Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

VÀI CẢM NGHĨ VỀ CUỘC THI THƠ TRÊN FACEBOOK

Trần Mạnh Hảo


Theo báo mạng Thơ Trẻ : “Tổng kết trao giải Cuộc thi thơ trên Facebook chủ đề “Lời tỏ tình đầu tiên”
“Sáng nay, 18/7/2013 tại khách sạn Continental (Quận 1, TP .HCM), đã diễn ra lễ trao giải cuộc thi thơ đầu tiên trên Facebook chủ để: “Lời tỏ tình đầu tiên” theo sáng kiến độc đáo của ông Phạm Thanh Long – một người yêu thơ.
Cuộc thi này do ông Phạm Thanh Long đề xuất ý tưởng kiêm nhà tổ chức và nhà tài trợ. Mọi chi phí tổ chức đều do cá nhân ông Phạm Thanh Long lo liệu, không hề nhận bất cứ tài trợ nào khác. BTC nhận thấy hiện người yêu thơ và làm thơ rất nhiều, song ít có nơi để họ thể hiện mình và trình làng tác phẩm, do vậy cuộc thi ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó của nhiều người dù diễn ra chỉ trong một tháng.
Ban giám khảo gồm các nhà thơ uy tín: Hồng Thanh Quang, Văn Lê, Lê Minh Quốc, Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Phong Việt.”

 Theo báo mạng “Thể thao Văn hóa” :
“Trạng nguyên thơ facebook (kèm hiện vật và tiền thưởng khoảng 20 triệu đồng) thuộc về tác giả Sâm Cầm với hai bài thơ: Sài Gòn Sài Gòn, Nấc cụt; giải Nhì (khoảng 15 triệu đồng) – Hoàng Anh Tuấn: Mùa phơi váy; giải Ba (khoảng 10 triệu đồng) – Phạm Trang:Nắng thu; Gió và em; Không thể và có thể; và 15 giải Khuyến khích. BTC cũng trao giải Bài thơ được nhiều người yêu thích nhất với hơn “4.600 like” cho tác giả Nhi Nhi Nhô Nhô và giải Thí sinh cao tuổi nhất cho tác giả Phạm Như Lương.”
SÀI GÒN, SÀI GÒN
 Thơ Sâm Cầm
Sài Gòn là những buổi sang đầy gió
Dẫu ngọn gió ko ướt
Em vẫn nghĩ về anh
Như đóa hoa nghĩ về một mùa đông
Rồi hân hoan bung cánh
Sài Gòn là những ban trưa nắng sánh
Em nhìn tán cây lòa xòa, hấp háy mặt đường
Và nghĩ về anh
Như chiếc lá nghĩ về một vạt cỏ
Lấp ló vài chiếc dép xinh
Sài Gòn là những chiều mưa xập xình
Có thể là cơn mưa ngân ngấn hay ào ạt đến, rầm rập đi
Nhưng ý nghĩ của em lại vòng vèo hơn một mê cung
Mải miết về anh như dấu ba chấm(…)
Chờ kí tự
Em định dạng Sài Gòn cho riêng em
Dù nắng, dù mưa, hay vô khối ngày ẩm ương anh đều có mặt
Tất nhiên, những buổi đêm anh biến mất
Sài Gòn sẽ cuống cuồng tìm anh…
Trong giấc mơ em
 NẤC CỤT
 Thơ Sâm Cầm
Em ngồi nín thở
Em uống nước rồi
Cơn nấc lì lợm
Anh ơi anh ơi
Em ngồi bẻ bút
Ráp chữ làm thơ
Đêm cũng bơ phờ
Theo từng cơn nấc
Cái gối dửng dưng
Cái chăn buồn bực
Cái chữ đành hanh
Cơn nấc lanh chanh
Cơn ngủ đoạn đành
Bỏ em đi mất
Nó hờn em thật
Anh ơi anh ơi
Em chạy hụt hơi
Nói trăm từ nhớ
Cơn nấc mắc cỡ
Nó trốn đi rồi
Hóa ra nấc đứng nấc ngồi
Vì em đang nợ đôi lời nhớ nhung
                              Sâm Cầm
MÙA PHƠI VÁY
 Thơ Hoàng Anh Tuấn
Qua giêng hai rẽ sang mùa phơi váy
Khi màu khèn đã phai nhạt hội xuân
Bên cọn nước tay em vò vạt nắng
Váy vén cao suối lượn bắp nõn ngần
Đầu vách nứa anh gọi lời thương mến
Khẽ thôi anh, nả trở giấc tan sương
Bắt đền đấy, xà cạp em lấm cỏ
Cái đêm tình thức trắng giữa lều nương
Vai lù cở em địu mùa xuống chợ
Bước xuân đi khó cản cuốn như mê
Mùi thắng cố,rượu ngô, và phân ngựa
Mồ hôi anh níu váy chẳng cho về
Váy hoa nở trên bờ rào vẫy gió
Lũ bướm non hau háu mắt khát thèm
Đám trai bản muốn hóa thành lũ bướm
Bay lạc vào miền thổ cẩm trong em
Chúng đâu biết anh đã thành con bướm
Của riêng em giữ nhịp váy đong đưa
Em chẻ củi, se lanh hay cõng nước
Nhớ canh chừng cất váy kẻo trời mưa
Anh xuống huyện theo bạn bè làm thợ
Nợ áo cơm ít có dịp thăm nhà
Chiều nay tắt đường rừng qua bản Phố
Váy em kìa, phơi trước cửa người ta?
                                     Hoàng Anh Tuấn
Chỉ cần đọc qua hai bài thơ đạt giải nhất mà báo “Thể thao Văn hóa” gọi là trạng nguyên thơ và bài thơ giải nhì trên, chúng tôi rất buồn vì chất lượng thơ được giải cuộc thi thơ trên Facebook do một vị thương gia yêu thơ đứng ra tổ chức và mời các nhà thơ nổi tiếng kể trên chấm giải phải nói là quá kém.
Thơ muốn được giải phải là thơ hay; nhưng thơ không hay, thơ nhạt nhẽo, cũ kỹ như ba bài thơ trên sao lại được giải ?
Chúng tôi xin chứng minh.
Bài : “Sài Gòn, Sài gòn” của Sâm Cầm không có tứ, tác giả chỉ kể lể : Sài Gòn là cái này, Sài Gòn là cái khác…một cách rất dễ dãi. Cứ viết như vậy, có thể viết đến mai cũng không kể hết Sài Gòn là…hàng tỉ tỉ chi tiết đời sống…Bài thơ này cũng không có câu thơ hay; nó toàn là những câu nói tầm thường năng xuống dòng. Bài thơ do vậy không hề có cảm xúc, không có ý tưởng chứ chưa nói đến tư tưởng…Một bài thơ như thế này mà các ông gọi là hay, là trạng nguyên thơ thì than ôi, không còn trời đất gì nữa ?
Bài “Nấc cụt” của Sâm Cầm cũng chỉ thấy nấc là nấc, không có tứ, không có câu thơ hay, cứ viết dễ dãi như thế này :
Em ngồi nín thở
Em uống nước rồi
Cơn nấc lì lợm
Anh ơi anh ơi
Em ngồi bẻ bút
Ráp chữ làm thơ
Đêm cũng bơ phờ
Theo từng cơn nấc
Viết như thế này, người ta gọi là nói có vần, kiểu như tấu mà thôi. Xin đọc câu kết của bài này, rất mari sến, cũ ơi là cũ, sáo ơi là sáo :
Hóa ra nấc đứng nấc ngồi
Vì em đang nợ đôi lời nhớ nhung
Chao ôi dòng thơ lưu bút mang tên NHỚ NHUNG này đã kết thúc trước cả thời Thơ Mới ( 1930-1945), sao hôm nay các ông lục lại mang ra cho giải nhất và còn gọi là trạng nguyên thơ ? Nhớ nhung ơi, trạng nguyên ơi, ta xin chào mi, vì mi rất sến !
Bài “ Mùa phơi váy” của Hoàng Anh Tuấn” gợi ta nhớ đến tên tập truyện của nữ văn sĩ Võ Thị Hảo : “ Ngồi hong váy ướt”. Bài thơ này đỡ dở hơn hai bài thơ trên của trạng nguyên thơ. Tuy nhiên, bài thơ chưa vượt qua sự kể lể tầm thường, rằng anh đi qua rẫy, qua suối thấy em giặt váy, rồi phơi váy hoa làm bướm non khát thèm. Rằng anh muốn làm con bướm lượn mãi theo váy em. Nhưng hôm nay, váy em phơi trên cửa nhà người ta, tức em đã lấy chồng. Bài thơ chưa có câu thơ hay; nó cũng không có tầm khái quát gì về tình yêu đôi lứa. Đây là bài thơ làng nhàng, không hay…
Qua cuộc thi này, chúng tôi thấy rất lo về tương lai không chỉ của nền thơ mà cả tương lai của lớp trẻ, hơn nữa là tương lai đất nước. Nhà thơ Xuân Diệu từng tuyên bố con đường thơ của ông :
“Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi
Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu;
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao” (Những đêm hành quân)
Trong các cuộc thi thơ trước đây, cũng như cuộc thi thơ trên Facebook này, hình như lớp trẻ của chúng ta ( qua thơ) đã tách hoàn toàn mình ra khỏi đất nước và dân tộc, không hề quan tâm đến vận mệnh sống còn của Tổ Quốc nhân dân. Thơ kiểu này, phải chăng là đang thực hiện ý đồ của ai đó, muốn tách lớp trẻ ra khỏi vận mệnh của Tổ Quốc Việt Nam đang bị lâm nguy, dân tộc đang có cơ mất nước về tay giặc Phương Bắc ? Tất cả các bài thơ được giải của cuộc thi này không thấy đâu hình ảnh quê hương giống nòi đang bị giặc ngoai xâm cướp đất, cướp biển, giặc nội xâm cướp đất dân oan , xã hội bất công vô cùng, người dân sống đói khổ, vật giá leo thang, người ăn mày ăn xin quá nhiều, người lũ lượt đi làm thuê khắp thế giới, người dân phải sống trong bầu không khí thiếu tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do được yêu nước mình…
Than ôi, khi thơ và người không còn gắn với nước với dân, không còn gắn với giống nòi tiên tổ, không còn gắn với sự tồn vong của Tổ Quốc, thơ ấy, tuổi trẻ ấy còn xứng đáng được hãnh diện chăng, huống hồ là một thứ thơ làng nhàng, ngõ cụt, dở và sến đến phát ngấy như loài thơ trên ?


Sài Gòn ngày 20 – 7- 2013
Trần Mạnh Hảo


Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

Chùa Từ Hiếu- nơi lưu dấu thời gian

Ở tây nam kinh thành Huế, cách Đàn Nam Giao khoảng 2km, cùng với chùa Thiên Mụ, chùa Từ Hiếu (thuộc làng Dương Xuân Thượng, P. Thủy Xuân, TP Huế) nằm trong những ngôi chùa cổ gắn bao thăng trầm đất cố đô.
Chùa tọa lạc trên một khu đồi núi thấp khá bằng phẳng, phía trước cổng chùa là một khu đồi thông xanh mát, bên cạnh có một con suối nhỏ trong vắt quanh năm nước chảy tạo cho nơi đây phong cảnh trầm mặc, thanh tịnh đậm chất chốn thiền môn.

Hồ bán nguyệt sau cổng tam quan của chùa.
Bước qua cổng tam quan của chùa là một hồ bán nguyệt nước trong vắt phản chiếu bóng hình rêu phong cổ kính cùng từng đàn cá to tung tăng bơi lội... Tất cả, tạo nên một bức tranh phong thủy rất đỗi hữu tình.
Ngoài lịch sử lâu đời cùng với kiến trúc độc đáo mang đậm nét đặc trưng của vùng đất cố đô, chùa Từ Hiếu còn nổi tiếng khắp trong ngoài nước bởi nơi đây còn có một nghĩa trang độc nhất vô nhị - nơi chôn cất các quan thái giám của triều Nguyễn năm xưa.
Nằm cách chính điện khoảng 50m về phía bên trái của chùa Từ Hiếu chính là khu mộ địa của các quan thái giám với hơn 20 ngôi mộ được chia thành 3 dãy rõ rệt, phía trên mỗi bia mộ đều có khắc tên tuổi, quên quán, pháp danh, chức vụ và ngày mất của từng vị thái giám. Hằng năm, cứ đến ngày rằm tháng 11 âm lịch, nhà chùa lại đứng ra tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ đến công đức những người đã mất, trong đó có các quan thái giám triều Nguyễn có phần công đức tại chùa.


Phần mộ của những vị quan thái giám triều Nguyễn năm xưa được chôn cất trong khu “nghĩa trang thái giám” nằm trong khuôn viên chùa Từ Hiếu.
Tiền thân của chùa Từ Hiếu là An Dưỡng Am được xây dựng do nhà sư Nhất Định - là một vị tăng uyên bác, thông tuệ nội điển được cả triều đình Huế kính nể lập lên từ khoảng đầu thế kỷ XIX để làm nơi tịnh tu. Đến năm 1843, dưới thời vua Thiệu Trị, quan thái giám Châu Phước Năng do ý thức và lo lắng rằng sau này khi mình nằm xuống do không có con nối dõi, bát hương sẽ nguội lạnh trong những ngày cúng giỗ nên đã đứng ra quyên tiền góp của để trùng tu xây dựng An Dưỡng Am thành một ngôi chùa khang trang với mong muốn sau này làm nơi yên nghỉ, hương khói.
Về sau, An Dưỡng Am được vua Tự Đức sắc phong “Sắc tứ Từ Hiếu Tự”, từ đó chùa chính thức có tên là Từ Hiếu và tất cả những thái giám trong triều Nguyễn có phần công đức tại chùa sau khi mất đều sẽ được nhà chùa mai táng, chôn cất và hương khói tại chùa trong những ngày cúng giỗ. Cũng chính vì lẽ đó nên ngoài tên gọi Từ Hiếu, chùa còn có các tên gọi khác như “chùa Thái giám” hay “chùa Hoạn quan”.

Chùa Từ Hiếu hiện nay là một điểm đến hấp dẫn của rất nhiều du khách trong và ngoài nước. (Ảnh tư liệu)
Trong chùa, một trong những nơi thờ tự trang trọng nhất chính là án thờ của Tả quân Lê Văn Duyệt (1763 - 1832) - một trong những vị tướng quân xuất sắc dưới thời vua Gia Long lập quốc. Ông không chỉ là một thái giám mà còn là một nhà quân sự tài ba, một nhà chính trị xuất chúng. Chỉ vì lòng ghen ghét, đố kỵ mà ông bị kết tội oan và bị san phẳng mộ dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1841). Mãi đến đời vua Thiệu Trị (1841 - 1847), ông mới được minh oan và được xây dựng lại mộ phần.
Sau này, cùng với Thái úy Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) đồng thời cũng là một thái giám, Lê Văn Duyệt được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ và được xem là một trong những bậc tiền hiền có công với đất nước, dân tộc.
Giờ mỗi khi đến Huế, sau khi đã dạo bước tham quan những lăng tẩm, đền đài, dạo chơi trên sông Hương núi Ngự, không ít du khách tìm đến tham quan chùa Từ Hiếu - nơi vẫn còn lưu dấu những nét kiến trúc đặc sắc của đất cố đô xưa. Một chút lắng lòng và cũng để hiểu hơn thân thế, phận đời của những vị thái giám từng phục vụ trong cung cấm năm xưa.
Bài và ảnh: Hồng Trần (Tuổi trẻ)

Bí mật về thái giám trong cung nhà Nguyễn: Những phận đời đặc biệt

Cũng giống như các triều đại phong kiến trước đây trong lịch sử của dân tộc, triều đại nhà Nguyễn (chỉ tính từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua vào năm 1802 đến lúc vua Bảo Đại thoái vị năm 1945) vẫn duy trì chế độ sử dụng thái giám làm việc trong cung cấm.

 thái giám trong cung nhà Nguyễn - năm 1908. (Ảnh tư liệu của nhà nghiên cứu Phan Thuận An)
Thái giám là những con người có số phận rất đặc biệt kể từ lúc mới chào đời (đối với giám sinh), hay kể từ khi bị thiến (đối với giám lặt) cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay rời xa cõi thế. Từ trước đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, nhiều nhà văn, nhà báo chọn cuộc đời của những vị thái giám trong cung Nguyễn để làm đề tài tác nghiệp của mình, tuy nhiên nhu cầu tìm hiểu về chuyện đời của những con người đặc biệt này của bạn đọc thời nay vẫn luôn là một thôi thúc đối với những người cầm bút.
Với bài viết này, chúng tôi hy vọng rằng sẽ thêm một lần nữa khắc họa lại một cách tường tận những câu chuyện cuộc đời còn ít người biết đến về các thái giám trong triều đại quân chủ phong kiến cuối cùng của lịch sử Việt Nam.
Vốn chịu ảnh hưởng rất đậm nét của nền văn hóa phương Đông, vì vậy các triều đại phong kiến Việt Nam trong đó có triều đại nhà Nguyễn vẫn duy trì việc tuyển chọn thái giám để hầu hạ trong chốn hậu cung của nhà vua.
Gốc tích của các thái giám theo một số tài liệu nghiên cứu lịch sử đã công bố thường là có hai hệ, đó là "giám sinh" và "giám lặt". "Giám sinh" là những người con trai khi sinh ra vốn dĩ đã bị khiếm khuyết ở bộ phận sinh dục mà dân gian thường gọi là "lại cái" hay "ái nam, ái nữ", đến tuổi trưởng thành không thể có khả năng quan hệ tình dục với người khác giới.
Theo quy định dưới thời phong kiến, gia đình nào sinh ra một người con như thế phải lập tức báo cáo với quan chức ở trong làng, rồi từ làng báo lên xã, lên huyện, rồi báo cáo với Bộ Lễ trong triều đình đương thời. Đứa trẻ ấy sẽ được ghi tên vào sổ theo dõi cho đến lúc cai sữa (có tài liệu cho rằng khoảng 10 hay 11 tuổi) thì sẽ được đón vào cung nuôi nấng theo nghi lễ trong cung. Đến tuổi trưởng thành, Bộ Lễ sẽ đưa vào nội cung để làm thái giám, phục vụ những công việc thường ngày trong chốn hậu cung của nhà vua.
Theo quy định, làng nào có gia đình sinh được "giám sinh" thì cả làng ấy được miễn thuế đến 3 năm và đương nhiên khi đứa con đó đã trở thành thái giám thì cha, mẹ, anh em ruột thịt sẽ nhận được rất nhiều đặc ân của triều đình. Những đứa trẻ đặc biệt ấy còn được người dân (đặc biệt là dân vùng Trung Bộ) gọi là ông Bộ. Vì thế, cho đến ngày nay thi thoảng đâu đó chúng ta vẫn nghe các bà, các mẹ khi đi chợ gặp lúc thời giá đắt đỏ, lại bị chủ hàng quán kèo nài mua hàng… thường là các bà, các mẹ buông một câu "ăn thứ đó (mặt hàng đắt đỏ) để đẻ ông Bộ cho làng nhờ à…", hoặc là trong những ngày hội hè ở các làng, xã, sau các hội thi mang tính tập thể, các đội thắng cuộc thường rất vui vẻ một cách tột bậc thì người ta thường ví niềm vui đó theo kiểu nói "vui như làng đẻ được ông Bộ".
Ngoài những thái giám có nguồn gốc là "giám sinh" thì trong hàng ngũ thái giám phục vụ trong Tử cấm thành còn có những ông "giám lặt". Theo tạp chí Xưa & Nay số 6, ấn hành tháng 9/1994 thì họ là những thiếu niên bị thiến từ khi còn nhỏ rồi sau đó đưa vào cung nuôi. Khi thiến, người ta buộc chặt bụng và đùi của người bị thiến vào một cái bàn đầu cao hơn chân. Bộ phận sinh dục được rửa bằng nước hồ tiêu để sát trùng. Đứa trẻ được cho uống một thứ thuốc gây mê được bào chế từ thuốc bắc. Người thiến hỏi "có bằng lòng thiến không?".
Sau khi nghe đứa trẻ nam nói bằng lòng, ngay lập tức người thiến hạ dao cắt dương vật, bìu và tinh hoàn, rồi đặt ống thông hơi vào chỗ tiểu tiện… sau 3 tháng, vết thương sẽ lành. Sau khi bị thiến, đứa trẻ nam trưởng thành sẽ bị rụng râu, rụng lông, ăn nói yểu điệu, giọng the thé giống như con gái. Tất cả những bộ phận bị cắt bỏ sẽ được sao tẩm để cất giữ lâu dài, khi được thăng chức sẽ đưa thứ ấy ra để trình làm vật chứng và đến khi thái giám ấy chết thì "bảo vật" ấy sẽ được chôn theo thi thể.

Một nhóm thái giám triều Nguyễn - năm 1918. (Ảnh tư liệu của Nhà nghiên cứu Phan Thuận An)
Tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho biết: Người làm thái giám trong cung gọi là hoạn quan. Hoạn có nghĩa là làm tôi tớ. Nhưng những từ hoạn quan làm người đời hiểu từ hoạn là thiến (ví dụ như hoạn heo là người ta cắt bỏ đi tinh hoàn của con heo đực). Trong Tử cấm thành chỉ có một người đàn ông là đương kim hoàng đế, còn lại toàn là các bà phi, tần, nữ quan, thị nữ. Từ việc sai vặt, hầu hạ vua và các bà hoàng thái hậu, các bà phi cho đến những việc nặng nhọc khác của đời sống trong cung đều giao cho các thái giám. Công việc đặc biệt nhất và nặng nề nhất của các thái giám là việc sắp đặt cho quá trình ân ái của nhà vua.

Tài liệu của Công sứ A.Laborde đã công bố trong tập san "Những người bạn Cố đô Huế - B.A.V.H - tập 5 - 1918" có ghi lại rằng: Thái giám hầu cận vua đi vào một phòng kín; tại đây có một tập thẻ ngọc, mỗi thẻ có ghi bằng chữ vàng tên của một cung tần. Sở thích của vua được biểu lộ rõ rệt vào lúc ban ngày trên một thẻ nào đó, tấm thẻ được úp sấp lại. Thái giám hiểu và đi đến khuê phòng của người mỹ nữ đã được chỉ định, treo một cây đèn ú màu đỏ…
Trong khi người đàn bà được chờ đợi ấy cởi áo quần thì lập tức thái giám bước vào, cầm một áo khoác màu đỏ không có tay. Người mỹ nữ trần truồng run rẩy trước cái nhìn của một sinh vật vô giác, nhưng cánh tay mạnh mẽ đã quấn nàng vào trong áo choàng, và một sự xiết chặt có vẻ nóng hổi phủ trên mình. Những hành lang có âm vọng của bước chân đi qua, thái giám bước nhanh, ôm chặt trên ngực của báu ấy lại cái lạnh lẽo của một căn phòng. Dừng chân lại. Ánh sáng lờ mờ, hơi thơm thoang thoảng, thái giám đặt khối nặng ấy vào trong cái mơn man của nhung lụa trên một cái giường. Sáng hôm sau, người thái giám đứng canh trong đêm, mang mỹ nữ đang thiêm thiếp trở lại khuê phòng.
Thái giám lại làm tờ trình để xác nhận trong trường hợp xảy ra thụ thai. Điều bắt buộc trước lúc trở lại khuê phòng là người phụ nữ đã được vua "ngự dâm" ấy nằm trong áo choàng và được đưa đến trình diện nơi một cái bàn thờ để cầu thần phù hộ cho việc làm của vua.
Trong bài "Thái giám - loại người phục vụ đặc biệt trong cung Nguyễn", nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân viết: Việc chọn lựa người để ân ái là do vua quyết định. Nhưng các thái giám cũng có nhiều "mánh khóe" để có thể "tiếp thị" với nhà vua nên chọn bà nào. Do đó, nhiều thái giám hay được các bà đút lót quà bánh để được vua "sủng ái" nhiều lần. Có nhiều bà do khinh thường thái giám nên suốt cả cuộc đời ở trong cung cấm vẫn không một lần được thấy mặt vua…
Thái giám là những người thân cận nhất của vua và biết rất rõ về đời tư của vua. Vì vậy, để tránh sự lộng quyền của các thái giám trong cung cấm, nhà Nguyễn đã sử dụng hệ thống thái giám trong cung vào những việc sai vặt chứ nhất định không cho can dự vào triều chính. Bởi lẽ trước đó, nhà Nguyễn đã rút ra được một bài học về sự lạm quyền của cận thần thái giám Lê Văn Duyệt thời Nguyễn sơ.
Lê Văn Duyệt là một thái giám được ở chỗ màn trướng của Nguyễn vương (sau này là Vua Gia Long), là người có công rất lớn trong việc khôi phục lại giang sơn của nhà Nguyễn. Về sau Lê Văn Duyệt với chức vụ Tổng trấn đã quyết định nhiều việc quan trọng ở vùng Gia Định - Đồng Nai ngoài ý muốn của vua, điều đó đã làm cho một số ông vua đầu triều Nguyễn lấy làm khó chịu và hết sức bất bình, đặc biệt là Vua Minh Mạng (đương nhiên là bên cạnh đó còn có nhiều lý do bất bình tế nhị khác).
Theo tác giả A.Laborde trong B.A.V.H, 1918 thì vào ngày mồng 1 tháng 12 năm Minh Mạng thứ 17 (tức ngày 17/3/1836) Vua Minh Mạng đã ra một chỉ dụ và chỉ dụ này đã chấm dứt những sự lạm dụng thái quá của các thái giám dưới triều Minh Mạng. Từ đó, các thái giám làm việc, hầu hạ trong cung cấm không phụ thuộc vào bất cứ một quy tắc pháp luật nào cụ thể cả, họ sống ngoài lề so với các quan chức khác trong cung, đi lượm nơi này, nơi kia chút ít ân huệ để làm vui cho cuộc sống.
Về sau này, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cũng cho biết rằng, do thái giám Lê Văn Duyệt có những can gián trong việc muốn đưa Hoàng tử Anh, cháu nội của dòng chính nối ngôi Vua Gia Long và tỏ ra không thuận tình về việc lên ngôi của Vua Minh Mạng là con thứ. Vì những lý do đó mà Vua Minh Mạng đã có nhiều ác cảm với Lê Văn Duyệt. Việc Vua Minh Mạng ra chỉ dụ là nhằm hạn chế các ưu đãi đối với thái giám vốn dĩ trước đó họ được hưởng, bên cạnh đó chỉ dụ còn hạ bệ các thái giám xuống địa vị của những kẻ hầu hạ.
Trong tờ dụ này, Vua Minh Mạng nói rõ là từ rày về sau, thái giám không được có một danh tước gì mà trong bất kỳ trường hợp nào họ cũng không thể được tiến cử vào hệ thống quan lại. Vua Minh Mạng cũng đã nhắc lại trong tờ dụ là chức vụ của các thái giám chỉ để chuyển giao các mệnh lệnh và họ không được dính dáng đến bất cứ trường hợp nào trong việc cai trị của triều đình.
Tờ dụ của Minh Mạng cũng nêu rõ là thái giám nào phạm tội bất tuân các luật lệ mới được nêu trong tờ dụ này sẽ bị trị tội rất nặng không hy vọng được khoan dung, đồng thời ra lệnh là nội dung của tờ dụ này phải được khắc vào bia trước trường Quốc Tử Giám (Văn Thánh) để cho tất cả các thái học sinh hiểu và truyền về sau cho hậu thế.
Vì nội dung của tờ dụ Vua Minh Mạng bắt buộc là các thái giám không được đưa vào ngạch quan trường, nên đã tạo ra cho họ một hệ thống giai cấp đặc biệt để sắp xếp các ngạch, bậc và quy định lương bổng bằng lúa và quan tiền.
Theo đó, Hạng nhất là Thủ đẳng thì cấp bậc là Quảng vụ và Điển sự Thái giám, số bát gạo hàng tháng được hưởng là 48, số quan tiền hàng tháng được hưởng là 72. Hạng nhì là Thứ đẳng, cấp bậc là Kiểm sự và Phụng nghi Thái giám, số gạo hàng tháng được hưởng là 36, số quan tiền hàng tháng được hưởng là 60. Hạng ba là Trung đẳng, cấp bậc là Thừa vụ và Điển thắng Thái giám, số gạo được hưởng là 36, số quan tiền là 48. Hạng tư là Á đẳng, cấp bậc là Cung vụ và Hộ thảng Thái giám, số gạo được hưởng là 24, số quan tiền là 36. Hạng Năm là Hạ đẳng, cấp bậc là Cung phụng và Thừa biện Thái giám, số gạo được hưởng là 24, số quan tiền được hưởng là 24.
Đến thời của Vua Đồng Khánh năm thứ 2 (1887) có một vài thay đổi về lương tính bằng quan tiền được tăng lên. Đến thời Vua Thành Thái năm thứ 2 (1890) lương của thái giám hàng tháng nhận bằng lúa và quan tiền bị bỏ hẳn và thay bằng đồng bạc. Đến thời Vua Duy Tân năm thứ 6 (1912) thì lương bổng của thái giám được quy định lại như sau: Quảng vụ: 540 đồng/năm; Điển sự: 384 đồng/năm; Kiểm sự và Phụng nghi: 324 đồng/năm; Thừa vụ: 276 đồng/năm; Điển thảng: 264 đồng/năm; Cung vụ và Hộ thảng: 204 đồng/năm; Cung phụng và Thừa biện: 180 đồng/năm.
Trong đời sống và đặc biệt là sau khi Vua Minh Mạng cho ra tờ dụ vào năm 1836, bản thân các thái giám không được hưởng bất cứ một vinh dự nào giống như các quan chức khác ở trong cung. Tuy nhiên, các thái giám lại mang về cho cho người thân một vài vinh dự. Theo quy định thì các thái giám nằm trong 3 hạng trên là Thủ đẳng, Thứ đẳng và Trung đẳng có thể đứng ra xin cho cha họ chức Nhiêu phụ, là chức được vĩnh viễn miễn thuế cũng như xin phong chức Miễn nhiêu (khỏi thuế cả đời) cho anh em hay cho cháu. Các thái giám hạng tư (Á đẳng) hay hạng năm (Hạ đẳng) thì không được xin gì cho cha mà chỉ có thể xin một chức Miễn nhiêu cho anh em hay cháu mà thôi…
Theo Phan Bùi Bảo Thy (CAND)
Nguồn : http://hue.vnn.vn/vi/52/3356/Hue---Di-San

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn: 'Đạo hiếu luật' là lối thoát của an sinh xã hội

(Thethaovanhoa.vn) - Đến hôm nay, trên nhiều phương tiện truyền thông vẫn còn tranh luận đầy mâu thuẫn về việc Trung Quốc mới đây đã ban hành Luật Đạo hiếu. Bằng cái nhìn của một nhà nghiên cứu văn hoá, Nguyễn Tiến Văn lần giở lại nguồn cội văn hóa và thiết chế xã hội của đạo luật này.
“Đạo hiếu là viên đá tảng để khởi đầu cho việc tái thiết học thuyết Khổng Tử. Xây dựng viên đá tảng này là để xác định bản sắc của văn minh văn hóa Trung Quốc. Bên cạnh đó, nước này đang triển khai một đại sách lược để đưa 250 triệu dân nông thôn ra thành thị để biến cải nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, với hi vọng sau 20 năm sẽ bước lên địa vị số 1 thế giới”, Nguyễn Tiến Văn mở đầu câu chuyện.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn
* Nhìn từ khía cạnh văn hóa, theo ông Luật Đạo hiếu có bắt nguồn từ các quan niệm xa xưa hay không?
- Theo tôi nghĩ, Đạo hiếu luật ra ngày 1/7 xét về cội nguồn có thể tiếp nối di sản “trung hiếu tiết nghĩa” của Trung Quốc từ hơn 2.000 năm nay, nếu tính từ thời Khổng Tử là người khởi đầu việc mở trường tư thục.
Đạo hiếu bắt nguồn từ Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ và nhất là từ lời của Khổng Tử cho người học trò nổi tiếng về phụng dưỡng là Tăng Sâm. Tuy nhiên, văn bản Hiếu kinh gồm 1.799 chữ, chia ra 18 thiên, là do các nhà hậu học khoảng 200 năm về sau soạn ra. Sách này đến năm 743, đời Đường, được chính Huyền Tông (Đường Minh Hoàng)“ngự chế” (chú giải). Sau, Chu Hi (1130-1200) đời Tống càng tôn sùng, nên san định và chú giải thêm để dùng làm sách giáo khoa khắp thiên hạ.
* Qua thời gian nó vẫn như vậy?
- Trong 25 thế kỷ đạo Nho như một triết lý và một lối sống, thì đã có khác biệt và khoảng cách với hệ thống tư tưởng dùng trong việc cai trị và bành trướng thế lực văn hóa của đế quốc, bắt đầu từ triều đại Hán Cao Tổ (Lưu Bang).
Người hệ thống hóa Nho học thành giáo điều gò bó và phản dân chủ là Đổng Trọng Thư (179 TCN - 117 TCN), với sách lược “bãi bỏ bách gia, độc tôn Nho học”. Từ đó trở đi, lịch sử ghi nhận mọi thời kỳ, mọi triều đại đều có những thịnh suy của Nho học do mâu thuẫn xung đột giữa nỗ lực hướng về chân lý, tự do, dân chủ, nhân bản của trí thức về nhân dân với mưu toan kiềm chế để củng cố quyền lực và đàn áp xã hội của triều đình phong kiến.
Trong chương Khai tông minh nghĩa, Hiếu kinh viết: Hiếu là gốc của đạo đức vậy. Hiếu, bắt đầu là thờ cha mẹ, sau là thờ vua, cuối cùng là lập thân. Do kinh này dạy thần dần làm điều “hiếu”, từ đó mà khuyên dạy “lòng trung”, còn việc lập thân xếp xuống cuối cùng, cho nên, được giới thống trị coi trọng hàng đầu, từ đời Đông Hán đã được xếp vào loại kinh bắt buộc sĩ tử phải học.
* Khách quan nhận xét, những sách như Hiếu kinh, Thập nhị tứ hiếu… có gì hay? Có gì hạn chế?
- Tích cực là giúp củng cố không những gia đình hạt nhân mà còn cả chế độ đại gia đình trong một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và tự cung tự cấp. Nơi mà xã hội không có chính sách phúc lợi cho toàn thể người dân và an sinh về thất nghiệp, y tế, dưỡng lão, bảo hiểm… Khi đó, con cái là nguồn lao động cho gia đình, là sự bảo hiểm cho cha mẹ lúc tuổi già. Tất cả tạo ra một hình ảnh thắm thiết về tình người, trong một cộng đồng xã thôn nghèo khó nhưng ổn định về tâm tư, nơi cá nhân không được xác định như là giá trị trước những thiết chế to hơn là nhà, làng và nước.
Chất gắn bó của những tổ chức này này là gia phong (nếp nhà), hương ước (lệ làng) và quốc pháp (phép nước). Tất cả đều xây dựng trên hòn đá tảng là chữ hiếu, tức là sự vâng lời từ lúc bé dại (Dạy con từ thuở còn thơ/ Dạy vợ tức lúc bơ vơ mới về). Đây là sự cưỡng chế - vừa bằng sức mạnh của người lớn, ưu thế của hiểu biết và kinh nghiệm, vừa bằng tình cảm của máu mủ, thân thiết - nên thường dễ in dấu và hiệu quả cho đến tuổi trưởng thành, thậm chí suốt đời đối với nhiều người.
Mặt tiêu cực là bẻ gãy sự tự chủ và độc lập cá nhân, đề cao truyền thống và cội rễ, nên hạn chế cách tân, sáng tạo, phiêu lưu, khám phá… Bảo thủ quá khứ khiến tương lai bị hạn chế. Đặc biệt, Nhị thập tứ hiếu diễn ca chỉ lặp lại sự tôn sùng và cường điệu chữ hiếu một cách mù quáng, phản khoa học. Ở đây coi con cái như vật sở hữu của cha mẹ (nhất là của người cha trong chế độ phụ quyền, trọng nam khinh nữ), biến đứa con thành nô lệ, không có quyền sở hữu trên chính thân thể của mình. Người con chỉ biết hi sinh bản ngã để phục vụ, ngay cả những sở thích thất thường của chủ nó, là phụ huynh.
* Trong truyện nêu gương Nhị thập tứ hiếu, theo anh số truyện về ứng xử không lành mạnh là bao nhiêu?
- Nếu phân tích 24 gương hiếu trong tác phẩm vừa kể - đều lấy trong sử Trung Quốc, và Lý Văn Phức cũng là người gốc Minh Hương - chúng ta thấy có khoảng 8 truyện dựa vào những yếu tố huyễn hoặc, phi lý, đậm màu sắc thần bí và mê tín (như các truyện số 5, 9, 16, 17, 18, 19, 20 và 21). Cực đoan và phi nhân nhất là truyện số 9, khi hai vợ chồng toan chôn sống đứa con bẻ bỏng để lo nuôi mẹ già, nhưng khi đào đất chôn con thì tìm được hũ vàng.
Tất nhiên những truyện này dựa vào triết lý “thiên nhân tương ứng/ vạn vật đồng nhất thể”, nên yếu tố huyền thoại và huyền ảo là bình thường, nó có sức hấp dẫn với tuổi mới lớn. Thế nhưng, việc đưa những truyện này thành kinh sử và sắp xếp theo biên niên từ đời huyền sử Nghiêu, Thuấn cho đến đời Đường, Tống, rồi nhồi sọ cho lớp trẻ, trước khi chúng hình thành trí phán đoán, là có tác hại dài lâu. Điều đáng trách nhất: luận lý được giảng theo cách tuyệt đối áp đặt một chiều, chỉ nói đến bổn phận của con cái, mà không đề cập đến nghĩa vụ của cha mẹ. Ngay cả trong những trường hợp cha mẹ ác độc hay phi lý thì con cái cũng chỉ biết vâng lời. Đây là khiếm khuyết nặng về tính nhân bản và tính dân chủ.
“Chữ hiếu nguyên gốc chiết tự ra là chữ “lão” (người già), kết hợp với chữ “tử” (con trai). Hiểu có 3 nghĩa căn bản: 1) đối xử tốt với cha mẹ; 2) noi theo chí hướng của tổ tiên; và 3) giữ tang lễ cho đúng cách”.
* Ông nghĩ vì sao mà Luật Đạo hiếu lại được Trung Quốc ban hành lúc này?
- Không kể những thăng trầm trong lịch sử, riêng thế kỷ 20, Khổng Tử và Nho giáo đã 2 lần bị bài xích, đả phá triệt để, rồi cũng 2 lần được khôi phục, đề cao tại Trung Quốc. Tất cả đều vì những nguyên nhân chính trị.
Về sách lược văn hóa, Trung Quốc cần một biểu tượng để đoàn kết dân tộc và xuất khẩu văn minh ra thế giới, sau khi bình thường ngoại giao với Mỹ vào năm 1978, bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, và Liên Xô tan rã năm 1991. Từ năm 2000, Trung Quốc tích cực vận động thành lập các trung tâm và/hoặc hội nghiên cứu Khổng học, đầu tiên ở Đông Nam Á, nơi Hoa kiều rất đông (hơn 75 triệu người) và rất có thế lực về kinh tế, xã hội. Sau đó là các nước Tây phương qua chính sách giao lưu văn hóa đa dạng, song song với mậu dịch và ngoại giao toàn cầu trong vị thế của nước đứng nhì về kinh tế.
Đạo hiếu luật vừa lo chấn chỉnh đạo đức xã hội bị xói mòn, vừa chuẩn bị cho gánh nặng an sinh xã hội. Bởi một thế hệ nữa là Trung Quốc bước vào chu kỳ lão hóa dân số, thật khó lo nổi phúc lợi cho hàng mấy trăm triệu người già hết sức và hết tuổi lao động.
VĂN BẢY (thực hiện)Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Cao Thoại châu đoạt giải 1 thơ ĐBSCL lần 5

NVTPHCM- Theo tin từ Sông Cửu Long, Ban tổ chức cuộc thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 5 đã công bố danh sách các tác phẩm đoạt giải. Nhà thơ kỳ cựu Cao Thoại Châu ở Long An đã đoạt giải cao nhất cuộc thi với bài thơ Tiếng đờn ca tài tử ở phà Vàm Cống...
Nhà thơ Cao Thoại Châu

Danh sách giải thưởng cụ thể như sau:

Giải nhất:
- Tiếng đờn ca tài tử ở phà Vàm Cống - Cao Thoại Châu - Long An
Giải nhì:
- Phía mùa cam bạc lá - Nguyễn Thanh Hải - Tiền Giang
Giải ba:
1- Xóm mình nghèo giấu điện vào đêm - Nguyễn Ngọc Tân - Cà Mau
2- Nhật ký cho ngày rỗng - Trần Huy Minh Phương - Sóc Trăng
Giải khuyến khích:
1- Tản mạn trưa - Nguyễn Thanh Hải -Tiền Giang
2- Gió heo may - Nguyễn Giang San - Đồng Tháp
3- Đồng con gái - Võ Thị Nguyệt - Cần Thơ
4- Khúc biển 3 - Nguyễn Đình Chiến - An Giang
5- Đi tìm ngày mai - Trương Chí Hùng - An Giang
Tổng cộng 531 tác phẩm của 162 tác giả gởi đến dự thi. Các tỉnh, thành có số lượng tác phẩm tham gia nhiều nhất là: Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang và địa phương đăng cai Sóc Trăng.
Lễ tổng kết - phát thưởng sẽ tổ chức vào ngày 29.7.2013 tại thành phố Sóc Trăng.
Trước đó, theo email chính thức của Ban tổ chức cuộc thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 5 do 13 Hội văn học nghệ thuật trong khu vực liên kết tổ chức (Hội liên hiệp văn học nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng đăng cai) thì thành phần ban giám khảo cuộc thi được cơ cấu như sau:
- Nhà thơ Lưu Quốc Bình (Sóc Trăng - đại diện địa phương nơi đăng cai).
- Nhà thơ Kim Ba (Bến Tre - đại diện Ban công tác nhà văn Việt Nam khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; tác giả đoạt giải Nhất cuộc thi thơ hay của Báo Văn Nghệ TPHCM năm 1993)
- Nhà thơ Trần Hữu Dũng (quê gốc Tiền Giang - biên tập thơ báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh; tác giả đoạt giải thưởng về thơ của Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh)
- Nhà thơ Thu Nguyệt (quê gốc Đồng Tháp - làm việc tại báo Tuổi Trẻ TP. Hồ Chí Minh; tác giả đoạt giải thưởng thơ Hội Nhà văn Việt Nam)
- Nhà thơ Võ Quê (Huế; trước đây phụ trách tạp chí Sông Hương và Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên - Huế)
Trong đó, nhà thơ Thu Nguyệt, quê gốc tỉnh Đồng Tháp là Trưởng Ban giám khảo. Ban giám khảo làm cùng lúc 2 nhiệm vụ sơ khảo lẫn chung khảo đã tiến hành chấm thi từ những tháng cuối năm 2012.

Nguồn :http://nhavantphcm.com.vn  

Cao Thoại Châu
TIẾNG ĐỜN CA TÀI TỬ PHÀ VÀM CỐNG
                                        
                          

Đêm nghe tiếng đờn ca tài tử
Lạnh căm mà vẫn ấm trong lòng
Điều nhân nghĩa treo ra phía trước
Thói lọc lừa nịnh hót bỏ sau lưng

Kiến ngãi bất vi vô dõng giả
Chữ cang thường một gánh trên vai
Cây mía cây tre còn có đốt
Thẳng ngay ngay thẳng huống chi người

Đất dạy thêm làm người hào phóng
Lòng người có lúc giống lòng ghe
Mấy mảnh ván ghép thành nơi hành hiệp
Mưa sông buồn nhường chỗ kẻ sa cơ

Đêm nghe tiếng đờn ca tài tử
Góc đường hay ở bến sông kia
Bậu lạt lòng phút giây nào ai biết
Gởi tiếng đờn đi đón bậu quay về

Cặp Vĩnh Long ngoẹo sang hướng khác
Qua phà chạy ngược tới Cần Thơ
Có cầu nỡ nào quên bến cũ
Làm sao quên câu hát tiếng đàn mù!

Con cá nhúm rau vài bạn nhậu
Chuyện đời đâu đó kể cho nhau
Đẹp và buồn chia câu vọng cổ
Em ngọt ngào ta nhận đắng cay cho

Và trong đám đờn ca tài tử
Có kẻ ngồi im lặng dóng tai nghe
Quê nhà mút tận phương trời khác
Lòng nguôi ngoai theo giọng xuống xề
 
23-9-2012
caothoaichau.blogspot.com