cầm tay của người.

NGUYỄN CA
Xưa anh chậm trễ cau trầu
Để em nhỡ bước qua cầu Bá Vương
Thù mưa, hận nắng vô thường
Làm cho lộn lối lạc đường xa nhau
Em bồ câu hay diều hâu
Bay đi bỏ lại bóng sầu trong anh.



NHỚ TRỜI THÁNG GIÊNG - NGUYỄN MIÊN THẢO


Thời gian cứ mãi trôi mau
Ngồi nhớ từng chút ngày đầu gặp em
Nhớ từng sợi tóc em mềm
Nhớ sao giọng nói dịu hiền,xanh xao
Nhớ em một chút gầy hao
Em là ngọn gió thổi vào đời anh
Nhớ từng hơi thở mong manh
Nhớ em mỗi sáng dòn tan tiếng cười
Nhớ em một thoáng bờ môi
Nhớ con mắt biếc nhớ trời tháng Giêng

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

Cần hiểu đúng về nguồn gốc Tết Đoan Ngọ của người Việt

(TT&VH Online) - Hằng năm, cứ đến mồng 5 tháng 5 (âm lịch), dân ta lại tổ chức ăn Tết Đoan Ngọ. Về nguồn gốc của Tết Đoan Ngọ, đến nay nhiều người vẫn cho rằng có xuất xứ từ Trung Quốc. Tuy nhiên, căn cứ vào một số công trình nghiên cứu văn hóa cho thấy, Tết Đoan Ngọ của người Việt hiện nay lại có một nguồn gốc hoàn toàn khác…
Tết Đoan Ngọ là để tưởng nhớ Khuất Nguyên?
Theo giải thích của học giả Chu Xử trong sách “Phong Thổ Ký” thì Tết Đoan Ngọ còn được gọi là Tết Đoan Dương. Đoan Ngọ là bắt đầu giữa trưa (Đoan: mở đầu, Ngọ: giữa trưa). Còn Dương là mặt trời, là khí dương; Đoan Dương có nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh.
Ở Trung Quốc, thời Nam Bắc triều, Tết Đoan Ngọ còn được gọi là Dục Lan tiết. Lan có nghĩa là “túi đựng tên, hình dáng của nó như cái hộp gỗ” (Tr.2881, Từ Nguyên).
Đến thời nhà Minh, bùa trừ ngũ độc (Ngũ độc phù) đã trở thành vật trang sức khá phổ biến của phụ nữ, được in trên một số vật như trâm cài tóc, vòng đeo tay, đeo cổ, quạt… Một học giả thời bấy giờ là Trầm Bảng chép: “Thời trước, phụ nữ thường vẽ hình con rết (Ngô công), rắn (Xà), bò cạp (Hiết), cọp (Hổ), cóc (Thiềm thừ) trên những cây gỗ đào gọi là ngũ độc phù và cài trên đầu làm trâm (Thoa)…” (Trích Uyển Thự Tạp ký, quyển 17, bản in năm 1593).


Bánh ú nước tro là món bánh truyền trống của người miền Nam trong ngày Tết Đoan Ngọ. Những thứ bánh làm từ gạo chỉ có ở những khu vực có nền văn minh lúa nước.
Hiện nay, quan niệm phổ biến cho rằng nguồn gốc Tết Đoan Ngọ của người Việt có xuất xứ từ Trung Quốc. Quan niệm này gắn liền với một nhân vật trong lịch sử Trung Quốc đó là Khuất Nguyên.
Khuất Nguyên, tên Bình, biệt hiệu Linh Quân (340 TCN - 278 TCN) là một chính trị gia, một nhà thơ yêu nước nổi tiếng của nước Sở, làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài Vương. Lúc đầu ông được vua yêu quý, sau có quan lại ganh tài ông, tìm cách hãm hại. Vua Sở nghe lời gièm pha nên ghét ông. Ông âu sầu, ưu tư viết thiên Ly Tao để tả nỗi buồn bị vua bỏ.
Đến cuối đời, ông lại bị vua Tương Vương (người nối ngôi Sở Hoài Vương) đày ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử). Ông thất chí, tự cho mình là người trong sống trong thời đục, suốt ngày ca hát như người điên, làm bài phú “Hoài Sa” rồi ôm một phiến đá, gieo mình xuống sông Mịch La tự tử.
Theo truyền thuyết này, để tưởng nhớ về con người và cái chết bi ai của ông, hàng năm người ta tổ chức vào ngày mồng 5 tháng 5 là ngày Tết Đoan Ngọ ở Trung Quốc và một số nước khác ở Châu Á.
Sau này, Tết Đoan Ngọ còn được gắn thêm một tích khác nữa là tích hai chàng Lưu – Nguyễn gặp tiên.
Lưu Thần và Nguyễn Triệu là hai người đời nhà Hán, nhân ngày Tết Đoan Dương cùng rủ nhau vào núi hái thuốc, gặp hai tiên nữ kết duyên. Sau thời gian nửa năm sống nơi tiên cảnh với vợ tiên, hai người nhớ nhà đòi về. Giữ lại không được, hai tiên nữ đành đưa tiễn chồng về quê cũ. Vì thời gian ở tiên cảnh chỉ có nửa năm nhưng là mấy trăm năm ở cõi trần. Hai chàng thấy phong cảnh quê nhà đã khác xưa, người quen thì đã ra người thiên cổ, hai chàng bèn rủ nhau trở lại cõi tiên nhưng không được. Hai chàng ra đi mà không thấy trở về…
Trên thực tế, từ cuối thời Đông Hán, người ta đã tìm thấy những thư tịch sưu tầm về Tết Đoan Ngọ. Hầu hết các học giả thời đó cho rằng nguồn gốc của lễ tiết này có “liên quan” đến sự tưởng niệm thi hào nổi tiếng của nước Sở là Khuất Nguyên. Tuy nhiên các sử gia Trung Quốc lúc bấy giờ không hề đưa ra được những tư liệu cụ thể để chứng minh cho “sự liên quan” này.
Ngay trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên (145 – 86 TCN), tác phẩm được coi là thành tựu sớm nhất, ghi chép đầy đủ nhất về lịch sử Trung Quốc cổ đại (suốt 2000 năm từ thời Hoàng Đế đến đời Hán Vũ Đế), cũng hoàn toàn không xác định được rõ thời gian tự trầm của Khuất Nguyên là vào ngày, tháng nào. Những ghi chép của Tư Mã Thiên trong “Khuất Nguyên liệt truyện” (Sử ký) chỉ là những tư liệu được thu thập từ trong dân gian!
Vậy cơ sở nào để cho rằng Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch) là để tưởng nhớ Khuất Nguyên như một số người vẫn quan niệm hiện nay!?
Về nguồn gốc Tết Đoan Ngọ
Ở Việt Nam, Tết Đoan Ngọ còn được dân gian gọi bằng một cái tên dân dã hơn: Tết Giết sâu bọ. Đây là một trong những ngày lễ truyền thống có nội hàm văn hoá phong phú. Không riêng gì Việt Nam hay Trung Quốc mà ở Triều Tiên, Hà Quốc cũng có Tết Đoan Ngọ. Từ đó cho thấy, Tết Đoan Ngọ thực chất là một phong tục lễ tết Á Đông và gắn liền với quan niệm về sự tuần hoàn của thời tiết trong năm.
Trong ca dao Việt Nam cũng có câu:
“Tháng tư đong đậu nấu chè,
Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng năm”
Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là Tết Đoan Ngọ của người Việt có liên quan gì đến Tết Đoan Ngọ của người Trung Quốc và gắn với truyền thuyết Khuất Nguyên như lâu nay từng quan niệm?  Tết Đoan Ngọ còn được người Việt gọi bằng cái tên khác là “Tết Nửa Năm” (cũng có nơi là gọi là Giữa Năm). Đây được xem là tên gọi của riêng người Việt, không lẫn với tên gọi của các quốc gia khác. Vậy tại sao lại gọi là Tết Nửa năm, trong khi theo tính toán như lịch âm hiện nay thì “nửa năm” ở đây phải rơi vào tháng 6 âm lịch?
Về tên gọi Tết Nửa năm, tác giả Nguyễn Ngọc Thơ trong “Lại bàn về nguồn gốc tết Đoan Ngọ” giải thích: “Thời cổ đại, người Việt Nam dùng lịch kiến Tý, do vậy tháng mở đầu trong năm là tháng 11 âm lịch. Theo cách tính này, ngày 5 tháng năm rơi vào thời điểm nửa năm, do vậy dân gian Việt Nam rất chuộng tên gọi tết Nửa năm”.
Về nguồn gốc của Tết Đoan Ngọ, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm khẳng định: Tết Đoan Ngọ Việt Nam có cùng một khởi nguồn với vùng đất Bách Việt ở Nam Trung Hoa (vào khoảng vùng hạ lưu Dương Tử trở xuống) và Bắc Đông Dương.
Tác giả luận giải: Từ ngàn xưa đây vốn là vùng nông nghiệp lúa nước trù phú do các dân tộc Bách Việt gầy dựng nên. Do nằm dọc hai bên chí tuyến bắc, mùa hè ở đây oi bức, khó chịu, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người. May mắn, người nông dân với nghề lúa nước luôn đòi hỏi phải quan sát thời tiết, cố để tránh tối đa những tác hại của nó và tận dụng hữu hiệu những lợi thế mà tự nhiên mang lại, nhờ vậy phong tục tết Đoan ngọ hình thành, đánh dấu một cột mốc quan trọng của chu kỳ tuần hoàn thời tiết (Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB TP HCM, 2004).
Trong cuốn “Lễ tết Trung Hoa” của W. Eberhard (Chinese Festivals, N.Y. 1952) viết: “Đoan ngọ là tết của phương Nam, tết cầu may, tết của sự sống” (Double fifth is a Southern festival, lucky festival or festival of the living).
Tác giả Nghê Nông Thủy, thuộc Hội Dân tộc học Trung Quốc cũng thừa nhận: “Tết Đoan Ngọ là cống hiến to lớn của người Bách Việt đối với văn hóa Trung Hoa” (Hội Dân tộc học Trung Quốc, 2011).
Như vậy, có thể thấy, Tết Đoan Ngọ xưa là do nhân dân lao động cùng nhau sáng tạo, cùng hưởng thành quả và không ai làm tác giả cụ thể. Nó là thành quả từ trí tuệ của truyền thống nông nghiệp phương Nam của các bộ tộc Bách Việt. Về sau, cùng với việc xâm lấn và mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam sông Dương Tử, Tết Đoan Ngọ được người Hán tiếp nhận và hưởng ứng. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương khác nhau lại gắn vào nhiều điển tích khác nhau với các nhân vật như Ngũ Tử Tư, Việt vương Câu Tiễn, Khuất Nguyên đến Tào Nga, Trần Lâm…
“So với người Trung Quốc, người Việt Nam thiên hẳn về lối sống dân gian, tư duy tổng hợp – trừu tượng và truyền thống văn hóa truyền miệng đã giúp gìn giữ phong tục ngày tết này mà không cần thiết gắn liền với các nhân vật lịch sử. Ngược lại, Trung Quốc lớn, dân số đông, dân tộc đa dạng, việc chính thức hóa một phong tục dân gian bằng thao tác gắn chúng với các nhân vật lịch sử có chức năng tích cực, nhất là trong chức năng đại đoàn kết dân tộc” (trích An Nam phong tục sách, Mai Viên Đoàn Triển, NXB Hà Nội, 2008).
Nhìn lại lịch sử, suốt một nghìn năm Bắc thuộc, Việt Nam đã tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, đặc biệt là dòng “văn hóa quan phương” gắn liền với hệ tư tưởng Nho gia và hệ thống chữ Hán. Do chính quyền đô hộ thực hiện chính sách “đồng hóa”, một số phong tục, tập quán của người Việt bị bắt phải bỏ hoặc thay đổi cho phù hợp với văn hóa Hán. Điều này đã được chính sử sách Trung Hoa chép lại (xem thêm “Ngô chí”).
Sự giao thoa và du nhập tự nhiên cùng với chính sách “cưỡng bức văn hóa” của chính quyền đô hộ phương Bắc đã tạo nên một hệ quả tất yếu đó là hình thành diện mạo văn hóa có phần “mới” của Việt Nam trong nhiều thời kì lịch sử sau đó. Tết Đoan Ngọ cũng không ngoại lệ. Nó được gắn vào khung lý luận chính thống cùng các ý nghĩa, chức năng mang tính quan phương khác như “tưởng nhớ Khuất Nguyên”, “tưởng nhớ Ngũ Tử Tư”, “tưởng nhớ Trần Luận và Nguyễn Thiệu” và kéo dài trong suốt nhiều năm.
Bởi vậy, không thể quan niệm Tết Đoan Ngọ của người Việt bắt nguồn từ Trung Quốc như một số người vẫn lầm tưởng như hiện nay.
Hoàng Sơn
http://thethaovanhoa.vn

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

Bí ẩn trong tranh của Van Gogh

Lý giải họa phẩm của người nghệ sĩ tài hoa nhưng cả đời phải sống trong cảnh cô độc và bệnh tật...
Nửa cuối thế kỉ XIX, nền hội họa thế giới đã đón nhận một danh họa bậc thầy người Hà Lan - Vincent Van Gogh (1853 - 1890). Ông cho ra đời khá nhiều tác phẩm nhưng đáng buồn thay, cuộc đời ông lại là một chuỗi dài những tháng ngày bi kịch. Ông phải sống trong cảnh nghèo túng do tranh của mình không thể bán nổi cho ai. Trong suốt cuộc đời mình, ông chỉ bán được duy nhất bức tranh “Vườn nho đỏ”. Nhưng 100 năm sau khi ông qua đời, người ta đã dần nhận thức được giá trị những họa phẩm của vị danh họa người Hà Lan này.




 
“Vườn nho đỏ” - bức họa duy nhất bán được khi Van Gogh còn sống.

Và thế là tranh của ông liên tục phá những kỉ lục thế giới về giá bán, tiêu biểu phải kể đến một số tác phẩm như: “Hoa diên vĩ” - 53,9 triệu USD (khoảng 1.121 tỷ VNĐ), “Hoa hướng dương” - 40 triệu USD (khoảng 832 tỷ VNĐ) hay “khủng” hơn cả là bức “Chân dung bác sĩ Gachet” được bán vào năm 1990 với mức giá cao nhất mọi thời đại 82,5 triệu USD (khoảng 1.716 tỷ VNĐ) - tính theo giá trị ngày nay là gần 130 triệu USD (khoảng 2.704 tỷ VNĐ).





 
Bức "Chân dung bác sĩ Gachet" được bán với mức giá cao nhất mọi thời đại.




Những nhà sưu tầm họa phẩm hàng đầu trên thế giới nhận xét rằng, tranh của Van Gogh có một sức hút kì lạ đối với họ. Màu sắc gây cho người xem cảm xúc mạnh, nét bút thô, đường viền của hình ảnh lớn và chứa đựng đủ đầy nỗi đau khổ của một nghệ sĩ tài hoa nhưng cả đời phải sống trong cảnh cô độc và bệnh tật. Dù chỉ thoáng nhìn qua nhưng những đặc điểm trên khiến cho người xem không hề bị lẫn giữa tranh của Van Gogh với tranh của những họa sĩ cùng thời khác.




 
Danh họa Van Gogh.




Van Gogh ra đi khi mới 37 tuổi, để lại cho hậu thế một gia tài đồ sộ với hơn 2.000 tác phẩm ra đời trong 10 năm cuối của cuộc đời. Những bí ẩn đằng sau các bức họa phẩm Van Gogh cũng được giới mê tranh ráo riết “săn đón”. Cho đến ngày nay, bí ẩn về sự chính xác của các chi tiết thể hiện trong tranh của ông vẫn đang là một đề tài thú vị, gây nhiều tranh cãi và thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của giới mỹ thuật toàn cầu.


Tranh cãi xung quanh bức họa phẩm “Trăng lên”

Có lẽ, “Trăng lên” (Moonrise) là tác phẩm gây ra nhiều tranh cãi nhất trong giới sưu tầm tranh thế giới. Lý do là bởi quan điểm của họ về tên gọi của bức tranh thường không thống nhất. Có những người cho rằng, đáng ra tên gọi của bức tranh phải là “Mặt trời lặn”. Số khác lại không đồng ý với quan điểm này, cho rằng nên tôn trọng tên gọi của tranh thay vì đi tìm một cái tên khác dựa vào những quan sát chủ quan. Theo dõi bức tranh, chúng ta thấy rõ ràng một vật thể đỏ bầm nơi đỉnh núi, tuy nhiên chưa thể khẳng định chắc chắn rằng đó là Mặt trăng hay Mặt trời.


Bức “Trăng lên” được nhà danh họa người Hà Lan vẽ vào mùa hè năm 1889 ở tỉnh Saint-Remy-de, miền Nam nước Pháp. Thời điểm chính xác của cảnh tượng trong bức họa này luôn là một điều bí ẩn đối với những nhà nghiên cứu nghệ thuật hội họa. Thế nhưng, vào năm 2003, nhà thiên văn học Donald Olson tại Đại học Southwest, bang Texas, Hoa Kì đã giải mã được bí ẩn đó. Ông nhận định: “Chính xác là bức tranh được vẽ vào 21 giờ 08 phút, ngày 13/7/1889”.





 
Bức tranh "Trăng lên" gây nhiều tranh cãi trong giới sưu tầm tranh thế giới.




Olson đã cùng các cộng sự tới tỉnh Saint-Remy-de vào tháng 6/2002 để xác định khu vực đúng như mô tả trong bức họa. Sử dụng la bàn và những phần mềm thiên văn học để đo đạc hướng Mặt trăng xuất hiện trước mặt họa sĩ và độ cao của dãy núi phía chân trời. Cuối cùng, họ đã tìm ra được hai thời điểm mà Mặt trăng tròn nhô lên sau rặng núi tại đúng vị trí như mô tả trong tranh: ngày 16/5/1889 và ngày 13/7/1889.


So sánh với cảnh vẽ trong bức tranh - cánh đồng lúa vàng ươm đã được gặt, Olson đã khẳng định thời điểm đó chỉ có thể là vào tháng 7. Thực hiện thêm một số tính toán cần thiết, ông và các cộng sự đã thấy rằng, thời điểm trăng nhô lên vào ngày 13/7/1889 tại đúng vị trí của tranh là 21 giờ 08 phút. Một điều thú vị nữa là vào năm kỉ niệm sinh nhật thứ 150 của Van Gogh, vầng trăng trong “Trăng lên” sẽ được tái hiện lại chính xác. Theo tính toán của Olson, mỗi tháng, Mặt trăng đều tròn một lần nhưng nó chỉ quay lại đúng một vị trí trên bầu trời sau 19 năm.


Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi khác khiến các nhà nghiên cứu trước đó đã phải “điên đầu” tìm hiểu trong bức họa này: Cái bóng đen dưới chân núi do đâu mà có? Mặt trăng thì không thể tạo ra mảng bóng tối này rồi. Còn vào khoảnh khắc hơn 21 giờ đêm thì làm gì Mặt trời ló rạng? Olson đã giải thích khúc mắc này một cách đơn giản như sau: Van Gogh đã thực hiện bức tranh này trong 2 đợt. Ông bắt đầu tác phẩm vào lúc chiều tối và vẽ xong vào buổi sáng. Chính vì thế, chúng ta mới nhìn thấy trên bức tranh cảnh Mặt trăng đang lên vào lúc chập tối và bóng rợp dưới chân núi được ông vẽ thêm vào khi Mặt trời đã mọc.


Sửng sốt với họa phẩm “Ngôi nhà trắng buổi đêm”


Van Gogh có 5 bức tranh bầu trời đêm nổi tiếng, trong đó có bức “Trăng lên” vừa kể trên. Mỗi bức tranh đều khiến cho Olson nói riêng và giới mê tranh nói chung phải sửng sốt thán phục vì độ chính xác của các chi tiết thể hiện trong tranh, xét về mặt thiên văn học.




 
Bức “Ngôi nhà trắng buổi đêm”.




Vào năm 2001, Olson đã xác định một cách rất cụ thể thời gian mà Van Gogh vẽ bức “Ngôi nhà trắng buổi đêm” (The White House at Night). Olson đã tìm ra ngôi nhà đó trong thực tế và may sao nó vẫn giữ nguyên hiện trạng cho đến tận ngày nay. Ông thấy ngôi sao trong tranh chính là sao Kim, còn ánh nắng phản chiếu phía chân ngôi nhà trong tranh là vào giờ cuối cùng trước khi Mặt trời lặn, lúc đó là 7 giờ chiều. Sao Kim được vẽ muộn hơn nên khá sáng. Một chương trình máy tính tính toán rằng, sao Kim chiếu vào khoảng 8 giờ ngày 16/6/1890, chỉ 6 tuần trước khi Van Gogh tự tử. Từ đó, ông đã tính toán ra thời gian nhà danh họa vẽ tranh, vào “7 giờ chiều ngày 16/6/1890”. Xin được nói thêm rằng, nghe thì có vẻ lạ nhưng việc tính toán thời điểm dựa vào các chi tiết Mặt trăng, vì sao, Mặt trời… với chúng ta thì khó nhưng với một nhà thiên văn có óc quan sát tài tình như Olson, cộng thêm sự hỗ trợ của các phần mềm thiên văn thì đó lại là một việc hết sức đơn giản.


Bức “Ngôi nhà trắng buổi đêm” của Van Gogh có một lịch sử khá lận đận. Bức họa đã bị quân phát xít cất giấu khi bị lính Nga bắt trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Giới sưu tầm tranh thế giới nghĩ rằng tranh đã bị mất nhưng đến năm 1995, bức họa đã được tìm thấy và hiện đang được treo ở bảo tàng Hermitage ở St. Petersburg, Nga.


Nhiều bí mật trong họa phẩm nổi tiếng “Đêm đầy sao”


Cho rằng các bức họa của Van Gogh không hề được hư cấu, vào mùa hè năm 2005, Olson đã lên đường sang Pháp để thu thập thông tin về bức họa “Đêm đầy sao” (Star Night). Đây là một trong hai bức họa mà Van Gogh đã gửi cho em trai mình là Théo vào tháng 9 năm 1889 bằng một bưu kiện. Tháng 5 năm 1889, Van Gogh đã tới một tu viện để chữa bệnh tâm thần. Olson đã xác định được rằng, Van Gogh thực hiện bức họa khi nhìn qua khung cửa căn *ng của mình và điểm sáng trong bức tranh chính là một vầng trăng.




 
Bức "Đêm đầy sao".




Bên cạnh việc “Đêm đầy sao” được Olson xác định ra thời điểm Van Gogh thực hiện, bức họa này còn được các chuyên gia y học dùng để giải mã những bí ẩn khác về nhà danh họa có tài nhưng bạc mệnh. Van Gogh có một niềm say mê với màu vàng chói chang, trông đến nhức mắt - điều này được thể hiện qua hàng loạt bức họa của ông. Theo họ, Van Gogh nghiện màu vàng bởi ông luôn say sưa với thứ rượu ngải cứu. Khi pha vào loại rượu này một lượng xantonin (thành phần trong thuốc tẩy giun trẻ em), người uống vào sẽ nhìn thấy mọi vật nhuốm màu vàng.


Một số chuyên gia khác lại cho rằng, màu vàng trong tranh của ông có liên quan mật thiết tới chứng động kinh mà ông mắc phải. Để điều trị chứng bệnh này, theo đơn thuốc của bác sĩ Poli Ferdinand Gase, Van Gogh phải uống loại thuốc có tên Digitalis. Việc dùng thứ thuốc này sẽ khiến con bệnh nhìn thế giới xung quanh với “lăng kính màu vàng”. Bằng tài năng của mình, Van Gogh đã thể hiện rất chính xác lăng kính đó vào tác phẩm của mình.


Tiếc rằng, vào mùa hè năm sau, tháng 7năm 1890, nhà danh họa Hà Lan qua đời. Nếu may mắn, chắc hẳn Van Gogh sẽ còn để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm bất hủ với những bí ẩn thú vị hơn nữa.
 
Bài do Trần Ngọc Bảo gởi

Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2012: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 116 – 18.6.2012

1.161 - Chân Tín
THỜI NÀO CŨNG ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ
Linh mục Thiên Chúa giáo sinh 1919. Sống ở TPHCM (2012).
Thời VNCH cùng đồng đạo Nguyễn Ngọc Lan nổi tiếng chống chế độ Thiệu - Kỳ theo Mỹ, chống chế độ lao tù bất công kiểu quân phiệt, đấu tranh cho quyền tự do dân chủ quần chúng. Chủ trương tạp chí Đối Diện tập hợp giới trí thức Thiên Chúa giáo tiến bộ và thiên tả nói lên nguyện vọng đó.
     Nhưng sau 1975 khi đã có thời gian nhận chân thực tế chế độ mới Cộng sản cũng không hơn gì trong việc thực hiện quyền con người như trên nên lại tiếp tục phản đối chính quyền Cộng sản. Đòi hủy bỏ Hiến pháp 1992, tẩy chay bầu cử Quốc hội chỉ thể hiện quyền tự do dân chủ giả tạo “làm vì” mà thôi.
     Vì vậy năm 1990 bị bắt quản thúc tại huyện Cần Giờ xa xôi xem như cách ly khỏi TPHCM.
Được dư luận nước ngoài lên tiếng bảo vệ, in phổ biến rộng rãi cuốn “Hồ sơ Chân Tín” phê phán chế độ Cộng sản VN bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, đấu tranh phi bạo lực của công dân.
Cho nên năm 1993 được chính thức trả tự do về lại cư trú tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế ở TPHCM nơi từng là “đại bản doanh” của linh mục quá cố Nguyễn Ngọc Lan.
Từ đó xem như bị quản thúc tại gia và mặt khác có lẽ do đã lớn tuổi nên cũng ít thấy hoạt động mạnh mẽ sôi nổi như trước nữa.

1.162 - John C. Schafer
CUỘC TÌNH TÁO BẠO ĐẤT CỐ ĐÔ
Giáo sư đại học Mỹ về hưu sinh khoảng 1944. Sống ở Mỹ (2012).
     Năm 1968 là sinh viên tình nguyện Mỹ từ một tổ chức xã hội phi chính phủ đến Đà Nẵng dạy tiếng Anh, sau đó ra Huế dạy tiếng Anh ở ĐH Huế.
     Chính tại đây đã làm quen với nhạc Trịnh, làm bạn với Trịnh Công Sơn.
Và cũng tại đây nảy nở mối tình nên thơ với một cô sinh viên học trò chính gốc đất thần kinh con nhà gia giáo học ĐH Sư phạm Anh văn.
Cô này sau đó tốt nghiệp ra Quảng Trị dạy học đã quyết định làm đám cưới với ông thầy người Mỹ trẻ trung tài hoa bất chấp sự ngăn cản của gia đình. Thời đó ở xứ cố đô nặng phong kiến, việc con gái lấy chồng nước ngoài còn khá hiếm hoi mà lại là chồng Mỹ khi đang sôi sục phong trào chống Mỹ xâm lược VN nên đây quả là một “scandal” xã hội!
     Vì thế không lâu sau đó người chồng Mỹ đành phải đưa vợ mới cưới về Mỹ sinh sống.
Dù bất đắc dĩ phải rời bỏ VN nhưng phải nói ông chồng Mỹ này là một người rất yêu mến VN thật lòng nên từ đó vẫn tiếp tục nghiên cứu viết báo in sách nhiều công trình về văn học nghệ thuật và lịch sử VN. Đặc biệt bây giờ với sự cộng tác gắn bó của người vợ VN trong công tác dịch thuật tác phẩm VN ra tiếng Anh làm tư liệu giúp chồng cũng như dịch các tác phẩm của chồng qua tiếng Việt.
Công việc đó vẫn được duy trì, tiến hành bền bĩ hơn 40 năm đến nay qua vô số đề tài văn hóa VN cả thời hiện đại lẫn cổ điển, cả VNCH lẫn Cộng sản không phân biệt. Đề tài âm nhạc có Trịnh Công Sơn, Phạm Duy; đề tài văn học gồm Lục Vân Tiên, Hoàng Ngọc Phách, Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Cung Giũ Nguyên, Võ Phiến, Phan Nhật Nam, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyên Ngọc, Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu…
Cả 2 vợ chồng đã nhiều lần trở lại VN, về thăm Huế kỷ niệm một tình yêu không biên giới sâu sắc chung thủy.
Năm 2001 đã ra Hà Nội dự đêm nhạc kỷ niệm một năm mất Trịnh Công Sơn. Năm 2012 tác phẩm “Trịnh Công Sơn – Bob Dylan: Như trăng với nguyệt?” được in tại TPHCM qua bản chuyển ngữ của người vợ quê Huế.
    
1.163 - Nguyễn Văn Huyền
PHÓ TỔNG THỐNG “3 NGÀY”
Luật sư sinh 1911 tại Sóc Trăng – Mất 1995 ở TPHCM (85 tuổi).
     Thời Pháp du học Pháp ngành luật.
     Năm 1949 ra luật sư về hành nghề tại Sài Gòn. Từng làm luật sư biện hộ cho một số lãnh tụ Cộng sản bị Pháp bắt giữ truy tố tội chống chế độ như Hà Huy Tập, Nguyễn Hữu Thọ…           
     Sau 1954 tiếp tục làm luật sư ở Sài Gòn. Rất có uy tín trong giới Thiên Chúa giáo đồng đạo theo khuynh hướng tiến bộ nên được khuyến khích tham gia hoạt động chính trị. Năm 1967 đứng đầu liên danh Thiên Chúa giáo đắc cử nghị sĩ vào Thượng viện VNCH, được bầu làm Chủ tịch Quốc hội.
     Cuối tháng 4.1975 được tân Tổng thống Dương Văn Minh (Phật giáo) mời làm Phó Tổng thống gọi là để cân bằng với lực lượng Thiên Chúa giáo.
Nhiệm vụ đầu tiên là lên đài phát thanh đọc lời hiệu triệu trấn an dân chúng về tình hình đất nước có nguy cơ sắp rơi vào cảnh hỗn loạn sau khi cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bỏ của chạy lấy người,  từ chức rồi lập tức được Mỹ hộ tống bay ra nước ngoài. Sau đó, ngày 28.4 dẫn đầu phái đoàn chính phủ VNCH vào Trại Davids (nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất) để thương lượng với đại diện Cộng sản (thuộc 2 phái đoàn Cộng sản Miền Bắc và Mặt trận Giải phóng Miền Nam đang trong thời gian dự hòa đàm Paris lúc đó đã tạm ngưng) về việc ngưng bắn hòa giải dân tộc.
Nhưng thời điểm đó đã muộn cho việc này khi quân Cộng sản đang thắng thế chuẩn bị tiến vào Sài Gòn. Tiếp theo như mọi người đã biết, Tổng thống Dương Văn Minh đành phải ra lệnh binh sĩ VNCH “hạ vũ khí” chờ “bàn giao” chính quyền cho Cộng sản trong cảnh hòa bình tránh hai bên cùng là người Việt với nhau đổ máu thêm nữa.
Sau khi Cộng sản giành thắng lợi hoàn toàn, bản thân được ghi nhận công lao đóng góp cho hòa bình thống nhất đất nước liệt vào hàng nhân sĩ tham gia mặt Trận Tổ quốc VN vốn chỉ là một tổ chức chính trị quần chúng mang tính hình thức mà thôi, thực chất vẫn là do “Đảng lãnh đạo”! .
Đã vậy, từ trước 75 người nhiều bệnh tật gầy gò, sức khỏe đã suy yếu nên về sau cũng chẳng làm được gì nữa cho đến ngày qua đời lặng lẽ.
    
1.164 - Tô Thị Thủy
LÃNH TỤ SINH VIÊN TRANH ĐẤU TỪ BỎ CHÍNH TRỊ
Doanh nhân sinh 1946 tại Long An – Mất 2012 ở TPHCM (67 tuổi).
     Năm 1967 là sinh viên khoa Việt – Hán ĐH Sư phạm Sài Gòn.
     Nhưng không bao lâu hăng hái tham gia đi đầu trong phong trào sinh viên Sài Gòn xuống đường biểu tình liên tục chống Mỹ, chống chế độ Thiệu – Kỳ. Nhanh chóng trở thành một lãnh tụ sinh viên tranh đấu cùng thời với Huỳnh Tẫn Mẫm, Đoàn Kỉnh.
     Sau đó bỏ học tiếp tục hoạt động trong phong trào sinh viên trí thức chống Mỹ, chống Thiệu - Kỳ. Trong thời gian này gặp và kết hôn với một bạn chiến đấu học lớp trên đã được kết nạp Đảng.
     Tuy nhiên có điều khá lạ là sau ngày Cộng sản toàn thắng, chỉ có người chồng có ra mặt làm cán bộ ngành giáo dục song chỉ trong một thời gian ngắn rồi sau đó cả 2 vợ chồng đều âm thầm tự động… rút lui khỏi cơ quan Nhà nước! Có lẽ do đã thấy trước sự khác biệt, bất đồng quan điểm giữa lý tưởng đấu tranh chống Mỹ, chống Thiệu – Kỳ đòi quyền tự do dân chủ với chủ nghĩa độc đảng của Cộng sản.
     Thay vào đó, 2 vợ chồng bắt đầu bước vào con đường làm ăn, làm hàng xuất khẩu kinh doanh thành công từ rất sớm. Hầu như không còn dính líu gì đến quá trình một thời tuổi trẻ đấu tranh chính trị hết mình! 

1.165 - Trần Gia Phụng
SỬ GIA HẢI NGOẠI HIỆN ĐẠI
Nhà sử học Việt kiều Canada sinh tại Quảng Nam. Sống ở Mỹ (2012).
     Tốt nghiệp ĐH Sư phạm và ĐH Văn khoa Huế ngành sử địa. Ra trường đi dạy học tại Đà Nẵng.
     Sau ngày Giải phóng tiếp tục dạy học một thời gian rồi bỏ vào TPHCM sinh sống.
     Năm 1995 đi Canada diện thân nhân bảo lãnh.
     Bấy giờ mới chuyên tâm viết hàng loạt tác phẩm sử học về nhiều đề tài thời hiện đại mà mình từng là chứng nhân với quan điểm khác hoặc đối nghịch với cộng sản. Như về trận chiến Mậu Thân 1968, “Mùa hè đỏ lửa” 1972, lịch sử thuyền nhân VN, Miền Bắc sau hiệp định Gennève 1954, Hòa Hảo và nông dân Miền Nam, chính sách Trung Quốc đối với VN, quan hệ Mỹ – Trung Quốc, vấn đề Thái Bình Dương, trận chiến Hoàng Sa 1974…
Xen kẽ là những vấn đề lịch sử xa xưa hơn như nhà Tây Sơn, lịch sử Quảng Nam, chí sĩ Phan Châu Trinh, sự kiện Trung kỳ dân biến, những cuộc đảo chính cung đình, “Những câu chuyện Việt sử” (4 cuốn)…
     Công trình lớn đáng kể có bộ “Việt sử đại cương” (từ năm 1.400-1950) gồm 5 tập in từ 2007-2009.
    
1.166 - Trần Hữu Dũng
QUÊ HƯƠNG VÀ TOÀN CẦU HÓA
Giáo sư đại học Việt kiều Mỹ sinh khoảng 1941 tại Mỹ Tho. Sống ở Mỹ (2012).
     Con trai của cố bác sĩ Nhà giáo Nhân dân Trần Hữu Nghiệp (1911-2006), một trí thức Nam Bộ đi tập kết để lại vợ và con trai, sau 1975 trở về TPHCM dạy ngành y đại học và viết sách báo
     Con trai lớn lên ở Miền Nam, sau khi tốt nghiêp đại học vào làm Trung tâm Nguyên tử lực ở Đà Lạt. Năm 1963 được học bổng du học Mỹ.
     Tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ra dạy đại học ở bang Ohio.
     Nhiều năm sau ngày thống nhất đất nước mới về TPHCM gặp lại cha lúc mình đã gần 50 tuổi.
     Sau đó vẫn trở lại Mỹ làm việc vì “Sống ở đâu cũng đóng góp được cho quê hương”.
Từ đó năm 2004 lập trang mạng nổi tiếng “Viet Studies” – và trang “Arts & Letters Daily” - chuyên giới thiệu tổng hợp những bài nghiên cứu kinh tế – xã hội – văn hóa quốc tế chất lượng cao viết về VN, được đánh giá là “bộ lọc trí thức” về đề tài VN. 
     Nhắm mục đích đưa VN hội nhập thế giới và ngược lại: “Toàn cầu hóa và yêu quê hương không trái nhau. Phải có một quê hương giúp toàn cầu hóa trọn vẹn đúng nghĩa hơn”.
     Làm tất cả học theo tấm gương người cha ngày xưa, đó là “sự hòa hợp giữa tính bộc trực thẳng thắn của người Nam Bộ và sự tế nhị của một người trí thức sống nhiều, biết nhiều, thấu hiểu và quan tâm đến người khác.”

1.167 - Trần Hữu Hám
“NGU CÔNG VIỆT NAM”
Cán bộ về hưu sinh 1928 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Thừa Thiên – Huế (2009).
     Là cán bộ cộng sản tham gia kháng chiến cả 2 thời kỳ đánh Pháp đánh Mỹ. Về hưu sống ở làng La Chữ.
     Giữa những năm 1980, thấy con đường trong làng chạy qua trước mặt nhà toàn đá tảng gập ghềnh kéo dài cả chục cây số làm trở ngại trẻ em trong làng đạp xe đi học lên Huế thật tội nghiệp bèn vác búa ra đập các tảng đá, nạy ra rồi tự tay đắp đất cho con đường bằng phẳng dễ đi hơn. Còn tận dụng các tảng đá đó làm rãnh thoát nước từ trên núi đổ xuống.
Làm cả một thời gian dài (sau rồi cũng có bà con làng xóm góp sức vào) kéo qua những năm 1990 mới tạm gọi là hoàn chỉnh dù lúc đó mình cũng đã thất tuần giống như tích cổ Trung Quốc có ông cụ Ngu Công gần 90 tuổi vẫn dẫn đầu đàn con cháu tay búa tay xẻng đục núi dời núi (đến 2 hòn núi) đứng chắn trước mặt nhà mình!
Không hề được ai trả công xá gì vẫn miệt mài làm cả chục năm như vậy, chỉ vì tâm nguyện “Mình làm việc nghĩa để đền ơn quê hương đã cưu mang gia đình trong những ngày miếng cơm còn xen lẫn củ sắn.”
Ngoài ra còn tự lập một “Bảo tàng nông cụ” gồm các mô hình những phương tiện, đồ nghề làm ruộng của nông dân như cái cày, cái bừa, cối giã gạo, máy xay gạo máy đạp nước … đặt ngay tại nhà cho bà con đến coi chơi.   

1.168 - Trần Kim Hùng
TỬ TÙ HAM HỌC
Tù nhân sinh khoảng 1966 tại Huế. Bị giam ở nhà tù Chí Hòa, TPHCM (2006).
     Con nhà có học, sau năm 1975 là sinh viên khoa Văn ĐH Huế năm thứ ba.
Nhưng nghe lời bạn bè rủ rê vượt biên mới bỏ nhà vào Sài Gòn cùng một người bạn âm mưu đến nhà một bà dì khá giả chờ lúc không có ai ra tay giết chết (siết cổ) rồi phá tủ cướp vàng và tiền chạy xuống Vũng Tàu tìm tàu vượt biên.
Tuy nhiên chưa đi được thì đã bị công an tóm gọn. Đưa về TPHCM ra tòa lãnh tội chủ mưu chịu án tử hình, bạn là đồng lõa tù chung thân.
May mà có cô bạn gái thời đại học thương tình cùng gia đình lục tìm hồ sơ cũ hồi trước từng có thời gian điều trị bệnh tâm thần ở bệnh viện còn lưu giữ để mang vào TPHCM nộp tòa án xin cứu xét giảm án. Kết quả được giảm xuống tù chung thân.
Người bạn gái chí tình kia trong suốt 3 năm sau đó thường xuyên đi thăm nuôi, rồi cũng đành chia tay theo gia đình đi Mỹ.
Còn lại một mình tiếp tục thụ án dài đăng đẳng từ năm này qua năm khác mà không còn ai đi thăm tiếp tế do cha mẹ già ở quê xa mà hoàn cảnh rất khó khăn. Nhiều lúc chán nản tuyệt vọng tìm cách tự tử đều không thành.
Dần dà cuối cùng bình tĩnh lại, dùng kiến thức đã học được của một sinh viên khoa Văn để tự xét bản thân tìm ra còn đường sống còn chống trầm cảm là con đường tự học. Tự học bằng cách tìm đọc bất cứ tài liệu sách báo nào có được hoặc mượn được, qua đó nghiền ngẫm bao ý nghĩa nhân sinh tự cổ chí kim để xây dựng cho mình một triết lý sống thanh thản chấp nhận cái giá phải trả cho tội lỗi của mình. Từ đó trở thành một tù nhân gương mẫu ai cũng kính trọng.
     Năm 2005 người bạn tù chung thân được ân xá ra tù về quê làm rẫy. Sau đó đến lượt mình được nhà tù bắt đầu gửi văn bản lên cấp trên đề nghị cứu xét cho ân xá chưa biết kết quả ra sao. 

1.169 - Trần Mạnh Cường (1)
LINH MỤC TUYÊN ÚY Ở LẠI
Tu sĩ Thiên Chúa giáo sinh 1942. Sống ở Đắc Lắc (2007).
     Nguyên thiếu tá tuyên úy Thiên Chúa giáo trong quân lực VNCH từng tốt nghiệp khoa Văn ĐH Văn khoa Sài Gòn.
     Bởi vậy sau ngày Giải phóng phải đi cải tạo khá dài ngày.
     Trở về ưu tiên được đi H.O song đã từ khước chấp nhận ở lại, xin được quay lại phục vụ giáo xứ tại Buôn Ma Thuột thực hiện lý tưởng “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” theo tinh thần Thư chung của Hội đồng Giám mục VN năm 1980.
     Chấp nhận sông như vậy phù hợp với niềm tin bản thân: “Không đâu có thể yên bình bằng VN quê mẹ”.

1.170 - Trần Mạnh Cường (2)
TRẢ ƠN RỪNG, RỪNG TRẢ ƠN
Nong dân sinh 1950 tại Quảng Nam. Sống ở Nghệ An (2008).   
     Vào bộ đội đánh Pháp từ năm 1947.
     Năm 1954 tập kết ra Bắc, được bố trí về đơn vị ở Thanh Hóa rồi Nghệ An.
     Năm 1959 xin ra quân đi làm công nhân nông trường ở Nghệ An. Ba năm sau lấy vợ dân xứ Nghệ.
     Năm 1964 được gọi tái ngũ phục vụ cuộc chiến Miền Nam bắt đầu nóng bỏng. Được chuyển về đơn vị phòng không địa phương từng lập chiến công bắn rơi một máy bay Mỹ.
     Chiến tranh kết thúc, trở về lại nông trường cũ xin nhận một vùng đồi núi rộng đến 20 hecta còn hoang vu để khai hoang trồng rừng. Vợ con đều ngại làm không nổi nhưng vẫn quyết tâm làm từ niềm tin “Mình là bộ đội hàng chục năm được rừng che chở, lo gì không làm được kinh tế từ rừng.”
Bắt tay vào khai hoang, xong mới tiến hành trồng rừng. Chỉ thuê nhân công làm việc dễ, còn việc khó việc quan trọng đều tự tay mình làm (không có con trai đỡ đần) như phân bố khu vực trồng rau quả và cây ngắn ngày đem bán để lấy ngắn nuôi dài, khu vực trồng cây công nghiệp lâu năm…
Kết quả sau 30 năm đã hình thành nên một khu rừng đủ các loại cây trồng lớp lang nghiêm chỉnh, có khu rừng cây ăn quả, khu rừng cây làm nguyên liệu giấy… Còn dành ra một khu định làm khu du lịch sinh thái.
Cũng nhờ đó nuôi 7 con gái học hành thành đạt, con đầu vào Quốc hội, con thứ tư lấy bằng tiến sĩ ở Úc: “Rừng đã nuôi cả nhà mình như thế, còn gì hơn nữa!”
(Còn tiếp)
 https://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hosohauchienky116

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2012: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 115 – 1.6.2012

1.151 - Đặng Đình Áng
“THIỀN SƯ TOÁN HỌC”
Giáo sư tiến sĩ toán sinh 1926 tại Hà Tây. Sống ở TPHCM (2012).
     Vào Sài Gòn từ năm 1951.
     Năm 1953 được học bổng đi du học Mỹ ngành toán. Năm 1958 tốt nghiệp tiến sĩ toán quay về Sài Gòn dạy đại học.
Năm 1960 làm Trưởng khoa Toán ĐH Khoa học Sài Gòn. Được mời đi thỉnh giảng ở nhiều đại học Mỹ, Pháp, Ý. Đã có hơn 130 bài nghiên cứu chuyên sâu toán trên báo chuyên ngành quốc tế.
     Sau 30.4.75 vẫn ở lại dạy đại học như cũ dù có nhiều gợi ý ra nước ngoài làm việc thuận lợi hơn. Năm 1980 được cho phép đi nước ngoài dự hội nghị chuyên ngành quốc tế, được nhiều lời mời ở lại song  vẫn từ chối để quay về        
Hơn tất cả mọi điều, tình yêu quê hương sâu sắc là chất xúc tác gắn bó với đất nước như bụi tre xanh um tùm trồng trước cửa nhà nơi đô thị hiện đại đang “Tây hóa” bao trùm: “Quê hương là dải đất có núi có sông, có cây cỏ, có con người cùng chung quyền lợi vật chất và tinh thần nhưng không phải chỉ là thế, sâu xa hơn thế là những nấm mồ của những người đã khuất.”
     Ngoài ra còn bắt nguồn từ tính nghệ sĩ của một người yêu nhạc, chính là chú ruột của Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn: “Toán và âm nhạc đều là nghệ thuật. Chơi nhạc là một cách thiền.”. Mà đã là thiền rồi thì ở đâu không được, ở đâu mà không làm việc được.
     Vì vậy cũng như với toán học thu hút, chọn lọc bao nhiêu tinh hoa thế giới để về dạy lại cho học trò trong nước thì âm nhạc cũng thế từng lên sân khấu biểu diễn cùng ban nhạc bạn bè, thổi sáo trúc các giai điệu mượt mà của Mozart. Được học trò yêu mến tôn là “thiền sư toán học”.
     Được phong Giáo sư ngay đợt đầu tiên cả nước năm 1980. Năm 2006 một hội nghị toán học quốc tế được tổ chức tai TPHCM mừng thọ ông 80 tuổi.

1.152 - Don Luce
TỪ “CHUỒNG CỌP” CÔN ĐẢO ĐẾN NẠN NHÂN BỆNH AIDS
Nhà báo Mỹ sinh khoảng 1938 tại Mỹ. Sống ở Mỹ (2012).
     Năm 1958 là sinh viên tình nguyện qua Sài Gòn dạy tiếng Anh theo chương trình giúp đỡ VN của một tổ chức tôn giáo Mỹ.
     Từ đó kết thân với giới sinh viên VN nên khi bùng nổ phong trào sinh viên đấu tranh chống chế độ Mỹ – Ngụy cuối những năm 1960 đã tích cực hỗ trợ họ qua nhiều bài viết đăng báo Mỹ.
Trong đó nổi cộm vụ tố cáo chính quyền VNCH vi phạm nhân quyền đối với trẻ thơ nhân chuyện bắt giam 2 đứa con trai mới 7 tuổi và 5 tuổi của đại tá Việt Cộng Tư Chu (Nguyễn Đức Hùng) chỉ huy trưởng Lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định gửi cho nhà bà con ở Sài Gòn buộc sau đó nhà cầm quyền Sài Gòn phải thả ra năm 1968. Tiếp theo là loạt bài đăng báo Tin Sáng và báo Mỹ Time tháng 7.1970 tố cáo tội ác nhà tù “Chuồng cọp” giam giữ hành hạ tù nhân cộng sản tại Côn Đảo.
     Bởi vậy năm 1971 bị trục xuất khỏi Miền Nam. 
     Về Mỹ tiếp tục lên tiếng về tệ trạng ngược đãi tù binh từ Miền Nam VN đến Guantanamo (Cuba), Iraq, Afghanistan trong cuốn “Những con tin của chiến tranh” (Hostage of War).
     Năm 1977 hiệu đính bản dịch tiếng Anh cuốn “Đại thắng mùa xuân” của Đại tướng Văn Tiến Dũng (do nhà báo Mỹ John Spragens dịch).
Năm 2005 rồi 2008 mới có dịp trở lại VN, gặp mà không thể nhận ra 2 đứa trẻ ngày nào mình giúp giải thoát khỏi nhà tù nay đều đã gần… ngũ tuần (ảnh)!
     Cuối đời còn tham gia công tác giúp đỡ cộng đồng bệnh nhân AIDS bị cách ly sống nơi tận cùng nước Mỹ, bên cạnh thác Niagara sát biên giới với Canada. 

1.153 - Lê Thị Mai
TÌNH YÊU “TỔ CHỨC”
Cán bộ về hưu sinh 1931 tại Huế – Mất 1983 ở Đà Nẵng (53 tuổi).

     Chị ruột “Tử tù chuồng cọp” Côn Đảo” nổi tiếng Lê Quang Vịnh.
     Khi em trai bị tù ở Huế mới đi thăm nuôi qua đó gặp gỡ thầy dạy của em trong tù, một cán bộ cộng sản. Sau khi người này ra tù tìm gặp lại, đôi bên nảy sinh tình cảm, từ đó được người yêu dẫn dắt vào con đường hoạt động cộng sản nằm vùng tại Huế từ năm 1960.
     Năm 1965 bị bắt giam ở Huế trong lúc người yêu bị lộ cơ sở đã vượt tuyến ra Bắc.
     Năm 1966 cùng một số đồng chí vượt ngục tìm vào chiến khu. Đến 1968 làm đội trưởng một đội công tác trở lại Huế tham gia cuộc chiến Mậu Thân.
     Sau gần một tháng chiến đấu trong nội thành Huế, được lệnh rút lui rồi ra Bắc chữa bệnh, qua cả Trung Quốc điều trị. Một năm sau về nước đi học đại học.
     Trong thời gian này cố công tìm người yêu cũ song không có tin tức. Thay vào đó, tổ chức (Đảng) gợi ý mai mối cho lấy chồng là một cán bộ tập kết người Quảng Nam.
     Sau ngày chiến thắng Miền Nam, quay về cố huơng Huế làm bí thương phường. Đồng thời gặp lại người yêu cũ bây giờ làm hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm.
     Nhưng hy vọng được ở lại quê nhà Huế không thành do chồng cũng trở về quê Đà Nẵng bắt phải đi theo mình.
     Tuy nhiên cuộc sống gia đình sau đó không yên ấm kiểu “đồng sàng dị mộng”, hơn nữa bấy giờ mới phát hiện trước đây khi ở tù đã bị tra tấn để lại di chứng tuyệt đường sinh đẻ. Đành phải cay đắng nhận con nuôi vẫn không an ủi được bao nhiêu.
Từ đó buồn phiền sinh bệnh mất sớm trong nỗi buồn xa quê. 

1.154 - Nguyễn Viết Vân
CÂU LẠC BỘ B93
Cán bộ phường sinh tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2012)
     Trong chiến tranh chống Mỹ là lính trinh sát đặc công, bị thương chuyển qua đơn vị công binh.
     Sau 1975 xuất ngũ về làm cán bộ phường Kim Mã ở Hà Nội.
      Khi thấy tình hình thanh thiếu niên trong phường bắt đầu rơi vào tệ nghiện ngập ma túy mới xin phép lập một tổ cựu chiến binh địa phương làm nhiệm vụ trấn áp bọn trùm buôn bán chất gây nghiện đồng thời đặt quan hệ với các cơ quan, hội đoàn, tổ chức y tế – xã hội hỗ trợ tìm cách giúp con nghiện cai nghiện. Dần dà công tác gặt hái thành quả bước đầu mới tiến lên đặt tên tổ này là CLB Cai nghiện tự quản B93.
     Những ai cai nghiện thành công được giúp đỡ học nghề hoặc mở điểm lao động kiếm sống như sửa xe máy, buôn bán vặt… Nhiều người khi rảnh việc còn quay lại gia nhập làm thành viên CLB tiếp tục duy trì, triển khai hoạt động chống ma túy trên địa bàn.
Bản thân làm đầu tàu cho CLB không ít phen đối đầu với bọn côn đồ xã hội đen mấy lần đe dọa nguy hiểm tính mạng. Vợ con lo lắng can ngăn nhưng vẫn kiên quyết không lùi bước: “Ông trời bỏ quên tôi mấy lần chết hụt ở chiến trường thì nay có sá gì sợ chết vì việc nghĩa?”

1.155 - Tôn nữ Quỳnh Như
BI KỊCH TÌNH YÊU TRÍ THỨC THỜI CHỐNG MỸ
Cựu sinh viên tranh đấu chống Mỹ sinh tại Huế – Mất 1978 ở TPHCM.
     Bác ruột (Tôn thất Dương Tiềm) và cha (Tôn thất Dương Kỵ) đều là nhà giáo nổi tiếng tham gia phong trào trí thức chống Mỹ – Thiệu nên bản thân là sinh viên ĐH Kiến trúc Sài Gòn cũng dấn thân xuống đường chống chế độ Thiệu – Kỳ.
     Từ đó nẩy nở tình yêu với một lãnh tụ sinh viên tranh đấu thời đó là Lê Quang Vịnh vừa là đồng hương vừa là học trò của cha mình. Được người yêu vốn là cán bộ cộng sản đưa vào chiến khu tập huấn về công tác đấu tranh nội thành.
     Nhưng sau đó trở về Sài gòn, Lê Quang Vịnh bị bắt đi tù “Chuồng cọp” Côn Đảo mất liên lạc.
     Trong thời gian này xuất hiện “dệ tam nhân” Trần Quang Long cũng tham gia tranh đấu chống Mỹ, bỏ dạy học từ Cần Thơ lên Sài Gòn hoạt động, nổi tiếng là nhà thơ tranh đấu lúc đó (tác giả tập thơ “Thưa mẹ, trái tim”), làm chủ tịch Hội Sinh viên sáng tác. Anh cũng là học trò của cha mình nên qua đó quen biết rồi đem lòng yêu thương.
     Trong hoàn cảnh thiếu thốn tình cảm, tưởng người yêu xưa đã bỏ mình trong ngục tù nên cuối cùng Quỳnh Như chấp nhận kết hôn với Trần Quang Long năm 1967. 
     Năm 1968 khi mình đang mang thai thì chồng đi theo cộng sản bỏ vào mật khu Tây Ninh sát biên giới Campuchia khiến vợ ở nhà bị bắt giam. Không bao lâu chồng bị bom B 52 đánh trúng hy sinh trên trận địa khi mới 27 tuổi (năm 2012 mới tìm thấy hài cốt truy điệu liệt sĩ) trong lúc ở Sài Gòn vợ sinh con trai trong nhà tù đặt tên Xuân Thắng với ý nghĩa chờ đợi mùa xuân đại thắng mãi đến 6 năm sau mới đến.
     Năm 1969 được ra tù về nhà nuôi đứa con chưa hề biết được mặt cha đến ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam 1975.
     Ngày đó người tình cũ Lê Quang Vịnh trở về làm Phó Giám đốc Sở Giáo dục TPHCM, đôi bên tái ngộ trong cảnh bẽ bàng, tình cảm vẫn còn dư âm nhưng người ấy vì lòng tự trọng bây giờ không thể nối lại đường tơ với người từng là vợ cũ của đồng chí mình đã hy sinh! Đành chia tay đi lấy vợ khác em một bạn tù cùng chí hướng.  
Nỗi buồn “thân phận tình yêu” hẩm hiu chua xót kéo dài không bao lâu thì mắc bệnh xơ gan qua đời sớm năm 1978.

     Lê Quang Vịnh với người vợ khác

1.156 - Tôn Thất Cảnh
DẠY DƯỠNG SINH CHỮA BỆNH MIỄN PHÍ
Kiến trúc sư Việt kiều Mỹ về hưu sinh 1927 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Mỹ (2007).
     Nguyên hướng đạo sinh bị bướu trong não nhưng đã tự học và tập môn Thái cực dưỡng sinh (Taichi) mà chữa khỏi bệnh.
Vì thế sau khi qua Mỹ năm 1986 dù tuổi đã khá cao song với tinh thần một hướng đạo sinh đã lập ra Hội Dưỡng sinh và mở lớp dạy môn này cho hàng ngàn người giúp họ chữa bệnh, giữ gìn sức khoẻ. Theo đúng 2 tôn chỉ mà Hướng đạo đã nêu là “Hạnh phúc thật sự chỉ tìm được khi ta giúp người khác” và “Muốn có hạnh phúc phải chia xẻ hạnh phúc của mình cho người khác”.
Hoàn toàn dạy không lấy tiền, chỉ mong có đóng góp tự nguyện để lấy tiền gửi về nước tham gia hoạt động từ thiện.

1.157 - Trầm Tử Thiêng
HƯỚNG VỀ TRẺ TỊ NẠN MỒ CÔI
Nhạc sĩ Việt kiều Mỹ tên thật Nguyễn Văn Lợi sinh 1947 tại Quảng Nam - Mất 2000 ở Mỹ (64 tuổi).

Bắt đầu sáng tác ca khúc từ năm 1958.
Đến khi bị gọi nhập ngũ năm 1966 làm sĩ quan tâm lý chiến tiếp tục viết nhạc, nhiều bài về đề tài lính VNCH, nổi tiếng có “Bài hương ca vô tận” và “Chuyện một chiếc cầu đã gãy” viết về cầu Trường Tiền ở Huế bị Cộng sản đặt bom nổ gãy cầu trong chiến cuộc Mậu Thân 1968.
Năm 1970 được biệt phái về Đài Phát thanh Sài Gòn tham gia thực hiện chương trình Phát thanh học đường.
Sau 1975 trốn trình diện rồi tìm cách vượt biên bị bắt ở tù.
Ra tù đến năm 1985 được xuất cảnh qua Mỹ.
Trên xứ người trở lại với âm nhạc, viết nhạc nói lên nỗi niềm người lưu vong mất quê hương như “Kinh khổ”, “Chợt nghĩ về hai nơi”, “Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng”… Qua đó vẫn mong mỏi một đất nước VN hòa bình, thống nhất, hạnh phúc thật sự như thể hiện qua bài “Hòa bình ơi, Việt Nam ơi”. Cộng tác mật thiết với nhạc sĩ đàn em Trúc Hồ cùng chí hướng, đặt lời cho nhiều ca khúc của Trúc Hồ.
Đặc biệt quan tâm nhiều đến giới trẻ em vượt biên mất người thân thành ra mồ côi, tìm cách giúp đỡ. Làm nhạc thiếu nhi về đề tài này với bài được biết đến nhiều nhất “Bên em đang có ta”. Cùng bạn bè lập Thư viện VN ở khu Sài Gòn Nhỏ, bang California.
Trước khi mất có di nguyện lập quỹ hỗ trợ trẻ em tị nạn mồ côi mang tên “Bên em đang có ta” nhan đề ca khúc dành cho các em kể trên.

1.158 - Trần Châu
TRẠI NUÔI NGƯỜI ĐIÊN TƯ NHÂN
Luơng y sinh tại Quảng Trị. Sống ở Ninh Thuận (2011).
     Năm 1972 theo gia đình trong khu Công giáo sống ở thánh địa La Vang chạy nạn chiến tranh – thời điểm bùng nổ “Mùa hè đỏ lửa”  – vào vùng rừng núi Ninh Thuận khai hoang lập thôn mới đặt tên La Vang ghi nhớ quê hương cũ. Cha tiếp tục hành nghề lương y.
     Sau 1975 làm giáo viên xóa nạn mù chữ. Được một thời gian thì cha gọi về truyền nghề lương y, dặn con tuyệt đối chữa bệnh không được lấy tiền vì xem đây là việc thiện mình được giao phó phải làm.
     Từ đó trị bệnh miễn phí cho tất cả mọi người trong vùng và cả từ nơi khác nghe tiếng tìm đến. Nhờ ở vùng rừng núi nên có điều kiện tìm được nhiều loại dược liệu Đông y trị bệnh hiệu quả.
     Chữa bệnh miễn phí song người bệnh cám ơn vẫn gửi lại tiền trong phong bì đành phải cất giữ không hề đụng chạm tới. Mãi đến năm 1995 mở các phong bì ra tổng kết sơ sơ cũng được 30 triệu đồng không biết làm gì mới nảy ý dùng tiền đó xây một căn nhà cho những người nghèo không nơi nương tựa đến ở.
     Nhưng do nơi này nằm chỗ xa xôi hoang vắng nên không có người nghèo nào chịu đến ở. Thế là phải cất công đi ra thành phố tìm… người đem về cho tá túc nuôi nấng. Và rốt cuộc chỉ có những người… điên, mắc bệnh tâm thần không người thân thích lang thang đầu đường xó chợ mình mới có thể đem về nuôi ăn nuôi ở!
     Dần dà nơi đây trở thành một trại tâm thần “tư” do một cá nhân dựng nên, hoàn toàn “tự túc”. Nghĩa là bây giờ ngoài thì giờ khám chữa bệnh, mình còn phải nai lưng làm lụng đủ thứ công việc để kiếm tiền kiếm cơm gạo mắm muối nuôi đến hơn 70 bệnh nhân tâm thần “tại gia”!
Vừa chăm lo vườn xoài vừa đào ao nuôi cá, mua hàng về bán lẻ cho bà con quanh vùng, làm nước rửa chén đem bán dạo… Tối ngày tất bật đủ thứ việc ngoài đường, về nhà còn lo tổ chức cơm nước, tập cho tập thể người điên sống sao cho yên ổn hòa thuận. Tập cho họ tự lo nấu nướng, tắm giặt, tập cầu kinh, tham gia đàn ca sinh hoạt văn nghệ giải sầu...
May mà rồi công việc từ thiện đó cũng được nhiều người biết tới tìm cách hỗ trợ không ít thì nhiều, có người mua hàng giúp có người cho nợ tiền cơm gạo củi lửa…
     Và trên tất cả đại gia đình người điên ngày càng trở nên hiền hòa hẳn, có lẽ một phần nhờ sống chung ở môi trường trong lành thoáng đạt tránh xa đô thị ồn ào náo động dễ đau đầu nhức óc. Từ đó người điên lại đem đến cho người tỉnh một niềm hạnh phúc đơn giản mà lạ lùng: “Sống với những con người như thế, mình cảm thấy thanh thản vô cùng”

1.159 - Trần Đình Trọng
NHỚ ƠN CỨU MẠNG
Nhà giáo về hưu sinh 1953 tại Quảng Ngãi. Sống ở Quảng Ngãi (2012).
     Năm 1972 lúc 19 tuổi làm du kích xã ở địa phương bị trúng mìn hai chân nát hết được đưa về bệnh xá cứu chữa.
     Chuẩn bị mổ thì bị địch bắn pháo vào bệnh xá buộc tất cả phải di tản, được 2 đồng đội bỏ lên cáng rút chạy. Nhưng bị địch truy kích ráo riết nên cuối cùng tự mình yêu cầu đồng đội giấu mình trong rừng để họ có thể thoát thân trước.
     Trong tình cảnh hôn mê nửa thức nửa tỉnh cái chết đến gần kề thì mơ màng nghe thấy có mấy người lính phía bên kia tìm ra mình, có người định bắn chết luôn song bị một người khác tìm cách ngăn lại nói là trước sau gì tên Việt Cộng này cũng chết thôi. Thế nên cả bọn rút đi.
     Không ngờ sau đó tỉnh dậy thấy có người – có lẽ người lính tốt bụng kia – lén để lại cho mình một bi đông nước và 2 bịch gạo sấy. Chính nhờ bi đông nước đó đã cứu mạng mình còn cầm hơi thoi thóp để sau đó được đồng đội quay lại tìm rồi đưa về trạm xá cưa chân trái cứu sống. Qua năm 1974 được chuyển ra miền Bắc tiếp tục điều trị, an dưỡng.
     Sau ngày hòa bình, quay lại quê hương Quảng Ngãi. Năm 1977 thi đậu ĐH Sư phạm Huế khoa toán. Tốt nghiệp, xin về dạy trường Trần Quốc Tuấn ở quê nhà, lần lượt được đề bạt lên hiệu phó rồi hiệu trưởng.
     Trong suốt khoảng thời gian đó vẫn không quên ân nhân cứu mạng bi đông nước và 2 bịch gạo sấy nên với một chân gỗ tập tễnh vẫn lặn lội đi nhiều nơi dò la tin tức người ơn năm xưa. Nhưng biết đâu mà tìm, biết ai mà tìm?
     Mãi đến năm 2003 mới có thông tin đầu tiên từ Đà Lạt cho biết được tên tuổi người lính đó cùng quê Quảng Ngãi thuộc sư đoàn 2 VNCH sau này cũng là thương binh mất một tay trong một trận đánh năm 1973. Tuy nhiên không biết ở đâu, dường như là ở một khu kinh tế mới.
Thế là bản thân lại tiếp tục mở một cuộc hành trình đi tìm dân kinh tế mới khắp miền Trung và Tây Nguyên. Vẫn chỉ hoài công thôi.
Đến 2 năm sau thông qua mối liên hệ đồng hương Quảng Ngãi mới có được địa chỉ của người cứu mạng mình năm nào. Té ra đúng là dân kinh tế mới nhưng là đi kinh tế mới năm 1981 vào tận Bình Phước.
     Cuộc hội ngộ không cầm được nước mắt giữa 2 người trước đây ở 2 bên chiến tuyến thù địch, còn lạ lùng ở chỗ một người mất chân một người mất tay đều từ khói lửa chiến tranh! Bây giờ chỉ còn là 2 con người, 2 thường dân trong đó người cựu chiến binh cộng sản nhỏ hơn 14 tuổi nhận mình làm em người “lính Ngụy”, xin được làm “người con trong gia đình”.

 1.160 - - Trần Đông A
TỪ QUÂN Y CHẾ ĐỘ CŨ ĐẾN QUỐC HỘI
Giáo sư bác sĩ sinh 1941 tại Nam Định. Sống ở TPHCM (2012).           
Nguyên sĩ quan quân y VNCH nên sau 1975 vượt biên bị bắt.
Nhưng được Sở Y tế TPHCM bảo lãnh về sớm đưa vào làm ở bệnh viện Nhi đồng 2 từ năm 1978 theo chính sách sử dụng “trí thức tại chỗ” của Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt lúc đó nhằm ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám trong giới trí thức chế độ cũ bỏ chạy ra nuớc ngoài. Nhất là ngành y đang rất thiếu chuyên viên.
Từ đó chấp nhận ở lại công tác, dần dần có nhiều cống hiến nổi bật nhất là qua ca mổ tách cặp song sinh Việt – Đức năm 1988, sau đó là công trình nghiên cứu và thực hiện ghép thận cho trẻ em. Được  ĐH Pháp mời qua giảng dạy năm 1995.
Được phong Giáo sư rồi vào Quốc hội.
     (Còn tiếp)
 https://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hosohauchienky115