Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

CA DAO Và THI CA II



                                 CA DAO Và THI CA  II
                              LÀ TRIẾT LÝ CUỘC ĐỜI
                                                                                                    Kính dâng giáo sư: Lê Tuyên.

      Nói đến ca dao và thi ca  cho ta một liên tưởng đến vũ trụ ngoại giới của con người, một cái nhìn khám phá mới giúp cho chúng ta bắt gặp vũ trụ nội giới; một dàn trải tâm lý giữa chủ thể và ý thức liên kết với nhau để trở thành một phạm trù văn chương, bởi trong sâu thẳm của tâm hồn phát sinh ra ngữ điệu để soi sáng nhận thức, thiết lập và chứng kiến sự lớn dần ’Au fond de chaque mot/J’assiste à ma naissance’ (A. Bosquet) Đó là những gì xuất thần để sáng tạo ra ngữ ngôn; đó là tri giác ngoại giới đã làm rung động nội giới, một thể hiện thường hay xẩy ra của con người trong mọi tình huống, trong mọi đẳng cấp khác nhau cùng khởi từ một tâm hồn trong sáng, một thức tỉnh sống dậy từ tiềm thức đi qua từ vũ trụ ngoại giới đến vũ trụ nội giới kết hợp thành ca dao hay thi ca.
Ca dao là nguồn cội của dân gian, thi ca là tầng lớp của văn học kết duyên để hòa hợp vào một ngữ điệu thông thường mà chúng ta bắt gặp một cách dễ dàng không còn là giới tuyến của văn chương. Nếu trong mỗi lối diễn đạt ’cao siêu’ của thi ca thì người ta không cần sự vật ngoại giới làm đối tượng mà chất liệu lấy từ nội giới để xây dựng hình tượng, ngược lại ca dao phải đi qua từ hình ảnh ngoại giới, dung hòa giữa nội giới đúc thành văn bằng biểu hiện qua ngữ ngôn nói lên tâm trạng và hoàn cảnh thích nghi một cách tự nhiên, một cách trong sáng hơn ’J’ai mes allumettes: les mots’(Henri Bosco). Đó là những chuyển biến để chúng ta thấy rằng, một vị trí nội tại bởi con người đặt mình trước cuộc đời như một nhập thể, một lối đi vừa tự nhiên vừa đương nhiên  là một gắn bó con người với vũ trụ giới, một tâm trạng mà trong suốt Đoạn Trường Thân Thanh Nguyễn tiên sinh không cho đó là hiện tượng mà là vai trò chủ thể đối diện với vũ trụ như định mệnh, một thứ ngữ ngôn được dung thông và cách mạng hóa vào mọi tầng lớp con người, xã hội và bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào:
                                                          ’Nói chi kết tóc xe tơ
                                                    Đã buồn cả ruột lại dơ cả đời’ (Kiều)
Thì đó; một lời ta thán, não nuột vốn đã có, hình ảnh đó không còn xa lạ mà đó là một tâm lý nội tại, gắn bó cho đối tượng một ý nghĩa vào đời là một thảm trạng ngao ngán, một thảm họa bi thương nẩy nở như ’The Birth of Tragedy’ (Nietzsche) liên hệ của ngữ ngôn mà thi ca đã xử dụng là một ý thức, một thứ ngôn từ biểu dương đối tượng, biểu dương hình ảnh và cũng là biểu dương tâm trạng, coi những câu thơ đương đại không còn trong phạm vi thơ mà nó vượt xa đến quần chúng như ca dao, dù là thảm họa bi thương nhưng đó là tâm thức , một tâm thức trách nhiệm con người:
                                                ’Quanh năm buôn bán ở ven sông
                                                  Nuôi đủ năm con với một chồng
                                                  Lặng lội thân cò nơi quãng vắng
                                                   Eo xèo mặt nước buổi đò Đông’ (Tú Xương).
Con người thi ca nhìn hiện tại nhiều hơn thấy vũ trụ ngoại tại, nó gây ra từ động lực ý thức nội tại ’innermost being’, đó là một thức tỉnh trực tiếp và hiện tại, từ ’hình ảnh’ đó biến thể ra ngôn từ, biến chất liệu để thành thơ, có đôi khi vượt thoát để xúc tác thành một ngữ điệu siêu lý thành thi-tứ một cách thông thường không còn xa lạ; không có lối đi, lối về, đẩy đưa như ca dao. Sở dĩ có trường hợp như vậy vì ca dao ’sống’ với ngoại giới vũ trụ, chiếm cứ một cách quan trọng trong sự khám phá của tâm hồn; cho nên người nghệ sĩ bình dân sáng tạo ra ca dao là nuôi dưỡng một ý thức ngoại giới sau đó du nhập vào nội giới để biến thành vần điệu. Thí dụ cái mơ trong ca dao là cái nhìn hiện vật nhưng biến hóa sự vật vào hiện tượng dung thông với tâm hồn. Hợp cảnh, hợp tình của ca dao đi vào người không còn là hình tượng mà hiện thực:
                                                      ’Mẹ già như chuối bà hương
                                               Như xôi nếp một như đường miá lau’ (ca dao phổ thông)
Hay:
                                                      ’Cá không ăn muối cá ương
                                                Con cải cha mẹ trăm đường con hư’... (ca dao phổ thông)
Đó là tiếng khua động nội tại nhưng ca dao không có hình tượng gần gũi thì ca dao không còn thi vị hóa. Vì vậy vũ trụ ca dao là một hòa nhập nhất thể tuy có hình tượng, nhưng hình tượng chỉ là mệnh đề phụ cho bản ngã tức chủ thể nội tại. Francis James có lần nói: ’tôi không thể nào có được một tình cảm, nếu không có trái ngọt hay sự vật ngon miệng...’ vị chi cái nhìn như thế là cái nhìn của ca dao, không phải cái nhìn tưởng tượng hay đòi hỏi mà cái nhìn sâu xa, chung thủy giữa con người(nghệ sĩ sáng tạo)với mối tương giao thiên nhiên  để biến mình thành hiện hữu,một hiện hữu hiện sinh trong ca dao:
                                      ’Con cua anh không sợ, anh sợ con còng
                           Kẻ tiểu nhân anh không sợ, anh sợ gái hai lòng hại anh’(ca dao Nam bộ).
Rõ ràng ngôn từ như thế là một biểu thị để thăm dò tình yêu chân thật, lối diễn tả của ca dao mang nhiều tính chất nhân thế mà con người là một tiếp cận hiện hữu với thiên nhiên, xử thế như một tiến trình của vũ trụ; chính nhờ vũ trụ mà con người thấy được hình ảnh của tâm trạng, hay nói cụ thể hơn vạn vật của vũ trụ là đối tượng thích ứng trong ca dao và thấy được tâm trạng trên vũ trụ. Linh hồn của ca dao nó biến hóa một cách linh diệu, ca dao là trực diện, một ẩn dụ sâu xa, một diễn tả thẩm mỹ của ca dao Việt Nam, nhìn ra ca dao là tác động tự khởi ’motility’. Không!ca dao là cảm thức trực tiếp với hoàn cảnh, đầy đủ chất liệu thơ để chứng tỏ sự ngay thẳng, thật thà, phản ảnh cả tâm hồn ăn ngay nói thật’ không mộng mị, không đạo đức giả. Tưởng như rào trước đón sau. Mà đó là một xác quyết có mục đích ’for decidedly different purposes’. Giữa thi ca và ca dao trở thành gia-huấn-ca:
                                                 Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi’ (Kiều)
                                                 ...
                                                    ’Hải đường mơn mởn cành tơ
                                             Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng’
                                                  Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng
                                           Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng? (Kiều)
Đó là mối giao kết giữa người với đời, giữa người với thiên nhiên là hai hình tượng quấn quýt bên nhau được đưa vào vũ trụ của thi ca , mà chính hai sự thể đó là chuỗi liên trình nằm trong mơ, cái mơ tuyệt diệu, thẩm mỹ, tránh cái viễn tượng cuộc đời lố nhố, lăng nhăng, khó mà có cái nhìn tương giao hội ngộ, dù có ’hoa chào ngõ hạnh’ rồi đi tới cái cảnh ’hoa cười gió đông’ tất thảy đều nằm trong vũ trụ nhân sinh, một thế giới phủ phàng mà Tố Như tiên sinh hầu như trải dài đến 3254 câu thơ là cả một gắn bó đời mình vào đó, như một thổn thức chất chứa triết lý nhân sinh . Bởi thi ca cũng như ca dao đều có ý thức từ sự vật, khám phá tự chính mình mà trở thành đối tượng chủ thể, nghĩa là chủ thể nghi ngờ đời không thật lòng, cho nên chi gắn bó ở đây là tế nhị, sâu xa để trở nên siêu hình. Siêu hình chủ-thể-đối-tượng và siêu hình chủ-thể-tìm-thấy mình trong lòng đối tượng. Nguyễn Du đưa thi ca vào hai lãnh vực chủ thể và tha thể. Một thứ thi ca vượt thời gian. Một thái độ hiện sinh trong vai trò độc lập của con người, đó là lòng khao khát tự do.Tự do trong một tình nghĩa cao đẹp. Nguyễn Du khao khát tự do!
                                                 ’Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
                                                Dầu hao thiếp rót đèn mờ thiếp khêu’ (ca dao phổ thông)
Con người luôn có một dự phóng về tương lai, tức là dựa vào vũ trụ mơ ước, nhìn thực thể của đối tượng là thấy được hoài vọng, một tâm thức trở về của cõi mộng là bình diện của hiện hữu, đó là một giao liên ngấm ngầm của con người, một ý thức tri giác là hy sinh để có hoài vọng; tư duy đó cho ta một nhận thức khác của ’Cartian’ là ’cogito/ego/self’ nằm trong định đề của Descartes :’Je pense, donc je suis’ cái tư duy riêng mình là hiện hữu, một hiện hữu của sự mơ về, không phải mơ về trong chiêm bao mà mơ về với hy sinh, chịu khổ, chịu cực cái mơ của hiện thực.
Ca dao đứng trên bình diện diễn đạt của ngôn từ là một lối về của mơ, một ước ao tiềm ẩn nhưng mang nặng hình thái nghệ thuật, không vượt quá cái nhìn tâm thức mà muốn sự vật trở nên vô ngã mà ở đây là cái nhìn đồng hóa được tìm thấy trong vật thể:
                                                           ’Ước gì em hóa ra dưa
                                                Để anh đem rửa nước mưa chậu đồng
                                                           Ước gì em hóa ra hồng
                                                   Để cho anh bế anh bồng trên tay’ (ca dao phổ thông)
Một lối đối đáp bình dân đơn điệu, nhịp nhàng cân đối, có thể, có cách; tuy nhiên trong dáng vẻ đó đã thoát ra vẻ đẹp nội giới, đó là trạng thái tâm hồn. Vậy thì ca dao ngoài sự bộc bạch của vũ trụ ngoại giới còn có nhiệm vụ tiêu diệt ’ngã’ để đi tới vô-ngã-vũ-trụ. Do đó cái vô ngã của sự vật ngoại giới không còn một vô ngã thuần lý của triết học mà chính cái vô ngã của đòi hỏi yêu cầu, ao ước, cả hai đặc trưng nầy dành cho chủ thể, một thứ vô ngã tình cảm xóa mờ cái bản ngã tự tại sự vật. Nhưng với con mắt triết học thì có cái nhìn thâm hậu hơn, nhìn bằng ý thức, bằng tri giác hiện hữu; đó là cái nhìn hiện sinh: vừa thực thể vừa hiện hữu ’existenz/da-sein/being’. Ở đây không có khoảng cách không gian và thời gian mà chỉ có một thể của hiện hữu là cốt tủy; thi ca và ca dao sống động là nhờ đó.Ngoài ra tạo được một sự tương hợp thiết tha để tìm thấy được triết lý nhân sinh nằm trong ngữ ngôn. Vì vậy cái nhìn của thi-nhân hay cái nhìn của nghệ-sĩ-ca-dao đều mang nặng tính chất mơ về ’dreaming-day’ Tại sao? Cái nhìn của họ thực nhưng phi-thực nghĩa là từ bản ngã hóa ra vô ngã vì tất cả hình tượng, vật thể bị đồng hóa để nhập vào nội cung của tâm hồn ’innermost’. Thử lấy ra một câu ca dao bình dân để thấy được hiện hữu nhân sinh, bao gồm không gian hình tượng, không gian hiện thực và một không gian hiện sinh đích thực gói trọn trong ca dao lục bát; một bày tỏ xót xa, một thân gái dãi dầu, chịu nắng chịu mưa, rõ ràng từ ’ngã’ bước sang ’vô ngã’ để đi tới KHÔNG. Do đấy; thế giới của người nghệ sĩ ca dao không nói lên hiện hữu của mình mà ở đây là một liên đới hiện hữu giữa người và vật:
                                                        ’Thân em như hạt mưa rào
                                                Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa’ (ca dao phổ thông).
Đi sâu vào lòng đất của Nguyễn Tiên Điền ta tìm thấy được những gì là bi thương của thân phận, người đã triết lý hóa thân phận làm người như chứng minh một hiện hữu có thực, một chấp nhận thương mong của người phụ nữ, phản lên một tiết điệu hiện sinh:
                                                          ’Vội chi liễu ép hoa nài
                                                    Còn thân ắt lại đền bồi có khi’ (Kiều)
Một lý lẽ khác; chuẩn mực hơn là trong các nhận định văn hóa ta thấy ít nhắc đến: là người nghệ sĩ tuyệt đối không chiếm cứ vũ trụ, nghĩa là không chiếm cứ sự vật ngoại giới để nằm lòng như vai trò ngoại nhân ’outsider/L’Étranger’ mà chiếm cứ vũ trụ như một phản kháng nội tại. Cảm nhận nầy nó trở thành ’truyền thống’ cố hữu của những thi nhân,
không những riêng ở ta mà khắp mọi nơi. Nhẹ nhàng một câu để thấy siêu thực:
                                                       ’Mai chẳng bẻ thương cành ngọc
                                                          Trúc nhặt vun, tiếc chiếu rồng’ (Nguyễn Trãi)
Vô biên! siêu đẳng ’transcendence ’ cốt tủy của thi ca nằm gọn trong ngần ấy, có cần so sánh những Homère, Nietzsche, Heidegger, Hoelderlin, Sartre hay Camus...(?) Thi ca như vậy là trọn gói. Ấy là điều cho ta thấy rằng giữa người, vật và không gian chỉ là điều tương hợp. Thi ca và ca dao không nặng tính chất chiếm cứ như tư tưởng văn học Tây phương, ngược lại ở đây thi nhân và nghệ sĩ dung thông cùng vũ trụ ngoại giới như hoà nhập vào một cảm thức nội tại. Nói chung thi ca hay ca dao là khát vọng. Cụ Tiên Điền cũng khát vọng! Để được thổn thức, để được khóc sau hơn ba thế kỷ đợi chờ(!) Và; chính nhờ vào thi ca, ca dao hai ’nhân cách’ nầy cùng khám phá một khát vọng vũ trụ. Bởi cái đẹp của cuộc đời cũng như cái đau khổ của con người là một liên hệ tương giao, hợp thông để nói lên khát vọng; đó là khát vọng dự ước, khát vọng tồn lưu. Một định đề mà con người ở bất cứ thời nào, hoàn cảnh nào cũng phải nhận một sự hòa hợp đương nhiên như thế :
                                                 ’Trăm năm trong cõi người ta
                                              Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
                                                      Trải qua một cuộc bể dâu
                                           Những điều trông thấy mà đau đớn lòng’ (Nguyễn Du/ĐTTT)
Đó chính là khát vọng mơ về, mơ về vũ trụ sơ khai như định mệnh an bài là phải nhận một bi kịch đời ’tragety of the birth’ là cái nhìn nhân thế: ’dans les rêveries cosmiques primitives, le monde est corps humain, regard humain, souffle humain, voix humaine’.
(G. Bachelard). Vũ trụ của sự vật là biểu hiện của nhắn gởi, vì xót xa cùng thân phận:
                                                     ’Bầu ơi thương lấy bí cùng
                                         Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn’ (ca dao phổ thông)
Nghệ sĩ ca dao đưa câu văn bình dân để trở thành thơ, bởi ngữ ngôn trong thơ là cái nhìn khát vọng hiện hữu, nói lên tâm trạng con người, ca dao nhân cách hóa thiên nhiên, sự vật là tiếng nói trung thực và là sự thật hiển nhiên c’est la vérité. Đó là lối về của ngữ ngôn, để nói lên sự thật của hiện hữu và cũng là biểu dương hiện hữu lịch sử. Một hiện hữu soi sáng ’éclaircie de l’Être’. Một thức tỉnh đáng nể của Martin Heidegger : ‘la vérité de l’être et sur l’histoire de l’être. Ce qui compte, c’est uniquement que la vérité de l’être vienne au langage et que la pensée atteigne à ce langage’(L’Hummananisme). Đấy không phải là những gì trừu tượng mà con người chưa bắt gặp ; đó chính là những thực hữu mà con người đang sống. Thành thử vũ trụ khát vọng của ca dao là một vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để đi tới khát vọng ; do đó ca dao là tiếng kêu chân thành của con người yêu đời, yêu người  là nhịp đời có thực . Ca dao không cầu kỳ,viễn vông còn thi ca là chứa đựng hình ảnh để biến hóa qua ngôn từ để nhập vào tư duy nội thể, nó không có chi là ảo tưởng mà cõi thực trong hình ảnh. Tựu chung ca dao hay thi ca đều nói lên cái chân lý hữu thực. Miêu tả dưới dạng thức chủ thể nhận thức. Vì vậy thi ca và ca dao có những cái mơ mộng, lãng mạng của cõi đi về ;ca dao không mộng ảo, không viễn vông, thi ca thì mộng nghe qua thì ảo nhưng thực. ‘trăng thanh gió mát là tương thức / Nước biếc non xanh ấy cố tri’(Nguyễn Bỉnh Khiêm). Cả hai đều có chân lý của nó.
                                                    ‘Sáng trăng trải chiếu hai hàng
                                                  Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ
                                                           Quay tơ phải giữ mối tơ
                                                   Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh’(ca dao phổ thông)
Cho nên phải hiểu rằng ca dao chứa tính cách biểu dương hơn là miêu tả, nó phản chiếu một hiện hữu trong sáng của hạnh phúc, sự cớ như thế cho ta nhận ra được khát vọng của con người. Có một lối biện chứng triết học : khát vọng đó là tâm trạng trong mỗi tình cảm, nhưng cái nhìn triết học  là cái nhìn bao hàm trước một thái độ, trước một biến dịch đổi thay để có khát vọng. Đấy là tất cả cái đau xót của con người đứng trước sự kiện, đứng trước thảm họa, cho nên chi cái nhìn của thi ca và ca dao là một tương quan giữa đời và người : ‘Những điều trông thấy mà đau đớn lòng’ hay ‘Đau đớn thay phận đàn bà’,
hoặc ‘Đồng bao nhiêu lúa thương chồng bấy nhiêu’ từ cái đau phải nhận và khát khao thương mong phải chấp, cả hai đều đồng nghĩa của thân phận. Vì thế ; có lẽ chúng ta nên nhìn cuộc đời khác cái nhìn tâm lý học. Triết học đứng lại trong hình thái của đối tượng tha nhân. Mặc khác cái nhìn của thi ca và ca dao nhìn vật thể trong vũ trụ ngoại giới mang sắc thái TỊNH và từ trong cõi tịnh thi ca, ca dao mới thấy được hiện hữu của vật thế để du mình vào chủ thể. Vì cõi tịnh của thi ca, ca dao là cõi phi của ngữ ngôn ; tức thơ.

Qua sự phân tách ca dao và thi ca tưởng như là hai thái cực, mỗi người mỗi phương , chạy mãi trên một tuyến đường không bao giờ gặp nhau ; nhưng không ! tụ điểm vô cực bắt chúng ta phải gặp nhau của hai hành trình : ca dao và thi ca ; cả hai hòa nhập vào một vũ trụ ngoại giới, một kích động đưa tới vũ trụ nội giới. Dù đứng ở giới tuyến nào vũ trụ thiên nhiên của thi ca và ca dao là nhân chứng của hiện thực và thể hiện được tâm trạng khát vọng. Vị chi giữa hai giòng siêu thực của ca dao và thi ca là một chiếm cứ của mơ về để đi tới ‘tuyệt đối như nhiên’. Những chiếm cứ ấy không phải là khuôn phép, rập khuôn nó chỉ đến một lần trong đời mỗi khi ý thức và hội nhập, đồng lõa với bản thể (hiện thể) và hiện tượng dung thông là một tập kết cho hai luồng tư tưởng nêu trên. Xuất thần đầy sáng tạo một cách tuyệt đối để thành thơ, không thể tái tục hai lần trên một dòng sông –Aimez ce que jamais on ne verra deux fois. Phải chăng đó là chặng đường của ca dao và thi ca, mà bản thân chúng ta cũng đang trên đoạn đường đó…
Để kết thúc bài nhận định về ca dao và thi ca  thời chúng ta xếp cả hai vào một thể loại chung là thơ : thơ bình dân và thơ văn chương mà mỗi vị trí đều có cách riêng của nó.
Nói cho ngay ca dao hay thi ca nó có đất đứng (ground/concrete) vững chắc từ xưa đến nay là điều bất khả tư nghị.Tất nhiên là tuyệt đối dù cho là tương đối chăng nữa ./.

                                                                     ***
VÕ CÔNG LIÊM (ca. ab. tiết đạihàn 1/2013)


+ BÀI ĐỌC THÊM :
-          ‘Cái Tình Trong Ca Dao I’ 10/2009 vcl.
-          ‘Thiền Thơ Trong Thi Ca’ 9/2008 vcl.

TƯỞNG NIỆM PHẠM DUY

Du t ôm nốt nhạc
         
nốt nhạc biếc xoay quanh hành tinh xanh
du tử gãy đàn hương sắc vây quanh
hạt cát sông Hồng hóa thành quang tử
bay ngút cao ngắm nghía vĩnh hằng
 
Phạm Duy đòi về bến nước Cửu long
muốn xuôi sông Sein thăm thêm bạn gái
du tử một đời chưa thỏa hoài mong
giang hồ ngàn năm không thèm dừng lại
 
Pham Duy nhớ con ghé lại  Cali.
viết bài ca buồn cho đứa vội đi
viết tình khúc gửi người xưa ca sĩ
ai hát mà đảo ngược được chia ly?
 
 
du tử lang thang khắp chốn thiên đường
lại quay về miệt vườn tược quê hương
ôm nốt nhạc chạy vòng quanh trái đất
rồi rớt xuống hoa hồng mấy  giọt sương…
                            
 28/01/2013 
Triệu Từ Truyền

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

NHẠC SĨ PHẠM DUY ĐÃ RA ĐI ...

 Chủ nhật, 27 tháng 1, Phạm Duy, nhạc sĩ được nhiều thế hệ người Việt mến mộ, đã qua đời tại Sài Gòn sau thời gian nằm bệnh viện, thọ 92 tuổi.

Phạm Duy (5 tháng 10 năm 1921 - 27 tháng 1 năm 2013 )tên thật Phạm Duy Cẩn là một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà nghiên cứu nhạc của Việt Nam. Ông được coi là một trong những nhạc sĩ lớn của nền Tân nhạc với số lượng sáng tác đồ sộ và đa dạng về thể loại, trong đó có những bài đã trở nên rất quen thuộc với nhiều thế hệ  người Việt. Ngoài sáng tác, Phạm Duy còn có nhiều công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam có giá trị. Ông cũng từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Mặc dù vậy, các quan điểm nhìn nhận về Phạm Duy còn gây nhiều tranh cãi.
Khởi sự đời nhạc trong gánh hát Đức Huy với vai trò ca sĩ hát lưu động. Từng tham gia Kháng chiến chống Pháp một thời gian trước khi vào miền Nam để tiếp tục tự do hoạt động âm nhạc. Phạm Duy là một tên tuổi lớn và đầy ảnh hưởng tại miền Nam Việt Nam với những hoạt động tích cực giành cho cả âm nhạc lẫn chính trị, cho đến sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, khi ông vượt biên sang Hoa Kỳ.
Năm 2005, ông về Việt Nam định cư và một số ca khúc của ông mới bắt đầu được cho phép phổ biến. Tính cho đến nay, có hơn 50 ca khúc trong số hàng nghìn sáng tác của Phạm Duy được cấp phép.
Nhạc sĩ Phạm Duy xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới hồi đầu thế kỷ 20. Anh là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine.
Sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 (5 tháng 9 năm Tân Dậu) tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi, học không được giỏi và thường bị phạt. Đến khi 13 tuổi (1934) vào được lớp nhất, ông học giỏi lên dần, thành một trong những học sinh ưu tú của lớp, nhất là môn đọc thơ tiếng Pháp.
Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, một trọng điểm trong thời kỳ kháng chiến. Thầy dạy ông có Võ Nguyên Giáp, còn trong đám bạn cùng lớp có nhà thơ Quang Dũng.
 Năm 1940, nghe lời bè bạn, ông thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, học thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng... nhưng ông không có năng khiếu nhiều và không ham vẽ cho lắm. Thời kỳ này ông ca hát nhiều hơn là vẽ tranh.
 Năm 1942 ông có sáng tác đầu tay "Cô hái mơ".
 Năm 1944, ông thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt, ngoài ra tự nhiên cũng trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong việc phổ biến tân nhạc đến các vùng. Thời kỳ hát rong, Phạm Duy được gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông... và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành bạn thân thiết.
Sau đó ông khởi sự con đường âm nhạc của mình với việc trở thành ca sĩ trong gánh hát Đức Huy, đi diễn lưu động từ Bắc qua Trung vào Nam trong những năm 1943-1945. Ông là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.
 Năm 1945, xảy ra nạn đói, Phạm Duy rời nhà cũ đi lang thang nhiều nơi, sau đó ông theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Phạm Duy trở thành cán bộ văn nghệ của Việt Minh và là một trong những nhạc sĩ thành công nhất lúc đó. Thời kỳ này, bên cạnh tài năng được khen ngợi, thì xu hướng lãng mạn của Phạm Duy bị cho là tiêu cực, nhiều bài hát của ông bắt đầu bị xét duyệt, cấm đoán. Sau do không chịu sự quản thúc ngặt nghèo, ông đã rời bỏ Việt Minh về thành. Từ đó tác phẩm của ông bị cấm phổ biến trong vùng kiểm soát của Việt Minh, cũng như ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Năm 1949 ông lập gia đình với ca sĩ Thái Hằng.
Năm 1951, ông đem gia đình về Sài Gòn.
Năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long. Nhạc Phạm Duy phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam (mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi là "bàng bạc khắp mọi nơi" thời bấy giờ). Thời gian này ông có những hoạt động trong ngành điện ảnh
Từ sau 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình cư ngụ tại Thành phố Midway, Quận Cam, California.
Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký, khi hoàn tất chia làm 4 cuốn.
Năm 1999, vợ ông là bà Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, lần đầu về thăm quê hương sau 25 năm lưu lạc, ông gặp gỡ nhiều bạn cũ ở Việt Nam.
Tháng 5 năm 2005, ông trở về Việt Nam, sống cùng các con trai Duy Quang (ca sĩ), Duy Cường. Tháng 7 cùng năm, có 9 nhạc phẩm của ông được phép lưu hành ở Việt Nam; tháng 11, được phép lưu hành thêm 10 tác phẩm nữa. Tính đến nay (tháng 8 năm 2007) đã có hơn 40 tác phẩm của Phạm Duy được phổ biến tại Việt Nam, tính cả các đoản ca trong "Trường ca con đường cái quan".
Phạm Duy là người đầu tiên đem ca khúc Buồn tàn thu của Văn Cao đi khắp mọi miền đất nước. Ông từng có đóng góp vào những tác phẩm của Văn Cao, như cùng đặt lời, viết nhạc cho Bến xuân, Suối mơ. Hai người thường được biết đến như là một đôi bạn thân thiết, có một tình bạn kéo dài nửa thế kỷ, dù đi theo hai con đường đối lập nhau. Họ quen nhau tại Hải Phòng năm 1944. Trong hồi ký của mình, Phạm Duy tả về Văn Cao:
 "Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. Chắc chắn là đứng đắn hơn tôi. Lúc mới gặp nhau, anh ta chưa dám mày-tao với tôi, nhưng tôi thì có cái tật thích nói văng mạng (và văng tục) từ lâu, kết cục, cu cậu cũng theo tôi mà xổ chữ nho. Nhưng Văn Cao bản tính lầm lỳ, ít nói, khi nói thì bàn tay gầy gò luôn luôn múa trước mặt người nghe. Anh ta thích hút thuốc lào từ khi còn trẻ, có lần say thuốc ngă vào tay tôi. Về sau, anh còn nghiện rượu rất nặng.
Hai người trở thành đôi bạn thân, thường giúp nhau sáng tác nhạc và ra vào những chốn ăn chơi, sau đó còn rủ nhau theo kháng chiến.
Đến năm 1949, Phạm Duy dinh tê về Nam còn Văn Cao ở lại với cách mạng. Bị cấm liên lạc từ đó đến 1987, khi Phạm Duy ở Hoa Kỳ, Văn Cao ở Việt Nam, họ mới liên lạc với nhau được bằng thư tay, qua một số người Việt kiều. Hai người vẫn xưng hô mày, tao như hồi xưa. Sau này vợ chồng Phạm Duy và vợ chồng Văn Cao còn được nghe giọng nói, xem cử chỉ của nhau bằng tin nhắn qua băng video do cô Nam Trân, một phóng viên truyền hình ở hải ngoại giúp đỡ
Năm 1995 Văn Cao mất, nhưng phải đến 2001 Phạm Duy mới viếng mộ được. Trong lần đầu trở lại quê hương, ông đă cầm một chai rượu rưới lên khắp mộ người bạn chí cốt  .
Năm 1942, khi còn đang hát cho gánh hát Đức Huy, Phạm Duy cho ra đời tác phẩm đầu tay Cô hái mơ, phổ nhạc cho bài thơ Cô hái mơ của Nguyễn Bính. Năm 1944 đến bài hùng ca Gươm tráng sĩ, là bài hát đầu tiên ông viết cả lời lẫn nhạc.
Thời kháng chiến Nam bộ (1945–1946) ông chơi thân với Văn Cao, ngoài việc cùng ra vào chốn ăn chơi, ông và Văn Cao còn giúp nhau trong phương diện sáng tác (chẳng hạn một số ca khúc của Văn Cao do ông đặt lời, như bài Bến Xuân). Những nhạc phẩm đầu tay của ông có nhiều hùng ca: Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu... Bên cạnh đó còn có nhạc tình lãng mạn, trong đó có nhiều bài giúp ông trở nên nổi tiếng: Cây đàn bỏ quên, Khối tình Trương Chi, Tình kỹ nữ, Tiếng bước trên đường khuya...
Năm 1947, Phạm Duy bắt đầu sáng tác nhạc âm hưởng dân ca với mong muốn xâm nhập sâu vào chốn thôn quê hơn, từ đó cho ra đời nhiều bài mà ông gọi là "Dân ca mới", rất được đông đảo quần chúng yêu thích: Nhớ người thương binh (1947), Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Người lính bên tê, Tiếng hát sông Lô, Nương chiều... Những bài này được ông sáng tác dựa trên 2 tiêu chí:
 Nét nhạc vẫn dùng âm giai ngũ cung cố hữu nhưng áp dụng nhạc thuật chuyển hệ làm cho giai điệu không nằm chết trong một ngũ cung nào đó như trong dân ca cổ mà chạy dài trên nhiều hệ thống ngũ cung khác nhau;
 Lời ca tuy nằm trong thể thơ lục bát, nhưng có nhiều khi được biến thể, do đó tiết điệu cũng theo âm tiết của lời ca mà trở nên phong phú hơn
Từ năm 1948, bên cạnh những bài có sắc thái tươi vui như: Gánh lúa, Đường ra biên ải... Ông có sáng tác thêm một thể loại mới: nói về sự đau khổ của những người sống trong chiến tranh. Những bài như: Bao giờ anh lấy được đồn tây (sau đổi thành Quê nghèo), Bà mẹ Gio Linh, Về miền Trung, Mười hai lời ru... đều có hình ảnh làng quê và người dân quê nghèo khổ.
Những bài hát này tuy được quần chúng yêu thích và phổ biến rất rộng rãi, nhưng do nói về sự bi, sự khổ mà Phạm Duy bắt đầu bị sự chỉ trích của cấp trên thời kháng chiến, ông bèn về miền Nam để tự do sáng tác. Năm 1952, bài Tình hoài hương ra đời, khởi xướng cho xu hướng sáng tác "Tình ca quê hương", sau đó là Tình ca; hai bài này được yêu thích từ Nam ra Bắc và nằm trong những tác phẩm tiêu biểu nhất nói về quê hương, với những câu như: "Quê hương tôi có con đê dài ngây ngất, lúc tan chợ chiều xa tắp, bóng nâu trên đường bước dồn, lửa bếp nồng, vòm tre non làn khói ấm hương thôn" (trong Tình hoài hương), "Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi, mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi! tiếng ru muôn đời" (trong Tình ca).
Tiếp đó ông trở về thể loại dân ca mới với những bài Đố ai, Nụ tầm xuân, Ngày trở về, Người về, Tình nghèo... Bên cạnh đó là Thuyền viễn xứ, Viễn du nói về sự chia lìa quê hương. Bài Hẹn hò nói về sự ngăn chia đôi lứa, ông dùng nhạc ngũ cung giọng Huế. Ngoài ra còn có: Xuân ca, Dạ lan hương, Xuân thì... Năm 1954, ông chuyển từ nhạc tình ca quê hương sang tự tình dân tộc, soạn ra Bà mẹ quê, Em bé quê, Vợ chồng quê, trong đó có Em bé quê với những câu đầu lấy trong sách giáo khoa Quốc Văn, được trẻ con thuộc như bài đồng dao. 
Sau khi sang Pháp du học âm nhạc, ông sáng tác thêm được nhiều bài giá trị, ban đầu vẫn là "Dân ca mới", lại có thêm nhiều tác phẩm ca ngợi tình yêu đôi lứa mà phổ biến nhất phải kể đến "Đừng xa nhau", "Ngày đó chúng mình", "Tìm nhau"...
Lúc này ông sáng tác tự do theo nhiều chủ đề, những bài hát như nói về tâm tưởng '"Chiều về trên sông", "Một bàn tay", "Tạ ơn đời", "Đường chiều lá rụng", "Nước mắt rơi"... được Thái Thanh, Kim Tước, Quỳnh Giao thể hiện thành công; nhất là ca sĩ Thái Thanh, em của Thái Hằng, tên tuổi của bà đã gắn liền với những tác phẩm "Dân ca mới" và nhạc tình của Phạm Duy.
Năm 1973, lúc Phong trào Nhạc trẻ lên cao, ông cùng với ca sĩ Thanh Lan và nhạc sĩ Ngọc Chánh đi dự Đại hội âm nhạc Quốc tế tại Tokyo, Nhật. Bản Tuổi biết buồn của ông được lọt vào vòng chung kết.
Tại Hoa kỳ, thời gian đầu ông sáng tác một số ca khúc nói lên nỗi buồn tha hương, cũng như đả phá chế độ tại Việt Nam, những bản nhạc đó được phổ biến trong băng nhạc Phượng Nga. Nhưng sau này ông sáng tác những bài tình ca trở lại. Đáng kể nhất trong thời gian ở hải ngoại là bộ Minh họa Kiều (phổ nhạc truyện Kiều), Trường ca Hàn Mặc Tử, Hương Ca
Sau nhiều lần về thăm quê hương, Phạm Duy chính thức trở về định cư tại Việt Nam ngày 17 tháng 5 năm 2005, với sự cho phép của chính phủ Việt Nam. Sự kiện này được truyền thông trong nước lẫn hải ngoại quan tâm đặc biệt. Báo chí Việt Nam nhận xét đó là "nhịp cầu nối quê hương với người Việt xa xứ", "niềm vui thống nhất lòng người", còn Phạm Duy nói cuộc trở về này là "lá rụng về cội". Bên cạnh đó, sự kiện này còn gặp phải sự phản đối của người Việt hải ngoại, vì họ cho rằng ông đã về phe cộng sản.
 Công ty Phương Nam cũng nhân dịp này, đã đứng ra mua bản quyền toàn bộ nhạc phẩm của Phạm Duy trong vòng 10 năm với giá hơn 400 nghìn đôla .
 Năm 2006, Phạm Duy tổ chức đêm nhạc mang tên "Ngày trở về" tại nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh, đêm nhạc tổ chức quy mô hoành tráng, được công chúng đón nhận nhiệt liệt. Một số nhân vật đã phản đối sự đón nhận này, trong đó có nhà báo Nguyễn Lưu với bài "Không thể tung hô" đăng trên báo Đầu tư. Tuy nhiên bài viết của Nguyễn Lưu vấp phải sự phản đối của nhiều độc giả, bị cho là mắc nhiều "sai lầm ngây ngô", và những "lỗ hổng kiến thức chết người". Công ty Phương Nam cũng phản hồi bài viết này bằng một bài báo, trong đó nội dung phần lớn để cải chính những kiến thức sai lầm trong bài của Nguyễn Lưu. Sau đó báo Đầu tư đã thông báo chấm dứt tranh luận về vấn đề này.
Nhiều đêm nhạc Phạm Duy khác với quy mô lớn tiếp tục diễn ra: Con đường tình ta đi, Ngày trở về tại nhiều tỉnh miền Trung, những đêm giới thiệu Minh họa Kiều tại miền Bắc.. Tháng 3 năm 2009, đêm "Ngày trở về" đã tổ chức thành công ở nhà hát lớn, Hà Nội, nơi ông sinh ra, "Xong buổi diễn, tôi mới thực sự là người về hưu" - ông phát biểu . Ngày 18 tháng 8 năm 2011 ban liên lạc họ Phạm tại Tp Hồ Chí Minh và công ty TNHH họ Phạm Phương Nam tổ chức đêm nhạc Họ Phạm với chủ đề: "Mọi trái tim - một tấm lòng" cũng mời ông và nhạc sĩ Phạm Tuyên đến dự.

Ông qua đời tại Sài Gòn vào ngày 27 tháng 1 năm 2013 do bệnh tim tái phát, một tháng sau cái chết của con ông là ca sĩ Duy Quang.

NGUYỄN MIÊN THẢO
 nguyenmienthao.blogspot.com

Phạm Duy, lá rụng về cội!

 

Hôm nay, khi tôi viết những dòng không phải để tưởng niệm cũng không phải để ôn lại kỷ niệm nào với Phạm Duy  thì năm âm lịch đã cạn kiệt. Tôi nghĩ đến những đĩa đèn dầu lạc không có bóng, chỉ một cái đĩa nông sờ và ngọn bấc lấy từ ruột của một loại cây thân như rau muống để làm thành một vùng sáng màu vàng ệch mà tôi vẫn thấy hàng đêm khi còn nhỏ ở nhà quê. Hồi ấy quê nhà tôi không nghèo xác xơ như “quê nghèo” trong nhạc của Phạm Duy mà vì thời đó người ta chỉ mới tiến tới được mức ấy trong việc tạo ánh sáng về ban đêm. Chỉ những nhà giàu có như gia đình tôi mới có hai loại đèn gọi là đèn bão thắp bằng dầu hỏa để đi ngoài gió và đèn măng xông sáng trưng khi nhà có lễ lạt chi đó. Còn trong các phòng là đèn dầu lạc tỏa ánh sáng kiêm chức năng đồng hồ, một đĩa cạn thì…đi ngủ!
       Hình ảnh và cảm xúc mà tôi còn nhớ về đĩa đèn dầu lạc là nó cạn trông thấy theo thời gian, cạn dần thành leo lét và tắt hẳn. Mười năm trước khi cha tôi ra đi ở tuổi 97 tôi cũng có cảm giác không buồn thương mà chỉ như ngọn đèn đã tới lúc hết dầu. Nhắc lại là vì có một liên tưởng khi nghe tin Phạm Duy tạ thế. Trong ca dao hay trong Kiều có hai câu “Đêm khuya thắp ngọn dầu đầy/ Đĩa dầu vơi nước mắt đầy không vơi”, còn ở đây, hôm nay tôi nghĩ không có “nước mắt” trong cái chết tự nhiên của Phạm Duy. Những gì tôi biết được về người nhạc sĩ hết sức tài hoa này là ông là người  lạc quan và đa tình, một người như thế sẽ không cần đến nước mắt, ông chỉ cần chất liệu cuộc đời để viết nên những bài ca bất tử kia.
       Về mặt tuổi thọ, tôi không tìm đọc Phạm Duy ra đi ở tuổi chính xác là bao nhiêu, tôi chỉ có cảm giác là trời đã qua đêm và đĩa dầu muốn hay không muốn cũng tới lúc cạn. Hôm nay Phạm Duy từ trần, ông không ra đi, cũng không mất mà chỉ từ trần thôi. Một gia tài âm nhạc đồ sộ lấp lánh như thế làm sao khiến con người ấy “mất” như cách nói thông thường khi có ai đó từ trần?
      Vả làm sao lại bi thương tiếc xót khi Phạm Duy mất trong lúc cuộc đời ông và những bản nhạc ông để lại cứ âm vang dìu dặt suốt gần một thế kỷ nay và nó là “cái đĩa” trong ngọn đèn gồm ba thứ là đĩa, dầu, và lửa, những cái bóng hắt lên tường trong đêm nông thôn yên tĩnh và thanh bình? Nhờ “đĩa dầu” nhiều thế hệ đã tìm thấy lối đi lại, thấy bóng mình trên vách! Nhiều thế hệ đã hát và nghe hát nhạc Phạm Duy trong nhiều bối cảnh mang tính lịch sử khác nhau. Đặc biệt có những bài thơ thật sự không hay nhưng khi qua tay Phạm Duy chúng trở thành có sức sống và tuổi thọ. Riêng nhà thơ Phạm Thiên Thư , tôi mạn phép nghĩ anh sẽ mất nhiều thời gian hơn, sẽ khó khăn hơn thậm chí gập ghềnh khúc khuỷu lênh đênh hơn nếu cơ may có Phạm Duy không đến. Phạm Thiên Thư đừng nghĩ nhận thức và cảm thụ thơ của tôi là kém cỏi khi đọc thơ anh. Trái lại tôi hiểu không gian của Thư là thế nào cũng như tôi hiểu sự tài hoa và sâu sắc của Phạm Duy đã làm cho thơ Thư bay bổng bay xa và bay nhanh vào lòng người thưởng thức thành ra một thực phẩm tuyệt kỹ là thơ + nhạc!
         Tôi có một chút tạm gọi là kỷ niệm mỗi khi nghĩ tới Phạm Duy. Là hồi 1965 gì đó tôi bị động viên vào trường sĩ quan Thủ Đức khóa 24, đêm ấy trình diễn văn nghệ đón khóa đàn em 25 và khóa tôi đã có lệnh cấm không được vào mà phải ôm súng tỏa ra các vọng gác. Nhưng tôi đã trốn vào và leo lên cột nhà đứng coi cho rõ. Phạm Duy đang ôm đàn hát dung dị tự nhiên và rất đậm đà bài mà tôi cứ gọi là “Tiếng nước tôi”. Định bụng nghe xong bài đó thì trở ra vọng gác nhưng tôi không kịp. Ông thiếu tá Liên đoàn trưởng nắm vào chân tôi ra dấu bảo xuống và phạt tôi 3 ngày nằm trong phòng giam có tên là 301.
      Hình như hơn 40 năm sau tôi lại có một kỷ niêm nữa về Phạm Duy. Đó là khi đọc một bài đăng trên tờ báo có tiếng viết về Phạm Duy, chính xác là viết về sự trở về ca hát tại nước mình của ông. “Thúi quá”, tôi còn nhớ mình đã thốt ra câu không lịch sự mà nóng nảy này khi bài toát lên sự thiển cận và đầy ác ý thậm chí là ghen tức. Người thưởng ngoạn vốn công minh (và bạc bẽo?) họ cần tài năng chứ không cần danh tiếng.
     Tôi không nghiên cứu tư duy chính trị trong nghệ thuật, chỉ nghĩ nghệ thuật là cái còn lại sau khi nhiều thứ phải ra đi, vả lại nghệ thuật là cái gạch nối giữa người với người, giữa nhiều thế hệ với nhau, một thứ gạch nối tài năng mà không phải những thứ khác đếu có được. Phạm Duy, theo cách nghĩ của tôi là một người tài năng và lãng tử, ông đến rồi đi, đi tiếp và có lúc quay về và những bài hát của ông rơi ra khỏi tâm hồn thành quà tặng cho mọi người. Trong những nơi đó có nước ngoài, và lá rụng về cội thì quay về! Khi đêm hết thì đĩa đèn dầu lạc cũng vừa cạn, nó tắt và nhường việc giải quyết nhu cầu ánh sáng lại cho mặt trời

CAO THOẠI CHÂU

http://caothoaichau.blogspot.com/

Trái tim nghệ sĩ luôn lưu luyến cuộc đời 

Nhạc sĩ lớn Phạm Duy luôn xưng mình là kẻ hát rong.

  • Nhạc sĩ Phạm Duy thăm thi sĩ Hoàng Cầm - tác giả của Lá diêu bông, Tình cầm mà ông đã phổ nhạc - trong lần trở về nước năm 2000 - Ảnh: N.Ð.TOÁN 

Với một nghệ sĩ sống gần một thế kỷ, chứng kiến muôn vàn đổi thay của con người và thế sự, Phạm Duy khiêm tốn luôn chỉ xưng mình là một kẻ hát rong. Nhưng với biên niên sử âm nhạc VN, đó là một người hát rong tầm thế kỷ.
Tin về việc nhạc sĩ Phạm Duy ra đi có một tác động lạ thường. Dường như nó chạm vào một chiếc nút bấm bí ẩn trong mỗi trái tim con người và từ đó giúp quay ngược về mọi thứ, diễn trình mọi khúc quanh của cuộc đời VN ở bất cứ ai đã từng trải qua.
Phạm Duy là một nhà ảo thuật đại tài, khi ông chọn hình ảnh một bà mẹ, một ánh đèn, một quang gánh, một ông sao... và ông thổi vào đó những sức sống, ghi lại trong tâm tưởng người nghe về một khung trời Việt. Hơn nữa, ông làm người nghe thấy mình gần với đất Việt, hồn Việt và khiến họ yêu tất cả những điều đó như trong trái tim tài hoa của ông đang thổn thức hát lên.
Nhưng phải nói đến sự uyển chuyển của ông qua các chặng đường âm nhạc, bằng khả năng nhạc thuật kỳ tài của ông, mới thấy rằng bản thân ông còn là một giá trị chứng nhân lịch sử độc đáo cho việc bất kỳ nghệ sĩ nào muốn tìm một con đường đi trong sự nghiệp của mình.
Khởi đầu chỉ là một ca sĩ của gánh hát, Phạm Duy bắt đầu những bài hát đầu tiên của mình với âm điệu miền quê Bắc bộ. Nhiều bài hát của ông, như Bà mẹ quê, với nhịp dằn và dồn như một bài đồng dao hoặc Gánh lúa... là sự mô tả tài tình nhịp sống và hơi thở ruộng đồng. Những bài hát mang hình thức sáng tác tưởng chừng như đơn giản nhưng lại vô cùng thâm sâu.
Cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng bởi lối sáng tác của thế hệ tiền chiến, Phạm Duy lại tạo thêm một sự khác biệt khi dựng nên những bản tình ca bất hủ như Thuyền viễn xứ, Bên cầu biên giới, Tiếng đàn tôi... Góp cùng với những tác phẩm lừng danh của Hoàng Quý hay Ðặng Thế Phong, Phạm Duy đã nâng những bố cục và xây dựng chủ đề, phát triển giai điệu lên một tầm mức mới đáng khâm phục.
Thập niên 1960-1970, thời kỳ của nhạc trẻ xuất hiện ở VN. Dù chính ông là người hết sức ngạc nhiên về dòng nhạc này và nhắc đến Lê Hựu Hà - Nguyễn Trung Cang như một ấn tượng độc đáo với mình và âm nhạc Việt, nhạc sĩ Phạm Duy cũng không để mình bị chậm lại so với thế hệ trẻ. Hàng loạt bản nhạc pop ông cho ra đời sau này như Mộng du, Tuổi hồng... đều cũng trở thành những bản nhạc trẻ khó quên.
Ðôi khi, chỉ cần nhìn vào sự nghiệp của ông, người ta có thể chiêm nghiệm thấy những chuyển động trong nhạc Việt và những chặng đường đã qua.
Nói về một người đã mất, người ta hay nói đến những ký ức, nhưng với nhạc sĩ Phạm Duy, có lẽ người ta sẽ còn bàn nhiều về tương lai. Cuộc đời của ông là một ví dụ đầy xao xuyến về trái tim nghệ sĩ luôn lưu luyến cuộc đời, luôn tìm đến những điều mới mẻ và tạo dựng một lối đi khám phá đầy ngẫu hứng.

TUẤN KHANH
tuoitre.vn