Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

ĐẠI THỪA / MAHÀYÀNA / GREATER VEHICLE

võ công liêm
 
ĐẠI THỪA / MAHÀYÀNA / GREATER VEHICLE

LÒNG THƯƠNG XÓT Và SIÊU HÌNH HỌC

Bồ-đề-đạt-ma diện bích - Võ Công Liêm
 
Là giáo phái thuộc hệ thống tu tập Phật giáo đã xuất hiện và phổ cập rộng rãi qua kinh điển (scriptures) khởi từ thế kỷ thứ nhất (BCE). Đó là hành trạng đưa tới tình thương trong triết lý siêu hình của Phật giáo Đại-thừa –Mahàyàna: the path of compassion and metaphysics.
Ở đây là dấu ấn của đổi mới tư duy và tu tập ở cõi ngoài của kinh điển Pali để trở thành một giáo phái được gọi là Đại-thừa/Mahàyàna. Pali là một cổ kinh Phạn ngữ thành hình ở Nam-Ấn (Old Indic Prakrit Southern Indian) còn được gọi là ’pãli-bhãsã’, một ngữ ngôn riêng biệt của giáo phái Đại-thừa. Điều đáng chú ý ở đây là sự khác biệt giữa những tu viện và người tu Phật; một kinh điển hoàn toàn mới đưa chúng sanh tìm đến con đường giải thoát, một kiểu thức gần như hiển lộ gần gũi với con người. Coi kinh điển như giáo luật (Pali Canon) dựa trên lời Phật dạy. Một thừa nhận cố hữu coi trọng như kinh luật của phái Tiểu-thừa. Những người theo phái Đại-thừa giải thích rằng: chỉ có giáo lý tối thượng là khai sáng tâm như để nhập vào một ý thức xót thương và mở ra một thân tâm siêu thoát. Kinh Đại-thừa (Mahàyàna sutra) nhấn mạnh một cách quan trọng về kinh nghiệm và đường hướng của giáo pháp. Pháp (dharma) không những biểu hiện cho kinh điển; phái Đại-thừa cho đó là một sự biến hóa vô thường, qua kinh nghiệm tu tập thì đây thuộc trạng thái thức tĩnh để tìm kiếm con đường giải thoát đó chính là giá trị lớn lao cho cuộc đời đang sống.
Ở mỗi tu viện hay những trường học Phật giáo từ cấp tiểu đến cấp đại thường đưa giáo lý Đại-thừa vào giáo trình, một phần gần như thuộc văn học nghệ thuật dành cho phép tu, một phần thuộc bộ môn triết học siêu hình đạo Phật; lấy đó làm chủ đề cho cuộc sống của tu sĩ và tu nhân. Một phương pháp tu học hoặc xem đây như nghĩa lý minh triết thiện xảo (skillful means) là một thúc đẩy từ trí tuệ để đạt tới Như-Phật. Thức tĩnh là giác là ngộ đi từ vô đến hữu và ngược lại, một tri nhận biến hóa (varied) vô thường của lẽ đạo; trong đối kháng đó là một quan hệ tương đồng với giáo phái Tiểu-thừa (Theravada=Hinàyàna)(*), nhưng tập truyền của Đại-thừa có một ít đặc điểm chung chung và thông thường giữa hữu thể và tha thể nghĩa là đạo mở ra từ tâm chớ không còn là khuôn phép; trọng tâm của Đại-thừa là làm sao đạt tới tâm-như-nhiên để thành Phật(?); Đại-thừa lấy kinh điển để đưa tới giải thoát, nương vào tình thương (mercy) và sám hối (confession) là ngọn đuốc giáo lý Đại-thừa: ’tự giác, giác tha’ là vậy. Tất thảy nằm trong vũ trụ của Mandalas và Thang-kas gần như đây là phép tĩnh lự là một trợ lực cho định tâm và chiếu sáng vào trí tuệ. Yếu tố nầy là con đường đạo hạnh trong Đại-thừa dẫn tới cõi tịnh độ, cõi siêu thoát; không những sự chết mà ngay cả sự sống đều lấy tình thương và giáo lý siêu hình nhà Phật làm chuẩn cho môn phái Đại-thừa. Cái đó Đại-thừa còn gọi là thân-tâm của hồn và xác. Đạo sư Soen Nakagawa-roshi nói:’Bạn không đứng đây một mình bạn, nhưng đang đứng trong một hiện hữu của tất cả tri nhận an nhiên. Hãy giữ trí tuệ bạn trong sáng và nồng nhiệt’ (You are not just here for yourself alone, but for the sake of all sentient beings. Keep your mind pure and warm.)
Bồ Tát/ Bodhisattvas: xuất hiện sớm trong kinh điển Đại-thừa; đó là Liên-Hoa-Kinh(Lotus Sutra) là một thể kinh làm mới lại, dựa vào giáo luật kinh điển bởi do yêu cầu của giáo hội Đại-thừa lấy căn bản từ kinh điển làm phương tiện thiện xảo để tu tập vì những gì trước đây chất chứa một khả năng chưa trọn vẹn giáo lý nhà Phật và thay thế vào đó một sự thật trong sáng. Pháp-Liên-Hoa/Lotus Dharma được xem là phẩm kinh chính của Đại-thừa. Phật giáo được truyền thừa từ lời dạy của Phật qua các môn đệ, một đòi hỏi cho người tu Phật cần phải có một trí tuệ minh mẫn và một thể xác tráng kiện mới mong giữ được chánh pháp Phật. Đây là những gì đã được giải thích bởi những người dày công tu học và được nhìn nhận như một đạo giáo sống thực, cung kính thờ phượng như đấng Thế Tôn và cũng được coi là Đạo, dẫn đường và truyền đạt chúng sinh tu tập, dù là thần thoại siêu hình , dù là tập quán điạ phương đều dựa trên Pháp để hành động, để làm sao đạt được chân tâm nhà Phật. Đó là cốt tủy Phật giáo Đại-thừa. Một cá tính độc đáo của Đại-thừa là giải phóng khỏi phiền não bằng một khả năng của trí tuệ nhận biết qua kinh điển cũng như qua kinh nghiệm sống; Liên-Hoa-Kinh đòi hỏi một dữ kiện duy nhất là đạt được mục đích trí tuệ trong sáng Như-Phật để đi tới Chân-Như giải thoát để thân tâm không vướng mắc mà còn gìn giữ những lợi ích khác. Dữ kiện đó được khẳng định một cách quả quyết rằng chúng ta không những được gọi là giải thoát từ cá thể nhưng phải có tính-phật-tự-tâm (Buddhahood itself) thì mới đến được bờ giải thoát. Liên-Hoa-Kinh cho rằng tất cả hiện hữu là một khả năng khơi dậy từ Phật tính để quyết định dẫn tới vô lượng chúng sanh một cách tất nhiên và hữu hiệu . Giáo phái tân Đại-thừa ngày nay nhìn chân-như Như-Phật là Bồ Tát một hiện hữu sống thực như dâng hiến từ tâm-như siêu thoát; vì những đấng tôn thờ Bồ Tát đã giải thoát từ tiền kiếp cho tới nay. Bởi cả hai: tu sĩ và thế tục luôn khấn nguyện (vow) để thân tâm trong sáng và tu tập để xứng đáng như Bồ Tát ở kiếp sau (tư duy nầy nặng phần giáo pháp của Tây Tạng).
Ngày nay Đại-thừa thường hành lễ và tụng niệm vào Tứ-Đại-Bồ-Tát (Four Great Bodhisattva) được biên tập nhiều lần và thành phẩm kinh ở Trung quốc vào thế kỷ thứ sáu.
Bồ Tát không những chỉ là ý niệm lý tưởng và phẩm hạnh dành cho thế gian. Bồ Tát được nhìn như diện mạo bất diệt của Phật, một thể hiện của Bồ Tát là một trí tuệ nhiệm mầu ban ơn, che chở hoặc được che chở trong tình thương cứu độ chúng sanh, cung dưỡng và cầu khẩn để được độ trì. Hầu hết ở Đông-Á (East Asia) xem Bồ Tát Quan Âm (Kuan-yin/Kannon) là đấng được cầu xin linh ứng và hữu hiệu. Dù rằng Quan-Âm được mô tả giới tính nam (Avalokitesvara) ở Ấn-độ; Liên-Hoa-Kinh nói rằng Quan-Âm dưới bất cứ dạng thể, dù là vô thể chăng nữa đều đem lại tình thương và cứu rỗi hoặc độ bất cứ gì qua lời khấn nguyện và được sắp xếp trong những giới tính khác nhau chừng ba mươi ba thể cách tượng trưng. Ở Đông-Á thờ phượng Quan Âm qua giới tính âm thường như che chở những trẻ thơ và nhìn Bồ Tát Quan Âm là đấng cứu nạn, cứu khổ, ban phép mầu cho thai nhi và những bà mẹ thai nghén. Một đặc trưng khác của Đại-thừa Tây tạng; Bồ tát là hình ảnh bao che với tình thương là đấng thương yêu, cứu chuộc bao trùm vũ trụ-Avalokitesvara còn được biết qua Phạn ngữ: Amitabha là hào quang vô tận Phật soi rọi tình thương, đấng Vô-nhiễm (Pure-Land) cung dưỡng như tiếp dẫn giữa con người và đấng ‘Toàn năng’ một linh ứng khai mở vào tiền kiếp Phật (the Buddha of the Past)của A-di-đà-Phật (Amida/Amitabha).
 
Ba Pháp-thân Phật (The Three Bodies Of Buddha)
Theo Phật giáo Tiểu-thừa (Theravada) Phật là hình ảnh có tính lịch sử muôn đời, dù Phật không hiện hữu nhưng Phật đã để lại Pháp giới/dharma như mở đường tu học và hành đạo. Phá chấp để đạt tới Chân-Tâm-Phật. Ngược với Đại-thừa nhìn Phật là đấng toàn trí, toàn lực, toàn bích (bi trí dũng) của vũ trụ. Theo tư duy siêu hình, Phật nói lên sự hiện diện bất diệt trong vũ trụ với ba diện mạo, ba khiá cạnh hoặc coi đây là pháp thân/bodies vô nhiễm, ánh sáng trí tuệ vũ trụ mà Phật là chứng thực với một hiện hữu tuyệt đối, một pháp thân chân phúc, là ánh hào quang tỏa chiếu cực lạc; thờ phượng Phật tức theo Phật-pháp đó là truyền thông từ Bồ Tát.
–Metaphysically; Buddha is said to be an eternal presence in the universe with three aspects, or ‘bodies’ the pure universal consciousness in which the Buđdha is indentical with absolute reality; the body of bliss, that radiant celestial aspect of Buddhahood that communicates the ‘dharma’ to Bodhisattvas.
Bồ Tát hóa thân để biến thành Phật, biến hóa vô thường để cứu nhân độ thế. Cái đó nó nằm trong diện thức của thân tâm, hiện hình giữa thế gian như chứng thực lịch sử có thật của Phật.
(Shakyamuni Buddha) sự thật mầu nhiệm dưới danh xưng tụng niệm qua vóc dáng một Thích Ca Mâu Ni / Siddhartha Gautama / Sakymuni là đấng trí tuệ nhân từ (Shakya sage). Người theo đạo Đại-thừa nhìn Thích ca là Phật, là; đấng chiêm ngưỡng và thờ phượng. Ngược lại Tiểu-thừa không thần thành hóa mà gần như không thừa nhận hữu thần (nontheistic). Với Đại-thừa hình ảnh Phật được Phật hóa qua những tựợng thờ như chứng minh có sự linh ứng Phật tính (theistic status) kể các bậc Bồ Tát đều được nhìn nhận là Phật(Phật Di Lạc hay Phật Điạ Tạng…) Nhưng một số khác của Đại-thừa dẫn giải sự tu học về Bồ Tát và Tam-thân (3 thân) nhà Phật, là biểu hiện linh ứng hơn là biểu hiện tính triết học (như phái tiểu-thừa) như thể là ẩn dụ hay hàm ý cho một diện mạo của trí tuệ minh mẫn trong một tư duy linh hiển cõi ngoài của vũ trụ. Từ đó cho một viễn ảnh ; niết bàn(nirvana) là cái điều có thể miêu tả là ‘cõi sáng’,cõi tuyệt đối đầy chân phúc và một trí tuệ cực sáng –From this point of view, nirvara can be described as the state of pure, blissful and radiant consciousness.
 
Cõi-Không / Emptiness
Kinh điển Đại-thừa diễn tả Phật như một hình thức siêu thể vượt ra khỏi không gian và thời gian, thần thông biến hóa vào những nơi cùng xẩy ra sự kiện, ảo hóa vô thường để dẫn độ chúng sanh vượt qua bên kia bờ giác ngộ. Song le; những vị cao tăng không nương vào những hiện tượng đó mà tu tập, một đôi khi Đại-thừa quan niệm gần gũi với Tiểu-thừa; ở đó chỉ có một hiện thực siêu nhiên, một đỉnh cao vô hạn thế. Trong kinh cổ ‘Udana’ giáo luât Pali-Canon với một đòi hỏi tu Phật phải có một: vô-sinh, vô-tử, vô hoán đổi, vô tạo dựng. Nếu là Không thì là Không-tất-cả, đó là điều có thể không còn chủ đích cho cuộc đời hoặc một rèn luyện nào khác hơn ‘O monks; there is an unborn, undying, unchanging, uncreated. It it were not so, there would be no point to life, or training’. Có một vài cái vừa phức tạp vừa mâu thuẩn trong phái Đại-thừa đưa dẫn ý niệm về cái gọi là ‘Sunyata’ nghĩa là hoàn toàn trống, rỗng, vô hiệu ứng hoặc coi đó là cõi-không; một vài triết thuyết của Phật học cho rằng tất cả những gì trên quả đất nầy dựng lên rồi đi tới hũy hoại nghĩa rằng không có gì là bất tận cả. Thế giới thuộc hiện tượng ‘Samsara’ nghĩa là sinh, tử vẫn là trống không của hiện hữu cố định, ngay cả cõi niết-bàn cũng là Không trong một cảm thức, dù là nghĩ đến một xây dựng khác đi nữa, tư duy đó vẫn là không dù một điều kiện độc lập. Niết bàn không còn là hiện thực vĩnh hằng, mà đó chỉ là điều mong muốn, thâu nhận như ước nguyện. Cho nên chi trong triết lý Tánh-Không chỉ rút tiả kinh nghiệm ở chỗ Không mà ra và làm nền móng cơ bản trong hầu hết kinh điển để tu tập theo giáo phái Đại-thừa; là truyền thừa(vehicle) những kinh điển khác biệt vào bước đầu việc tu tập. Trong phổ kinh Tâm-kinh (Heart Sutra) là phép tu chính trong các tu viện Đại-thừa ở Đông Nam Á; trở thành tập quán của Phật giáo là hệ thống hóa những đổ vỡ trước đây: Bồ Tát Quán Thế Âm đưọc nhìn qua ngũ-thức tích lũy vốn có của con người (thể thức, cảm thức, tri thức, ứng thức và nhận thức) mà mỗi thứ đều chất chứa tánh-không một cách tuyệt đối. Với hiện thực hoá, Bồ Tát trở nên mãn nguyện những gì cứu rỗi. Cho đến sinh, tử, trong, đục, tăng, giảm đều được coi là trống-không. Sáu cảm thức chủ thể, sáu cảm thức hữu cơ và sáu cảm thức tri nhận cũng được coi là trống-không –the six sense objects, the six sense organs and the six sense awarenesses are seen to be empty. Vòng quay của cuộc đời cững được coi là trống-không. Dù có nhận biết và đạt đến tri nhận đều chỉ là lời nói của trống-không. Với ‘trí tuệ tuyệt hảo/perfection of wisdom’ vẫn không phải là chướng ngại, tuy nhiên không đưa tới sợ hãi và không còn là ảo giác để đi tới niết bàn. Tất cả là Trống-Không chỉ còn lại Như-nhiên, Như-phật và Như-lai.
Đối tượng của Phật giáo Đại-thừa tập trung vào Tánh-không được thay thế như một giáo lý, như chỉ thị của đấng Bồ Tát :’ Gate, Gate, paragate, parasamgate, bodhi, svaha!’ (Buông thả, Buông thả, để tới cõi ngoài kia, tới bờ giác khác. Ôi siêu thoát, tất cả lời mời gọi!)
“Gone, gone, gone beyond, gone to other shore. O enlightenment, all hail!”.
Phật giáo Đại-thừa là cung dưỡng và lấy sự cân bằng qua mọi sanh hoạt để có trí tuệ trong sáng dù trong một sinh động mù quáng hay trong một tâm như trong sáng của tình thương là mạch nối giữa Phật Pháp Tăng. Một tâm như nhiên ấy là Phật tính của giáo phái Đại-thừa.
 
VÕ CÔNG LIÊM
(chỉnh sửa và phụ ghi ở TrúcLâm Bạchmã tự. Truồi. Huế. 16/5/2013)
______________

(*)Theravada=Hinàyàna= Lesser Vehicle= Tiểu-thừa. Thường gọi là Phật giáo Tiểu-thừa; giáo phái nầy chú trọng vào nguyên thủy của khuôn phép tu tập để đạt tới chân như Niết bàn ; qua phép tu thiền định. Tiểu-thừa phát triển mạnh mẽ ở Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Cam-Pu-Chia và Việtnam.

SÁCH ĐỌC: ‘Living Religions’ by Mary Pat Fisher. Prentice-Hall River, NJ. USA 2002.
ĐỌC THÊM: 1)‘SaddharmapundarikaSutra/Lotus Sutra/Liên-Hoa-Kinh’và 2)‘Thân Tâm Nhà Phật/On the Bodies of the Buddha’. Bài của võcôngliêm đã đăng ở một số báo mạng và báo giấy hoặc l/l: lvocong@hotmail.com
để lấy thêm chi tiết.

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

Phật Đản Và Hoa Sala


 MỪNG PHẬT ĐẢN, mời quý bạn hiền đọc tài liệu về Phật Đản và Hoa Sala, do LH gom nhặt để chia sẻ  ... 
Hồi về VN lần đầu, LH đã có cơ duyên với Cây Sala vườn Bình Quới..  Qua đây, lại có cơ duyên với Cây Sala vườn Fairchild Tropical Botanic Garden phía Nam Miami, cách nhà 2 tiếng rưỡi lái xe, và đã đến đó 3 lần, lần thứ nhất có Anh VõĐình, lần hai một mình, và lần thứ ba field trip với bọn trẻ, để giúp tìm hiểu về cây nhiệt đới, trong đó có cả cây Baobab...
Chúc quý bạn luôn bình an trong niềm vui đản sinh...

LH

PHẬT ĐẢN và HOA SALA
Trong kinh Phật, có hai loại cây được xem là linh thiêng và thường được nhắc đến nhiều là cây Bồ đề và cây Sa la. Dưới cây Sa la ở vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), Đức Phật đản sinh.  Dưới gốc cây Bồ đề, thái tử Tất Đạt Đa giác ngộ thành Phật sau 49 ngày đêm thiền định. Cuối cùng, Ngài nhập diệt dưới cây Sa la tại Câu Thi La (Kusinara).



Cây và Hoa Sala

Sa la tên khoa học là Couroupita guianensis Mart. ex Berg, họ Lộc vừng Lecythidaceae, bộ Sim Myrtales; trong tiếng Anh thường gọi là Cannonball Tree. Ở Việt Nam, cây Sa la còn gọi là câyVô Ưu/ Vô Đàm, Đầu lân, Ngọc Đầu Lân, Hàm rồng. Giới chơi cây cảnh gọi là Ngọc kỳ lân. Cây phổ biến trong khu rừng tân nhiệt đới, đặc biệt là ở lưu vực sông Amazon. Nó có nguồn gốc ở Guyana (Nam Mỹ). Ngày nay cây này có thể tìm thấy ở Ấn Độ, miền Nam dãy núi Hy Mã Lạp, và về sau được trồng nhiều nơi ở Nam Á và Đông Nam Á.

Ở miền Nam Việt nam, cây có trồng ở các chùa như Xá lợi, Vĩnh Nghiêm... Có một cây Sa la to ở khu du lịch Bình Qưới, Thanh Đa; gốc to tới mấy người ôm.

Hoa Sa la thường được nhắc tới trong kinh Phật. Tán cây Sa la rậm rạp, hoa Sa la rất đẹp; những cánh hoa rất dầy, hoa nhìn cứ là lạ như là hoa của loài cây thời khủng long còn sót lại. Khi kết trái, trái Sa la chín rất hôi, và khi nó chín nẫu và nồng nặc thì lúc ấy hạt mới đủ già để mọc thành mầm cây mới. Đó cũng là qui luật sinh diệt mà nhà Phật dùng cây Sa la để tượng trưng.

Sa la là một loại cây thân gỗ, cây có thể cao tới 30-35m. Hoa Sa la ra từ thân cây, suốt từ gốc lên, chùm hoa dài ra liên tục có thể tới 2-3m, quả lớn tròn to đường kính quả 15-24cm, có 200-300 hạt trong một quả.

Cây Sa la là nơi Đức Phật sinh ra.  Theo tục lệ, khi chuẩn bị đến kỳ mãn nguyệt khai hoa Hoàng Hậu Maya cùng với đoàn tùy tùng về nhà cha mẹ để sinh.  Dọc đường, bà dừng chân nghỉ dưới gốc một cây Sa la ở khu rừng Lumbini, ngoại thành Kapilavatthu, thuộc nước Nepal ngày nay.  Cơn đau sinh ập đến, bà tìm nơi bấu víu và cây liền nghiêng nhánh xuống cho bà vịn.  Hoàng Hậu vừa vin cây thì cậu bé Siddharta ra đời và sau này tu luyện trở thành Đức Phật.  Hình ảnh cây Sa la vươn nhánh xuống cho hoàng hậu vịn trong lúc sinh hạ mang rất nhiều ý nghĩa.


Khi biết mình sắp viên tịch, Phật hành trình đến đền Càpàla, xứ Vesàli làm lễ, rồi di chuyển thêm một lộ trình khá dài đến tiếp Kusinàra. Mặc dù bị bệnh khá nặng nhưng Phật vẫn kiên quyết đi bộ, vượt sông đến rừng Sa la, xứ Kusinàra. Đoạn đường này dù chỉ có chừng 9km nhưng Phật phải đi mất khoảng 3 tuần, dừng nghỉ đến 25 lần vì bệnh và mệt.

Kinh Đại Bát Niết Bàn (Trường Bộ I), Phật dạy: “Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn, này Ananda, đó là Thánh tích, người thiện tín cần chiêm ngưỡng và tôn kính”.  Như vậy, đến Kusinàra để nhập diệt là mục đích của Phật. Ngay cả Tôn giả Ananda cũng ngạc nhiên, thắc mắc về việc này: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé, hoang vu và phụ thuộc này.  Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm Bà), Ràjagaha (Vương Xá), Sàvatthi (Xá Vệ)…, Thế Tôn hãy diệt độ tại những chỗ ấy”.  Cũng nhờ sự thắc mắc này, Thế Tôn giải thích rằng, sở dĩ chọn Kusinàra để diệt độ vì đây là nơi Ngài đã xả bỏ thân mạng trong quá khứ.  “Ta đã từng sáu lần làm Chuyển luân Thánh vương và bỏ xác tại đây, nay Ta thành Vô thượng Chánh giác lại cũng muốn bỏ xác tại đây” (Kinh Du Hành, Trường A Hàm I; Kinh Đại Thiện Kiến Vương, Trung A Hàm II).

Theo ngài Narada, “Đức Phật chọn Kusinàra để nhập diệt vì ba lý do.  Lý do đầu tiên là để thuyết bài pháp Mahàsudasana Sutta nhằm khuyến khích đời sống đạo hạnh.  Thứ nhì là để dẫn dắt Subhadda, người đệ tử cuối cùng của Ngài, vì ngoài Đức Phật ra không ai có thể cảm hóa vị này được.  Thứ ba là để cho vị Bà la môn Dona có thể phân chia Xá lợi của Ngài một cách êm thắm giữa những người sùng mộ Ngài” (Đức Phật và Phật pháp, tr.225).

Kinh Đại Bát Niết Bàn ghi, khi đến Kusinàra, vào trong rừng sa la, Ngài nằm đầu hướng về phương Bắc, giữa hai cây Sa la song thọ.  Lúc bấy giờ, Sa la song thọ nở hoa trái mùa, tràn đầy cành lá.  Những đóa hoa này rơi xuống, tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài.

Theo kinh Đại Bổn Duyên, Trường A Hàm I, cội sa la là Đạo tràng chứng đắc Vô thượng giác của Đức Phật Tỳ Xá Bà.  Kinh điển cũng ghi rằng, khu rừng sa la nơi Thế Tôn nhập diệt vì đau thương sầu thảm, khô héo và mang màu trắng như chim hạc, nên còn gọi là Hạc lâm.  Đặc biệt là bốn cây Sa la song thọ gần nơi sàng tọa của Phật nằm lúc nhập diệt, mỗi cây chỉ có một nhánh khô héo, chuyển sang màu trắng, cành lá hoa quả đều rơi rụng nhưng nhánh kia vẫn xanh tốt.  Bốn cây này được gọi là tứ khô tứ vinh thọ (bốn cây, mỗi cây có một nhánh sống và một nhánh chết).  Song thọ ở phương Đông tượng trưng cho Thường và Vô thường; song thọ ở phương Tây tượng trưng cho Ngã và Vô ngã; song thọ ở phương Nam tượng trưng cho Lạc và Bất lạc; song thọ ở phương Bắc tượng trưng cho Tịnh và Bất tịnh (Đại Niết Bàn kinh sớ, quyển 1). 

Chính hình ảnh của bốn cây Sa la “không phải sống mà cũng không phải chết” này đã nói lên sự thị hiện Niết bàn “sanh nhi bất sanh, diệt nhi bất diệt” của Thế Tôn.  Niết bàn là vô sanh, bất diệt giữa muôn trùng sanh diệt.  Bốn nhánh Sa la còn xanh tốt trong màu trắng tang thương của Hạc lâm biểu trưng cho bốn đức Niết bàn.  Chính giữa vô thường biến chuyển mới làm sáng tỏ cái chân thường, vạn pháp không đối lập mà dung nhiếp; tuy hai mà một, tuy một mà hai.  Vì vậy mà Thế Tôn đã chọn rừng Sa la làm nơi nhập diệt.

Như vậy, Sa la là cây thiêng (linh thọ) trong Phật giáo, giống như cây Bồ đề.  Lúc ngài Huyền Trang đến Kusinàra chiêm bái, rừng Sa la chỉ còn bốn cây, hiện nay còn hai cây là những chứng tích thiêng liêng.  Do đó, trồng cây Sa la để ngưỡng vọng Thế Tôn, hướng về Thánh tích, thú hướng Niết bàn là chuyện nên làm.

Một ngày nào đó, bạn bớt chút thời gian thử tìm ngắm cây và hoa Sa la để có thể suy ngẫm nhiều điều.  Ở Việt Nam, đạo Phật đã thấm sâu vào cuộc sống.  Dù nhiều người khai trong lý lịch là không tôn giáo nhưng vẫn tin và làm theo những triết lý và quy tắc Phật giáo.  Ngày nay trong thế giới phẳng của toàn cầu hóa với những bầy thú điện tử, con người ta quay cuồng vì tiền bạc và địa vị, nhưng vẫn cần dành thời gian để quay về với cuộc sống hàng ngày; vẫn cần quan tâm đến những điều tưởng như nhỏ nhoi; vẫn cần lắm những đức tin về cuộc sống, cần phải đối xử công bằng với muôn loài kể cả cỏ cây muông thú.


Nhớ tới cây Sa la nơi Phật sinh ra, cũng như là nhớ tới mảnh đất chôn rau cắt rốn.  Nhớ để bảo vệ gìn giữ từng tấc đất của Tổ quốc mình.  Nhớ tới cây Sa la - nơi Phật đản sinh và nhập diệt, cũng là nhớ tới quy luật sinh tồn tái tạo. Nhớ để duy trì bản sắc dân tộc, tạo sự trường tồn của nền văn hóa Việt.

 Viết bởi Cô Trần Thị Lai Hồng   

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

FESTIVAL NGHỀ TRUYỀN THỐNG 2013 (7)

Bài  và ảnh : Trần Ngọc Bảo gởi

NGHỀ PHẤN NỤ HOÀNG CUNG

Trong thời đại mà các loại mỹ phẩm nước ngoài được quảng bá và sử dụng rộng rãi, phấn nụ Huế, còn gọi là phấn nụ hoàng cung - do thuở trước được làm ra trong hoàng cung và phục vụ các cung phi mỹ nữ - vẫn có sức sống âm thầm mà mạnh mẽ. Hiện nay ở Huế có hai thương hiệu nổi tiếng là Phấn Nụ Bà Tùng và Phấn Nụ Nhất Chi Mai.
Phấn nụ bà Tùng được làm từ cao lanh (đất sét trắng) đặc biệt, cọng với 10 vị thuốc bắc, có mùi thơm đặc trưng do chiết xuất từ rễ hoa lài và nước mưa xứ Huế. Có nhiều loại phấn, có loại để trang điểm, có loại để dưỡng da, trị nám, tàn nhang, v.v.
Phấn nụ Nhất Chi Mai trước đây gọi là phấn nụ Hoa Mai, với nguyên liệu cũng là cao lanh và các loại thảo dược, nhưng mùi thơm đặc trưng là từ hoa mộc lan. 



NGHỀ THÊU

Nghề thêu là một trong những nghề lâu đời nhất. Huế lại là nơi hội tụ các thợ giỏi phục vụ cho cung đình, quan lại, và cả thường dân vì ai cũng có nhu cầu về quần áo, khăn tay, áo gối, 
có thêu thùa; ngoài ra, lại còn có trướng liễn, hoành phi và cả những bức tranh trang trí, cho nên nghề thêu được phát triển cao và nhiều sản phẩm trở thành những tác phẩm nghệ thuật. Thêu X.Q., thêu Thuận Hòa là những thương hiệu nổi tiếng. Ngoài ra , cụ Lê Văn Kinh, ở xưởng thêu Đức Thành, là một nghệ nhân thêu có 70 năm tuổi nghề, được phong là nghệ nhân dân gian, và được UNESCO công nhận là báu vật nhân văn sống.









Đặc biệt, nghệ nhân Trịnh Bách là người có công nghiên cứu sưu tầm và sáng chế các loại chỉ thêu từ sợ tơ tằm để phục chế các loại áo dùng cho vua, hoàng hậu, hoàng tử, cũng như công chúa và các phi tần. Tuy nhiên ở cuộc triển lãm, gian hàng này không cho phép chụp hình.

NGHỀ DỆT MAY
Ngành dệt may có một cuộc triển lãm đặc biệt tạo nhà Bảo Tàng Văn Hóa, trên đường Lê Lợi, với chủ đề Metamorphoses, qui tụ các nhà tạo mẫu Minh Hạnh, Công Khanh, cùng các đồng nghiệp Francoise Hoffman, Sophie Caillol và Francis Dravigny  từ Pháp, Patis Teroso từ Philippines, và nhiều nghệ nhân khác từ Hàn Quốc, Hồng Kong, v.v.











NGHỀ KIM HOÀN
Hai truyền nhân của làng nghề kim hoàn Kế Môn (xã Điền Môn, huyện Phong Điền, Thừa Thiên-Huế) là Trần Hữu Nhơn và Trần Duy Mong có gian hàng trưng bày cũng tại nhà Bảo Tàng Văn Hóa:











Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

FESTIVAL NGHỀ TRUYỀN THỐNG 2013 (6)

NGHỀ MỘC DÂN DỤNG VÀ MỸ NGHỆ

Nói đến nghề mộc thì ở Huế hầu như ai cũng nhớ đến làng Mỹ Xuyên, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, nằm kề làng Phước Tích (nơi làm nghề đồ sành sứ). Trong suốt hơn hai thế kỷ nay , nhiều thế hệ thợ mộc làng Mỹ Xuyên đã góp phần làm nên hàng ngàn ngôi nhà rường từ trong hoàng cung, trong thành nội cho đến ngoài thành, khắp tỉnh, và nhiều nơi khắp cả nước. Các cấu kiện nhà rường có chạm khắc tinh vi, các bức hoành phi, câu đối gỗ, sập gụ, tủ thờ, trường kỷ, v.v. là công lao của những đôi bàn tay khéo léo của người thợ Mỹ Xuyên. 

Ngày nay, do kiến trúc nhà cũng như đồ dùng trong nhà ít dùng gỗ hơn, nguồn nguyên liệu cũng trở nên hiếm hoi và đắt đỏ,  nghề mộc cũng dần dần lao đao. Tuy nhiên, vì nhu cầu chưa mất hẳn nên một số thợ khéo vẫn còn giữ lấy nghề của cha ông. Vẫn còn đó nhu cầu về tượng Phật, tượng thần tiên, anh hùng dân tộc, tượng tam đa: Phước, Lộc Thọ, tượng tứ linh: long, ly, qui, phụng, phù điêu tứ quí: mai, lan, cúc, trúc, v.v. , cho nên các kỹ thuật chạm lọng, chạm chìm, chạm nổi, chạm sâu, chạm cạn, chạm khảm vẫn còn được lưu truyền.



Tác phẩm chạm gỗ tiêu biểu của nghệ nhân làng Mỹ Xuyên.



Tác phẩm điêu khắc gỗ: Hai Bà Trưng khởi nghĩa



Tượng ai đây? Phải chăng là An Dương Vương và Mỵ Châu?

Ở làng Mỹ Xuyên cũng còn nhiều thợ mộc đang sinh sống với nghề. Trong thành phố Huế hiện nay cũng có đại diện của nghề mộc Mỹ Xuyên mở cửa hàng trên đường Sư Liễu Quán, đối diện với chùa Từ Đàm.
Ngoài ra, cũng có nhiều cơ sở hành nghề mộc mỹ nghệ khác.



Cơ sở điêu khắc gỗ Thái Vinh trên đường Nguyễn Sinh Cung



Đồng hồ đứng, dáng cổ điển



Đồng hồ kiểu mới, kiểu dáng khá táo bạo

GỖ LŨA



Điêu khắc trên gốc cây, còn gọi là "gỗ lũa"
Riêng gỗ lũa thì tỉnh Gia Lai đóng góp một gian hàng



Gian hàng gỗ lũa Hoàng Thân từ thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai



Tượng ông Thọ bằng gỗ lũa.
Khi đi du lịch Hội An, du khách có thể đi thuyền trên sông để đến làng mộc Kim Bồng, thuộc xã Cẩm Kim. Từ thế kỷ thứ 18, làng Kim Bồng bắt đầu nổi tiếng với nghề đóng tàu thuyền, các đồ mộc dân dụng và cả mộc mỹ nghệ. Các nghệ nhân Kim Bồng cũng được triệu ra kinh đô Huế để đóng thuyền và lập thành làng Hòa An, nằm cuối dòng sông Hương, gần làng Vĩnh Lại, Qui Lai, thuộc  xã Phú Thanh, huyện Phú Vang.



Gian hàng mộc Kim Bồng, thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam



Sản phẩm của làng mộc Kim Bồng



Mỹ nghệ Kim Bồng

CẨN XÀ CỪ
Một trong những kỹ thuật khá tinh vi và đẹp trong nghề mộc là cẩn xà cừ hay khảm trai. Người ta vẽ tranh lên gỗ, đục lõm, rồi lấy mảnh vỏ con trai hay ốc gắn vào.
Có những loài trai cho vỏ óng ánh nhiều màu sắc, cho nên, sản phẩm đẹp và quí hay không một phần nhờ kiếm được vỏ trai đẹp.



Đây là tác phẩm Đức Phật Thích Ca cẩn xà cừ của cơ sở Trường Tiền ở Huế



Bồ Tát Quán Thế Âm cần xà cừ



Tranh cần xà cừ


Tranh khảm xà cừ




Tủ khảm xà cừ

Bài và ảnh : Trần Ngọc Bảo gởi