Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Khánh thành cầu Bạch Hổ qua sông Hương

Sáng 31-8, Sở GTVT tỉnh Thừa Thiên - Huế phối hợp đơn vị thi công tổ chức lễ khánh thành và đưa vào sử dụng cầu đường bộ Bạch Hổ bắc qua sông Hương.
Từ sáng 31-8, xe cộ đã đi qua cầu đường bộ Bạch Hổ

Khởi công xây dựng ngày 22-12-2009, đến nay công trình đã hoàn thành, vượt tiến độ hơn bốn tháng. Cầu Bạch Hổ dài 542,5m (gồm cả đường dẫn), rộng 24,5m với bốn làn xe và hai lề đường dành cho người đi bộ được thiết kế theo tiêu chuẩn đường phố đô thị, mặt đường bêtông nhựa.

Cầu có năm nhịp, lan can phù hợp kiến trúc, mỹ quan cố đô Huế. Dọc theo thân cầu có sáu vọng lâu để người dân và du khách có thể ngồi hóng mát, ngắm cảnh. Tổng kinh phí đầu tư dự án hơn 730 tỉ đồng, do Ban đầu tư xây dựng giao thông tỉnh Thừa Thiên-Huế làm chủ đầu tư.
Cầu Bạch Hổ về đêm
Dọc theo thân cầu có sáu vọng lâu để người dân và du khách có thể ngồi hóng mát, ngắm cảnh

Ông Nguyễn Văn Cao, chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế, nói rằng việc đưa cầu Bạch Hổ vào sử dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa của tỉnh, nhất là phát triển hạ tầng du lịch; đồng thời sẽ giảm sức ép lưu lượng phương tiện giao thông qua cầu Phú Xuân đang ngày càng xuống cấp.

Ông Cao nói rằng đã có nhiều tên gọi được người dân, chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà văn hóa góp ý đặt tên cho cầu đường bộ qua sông Hương. Tuy nhiên, tên gọi chính thức của cầu này sẽ được HĐND tỉnh thông qua vào kỳ họp tới.

Theo NGUYÊN LINH - NGỌC HIỂN (TTO)

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

Chu Trầm Nguyên Minh, tác giả bài thơ "Lời Tình Buồn" PHẠM CAO HOÀNG giới thiệu


Cuối thập niên 1960, những tình khúc lãng mạn của Vũ Thành An xuất hiện ở miền nam như một luồng gió mới, được nhiều người yêu thích, nhất là giới sinh viên học sinh, trí thức và quân đội… Nhạc Vũ Thành An sang trọng, nhẹ nhàng, dễ đi vào lòng người. Chất lãng mạn trong nhạc của ông có một cái gì đó rất gần gũi với tâm trạng của tuổi trẻ lúc bấy giờ: buồn vì chiến tranh , sợ hãi vì phải đối mặt với những hiểm nguy, đau khổ vì chia ly, mất mát. Ngoài những bài không tên và những tình khúc do ông tự viết nhạc và lời, Vũ Thành An còn có một ít ca khúc phổ từ thơ. Một trong nhừng ca khúc phổ từ thơ rất thành công của ông là bài LỜI TÌNH BUỒN.
LỜI TÌNH BUỒN là bài hát mà tôi nghĩ rằng dạo ấy những người yêu nhạc ai cũng đã từng nghe qua ít nhất một lần. Anh đi rồi còn ai vuốt tóc. Lời tình thơm sách vở học trò. Đêm xuống rồi em buồn không hở? Trời sa mù tầm tay với âu lo.
Bài hát ra đời năm 1967, cho đến nay đã được 45 năm. Trong 45 năm đó, LỜI TÌNH BUỒN đã được nhiều ca sĩ nổi tiếng thu âm và trình diễn, trong đó có những ca sĩ hàng đầu như Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Ngọc Lan, Khánh Hà, Duy Quang, Họa Mi, Bằng Kiều… Khi nhắc tới bài hát này, người ta thường nhắc đến nhạc sĩ Vũ Thành An, ít nhắc đến tên tác giả của bài thơ đã được phổ nhạc là CHU TRẦM NGUYÊN MINH, mặc dù trên bản nhạc khi in ra hay băng đĩa khi phát hành đều có ghi rõ: thơ Chu Trầm Nguyên Minh. Có thể do Vũ Thành An thường tự viết lời cho nhạc của ông nên nhiều người nghĩ bài hát này cũng vậy.
 
Nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh tên thật Phạm Minh Tâm, sinh năm 1943 tại Bình Thuận. Ông đã trải qua một thời tuổi thơ đầy tự hào nhưng cũng đầy bất hạnh. Cha ông đi kháng chiến, thỉnh thoảng mới tạt về thăm nhà. Ở nhà, chỉ còn lại người mẹ tảo tần nuôi dưỡng 5 người con: Phạm Minh Tâm, ba người chị, và một cậu em trai. Gia đình ông có một căn nhà gạch chắc chắn, nhưng cha ông quyết định đập bỏ, vì “nhà kiên cố Tây nó sẽ lấy để làm đồn bót, thà đập đi còn hơn”. Sau đó, mẹ ông đưa các con vào sống trong khu tam giác Phan Thiết – Ma Lâm – Mưòng Mán. Đây là vùng “xôi đậu”, thuộc khu “oanh kích tự do”, và em trai ông đã chết ở nơi này vì một quả đạn mọt-chê. Đầu năm 1953, Pháp mở cuộc càn quét dữ dội vào khu Tam Giác. Cả cha lẫn mẹ của ông đều bị giết trong cuộc càn quét này.
Cha mẹ không còn, nhà cửa không còn, mấy chị em cùng một số người khác kéo nhau vào khu rừng Đá Bàn giáp ranh với Lâm Đồng, sống trong bụi cây như người rừng. Khu rừng này cây cối âm u, rắn rết rất nhiều. Một ngày kia ông bị rắn độc cắn, suýt bỏ mạng trong rừng. Mấy chị em sợ quá, không dám ở đó nữa. Đầu năm 1954, bốn chị em về Phan Thiết, chia ra mỗi người sống nhờ vào một người bà con.  Lúc đầu, Phạm Minh Tâm ở với người cậu, sau chuyển sang ở với người chú ở Phú Bình, rồi bắt đầu đi học bậc trung học ở trường Phan Bội Châu (Phan Thiết). Chỗ ông ở cách trường khoảng 7 cây số, không có xe đạp, hàng ngày ông phải đi bộ đến trường. Đôi chân thì nhỏ, trường thì xa, hầu như ngày nào ông cũng phải chạy mới kịp giờ học. Gia đình tan nát vì chiến tranh, mồ côi cha mẹ sớm, sống nhờ vào người chú, ông có những nỗi buồn riêng, và chính những nỗi buồn này đã tạo ra nhiều cảm xúc, đưa ông vào con đường thi ca . Học hành trong một điều kiện hết sức khó khăn như vậy, nhưng với ý chí sắt đá và lòng kiên nhẫn, ông đã vượt qua khó khăn, theo đuổi ngành sư phạm, ra trường 1965, và được bổ nhiệm về dạy Toán tại một trường trung học ở Phan Rang. Cũng từ đây, nhiều người biết đến Chu Trầm Nguyên Minh với những bài thơ xuất hiện đều đặn trên các tạp chí văn học ở Sài Gòn: VĂN, VĂN HỌC, Ý THỨC…
Năm 1967, cường độ cuộc chiến gia tăng, nhiều giáo chức được gọi nhập ngũ. Chu Trầm Nguyên Minh nằm trong số đó. Ông nhập ngũ khóa 25 Thủ Đức,cùng khóa với nhạc sĩ Vũ Thành An. Chuyện nhập ngũ lại trở thành cái “duyên văn nghệ”, và bài hát LỜI TÌNH BUỒN (thơ Chu Trầm Nguyên Minh, nhạc Vũ Thành An) đã được Vũ Thành An viết vào năm đó. Điều đáng chú ý là tự thân bài thơ này đã là một bài thơ hay, lời bài thơ rất thật, chất nhạc đã có sẵn trong bài thơ, nên Vũ Thành An dễ dàng chuyển thành một trong những tình khúc hay nhất trong 45 năm qua.
Hiện nay Chu Trầm Nguyên Minh sống ở Sài Gòn.
Phạm Cao Hoàng
(Viết theo lời kể của nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh)
August 2012



Tiếng hát KHÁNH LY
 Tiếng hát Ngọc Lan & Huy Tâm

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

Thêm bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam ở vùng biển Đông

Ngày 28.8, tại hội trường Báo Giác Ngộ (TP.HCM), Ban Văn hóa T.Ư Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức buổi họp mặt công bố tập sách cổ Địa dư đồ khảo - một tài liệu quan trọng liên quan đến vấn đề lãnh thổ của đất nước, trong đó có chủ quyền của Việt Nam ở vùng biển Đông.

Đến dự có rất đông nhân sĩ trí thức, các nhà hoạt động văn hóa có uy tín như GS Trần Văn Khê, GS Cao Huy Thuần, học giả Lê Mạnh Thát, nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần, nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Việc công bố tập Địa dư đồ khảo góp thêm tài liệu tham khảo về chủ quyền lãnh hải và lịch sử dân tộc vốn đã được quốc tế công nhận - hòa thượng Thích Trung Hậu, Trưởng ban Văn hóa T.Ư GHPGVN phát biểu. Ban tổ chức thông báo: “Tập sách do nhà Thanh xuất bản, thời kỳ đầu triều Quang Tự (1875-1908) ở Trung Quốc.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn tại buổi công bố và bản đồ trong phần Quảng Đông khảo lược cho thấy tận cùng biên giới phía nam của Trung Quốc chỉ ngang tới đảo Hải Nam
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn tại buổi công bố và bản đồ trong phần Quảng Đông
khảo lược cho thấy tận cùng biên giới phía nam của Trung Quốc
chỉ ngang tới đảo Hải Nam - Ảnh: Giao Hưởng
 
Tại Việt Nam, cụ Trần Đình Bá (1867-1933) lúc làm Thượng thư bộ Hình, triều Khải Định (1916-1925) đã sai sao chép và lưu giữ trong tủ sách Phước Trang ở tư thất (hiện mang số 114 Mai Thúc Loan, TP.Huế). Truyền đến đời thứ 4 là nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn thừa kế, khi chuyển vào Sài Gòn từ năm 1968 đã tiếp tục lưu giữ tại nhà số 128 Đinh Tiên Hoàng, Q.1, TP.HCM”. Học giả Lê Mạnh Thát nhấn mạnh, tập sách đã một lần nữa góp phần soi sáng chủ quyền Việt Nam trên biển Đông từ bao đời nay và việc công bố tài liệu đặc biệt này do Ban Văn hóa T.Ư chủ trì còn bao hàm thái độ và chính kiến của giới trí thức Phật giáo Việt Nam trước hiện tình đất nước.
Giao Hưởng
thanhnien.com.vn

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

Vài hình ảnh ghi lại với bằng hữu trong tháng 8/2012

Với nhà thơ Cao Thoại Chầu
Bảo Cường - Trần Áng Sơn
Từ Hoài Tấn - Nguyễn Tịnh Đông - Đức Phổ - Nguyễn Miên Thảo
Hoàng Vũ Thuật - Lê Thánh Thư - Chu Trầm Nguyên Minh - Từ Hoài Tấn
Nguyễn Miên Thảo - Từ Hoài Tấn - Triệu Từ Truyền - Nguyễn Quốc Nam
Với Vũ Trọng Quang
Với Võ Chân Cửu
Với Trần Duy Phiên
Với Khaly Chàm
Với Nguyễn Đạt
Với Tần Hoài Dạ Vũ
Với Phạm Tấn Hầu

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Yêu mãi cuộc đời này




                                           Yêu mãi cuộc đời này
                                        (Đọc Bàn tay nhỏ dưới mưa, tiểu thuyết của Trương Văn Dân, cty vh Phuong Nam-Nxb Hội Nhà văn, 2011)
Huỳnh Ngọc Nga- Italia

            BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA đến với tôi qua nhiều chặng nhiêu khê, từ bản in thử bị thất lạc tại nhà một người bạn, đến bản in thật đưọc chuyển từ VN sang nhà em gái tôi rồi qua nhà má tôi để cuối cùng sau gần một tháng mới tới tận tay tôi vào đầu tháng 5.2012.  
            Tôi đã đọc văn phong của Dân từ hơn mười năm nay, đã quen với lối viết giản dị “đọc là hiểu liền” của cậu và trong những cái hiểu liền đó tôi hiểu luôn cả nổi băn khoăn, bức xúc cậu muốn nói về những nghịch lý của cuộc đời. Những nghịch lý mà tốt-xấu, hay-dỡ, thiện–ác như nghịch đùa đuổi bắt lẫn nhau trong đời sống hàng ngày của chúng ta.
            Năm 2007, khi ra mắt “Hành Trang Ngày Trở Lại” (NXB Trẻ), tập tuyển truyện đầu tay của cậu, Dân đem đến cho chúng ta những mảnh đời khốn khổ, nạn nhân của thời đại mà kỹ thuật, vật chất đang thay thế tâm linh con người và những ám ảnh bởi nổi đau của hai bờ sinh tử.
 Và bây giờ, năm 2011-2012, Dân lại tặng cho độc giả “Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa” để mọi người biết những gì đã trải qua trong tâm hồn cậu sau những năm về với quê hương. Sách thuộc loại tiểu thuyết dài, kể chuyện nữa đoạn đời còn lại của Gấm - người phụ nữ đã có hai đời chồng và một đứa con - cùng người tình thứ ba của cô - một nhà văn, nhà báo goá vợ. Mối tình tưởng như toàn hảo khi cả hai cùng nhìn về một hướng để đi tiếp đoạn đường còn lại bằng tình yêu chân thật, nhưng ông trời oái oăm thích trêu chọc con người nên khiến Gấm bị ung thư phổi và chết khi cuộc tình còn đầy nóng bỏng, đam mê.
Vắn tắt tóm lược thì chỉ có thế, như phim Love Story của đạo diễn Arthur Hiller trong thập niên 70 của thế kỷ trước, tình yêu và cái chết bởi bịnh hoạn. Nhưng Love Story chỉ cho ta nước mắt khóc một cuộc tình dang dỡ chứ không cho ta những suy gẫm về những bung xung chung quanh cuộc tình. Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa cũng có nước mắt chia lìa nhưng Dân tinh tế hơn đạo diễn A. Hiller, cậu không chỉ làm ta khóc cho nhân vật nữ trong chuyện mà còn làm ta băn khoăn suy gẫm về cuộc sống của chính chúng ta với nhiều chi tiết dính dáng đến nhân, sinh, quan cuộc đời. Đó là cái tham lam lịch lãm của Dân khi viết chuyện này, tom góp hết những hoài bảo, khát khao của cậu làm những bung xung để lồng vào một cuộc tình thường. Nói là cuộc tình thường vì tình huống cốt chuyện ta rất dễ gặp trong phim ảnh, tiểu thuyết và đời thực chung quanh ta. Nhưng với riêng tôi, những bung xung tưởng chừng như phụ thuộc lại chính là những điểm sáng làm người đọc thấm đậm nhiều hơn. Chính vì thế mà  Nhật Chiêu đã nói “Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa là một tác phẩm đương đại pha lẫn tiểu thuyết và tiểu luận, trữ tình văn xuôi và ký sự báo chí “. Duy có điều những đoạn dành cho tiểu luận hay ký sự báo chí Dân thường xen kẻ khá dài trong chuyện tình của hai nhân vật chánh khiến đôi lúc câu chuyện của hai nhân vật chính dường như bị gián đoạn. Ví dụ từ trang 266 đến trang 279, tất cả  chỉ nói về các vấn đề nhân sinh xã hội, chính trị, kinh tế  cơ hồ không liên quan gì đến Gấm và người yêu của cô.. Tuy nhiên đó chỉ là những khuyết điễm phụ không đáng kể.
            Trong “Hành Trang Ngày Trở Lại” tác giả viết giản dị như kể chuyện, nhưng ở BTNDM Dân cho ta thấy cậu nhảy một bước khá xa trong cách hành văn, dụng từ. Câu văn ngắn, gọn hơn. Ví dụ như:  
Tôi chợt nhớ đến Gấm.
Mùi vị của nàng.
Khuôn mặt của nàng.
Những năm tháng của chúng tôi.
   (trang 15 BTNDM)
 hoặc như :
 Một cơn ho chí tử nữa vừa ập đến.
Ngực tôi như muốn nổ bùng
Và đất trời yên ắng bỗng chao đảo như sụp đổ.
Nó sẽ vỡ từng mảng và đổ ụp xuống trần gian.
Tôi còn bao nhiêu thời gian nữa?
Từ đây đến “đó” còn bao xa?
Những thời khắc còn lại mình sẽ làm gì?
……
Bây giờ không.
Ngày mai không.
Mãi mãi cũng không.
                                      (trang 358 BTNDM)
            Cách viết đó gần như một thể loại thơ mới đuơng đại, nửa văn xuôi, nữa văn vần.
            Chưa hết đâu nhé, khoảng cách 4 năm giữa hai quyển sách (HTNTL và BTNDM) dường như cho Dân trưởng thành hơn trong tư tưởng để từ đó cho cậu sự phong phú lúc hành văn bằng các phương pháp tỷ giảo, ẩn dụ,  nhiều dẫn chứng các tài liệu từ sử học, khoa học, chính trị - xã hội học. Tất cả tạo cho người đọc thấy Dân không những là một nhà văn mà còn là một học giả đầy kiến thức mọi việc đó đây. Ngoài ra, phải thật tình mà nói Dân rất khéo léo, hoa mỹ khi diễn tả những đoạn nhục cảm, cậu gần như tả chân hết tất cả chuyện buồng the của Gấm và người yêu. “Huỵch tẹt” vậy đó nhưng người đọc dù khó tính đến đâu cũng không nghe đỏ mặt mà cứ thấy như đó là chuyện cơm ăn, nước uống ngoài đời.  
            Dân là người sống nhiều về nội tâm, cứ nhìn các bài viết của cậu từ trước đến nay thì ai cũng thấy điều đó. Đọc sau, nhận xét muộn nên tôi sẽ trở thành bản sao chép lại của Nhật Chiêu, Phạm Xuân Nguyên, Đổ Hồng Ngọc, Bùi Việt Thắng, ….khi đồng ý cùng các vị ấy để nói rằng BTNDM mang nặng tư tưởng Phật giáo với bánh xe luân hồi không ngừng vận chuyển - ... Vì Gấm sẽ chờ tôi bên kia thế giới. Để cùng quay lại trần gian. Chúng tôi tin là sẽ tìm lại được nhau trong kiếp tới để tiếp tục một tình yêu nửa chừng dang dở mà chẳng bấn gợn chút đau thương nào..Vì chết chỉ là mở đầu của sự tái sinh nên chúng tôi ước muốn sẽ cùng nhau quay lại cõi trần gian.”…(trang 411) rằng BTNDM là khúc ca trầm đầy khát vọng sống với thương yêu lãng mạn và nhục cảm, hảy thử đọc lại trọn vẹn từ trang 392 đến trang 396  để thấy bức tranh tình ái với thân xác và linh hồn của hai kẻ yêu nhau đuợc Dân miêu tả linh động thế nào.
            Giữa khổ đau và hạnh phúc cũng như giữa sống và chết Dân không những muốn nói với mọi người về chữ Tâm trong thương yêu mà còn có cả chữ Trí trong xét đóán và chữ Dũng khi an nhiên tự tại đối phó cùng nghịch cảnh không một chút trách hờn “Bởi chúng tôi cùng chia sẻ ý tưởng của Hermann Hesse: Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại nầy”.(trang 412)
            Tuy nhiên, theo tôi BTNDM có lẻ sẽ hoàn hảo hơn nếu Gấm không quá dễ dãi trong lần đầu mới quen với người yêu nhà báo. Dân hơi quá nhanh khi cho hai nhân vật mới quen nhau chưa chi đã vội vả mời đi uống cà phê rồi hẹn gặp nhau hai hôm nữa. Phụ nữ khó tính, đàng hoàng ai lại quen mau, thân vội như vậy? Có lẻ Dân muốn chúng ta thấy sự hụt hẩng trong hôn nhân đã làm Gấm hơi buông thả hay chăng?
            Và thêm một điểm nữa làm tôi hơi thắc mắc về quan niệm hôn nhân của Dân trong đoạn Gấm muốn có một đám cưới đàng hoàng nhưng nhà báo không chịu vì lý do anh chàng chỉ có 1 người vợ đã chết chứ không muốn có người vợ thứ hai (nhưng có người tình thì được). Nếu định nghĩa theo quan niệm người Ý thì Dân hơi machiliste nhiều lắm rồi đấy (có nghĩa là nam quyền). Khi yêu thật sự người ta không tính toán tình trước, tình sau, không phân định vợ hay tình, không cần giải thích tờ hôn thú có lý hay vô lý, là  tờ giấy lộn vô nghĩa hay chứng nhận trung thực sự nghiêm chỉnh của một mối tình. Khi yêu người ta chỉ biết làm vừa lòng người mình yêu. Thế nhưng ở đây, BTNDM, Dân hơi mâu thuẫn khi cho nhà báo quyết liệt từ chối một đám cưới đàng hoàng với Gấm dù cô đã van nài tha thiết bằng nước mắt và cả giận hờn. Cuối cùng thì cô Gấm đầu hàng trước sự cương quyết của người cô yêu hay nói đúng hơn trước miệng lưỡi giải thích của một nhà văn, nhà báo và hay nhất là cô còn ăn năn hối hận là suýt tý nữa đã có thể sẽ mất “chàng”.  Nói rõ ra thì chỉ có Gấm mới thực sự yêu còn anh chàng nhà báo theo tôi chưa hẳn đã hết lòng với Gấm. Có thể vì tôi là phụ nữ nên hơi nhạy cảm vấn đề nầy  trong thời buổi khắp nơi đang tranh đấu cho nữ quyền dù Dân đã biện chứng “ Khi người phụ nữ thích làm công việc của đàn ông thì gia đình sẽ tan nát”(Trang 106 ). Thực sự, cô Gấm đâu muốn chiếm quyền ưu tiên của đàn ông, cô chỉ muốn được tôn trọng mà thôi và theo đa số quan niệm mọi người thì tờ hôn thú là sự tôn trọng của luật pháp dành cho phụ nữ trong hôn nhân cũng như không có chứng minh nào rõ rệt nhất của người nam khi yêu dành cho người nữ ngoài lời tỏ tình xin chính thức đưa nàng về dinh bằng một đám cưới danh chánh ngôn thuận trước luât pháp và người thân. Tóm lại, cậu Dân của chúng ta đúng là mẫu đàn ông VN thuần túy đây nhé.
             Ngoài chuyện tình của Gấm, người VN dù trong nước hay ở hải ngoại đọc BTNDM để thấy phần nào bối cảnh xã hội đất nước chúng ta sau hơn 35 năm thống nhất, chiến tranh bom đạn lùi xa nhưng chiến tranh vật lộn giữa đạo đức và vật chất, bạc tiền đã khởi đầu từ lâu và đang tiếp diễn không biết đến bao giờ mới phân thắng bại. Dân đã thay mọi người để nói lên tiếng chuông cảnh tỉnh trong công án đi tìm lời giải, lối thoát của thân phận con người nơi cuộc chiến đó. Hy vọng VN của chúng ta không như Gấm, không gục ngã vì hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm để phải chết vì bịnh tha hoá xã hội trong thời bình.
  
HUỲNH NGỌC NGA
                                                         Torino, ITALIA – 24.06.2012

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

CHÂN TƯỚNG HOÀNG QUANG THUẬN

ĐÀ NHÂN

Ngạc nhiên, ồn ào và giận dữ
Suốt mấy tuần qua giới văn nghệ sĩ, báo chí và những người có lương tri trong và ngoài nước hết sức ngạc nhiên về việc hội nhà văn Việt Nam đứng ra tổ chức một cách rùm beng ồn ào, bốc thơm, đánh mất sĩ diện, đánh mất bản ngã dẫn tới phẫn nộ trong dư luận, đỉnh cao của nó là sự giận dữ và uất ức bởi thói kệch cỡm hợm hĩnh vô liêm sỉ của một cái gọi là “nhà thơ” hoang tưởng, bệnh hoạn; cộng thêm sự vô trách nhiệm đánh mất mình của những người có trách nhiệm ở Hội Nhà Văn Việt Nam.
Chân dung của HOÀNG QUANG THUẬN
Để trở thành một nhà thơ, một nhà văn – bất kỳ tác giả nào cũng có thi nghiệp và văn nghiệp. Tức là, hoặc phải có năng khiếu bẩm sinh (thần đồng), phải được dung dưỡng trung một không gian, trong một môi trường thích hợp với thi nghiệp, văn nghiệp. “Văn học là Nhân học”(Mác-xim Góc-ki). Văn học là khoa học về con người, về nhân phẩm con người. Một người biết viết văn, biết làm thơ theo nghĩa đích thực – chưa cần tìm hiểu nhiều người ta có thể khẳng định rằng đó là một con người nhân văn, một người có tâm. Tựu trung đó phải là con người hội đủ trí tuệ chữ nghĩa đạo đức và thực sự đó phải là một con người chân chính.
Vậy, “nhà thơ” Hoàng Quang Thuận - được tiền nhân mượn bút là ai?
Hoàng Quang Thuận tên thật là HUỲNH QUANG THUẬN, sinh trưởng trong một gia đình GIÁO DÂN THIÊN CHÚA GIÁO TOÀN TÒNG. Tốt nghiệp cấp 3 Đồng Hới – Quảng Bình sau đó vào học tại khoa Lý trường Đại Học Sư Phạm Vinh (trong thời gian này có đi bộ đội 4 tháng, sau vì lý do “sức khỏe” nên trở lại tiếp tục học tập). Năm 1976 ra trường được phân công công tác vào tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cùng vợ là Nguyễn Thị Thanh. Người vợ được sở Giáo Dục tỉnh QN-ĐN điều động về dạy tại trường cấp 3 Phan Chu Trinh - Đà Nẵng, riêng Hoàng Quang Thuận được điều động lên huyện Giằng, miền tây Quảng Nam. Vì ngại gian khổ Thuận không chấp hành quyết định mà ở lại thành phố Đà Nẵng. Do nhu cầu của các lớp học bổ túc ban đêm nên Thuận được tham gia dạy bổ túc văn hóa trong thời kỳ này. Một người bạn cùng lớp với Thuận kể rằng: trong thời gian 7 năm dạy bổ túc văn hóa, Thuận ít khi giảng dạy về nội dung mà thông thường hoặc đến trễ hoặc chỉ đến để ra bài kiểm tra mà nội dung trong suốt  6 7 năm đấy chỉ duy nhất một đề bài toán Vật lý đó là: “Tính gia tốc trọng trường của một viên đạn bắn từ điểm A đến điểm B theo hình cầu vồng…”.
Phải nói thời kỳ đó cuộc sống hết sức khó khăn, không được biên chế chính thức trong cơ quan Nhà nước, do vậy Thuận phải bươn chải, chạy mánh để mưu sinh. Thay vì trong cái khó ló cái khôn, thì Thuận lại ló cái láu cá mà không bất kỳ ai có thể có được: ở những lớp bổ túc văn hóa thời kỳ đó hầu hết là những vị chức sắc đầu sở, đầu ngành và kể cả đầu tỉnh QN-ĐN. Nhờ vậy lợi dụng quan hệ giữa giáo viên và học trò, Thuận đã kết nối được một số quan hệ với các vị lãnh đạo. Để rồi Thuận đã chạy chọt xin địa phương cấp cho vợ chồng mình một căn nhà tại số 36 Trần Quốc Toản (đối diện chợ Hàn), Đà Nẵng. Còn ông bà cụ thân sinh của Thuận chuyển từ Quảng Bình vào Giáo xứ Thanh Bồ Đức Lợi (nay là phường Thanh Hải quận Hải Châu, tp.Đà Nẵng) cư ngụ cùng với em út của Thuận là Huỳnh Trọng Quang. Sau đó Thuận mở một tiệm sửa chữa Ra-đi-ô và Ti-vi với tên gọi là Vi Tuyến. Tại tiệm này Thuận có 2 người cộng sự tên là Tuấn và Cường, Tuấn và Cường mày mò lắp ráp các mảnh Tran-si-to và các linh kiện của Ra-đi-ô mô phỏng theo cái máy điện châm của bệnh viện Quân đội Quân Khu V. Thấy vậy Huỳnh Quang Thuận nhân một lần nói chuyện với mấy vị bác sĩ lưu dung của bệnh viện C Đà Nẵng (những vị này có ý tưởng về đề tài máy điện châm nhưng chưa có điều kiện cống hiến cho chế độ mới và đang trong điều kiện sống gấp để chuẩn bị đi xuất cảnh), Thuận bỏ ra 0,5 chỉ vàng 24K trả cho 2 vị bác sĩ để mua cái đề tài “Châm cứ gây tê” đang dang dở để rồi dùng đề tài bằng văn bản này xào xáo cùng với y cụ trực quan là cái máy Châm Tê mô phỏng của Quân Y Viện Quân Khu V của 2 anh thợ điện nói trên thành đề tài “Phó Tiến Sĩ Vật Lý Y Sinh” sau này. Cũng phải nói rằng, “nghề chơi cũng lắm công phu” để đăng ký làm nghiên cứu sinh thời kỳ đó không phải đơn giản chút nào. Bên cạnh đó, là một giáo viên bổ túc văn hóa tự do, không biên chế, không ai quản lý thì việc này quả là nan giải. Để làm việc này Thuận đã kì công xây dựng các mối quan hệ cụ thể như sau:

-  Năm 1985 phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp vào thăm Đà Nẵng, sau khi đến thăm Công ty liên hiệp xuất nhập khẩu tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (COTIMEX), phó CTHĐBT đến dự lễ khánh thành nhà hát Trưng Vương (do Kiến Trúc Sư - Đặng Việt Nga thiết kế). Tại đây thể theo yêu cầu của lãnh đạo tỉnh, phó CTHĐBT đã cùng chụp ảnh với cán bộ, đồng bào QN-ĐN. Trong số các phóng viên và nhiếp ảnh đó có nhiếp ảnh gia Công Điền (Thông tấn xã Việt Nam). Thấy nhiếp ảnh gia Công Điền đeo bộ đồ tác nghiệp rất chuyên nghiệp (ống kính Tê-lê) Hoàng Quang Thuận đã com-măng với Nhiếp ảnh gia Công Điền, sau đó bức ảnh “”Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thuận” được phóng to treo chính giữa ngôi nhà của Thuận và đây cũng là tiền đề của Thuận làm các bước tiếp theo.
- Lại nói về cái đề tài Vật lý Y sinh nêu trên, Thuận đã dùng bức ảnh chụp chung với Đại tướng Võ Nguyên Giáp để làm quen Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng viện Vật lý Việt Nam – Viện sĩ viện hàn lâm khoa học Đúp-Na Liên Xô). Đồng thời cũng từ bức ảnh chụp với Đại tướng, Hoàng Quang Thuận đã làm quen Giáo Sư – Tiến sĩ Lê Xuân Tú  (Viện trưởng viện Sinh Học - viện Khoa Học Việt Nam) để rồi sau đó hai vị Giáo sư đầu ngành của hai viện, một vị là Giáo sư hướng dẫn đề tài, còn một vị là Giáo sư phản biện đề tài, sau đó, qua mối quan hệ với Tổng biên tập Báo Quảng Nam – Đà Nẵng Hoàng Trà, Thuận đã cho đăng lên trang nhất bài báo rất hoành tráng với nhan đề “Hướng đi mới trong công tác nghiên cứu Khoa Học của đội ngũ Giáo viện Phổ thông trung học”(Bài báo này không biết tác giả nào nhưng nội dung cũng kệch cỡm không kém gì các bài viết của các vị tung hô trong hội thảo …”Non thiên Yên Tử” vừa qua). Phải nói rõ rằng vừa qua từ điển mở Wikipedia có thông tin cho rằng “Hoàng Quang Thuận tu nghiệp ở Đúp-na Liên Xô”… vv!!!??? Người viết bài này khẳng định một điều chắc chắn rằng Hoàng Quang Thuận chưa bao giờ học ở Đúp-na mà chỉ đi theo đoàn viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu sang tham quan Đúp-na đúng 15 ngày không hơn không kém!
- Nhiều mánh lới của Thuận trong cuộc sống khó ai tưởng tượng được. Tỉ như: vào những năm 85 để tiếp cận và lợi dụng Bí  thư Quảng Nam – Đà Nẵng Hoàng Minh Thắng, Thuận đã tự ý đổi tên khai sinh của cha mẹ đặt ra là Huỳnh Quang Thuận thành cái tên mới là Hoàng Quang Thuận (không có một quyết định nào của cơ quan pháp luật trong việc đổi họ này). Thành ra, em ruột của Thuận là Huỳnh Trọng Quang còn Thuận lại là Hoàng Quang Thuận. Hồi đó khi tham gia lớp tiếng Pháp ban đêm, vị lớp trưởng là bạn học với Thuận thời cấp 3 rất ngạc nhiên: thằng Huỳnh Quang Thuận lớp mình ngày xưa sao giờ này vào lớp học tiếng Pháp này lại là Hoàng Quang Thuận? Chưa hết, ngay sau khi dự khai giảng đêm đầu tiên tại câu lạc bộ Phờ-răng-cô-phôn, vị giáo viên người Pháp tên là Giô-e (cháu rể ngoại của cụ Phan Chu Trinh) thông báo lại rằng đầu buổi học có 50 học viên, cuối buổi học chỉ còn 40 học viên. Riêng học viên Hoàng Quang Thuận đã cúp cua sau 30 phút mở màn lớp học. Cũng từ hôm đó trở đi, cả giáo viên và học viên lớp học ấy không ai thấy bóng dáng Thuận đâu nữa. Nhưng nực cười, vài hôm sau đấy, đi đâu, gặp ai Thuận cũng oang oang là đang dạy tiếng Pháp cho anh Hoàng Minh Thắng Bí thư tỉnh ủy (!). Hoàng Minh Lân con trai Bí thư Hoàng Minh Thắng rất bực mình mỗi khi Hoàng Quang Thuận xuất hiện bởi cách ăn nói vừa hợm hĩnh vừa quê mùa vừa bô bô của Hoàng Quang Thuận. Có người hỏi: “sao ông lại khó chịu với gia sư của bố mình vậy?”. Hoàng Minh Lân trả lời: “thằng khỉ này nó ba hoa chích chòe chứ có biết ngoại ngữ gì đâu! Nó khoe nó biết tiếng Nga tiếng Pháp, tao hỏi mấy câu tiếng Nga (Hoàng Minh Lân tốt nghiệp đại học Hàng hải Ô-đét-sa) mặt nó tái mét.”. Lại hỏi: “Nhưng mà nó dạy tiếng Pháp cho ông cụ nhà mày?” Hoàng Minh Lân phá lên cười: “Đù má thằng ba xạo, chắc hôm đầu tiên bị tao hỏi tiếng Nga nó sượng. Khi nó về, tao thấy nó viết bảng chữ cái tiếng Pháp cho ông cụ. Vài bữa sau thấy nó dẫn tới giới thiện một ông giáo tiếng Pháp. Ông này đúng là giáo viên tiếng Pháp thật”. Mỗi lần kể về cái vụ dạy tiếng Pháp cho ông Hoàng Minh Thắng cả mấy chàng con trai của cụ đều cười ngặt nghẽo. Hoàng Minh Giáo (Đại tá an ninh con trai cụ Thắng) mà rằng: “cái thằng Thuận bán trời không văn tự, chúng mày mà nghe thằng Thuận thì bán thóc giống mà ăn. Nó đến nịnh ông già thì kệ cha nó. Nó là dân chạy mánh chấp làm gì”. Cùng thời với Bí thư Hoàng Minh Thắng , có Chủ tịch Phạm Đức Nam cũng là một vị lãnh đạo có uy tín. Thuận cũng thường lân la đến nhà của cụ. Anh con trai của Chủ tịch Phạm Đức Nam cũng tên là Nam (còn gọi là Nam con, Nam sun-sang, hiện đang làm ở đài không lưu sân bay Đà Nẵng). Anh chàng này cũng rất khí khái đã từng đuổi Thuận ra khỏi nhà không dưới hai lần vì cái thói hợm hĩnh kệch cỡm của y.
Nhưng rồi cứ vậy các đời Bí thư, chủ tịch sau đó y cũng lân la làm quen và sau đó thân luôn. Điển hình là bí thư tỉnh ủy Nguyễn Văn Chi, thân đến nỗi khi Trung tá Hoàng Văn Dựng phó phòng PA17 trình chuyên án “mánh chính trị QT” bị Bí thư Chi gạt bỏ, sau đó chuyên án này cũng chìm vào quên lãng (Hoàng Văn Dựng đại tá nay đã về hưu, còn em trai Hoàng Văn Lên hiện vẫn đang công tác tại Công An Đà Nẵng. Cả hai đều là con trai của vị Giám đốc Công An Quảng-Đà nổi tiếng thời chiến tranh chống Mỹ: Đại tá Hoàng Văn Lai ). Ly kỳ hơn, trước thềm đại hội XIII của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, dư luận trong số cán bộ lão thành đồn đại GIẢM CHI, BỚT ĐẠM, HẠ GIÁ THÀNH (Chi: Nguyễn Văn Chi - Bí thư, Đạm: Trần Đình Đạm - Chủ tịch, Thành: Nguyễn Văn Thành - phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân). Thấy vậy Thuận nói với Nguyễn Văn Chi: “Anh Chi ơi! Em phải vào Sài Gòn lập hậu cứ chứ ngoài này nó dập anh tơi bời như thế này, thì em chúng nó cũng không tha!”. Ít lâu sau đó sau khi đã đặt cọc mua được căn nhà của một vị trung tá Hải quân mới được hóa giá ở Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh. Thuận lân la đưa các mối quan hệ với các vị chức sắc khoe với Tăng Minh Phụng. Tăng Minh Phụng đưa Thuận vào cái ghế Cố Vấn đối ngoại, cấp cho Thuận 5 sim điện thoại di động và 1 chiếc xe hơi cùng các khoản đãi ngộ khác mà thời ở Đà Nẵng Thuận có nằm mơ cũng không thấy. Thuận dẫn Tăng Minh Phụng đi gõ cửa khắp nơi (thời kỳ này Tăng Minh Phụng đang khó khăn về việc thâu tóm quá nhiều bất động sản, nhập quá nhiều phân u-rê (hàng ngàn tấn phân u-rê do Thuận chạy Quơ-ta với cái phí do Thuận đặt ra với giá cắt cổ mà Tăng Minh Phụng phải gánh chịu). Hàng ngàn tấn phân u-rê sau đó cầm cố ở các ngân hàng, đến khi Tăng Minh Phụng lâm trận thì những hàng hóa dạng này coi như trở thành bùn…).
Lại nói về Nguyễn Văn Chi, sau khi thất cử tại đại hội XIII của tỉnh, họa vô đơn chí, vợ ông Chi là Trần Thị Thủy lúc đó là Giám đốc công ty xuất nhập khẩu huyện Hòa Vang bị ra tòa do non về nghiệp vụ ngoại thương… đi đâu gặp ai Thuận cũng bô bô: “ông Chi và bà Thủy không nghe tôi, căn nhà ở cầu Đỏ long mạch tốt, nằm ở vị trí đầu rồng không chịu ở , chuyển về Phạm Hồng Thái làm gì (căn nhà Phạm Hồng Thái do sở nhà đất cấp cho ông Nguyễn Văn Chi), chuyến này thì vợ chồng nhà này toi rồi!?”. Lại nực cười thay, sau khi hóng hớt được tin Trung ương sẽ thành lập cơ quan bảo vệ nội bộ phía Nam, sẽ điều nguyên Bí thư tỉnh Ủy Nguyễn Văn Chi vào làm trưởng ban. Thuận đến nhà Nguyễn Văn Chi và thao thao bất tuyệt: “anh Chi ơi! tối hôm qua em lập đàn chiêm tinh, thấy sao anh vẫn sáng lắm. Anh cố giữ gìn sức khỏe để nay mai còn chiến đấu (!!!???)” thế rồi quả thật nguyên Bí thư tỉnh Ủy QN-ĐN Nguyễn Văn Chi vào làm trưởng ban bảo vệ nội bộ của Trung Ương tại phía Nam và sau đó là Ủy viên Trung Ương, Ủy viên bộ Chính Trị, và là Chủ Nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung Ương cho đến khóa X vừa qua…

Lại nói về vai trò cố vấn đặc biệt của Thuận đối với Tăng Minh Phụng, từ những năm 93 đến năm 98, sự cống hiến của Thuận đối với Tăng Minh Phụng như thế nào? Như mọi người đã biết, Tăng Minh Phụng bị bắt, bị kết án tử hình, bị thi hành án tử tại trường bắn quận 9 tp.Hồ Chí Minh. Những nhân vật liên quan đều bị vào tù. Riêng Thuận vẫn nhởn nhơ ngoài vòng Pháp luật. Để rồi lại tiếp tục có những mối quan hệ với rất nhiều vị chức sắc của Trung ương. Mỗi lần gọi điện cho các vị chức sắc cấp cao, Thuận thường bật loa cho những người xung quanh nghe để thể hiện mình. Người viết bài này có một ông bạn kể lại rằng: “một lần Thuận gọi cho Nguyễn Thiện Nhân, bật loa cho mọi người nghe. Đầu dây bên kia lên tiếng: “Kính chào nhà Vua, Hoàng Hậu khỏe không ạ?(!!!???)”. Thuận đắc chí: “Khỏe thế nào được mà khỏe! Từ lúc nhậm chức Phó thủ tướng đến nay chẳng thấy tăm hơi nào cả… À này… nói với thành phố sắp tới gửi một suất 322 nữa nhé(!)”.” Thuận có trong tay nhiều hình ảnh, nhiều DVD của vợ chồng Thuận chụp chung, quay chung với nguyên Tổng bí thư, nguyên Chủ tịch nước vv…
Hóng gió hưởng lợi.

Ngay từ thời ở Đà Nẵng, lợi dụng quan hệ với các vị quan đầu tỉnh, Thuận là người khai sinh ra đủ các món chạy mánh để lấy tiền bo: chạy xin vào các trường học, chạy xin vào nằm nội trú ở bệnh viện C, và mọi mánh khác (bây giờ gọi là cò). Đặc biệt từ ngày tỉnh QN-ĐN mua 3 con tàu để chạy viễn dương: Sông Thu, Đà Nẵng, Tiên Sa thì Thuận lại có cơ hội phất lên như diều. Bằng cách, ai muốn xuống tàu để làm ăn mà thân cô thế cô thì Thuận chạy cửa. Thông qua dịch vụ này Thuận có những món lợi dứt điểm và lâu dài. Dứt điểm là hễ can thiệp cho ai được xuống tàu viễn dương thì Thuận lại có vài 3 cây vàng mỗi người. Lâu dài là những thủy thủ mà Thuận xin giùm (thông thường đều là không có bằng cấp, xuống để nấu cơm phục vụ vv…) thì món lợi lâu dài này được thực hiện như sau: mỗi lần tàu đi nước ngoài Thuận lại tái đầu tư cho những kẻ chịu ơn Thuận bằng cách gửi mỗi người một vài cây vàng, sau đó tổ chức đánh quả (hàng lậu) để kiếm lời gấp vài ba lần.
Sau này vào Sài Gòn làm cố vấn cho Tăng Minh Phụng (nghe đâu cả Nguyễn Văn Kiểm – Huy Hoàng nữa) thì vị cố vấn này đã làm cho ông chủ của mình có kết cục như đã nêu trên.

Về sau và cho đến bây giờ, chiêu hóng gió hưởng lợi của Thuận lại càng tinh vi và bất chấp lương tâm, bất chấp danh dự. Cụ thể là chiêu “cầm đèn chạy trước ô tô”, tức là sau khi hóng hớt biết được những thông tin rò rỉ của cấp trên đối với cấp dưới về vấn đề quy hoạch nhân sự thì y lấy những thông tin này phát tín hiệu cho các đương sự. Những khổ chủ này vì nhiều lý do khác nhau, đều phải cống nạp cho Thuận, hi vọng sự tác động của Thuận vào con đường hoan lộ của mình. Nhưng thực ra Thuận không làm gì cả. Những khổ chủ do đủ năng lực, có uy tín, được sự đồng thuận vv… nếu đắc cử thì cũng phải chịu ơn Thuận trở thành hoặc là bạn bè thân tín, hoặc là tay sai của Thuận, vì đã được Thuận nhá thông tin trước đó – nhưng thực ra Thuận không bao giờ tác động hay nhờ vả! Số còn lại là những nạn nhân ngậm bồ hòn làm ngọt, tiền mất tật mang, con đường hoan lộ vẫn mịt mù, nếu gặp Thuận, Thuận không bao giờ trả lại tiền mà chỉ lỳ mặt ra đưa những lý do mà những vị chức sắc có thẩm quyền quyết định nghe cũng toát mồ hôi.

Mất cảnh giác chính trị nghiêm trọng - Nguy cơ đến an ninh Quốc gia.
Như trên đã dẫn, suốt cả một thời gian dài Thuận có những mối quan hệ “trên mức tình cảm” với rất nhiều vị chức sắc quan trọng của Chính thể chúng ta nhưng hầu hết các vị lãnh đạo của chúng ta đều mất cảnh giác, không tìm hiểu về lai lịch, tiểu sử, quá trình của nhân vật tai tiếng này. Trong lúc đó việc kết nạp Đảng của chúng ta làm rất chặt chẽ. Việc tuyển vào ngành công an cũng rất đảm bảo nguyên tắc. Việc tuyển dụng công chức đã được luật hóa. Trong lúc việc bảo vệ lãnh tụ của chúng ta cũng theo thông lệ như các Quốc gia khác là có lực lượng cảnh vệ, cận vệ và rất nhiều lực lượng khác. Đặc biệt những người giúp việc cho cán bộ cấp cao, cho các vị Lãnh đạo của chúng ta nguyên tắc phải là Đảng viên và phải được kinh qua thử thách... Trái lại, trường hợp Hoàng Quang Thuận lại không có bác bào để ý, đã vậy còn vô tình tạo điều kiện cho Thuận làm ăn bất chính: mua quan bán chức, cáo mượn oai hùm, mượn đầu heo nấu cháo vv…vv. Dư luận cho rằng sự kiện bắt bầu Kiên mấy hôm nay, Thuận cũng là tác giả và tác phẩm. Nếu bầu Kiên chí thú làm ăn giàu có như lâu nay, không hám danh, không giao du với Thuận để làm ăn phi pháp, thao túng ngân hàng, thao túng thể thao thì đâu đến nông nỗi này? (may ra theo như các Luật gia nghiên cứu thì tội của bầu Kiên cũng chỉ khoảng từ 2 đến 5 năm)… Phạm Nhật Vượng nếu biết những thông tin, quan hệ của Thuận với Tăng Minh Phụng, Thuận với Trần Xuân Đính (công ty VII bộ Xây dựng), Thuận với Hiệu trưởng Đại học Quảng Bình, Thuận với bầu Kiên và Thuận với n các nạn nhân khác (kể cả tổng biên tập thân bại danh liệt báo Quảng Nam – Đà Nẵng Hoàng Trà – người đã giúp Thuận đăng bài trên trang nhất để PR cho Hoàng Quang Thuận về cái gọi là Giáo sư tiến sĩ rỗng tuếch) thì còn đủ thời gian để làm rạng rỡ cho bản thân, gia đình, dòng tộc và cho xã hội.
Không có chuyện Giáo sư Hoàng Quang Thuận
Mọi người đều biết việc phong hàm Phó Giáo sư, Giáo sư ở nước ta mặc dầu vẫn có những vấn đề phải bàn nhưng quy trình xét duyệt của hội đồng phong Phó Giáo sư và Giáo sư của Nhà nước khá chặt chẽ. Cụ thể là phải có bao nhiêu đề án, công trình khoa học, số lượng bao nhiêu bài báo nghiên cứu khoa học được đăng ở các báo tạp chí khoa học trong và ngoài nước, phải tham gia giảng dạy ở các trường đại học, vv và vv… Có thể khẳng định rằng trong hồ sơ và lịch sử phong hàm Phó Giáo sư, Giáo sư của Việt Nam chưa bao giờ có tên Hoàng Quang Thuận!
Vậy thì làm sao Thuận tự nhận và được mọi người quen miệng với tên gọi gắn với học hàm học vị là: Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Quang Thuận? Xin trả lời ngay rằng xã hội chúng ta kể ra cũng thật thà đôn hậu. Chỉ nghe thông tin và một bức ảnh của đương sự (Hoàng Quang Thuận) bô bô khoe với mọi người. Tức thì, sau đó báo Tiền Phong (Dương Xuân Nam – tức Dương Kỳ Anh hồi đó làm Tổng Biên Tập) giật tít ở trang nhất (đăng ảnh hẳn hoi gồm Hoàng Quang Thuận và mấy ông mắt xanh mũi lõ): “tiến sĩ Hoàng Quang Thuận được Hội đồng các trường Đại học và Cao đẳng Hoa kỳ (…?) phong hàm Giáo sư Danh dự(...!)”. Chỉ vì cái tít này mà lâu nay Hoàng Quang Thuận tự cho mình là “Gà Sống Thiến Sót” mà mọi người vẫn quen gọi là Giáo sư Tiến sĩ – Viện trưởng.
Xin nói thêm rằng cái gọi là viện trưởng viện Công Nghệ Viễn Thông này nó ra làm sao, xin độc giả cứ liên hệ thẳng với Liên hiệp các viện Khoa Học Việt Nam số 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà nội để biết thêm nhiều câu chuyện buồn cười hơn nữa.

Trở lại với vụ ì xèo ngày mùng 8 tháng 8 vừa qua.
Báo Giáo dục và Thời đại online đã đúc kết: “Sau hội thảo Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử do tạp chí Nhà văn – hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày mùng 8 tháng 8 năm 2012 có rất đông người yêu thơ phản hồi bày tỏ tình cảm quan tâm, trân trọng với những vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất thiền. Đại diện cho hội Nhà văn, ông Hữu Thỉnh nói rằng “thơ anh – Hoàng Quang Thuận là một bức tranh tôn giáo trầm mặc mà sống động, thanh khiết mà run rẩy!”(???!!!).
Vì sao ông Hữu Thỉnh chủ tịch hội Nhà văn Việt Nam lại nâng niu, o bế, kính trọng Hoàng Quang Thuận đến mức run rẩy như vậy? Trong nghiệp văn, nghiệp thơ ông Hữu Thỉnh đã một tấc lên giời với ai như vậy chưa? Chuyện đã qua rồi, người viết bài này không muốn dày vò ông Thỉnh làm gì nữa. Chỉ khuyên ông đọc và ngẫm bài viết : ”Hoa tàn, mưa tạnh, non yên lặng…” của tác giả Minh Đức Triều Tâm Ảnh. Tác giả chỉ tự nhận: “tôi chỉ làm một tu sĩ, có học thiền và dạy thiền…”. Tác giả tâm sự rằng tôi không tu thiền theo thiền phái Trúc Lâm, không phải là đệ tử, cũng không quen biết các ngài, các sư, ni ở trong tông môn đó. Tôi thuộc Thê-ra-va-đa chỉ là một tu sĩ yêu thơ, có nghiên cứu thơ văn của Trúc Lâm Tam Tổ và các danh sĩ làm thơ có ảnh hưởng thiền thời Lý, Trần. Thơ, thơ thiền, thơ có tư tưởng thiền và thơ có liên hệ đến non thiêng Yên Tử của các vị ấy, vào thời Trung đại ấy, tôi nghẹn chữ không biết nói sao. Tôi chỉ muốn ví von – dù biết ví von nào cũng khập khễnh – là nó như hạt tuyết trắng trinh tuyền trên non cao. Nó là đóa hoa tinh khôi, diệu vợi u hương trên đầu núi. Mà bút khí, bút lực, bút trí, bút tâm của thế gian là bút của chợ triền, ở dưới này thường không với tới! Nó rất khác, nó khác xa với tất cả thơ mạo nhận là thơ thiền hiện nay. Tảng đá tình định, trầm mặc trong vườn thiền hôm kia cũng toát mồ hôi. Lau cỏ quê mùa dân dã, an nhiên sáng nay bên hiên chùa cũng run lẩy bẩy. Hiện tượng bình phẩm hơi quá bút về thơ thiền của Hoàng Quang Thuận làm cho “đá cỏ trong vườn thiền” cũng phải lên tiếng đính chính… tuy nhiên, thật may mắn cho Phật giáo chúng ta, cho những ai yêu non thiêng Yên Tử cùng cốt cách “can lộ lưu phương” của Hương Vân Đầu Đà – là các nhà học giả nghiêm túc, các nhà nghiên cứu có đạo đức, tri thức đã đồng loạt phản bác, phê phán nghiêm khắc, đã nhìn ra “chân tướng”, đã chỉ ra cái “bản lai diện mục” của cái trò chơi “hơi quá đà” kia rồi… Người viết bài này xin thưa lại với tác giả Minh Đức Triều Tâm Ảnh: tác giả là một tu sĩ đã thoát tục, mang tư tưởng từ, bi, hỉ, xả - cho nên mặc dù đã nhìn ra “chân tướng”, đã chỉ ra cái “bản lai diện mục” nhưng tác giả vẫn rộng lượng từ bi mà cho rằng cái trò chơi “hơi quá đà”. Mô Phật! Tôi lại rất tâm đắc với tác giả ở đoạn kết, hi vọng rằng “những hiện tượng phù du như vậy rồi sẽ qua đi. Chuyện phải, chuyện trái nó rơi theo hoa buổi sớm rơi”. Cái tâm về lợi danh nó lạnh giống như trận mưa lạnh ngắt đêm rồi. Và ngay cái rơi, cái lạnh ấy cũng không còn nữa, nó rụng, nó lạnh hết rồi, chỉ còn lại non yên lặng mà thôi. Và ở cái “thực tại non yên lặng” ấy, một tiếng chim vừa hót lên… cũng vậy, cái gì không phải thơ, không phải thiền thì nó sẽ rơi, sẽ rụng đi – nhưng sự an tĩnh và thanh khiết của hồn thơ, hồn thiền non thiêng yên tử sẽ còn mãi với thời gian. Mong vậy thay!”

Thiết nghĩ những lời từ bi nói trên cũng sẽ được so sánh: nếu không phải là tiến sĩ thì tiến sĩ nó cũng tự rụng đi, nếu không phải là giáo sư thì giáo sư cũng tự rơi đi, nếu không phải là viện trưởng thì viện trưởng nó cũng tự mất đi. Nếu không phải là quan chức thì cái hào quang ăn theo quan chức cũng sẽ tự mất đi… Còn nếu không phải công chức viên chức … thì hãy nộp hồ sơ thi viên chức, công chức theo tiêu chuẩn luật định.


Nguồn : lethieunhon.com