Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

Nguyễn Thị Hậu Với 101 Truyện 100 Chữ

Vũ Trọng Quang


Nhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa phát hành tập truyện cực ngắn "101 truyện 100 chữ" của Nguyễn Thị Hậu, tiến sĩ Khảo cổ học. Đây là tập truyện cực ngắn thứ tư, sau Đi và tìm trong đất (Ký và tản văn, 2008), Quay qua quay lại (Tản văn, 2010), Buổi trưa trong quán cà phê (Tạp bút, 2012).

Nguyễn Thị Hậu hiện nay  là Viện phó Viện nghiên cứu phát triển TPHCM, Phó Tổng thư ký Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Tôi đồng cảm với nhà văn Lê Anh Hoài thì "Đọc loạt truyện cực ngắn này, không cần nghĩ ngợi đến những chức tước, học hàm học vị, sẽ thấy một cái nhìn nhạy cảm rất đàn bà, một kết cấu truyện gọn sắc như những cú đấm của dao găm, và cả tiếng cười như sắp phá bung ra đằng sau sự lạnh lùng của con chữ".

Truyện cực ngắn vì không thể là truyện dài, ngoài ý nghĩ ngoài ý nghĩa của giới hạn chữ, cô đọng và chính xác, tuy ngắn như lát cắt nhưng chuyên chở đầy sức năng, không phải sức nặng của những phiến mỏng tập hợp lại, mà trọng lượng mỗi truyện cực ngắn.

Xin trích 2 truyện cực ngắn:

Bao Thơ

Có vài cuộc họp người tham dự được nhận bao thơ, bên trong ít thì vài chục nhiều thì vài trăm ngàn. Người nhận có khi nhẹ nhàng cất vào túi xách, khi vội vàng nhét vào túi áo, lại có người hé ra xem, hớn hở hay thất vọng ra mặt...Nhưng nhiều người moi hết tiền ra, bao thơ vo lại vứt toẹt xuống đât.

Dù nhàu nát nhưng bao thơ không buồn vì nó đã làm tròn phận sự. Đôi khi nó còn thấy mình tử tế hơn nhiều người moi tiền từ nó.

 Truyện thứ hai thời sự hơn.

Giải Nobel

Bạn bè viết lách tụ tập cà phê, kháo nhau: nhà thơ X. cả quyết sang năm ông sẽ được đề cử Nobel Văn chương, nhà văn Y. bảo chị ta được ai đó đề nghị giải Nobel Hòa bình... Nghe phát ham! Nhà phê bình bèn nói với vợ: anh sẽ chuyễn sang viết tiểu thuyết để tranh giải giải Nobel Kinh tế!

Vợ than: Trăm tội là tại Nobel. Ông chế ra thuốc nổ làm chi để miểng văng tùm lum vậy?!

Tôi đã đọc các truyện cực ngắn của Nguyễn Thị Hậu trên vanchuongviet, bây giờ đọc lại trên sách vẫn thấy mới, vẫn thấy tủm tỉm.

Vẫn thấy chất thơ từ những dòng văn xuôi. "... Cũng giống như trong Thơ, ở truyện cực ngắn, tác giả chỉ phát ra một số gợi ý để người đọc, chính người đọc mới là kẻ hoàn tất tác phẩm. Nguyễn Hưng Quốc"

Vũ Trọng Quang 
(vanchuongviet.org)

Ghi thêm: Được biết vào chiều ngày 23/10/2012, TS Nguyễn thị Hậu sẽ có buổi ra mắt tác phẩm trong vòng thân hữu tại Quán Chiêu Cafe Sách của nhà thơ Chiêu Anh Nguyễn số 169A đường Ba Vân P. 14 Quận Tân Bình - TPHCM
 

Huỳnh Như Phương - Kháng cự Thơ Mới?




Kháng cự Thơ Mới?*

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

NVTPHCM- Có một chút gì nông nổi và bồng bột khi những nhà văn, nhà thơ của nhóm Sáng Tạo ở Sài Gòn ngồi lại với nhau vào năm 1960 để mổ xẻ, phê phán “văn nghệ tiền chiến”, trong đó có Thơ Mới. Nhiều nhận xét nặng nề, có phần cao ngạo nữa, đã được phát biểu, tuy rằng ít có dẫn chứng được phân tích thấu đáo.

Tô Thùy Yên nói: “Tôi định nghĩa Thơ Mới: sự khai triển lòng thòng của chữ “than ôi”. Định nghĩa như thế, tôi không hề có ý dè bỉu sự thất vọng trong thi ca ngày hôm qua mà trái lại, tôi quan niệm mọi sáng tạo nghệ thuật trên đời đều bắt nguồn từ sự thất vọng của con người trước đời sống. Tôi chỉ muốn chê trách những người làm Thơ Mới ở chỗ họ đã than khóc về sự thất vọng của họ mà chưa biết tư tưởng về đối tượng của sự thất vọng đó (…). Thơ Mới ném những hạt bụi cay vào mắt người đọc làm cho hắn tối tăm mày mặt, phải đứng lại giữa dòng sống luân lưu, không còn phân biệt được màu đen với sắc trắng. Nó cô lập người đọc. Nó làm cho người đọc và đời sống càng xa lạ nhau thêm. Nó không phải là hình ảnh đời sống mà là ma quái, đêm nào, hiện lên mê muội người đọc yếu bóng vía” (“Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam, Tạp chí Sáng Tạo bộ mới, số 2, 1960).
Sau đó, khi Lê Huy Oanh khẳng định có sự gặp gỡ giữa Thơ Mới và thơ đương thời, thì Thanh Tâm Tuyền tranh luận: “Tôi giải thích: tại sao bây giờ còn những người cảm được những bài thơ tiền chiến của Xuân Diệu, Huy Cận, một thứ ngôn ngữ tôi xếp vào loại ngôn ngữ đã chết rồi. Lý do giản dị là ở người đọc chứ không phải ở nhà thơ. Nhà thơ đã không vượt được thời đại mà người đọc thì đã sống lùi thời đại mình” (“Nói chuyện về thơ bây giờ”, Tạp chí Sáng Tạo bộ mới, số 4, 1960).
Quả là một điều nghịch lý khi cùng trong thời gian đó, ở miền Bắc cuộc phê phán Thơ Mới vẫn diễn ra quyết liệt, từ phía tả. Thơ Mới đứng giữa hai làn đạn và cả hai phía đều muốn chung thẩm nó với bản án rằng “không còn thích hợp với thời đại mới”.
Sự nóng nảy của các thành viên nhóm Sáng Tạo khiến cho một người gần gũi về quan điểm nghệ thuật như Võ Phiến, tuy tán thưởng “tinh thần đổi mới đầy tự tin, đầy hứng khởi” của họ, cũng không khỏi trách cứ: “trong lối “khai tử” nền văn học tiền chiến có một cách thế kiêu căng; (…) hoặc hoa hòe hoa sói, kiểu cách ưỡn ẹo, hoặc tối tăm rối rắm” (Võ Phiến, Văn học miền Nam tổng quan, NXB Văn Nghệ, 2000, tr.232).
Nhưng cũng phải thừa nhận rằng đằng sau những phán quyết có phần dễ dãi đó có ẩn chứa những hạt nhân hợp lý. Thời đại mới, con người mới luôn luôn cần những tiếng nói nghệ thuật mới. Trân quý những tiếng nói nghệ thuật cũ không có nghĩa là mãi mãi nằm trong bóng râm và vùng từ trường của nó. Trên thực tế, văn học ở những địa bàn khác nhau của đất nước, từ cuối thập niên 1950 đến nay, đã có những bứt phá và đột phá mà có lẽ lúc đương thời những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận…, dù đầy tài năng, cũng chưa thể hình dung được.
Trên địa bàn văn học miền Nam diễn ra đồng thời hai thực tế này: trong nhà trường và trong một bộ phận lớn công chúng và văn nghệ sĩ, Thơ Mới vẫn được vinh danh và ưa chuộng; nhưng trong giới sáng tác văn học bắt đầu hình thành những xu hướng cách tân tìm cách kháng cự lại ảnh hưởng của Thơ Mới. Họ từng bước giã từ thể thơ bảy chữ, tám chữ vốn là sở trường của Thơ Mới, để thể nghiệm điệu tâm hồn thời đại trong thơ tự do và thơ văn xuôi.
Ở phương Tây, vào thời chủ nghĩa cổ điển, thơ tự do được hiểu là thơ mà vận luật kết hợp một cách tự do, không cân đối đều đặn, chẳng hạn thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Từ cuối thế kỷ XIX, do ảnh hưởng của âm nhạc đối với thơ ca, và từ thực tiễn nghiên cứu thơ tượng trưng, người ta gọi thơ tự do là thơ được giải phóng khỏi những ràng buộc của âm luật và vần thơ, chỉ còn dựa trên nhịp điệu và ý nghĩa. Bài thơ tự do vẫn tạo nên một cấu trúc toàn thể, nhưng đó không phải là cấu trúc của âm luật mà là cấu trúc ngữ nghĩa và được tổ chức nhờ sự phân bổ và liên kết những âm điệu. Nhờ sự kết hợp của những trùng điệp về ngữ âm, thơ tự do hướng đến tâm thức người đọc qua lỗ tai và hơn là qua đôi mắt. Khi những câu thơ liên kết tự do để thành khổ thơ, thì những khổ thơ cũng liên kết tự do để thành bài thơ và chủ yếu dựa trên sự mạch lạc nội tại về ngữ nghĩa.
Thơ tự do là một bước phát triển của thơ Việt nửa cuối thế kỷ XX. Nó mở rộng câu thơ, tứ thơ và làm cho cảm xúc lẫn hình ảnh trở nên khoáng đạt. Cần phân biệt thơ hợp thể với thơ tự do. Thơ hợp thể tuy đa dạng về câu thơ nhưng ít khi có câu quá tám chữ và vẫn chịu quy định về vần, nhất là vần chân. Còn thơ tự do thì không còn nệ về vần và câu thơ có thể dài ngắn không chừng, miễn là trang trải hết cảm xúc. Điều thú vị là những bài thơ 10 chữ hay 12 chữ (như thơ Nguyễn Vỹ học tập kiểu thơ alexandrin 12 âm tiết của Pháp) đọc lên thấy đơn điệu, còn những bài thơ tự do đặc sắc, tuy câu thơ dài, nhưng lại đa dạng và sinh động.
Thơ tự do không phải là thành tựu của Thơ Mới, mặc dù phong trào này mở đầu bằng một bài thơ tự do đầy chất văn xuôi là bài Tình già của Phan Khôi và lịch sử của nó từng chứng kiến những nhà thơ thử nghiệm làm thơ hợp thể (Tiếng trúc tuyệt vời của Thế Lữ, Mời say của Vũ Hoàng Chương…) hay thơ văn xuôi (Kinh cầu tự của Huy Cận, Mùa thu đã tới của Hàn Mặc Tử…). Một số nhà thơ mới như Xuân Diệu thậm chí còn dị ứng với thơ tự do, nói chung là thơ không vần. Điều đó dễ hiểu, vì thơ lãng mạn thuộc về phạm trù hiện đại, còn thơ tự do gắn với siêu thực, hiện sinh… đã bước vào phạm trù duy hiện đại. Hình dung Xuân Diệu làm thơ tự do chẳng khác nào tưởng tượng ông đi xe phân khối lớn, mặc quần jeans đến diễn thuyết về thơ tình.
Như ta biết, Nguyễn Đình Thi là người sớm công bố những bài thơ tự do trong Kháng chiến chống Pháp. Ông quan niệm: “Theo tôi, những luật lệ của thơ, từ âm điệu đến vần đều là những võ khí rất mạnh trong tay người làm thơ. Nhưng không phải hễ thiếu những võ khí ấy là trận đánh nhất định thua. Thiếu võ khí ấy, trận đánh gay go thêm nhiều, nhưng người làm thơ vẫn có thể thắng” (“Mấy ý nghĩ về thơ”). Từ lâu, Lý Tử Tấn cũng cho rằng thơ là phải có luật lệ, có thể cách, nhưng “không thể lấy một luật lệ nào để hạn chế, cũng không thể lấy một thể cách nào để giữ lại”.
Thật ra, thơ tự do của Nguyễn Đình Thi không hoàn toàn phá bỏ vần thơ, nên gần hơn với thơ hợp thể. Dù vậy, hoàn cảnh lịch sử và thị hiếu của công chúng vẫn không ủng hộ ông. Sau 1954, thơ tự do được các nhà thơ trong nhóm Nhân văn - Giai phẩm ưa chuộng. Nó cũng tìm được môi trường phát triển thuận lợi ở miền Nam với Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Quách Thoại, Nhất Hạnh, Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Du Tử Lê, Nh. Tay Ngàn… và cả những nhà thơ dấn thân như Diễm Châu, Ngô Kha, Nguyễn Quốc Thái, Lê Văn Ngăn… Điều thú vị là, bây giờ đọc lại, thấy thơ tranh đấu ở miền Nam giai đoạn ấy gần với thơ cách mạng của Tố Hữu về cảm hứng, tình điệu, nhưng lại gặp gỡ với thơ phản kháng của Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt về hình thức hơn là Thơ Mới lãng mạn mà các tác giả từng thuộc lòng trong nhà trường.
Thơ tự do cho thấy ảnh hưởng của Thơ Mới không hẳn bao trùm thơ Việt nửa cuối thế kỷ XX. Và đây không phải chỉ là vấn đề hình thức. Sự liên kết giữa các câu thơ trong một khổ thơ, giữa các khổ thơ trong một bài thơ mới lãng mạn bao giờ cũng làm hiển lộ tính chất lô-gích nào đó. Nhưng sự liên kết đó trong thơ tự do hiện đại chủ nghĩa nhiều khi gây cho ta cảm giác phi lô-gích, hay đúng hơn là lô-gích của cái phi lý. Sự tuyển chọn của nhà thơ không dễ đoán định và nó nổi bật ấn tượng về sự lạ hóa trong sự kết hợp, đôi khi như một bức tranh siêu thực của Salvador Dali:
Đêm giao thừa thế kỷ mưa sao rơi
Mái sáng đường nằm chiêm bao biển giận dỗi
Bàn tay mây mắt trăng môi nhiệt đới
Chiến tranh còn những khoảng đất hoang
Cửa sổ đập lên cao cánh chim én mùa xuân
Ôm vào lòng bãi cỏ vườn hoa bầy sao rụng.
(Thanh Tâm Tuyền, Chim)
Thơ văn xuôi là một bước phát triển của thơ tự do. Nó được tổ chức bằng những câu văn xuôi không hạn định số chữ, liên kết thành một bài văn xuôi hoàn chỉnh. Nhưng nó vẫn không phải là văn xuôi đích thực như tùy bút, vì nó có nhạc điệu và chứa đựng những hình thức thường có ở thơ như điệp ngữ, thủ pháp song song…, những điều giúp cho người đọc dễ cảm nhận tính cấu trúc của bài thơ. Văn xuôi dựa trên nguyên tắc đối thoại, còn thơ văn xuôi là tiếng độc thoại của tâm hồn người viết. Chất nhạc là yếu tố bổ sung của văn xuôi, nhưng là yếu tính của thơ văn xuôi.
Ở phương Tây, thơ văn xuôi xuất hiện từ phong trào giải phóng câu thơ bắt đầu từ thời kỳ chủ nghĩa lãng mạn. Ở Pháp người mở đường cho thơ văn xuôi là A. Bertrand, sau đó là các nhà thơ kế tục: Baudelaire, Lautréamont, Rimbaud, Mallarmé, Maeterlinck, Breton, Michaux, R. Char. Trong khi đó, ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn chỉ sáng tạo ra thơ hợp thể, còn thơ tự do và thơ văn xuôi mới là bước thăm dò.
Thơ văn xuôi khác với văn xuôi trữ tình có chất thơ ở chỗ văn xuôi trữ tình không phải là một thể loại riêng biệt mà chỉ xuất hiện trong một số văn bản văn xuôi nhất định. Trong văn xuôi có chất thơ, nhà văn đem lại cho văn bản yếu tố trữ tình, yếu tố nhạc điệu. Chất thơ là khái niệm chỉ yếu tính của thơ ca khi nó thể hiện ở bên ngoài thể loại thơ, trong một bút ký (Ai đã đặt trên cho dòng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường), một truyện ngắn (Hương cỏ mật, Đỗ Chu), một tiểu thuyết (Thực phẩm trần gian, André Gide), một tác phẩm triết học (Zarathoustra đã nói như thế, F. Nietzsche)… Còn thơ văn xuôi trước hết là một thể thơ mà người sáng tác chọn lựa một cách có ý thức và tạo ra một hình thức ngắn, đóng kín và có tổ chức. Quá trình sáng tác thơ văn xuôi gắn liền với sự hình thành quy luật tạo cho bài thơ một tổ chức nội tại, mặc dù không dễ nói ra một cách rõ ràng những nguyên tắc của cách tổ chức này.
Tuy thơ Việt chưa có nhiều những bài thơ văn xuôi đặc sắc, nhưng thơ văn xuôi đang dần dần khẳng định như một thể thơ đáp ứng được nhu cầu bộc lộ tình cảm và thưởng thức đa dạng của con người. Chính Xuân Diệu, người dè bỉu thơ tự do Nguyễn Đình Thi trong kháng chiến chống Pháp, đến năm 1964 đã viết hẳn một bài khẳng định thơ văn xuôi với ít nhiều dè dặt: “Trong thơ thế giới, giữa văn vần và văn xuôi, có những thể điệu trung gian: từ bút ký, tùy bút, đến thơ bằng văn xuôi, đến thơ tự do không vần, đến thơ tự do có vần, đến từ khúc, đến thơ đều đặn có vần. Trong lúc vẫn dành ưu tiên cho những điệu dễ vào trong quần chúng nhất, chúng ta cần tạo một dự trữ về hình thức nghệ thuật, đưa một số thể điệu ban đầu chưa quen thuộc dần dần đến quen thuộc với công chúng” (“Vài ý kiến về thơ văn xuôi”, Báo Văn nghệ, số 88, 1/1/1965).
Những gì mà cuối những năm 40 – đầu những năm 50 Xuân Diệu phủ nhận, giữa những năm 60 Xuân Diệu xem là “dự trữ về hình thức nghệ thuật”, ngày nay đã khẳng định vị trí như một thực thể văn học. Cũng trên tinh thần đó, tiếp nhận ảnh hưởng của thơ ca thế giới, hình thức thơ Việt ngày càng đa dạng với những thể nghiệm mới: thơ hai câu, thơ ba câu, thơ thị giác… Đặc biệt, gần đây xuất hiện thơ tân hình thức (New Formalism) với những tìm tòi thể nghiệm ngày càng xa khỏi những thể thơ truyền thống, với cách chọn từ, ngắt câu khác hẳn với Thơ Mới lãng mạn.
Đó là chưa kể những nhà thơ trẻ hiện nay, không thể nào chịu nổi sự du dương, mượt mà của Thơ Mới, đã không ngần ngại lấy Thơ Mới ra để mà giễu nhại.
Tất nhiên, nhờ nội lực của nó, Thơ Mới không dễ gì nao núng hay rúng động trước sự kháng cự đó. Nó đã từng bị dìm trong biển cả tao loạn, nhưng rồi theo định luật Archimède lại trồi lên. Những người yêu văn học và tiếng Việt ngày nay đọc lại Nhớ rừng, Bên sông đưa khách của Thế Lữ, Ngậm ngùi, Tình tự, Đi giữa đường thơm của Huy Cận, Nguyệt cầm, Thơ duyên, Lời kỹ nữ của Xuân Diệu vẫn thấy hay. Có điều cái hay của những bài thơ đó bao giờ cũng gắn với một đường viền lịch sử và một quầng sáng không gian văn hóa nhất định.
Trong khi đó những người làm thơ chuyên nghiệp thời đương đại không còn dễ hào hứng đặt bút viết những câu thơ có dạng như: Hôm nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm hay Tình anh là một cơn mưa lũ… Thậm chí bây giờ họ cũng không thể đặt những nhan đề bài thơ và tập thơ như thời Thơ Mới: Gái quê, Bức tranh quê, Nghẹn ngào, Yêu đương… Điều đó có lẽ chỉ còn nơi thơ của các câu lạc bộ ở quận, huyện. Bởi đó là cái tinh khôi hồn nhiên và độc quyền của những người tiên phong mà những người đi sau, nếu lặp lại, chỉ là sự bắt chước vụng về hay thô thiển. Các nhà thơ mới hầu hết là những tài năng lớn, riêng Hàn Mặc Tử là thiên tài. Nhưng những bài thơ dạng như Em làm dáng, Nhớ chăng?, Em sắp lấy chồng… trong tập Gái quê đấy đủ nhất vừa tái bản, thì có thể bắt gặp trong rất nhiều tập thơ trung bình xuất bản hiện nay.
Đồng thời, những độc giả đương đại, tuy có thể ngâm nga Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương… và cảm nhận vẻ đẹp của nó, nhưng lại sẽ thấy “chối” khi đọc những bài thơ hôm nay đi theo con đường lãng mạn của Thơ Mới. Ý kiến sau đây của Đỗ Lai Thúy thật đáng suy nghĩ: “Thơ Mới dù thành công mỹ mãn đến đâu cũng chỉ là một hiện tượng lịch sử. Thành công của Thơ Mới có ý nghĩa tích cực nhất trong thời của nó. Nhưng sẽ là tiêu cực một khi thời của nó qua đi mà nó vẫn còn chễm chệ ở mặt tiền ngôi nhà văn học với tư cách là một hệ hình tư duy nghệ thuật” (“Thơ Mới thành công và thất bại của thành công”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6, 2012). Quả vậy, những hình thức thơ ca đặc sắc trong bối cảnh ra đời của nó, khi không còn hấp dẫn với hoàn cảnh mới, sẽ biết nhường chỗ cho những hình thức nghệ thuật mới đến thay thế.

___________
(*) Tham luận tại Hội thảo "Phong trào Thơ mới và Văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại" ở TP.HCM ngày 20.10.2012.

Trích lại từ http://nhavantphcm.com.vn

Tiếng sáo

Kính viếng nhà thơ Tô Kiều Ngân

tiếng sáo vòng quanh thơ
ngược về núi Ngự sớm sương mờ
ngân nga lời vĩnh biệt
 
bước chân buồn da diết
rời bến Sông Hương đi mải miết
về nam trong loạn li
 
ngâm bài thơ tình si
đám mây trừu tượng ướt xuống mi
quê hương là tiếng Việt
 
âu yếm cùng cây viết
giữ nhịp thở cho sinh mệnh thơ
quên chiến tuyến vu vơ
 
tiếng sáo Tao Đàn Sài Gòn
lao qua gập ghềnh thác vực núi non
về Ngự Bình thông biếc…

Gia Định 21.10.2012 


Triệu Từ Truyền

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

TIN BUỒN: Thi Sĩ Tô Kiều Ngân vừa ra đi…

  CHIA BUỒN
Chúng tôi vừa được tin :
Nhà thơ, nghệ sĩ TÔ KIỀU NGÂN đã qua đời vì bạo bệnh, hưởng thọ 86 tuổi.
Lễ nhập quan vào lúc 14 giờ ngày 20 tháng 10 năm 2012 ( nhằm ngày mồng 06 tháng 09 năm Nhâm Thìn ). Lễ động quan lúc 09 giờ sáng ngày 24 tháng 10 năm 2012 ( nhằm ngày 10 tháng 09 năm Nhâm Thìn ). Hỏa táng tại Bình Hưng Hòa.
Hiện đang quàn tại tư gia số 57/6/4 Đường Điện Biên Phủ . Quân Bình Thạnh. Sài Gòn.
 
Chúng tôi xin chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc hương linh ông sớm an vui nơi miền Cực Lạc.
Trần Áng Sơn - Triệu Từ Truyền - Từ Hoài Tấn - Nguyễn Miên Thảo - Viêm Tịnh - Phạm Tấn Hầu - Lê Ngọc Thuận - Cao Huy Khanh - Văn Viết Lộc - Nguyễn Lương Vỵ - Vũ Trọng Quang - Trần Hữu Dũng - Nguyễn Văn Trai - Giang Hải - Nguyễn Liên Châu - Nguyễn Vân Thiên và anh em văn nghệ quen biết ...

Lê Mộng Ngân tức Tô Kiều Ngân sinh năm 1926 tại Huế. Gia đình, bạn bè, giới thi ca ... bàng hoàng khi hay tin qua đời do bị ung thư phổi


“Tô Kiều Ngân sinh năm 1926 tại Huế. Tuổi trẻ của ông được nuôi dưỡng trong bầu không khí trang nghiêm cổ kính của thành phố buồn, thành phố của những dấu tích xa xưa, của bao nhiêu triều đại đã hưng phế, nay chỉ còn trơ lại một nội thành với những lăng tẩm u trầm, một giòng sông Hương “Nông chờ” tháng năm lạnh lùng trôi qua, biểu tượng niềm riêng, nỗi quạnh hiu của người dân xứ Huế.

Thuở còn cắp sách tới trường, Tô Kiều Ngân đã sớm tỏ có chất nghệ sĩ luân lưu trong huyết quản. Trò Ngân thường trốn học, đi chơi đó đây với cây sáo trúc không mấy khi rời tay.

Rồi chiến tranh Pháp Việt bùng nổ toàn diện, Tô Kiều Ngân cũng nghe theo tiếng gọi kêu khẩn thiết của tổ quốc, khăn gói lên đường tham gia kháng chiến chống Pháp. Ông được sung vào ban kịch của Vệ quốc đoàn khu IV.

Một ba lô, một ống sáo, ông theo đoàn kịch đi lưu diễn khắp nơi, lang thang suốt từ Huế đến Thanh Hóa. Ông kể:

"Vì tính cách lưu diễn, nên chúng tôi đi hết nơi này tới  nơi  khác. Có cái thú là  những buổi chiều đi qua những làng mạc, những cánh đồng ruộng lúa bát  ngát, tôi say sưa thổi sáo, những bản hùng ca của Phạm Duy, lòng cảm thấy lâng lâng, chân bước nhẹ nhõm vô cùng. Cảnh đó, bây giờ không còn được hưởng nữa."

Ở ban kịch liên khu IV được một thời gian, ông xin tình nguyện chiến đấu tại mặt trận Đèo Hải Vân. Sau đó Tô kiều Ngân bị Pháp bắt năm 1948.

Sau 3 tháng bị cầm tù, ông được thả về. Lúc đó vào khoảng cuối năm 1948.

Từ đó, Tô Kiều Ngân bắt đầu hoạt động văn nghệ. Tác phẩm đầu tiên của ông là kịch thơ 4 màn “Ngã Ba Đường”, do ban kịch SÔNG Ô trình diễn trên sân khấu Huế. Tiền bản quyền tác giả đã giúp họ Tô mua được một chiếc xe đạp. Việc làm này đã chứng tỏ Tô Kiều Ngân là người rất căn cơ, không bừa bãi, thả lỏng, bốc đồng như hầu hết các nghệ sĩ khác. Ông là người biết điều hòa hai cuộc sống Nghệ sĩ và Thực tế.

Năm 1950 ông gia nhập quân đội. Năm 1952 ông đưa gia đình vào Nam. Tại đây, ông lần lượt viết cho các báo ĐỜI MỚI, NGƯỜI SỐNG MỚI, đồng thời ông cũng cộng tác với một vài tờ báo xuất bản tại Hà Nội như HỒ GƯƠM, GIÁC NGỘ…

Năm 1955 ông cùng Đinh Hùng và vài anh em nữa thành lập ban thi văn Tao Đàn trên đài phát thanh Sàigòn. Sau đó ông cùng Thanh Nam chủ trương tuần báo Thẩm Mỹ, rồi cộng tác với Sáng tạo, Văn Nghệ Tiền Phong, Tiểu Thuyết Tuần San v.v…

Ông thuộc loại viết nhanh và rất dễ dàng. Không kể ngày hay đêm, không cần bàn, ghế, bên máy in ông cũng có thể viết được. Ông nói: “Tôi viết theo hứng”.
Trích dutule.com
VŨ TRỌNG QUANG - VCV
vanchuongviet.org


Mời Thân hữu đọc Thơ Tô Kiều Ngân :



NHỚ HUẾ


Anh nhìn em như nhìn thấy quê mình

Ôi xứ Huế thân yêu chừ xa khuất

Nghe em ngâm những âm thanh trong vắt

Anh hình dung thấy bóng

Một con thuyền

Một giải sương mờ

Một khóm trúc nghiêng nghiêng…

Những kỷ niệm ngày xa xưa bừng dậy

Âm thanh ấy thoát từ câu mái đẩy

Tiếng "hò….ơ.." nghe đứt ruột, buồn sao

Biết mấy đau thương, cũng biết mấy ngọt ngào

Lưu luyến ngàn đời

Như không muốn dứt

Giàn mướp vàng con ong bay hút mật

Trưa thiu thiu chày giã gạo buồn tênh

Giọng hò ru em rười rượi cất lên

Em đã ngủ sao chị còn ru mãi

"À…a…ời..

Hai tay cầm bốn tao nôi

Tao thẳng,tao dùi, tao nhớ, tao thương"

Có phải trưa nay chị nhớ người thương

Nên mượn cớ ru em để ru lòng mình thương nhớ

Có phải ngàn năm thương thương, nhớ nhớ

Khiến tiếng đàn bầu thêm xé ruột bào gan

Tiếng Nam Ai rung tận đáy tâm hồn

Tiếng sáo Huế dài thêm thổn thức

Và tiếng em ngâm lơi lơi, dìu dặt

Chở buồn về vây phủ kín hồn anh

Bọn chúng mình bỏ Huế tha phương

Những thổ ngữ lâu ngày quên lững mất

Bỗng hôm nay em ngâm lên như nhắc

Ôi vui sao giọng Huế của quê mình

Tưởng như mình đang đừng ở Bao Vinh

Đang thơ thẩn bên bờ sông Gia Hội

Vỹ dạ , Kim Luông, Nam Giao , Đất mới…

Nghe thân yêu biết mấy tiếng quê ta

Nhớ giọng hò, điệu hát lời ca

Nhớ hường thầu đâu ngát đường Giao Thủy

Nhớ mái chèo khua bên bờ thôn Vỹ

Nhớ bánh bèo, cơm hến, nhớ chè sen

Nhớ phấn thông vàng rụng lối đi quen

Hột móc , hột muồng, trái sim, trái vả

Nhớ hồ Tịnh tâm thơm sen chiều hạ

Nhớ quít Hương Cần, nhớ cốm Hai lu

Nhớ bờ tre vọng mãi tiếng chim cu…

Ngâm nữa đi em bài thơ giọng Huế

Chúng ta sẽ đưa nhau về thăm quê mẹ

Bằng con thuyền êm ái của thanh âm

Ngâm nữa đi em, ngâm nữa đi em.

Cho vợi nhớ thương thầm….



Giọng Huế


Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức

Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài

Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm

Thêm mây vào e tan nát lòng ai

Anh quì xuống hôn lên đôi mắt đó

Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng

Chắc tại em ngồi bên anh thỏ thẻ

Tiếng quê hương xao động đến vô cùng

" Hèn chi rứa? răng chừ? em sợ lắm"

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như từng thương câu hát Huế êm đềm….

Cám ơn em đã cho anh nhìn lại

Giòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn

Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh

Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non


Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô..


Vườn Huế



Xanh mấy từng xanh vườn của Huế

Trúc, cam, chanh, khế, lựu, thanh trà…

Áo cổ y phơi ngoài giậu nắng

Mùi thơm bông mộc thoảng bay xa


Khuôn mặt em đâu phải chữ điền

Trúc không che ngang mà che nghiêng

Để anh mượn cớ đi qua đó

Liếc trộm ra về dạ mới yên


Em vẫn ra vào như bó mơ

Sớm mai vườn ướt đẫm sương mờ

Đến trưa hoa nắng thêu ngoài ngõ

Và tối trăng về đậm ý thơ.


Anh đi qua đó mấy trăm lần

Chỉ dám đi qua không dừng chân

Nghe tiếng đàn em vang thánh thót

Đủ cho lòng một thoáng bâng khuâng


Cho đến ngày em đi lấy chồng

Anh qua vườn chỉ thấy vườn không

Vườn xưa giờ vẫn xanh ngăn ngắt

Có thấu lòng ai buồn mênh mông.





Đưa em về thăm Huế



Rất tiếc chưa đưa em về thăm Huế

Bằng con tàu chạy suốt mấy ngày đêm

Để em ngắm những rừng dừa xoả tóc

Bãi cát vàng sáng mát dưới trăng êm.



Tàu vẫn chạy trong đêm khuya vằng vặc

Bóng Trường sơn lồng bóng biển chập chùng

Ngọn tháp Hời chơ vơ trên đỉnh núi

In một chấm buồn vào xanh thẳm mênh mông.



Em sẽ đi qua sông Trà, sông Vệ

Qua Ngũ Hành sơn, trèo núi Hải vân

Đi hết bãi Lăng cô, Thừa lưu, Nướt ngọt

Huế thân yêu mỗi phút một thêm gần.



Đã đến nơi rồi, quê hương anh đó

Xanh xanh xanh, xanh núi, xanh sông

Trắng nón bài thơ, vàng mơ nắng lụa

Gốc phố khoe tươi đóa phượng hồng.



Em hãy đứng lặng yên một phút

Soi bóng mình dưới mặt nước Hương giang

Em sẽ hiểu, câu trả lời đã rõ

Sao giọng ngâm anh êm ái dịu dàng



Chuyến đò Thừa phủ không còn nữa

Cây đa xưa cũng khuất dấu bên bờ

Mấy o áo trắng đi đường khác

Thiếu tiếng cười, sông nước cũng tương tư



Chuông Thiên Mụ vẫn sớm hôm dìu dặt

Ngọn trúc mềm vẫn ngày tháng đong đưa

Anh muốn thu tiếng chuông chùa huyền diệu

Mở cho em nghe, hoà với tiếng “Hò….ơ”



Để em thấy trong phút giây nào đó

Mình muốn tan ra cùng với tiếng chuông tan

Để nhập điệu vào tận cùng cái đẹp

Của Huế thân yêu, của Huế mơ màng.



Bà con mình bỏ Huế đi cũng lắm

Nhưng người về mỗi lúc một thêm đông

Đi hay ở vẫn thiết tha với Huế

Vẫn bao lần nghe Huế nhói trong tim



Người ta có rất nhiều nơi để đến

Chỉ một nơi thân thiết để quay về

Thắp một nén hương thăm người xưa cảnh cũ,

Đủ nghe lòng ấm lại mới tình quê.