Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Cầu Trường Tiền có từ lúc nào?

HỒ TẤN PHAN - NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG

Chúng tôi đọc một cách thú vị bài "Lại nói chuyện cầu Trường Tiền" của Quách Tấn đăng trên Tạp chí Sông Hương số 23.
Cầu Trường Tiền có từ lúc nào?
Cầu Trường Tiền năm 1932 - Ảnh: TL
Quách Tấn không những là một nhà thơ có tiếng từ trước Cách mạng tháng Tám mà ông còn là tác giả của 2 quyển sách "Nước non Bình Định", "Xứ Trầm Hương" là hai tập địa phương chí khá đồ sộ. Riêng về những vấn đề có liên quan đến Huế, ông đã quan tâm tìm hiểu từ năm 1930, lúc ông làm phán sự tại tòa Khâm sứ Huế, rồi từ năm 1958 đến 1975 ông đã để tâm sưu tầm những thắng cảnh cổ tích từ Huế đến Nha Trang.

Một cây bút có một quá trình hoạt động như vậy mà lại đem vấn đề Cầu Trường Tiền đặt lại thì nhất định là phải có vấn đề. Do đó, chúng tôi phải rà lại những hiểu biết của mình về Cầu Trường Tiền.

Cầu Trường Tiền có từ lúc nào?

Ông Quách Tấn có dẫn lời phát biểu của cụ Tôn Thất Lương "cầu Trường Tiền... biết đâu lại chẳng có khi Thuận Hóa còn là Châu Ô Châu Lý..." với cách đặt giả thuyết có tính cách mông lung như vậy quả là chúng tôi không biết dựa vào đâu để góp ý kiến.

Ngoài dẫn chứng nêu trên, ông Quách Tấn có những cứ liệu khác về thời điểm xuất hiện của cầu Trường Tiền khá hấp dẫn, đáng để cho chúng ta nghiên cứu:

1. Căn cứ vào bài thơ "Thuận Hóa Thành Tức Sự" của Thái Thuận đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) thì cầu Trường Tiền vào thời đó đã có rồi.

2. Căn cứ vào bài ca dao:

Cầu Trường Tiền 6 vài 12 nhịp
Em theo không kịp

Tội lắm anh ơi
Bấy lâu mang tiếng chịu lời
Anh có xa em đi nữa
Cũng tại ông trời nên xa

là câu ca dao có từ thời Hàm Nghi thì cầu Trường Tiền cũng đã có từ thời ấy rồi.

3. Theo lời cụ Ưng Bình (sinh năm 1877), hồi nhỏ cụ đã từng qua lại nhiều lần trên cầu Trường Tiền. Như vậy thì cầu này phải có trước thời Thành Thái, vì "Nếu đợi đến đời Thành Thái cầu mới bắc thì lấy gì tôi qua lại?"

Chúng tôi xin sắp các mốc thời gian từ xa đến gần như vậy để góp ý kiến cho tiện.

Ông Quách Tấn cho biết:

"Thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954), tình cờ đọc Lữ Đường thi tập của Thái Thuận đời Lê Thánh Tông (1940-1947), tôi gặp được bài:

THUẬN HÓA THÀNH TỨC SỰ

Châu trấp đông tây vãng phục hồi
Hồng kiều hoành xứ thủy môn khai
Vân liên sơn sắc thiên biên khứ
Phong quyện đào thanh hải thượng lai
Vãn thị ỷ la nhân hội hợp
Dạ thuyền ty trúc nguyệt bồi hồi
Ca nhi bất quản Giang Nam oán
Thời hữu hoành xuy xương lạc mai.

Tạm dịch:

Ghe thuyền qua lại sớm liền trưa
Cầu mống giăng sông của nước chùa
Mây lần bóng non trời rộng mở
Gió dồn tiếng sóng biển xa đưa
Chợ chiều tấp nập thân là lụa
Nốt nguyệt bồi hồi nhịp trúc tơ
Ca nữ quản bao dòng huyết hận
Địch dài trổi khúc lạc mai xưa.


Thuận Hóa thành tức là Huế rồi. Mà ở Huế còn con sông nào lớn và vừa đẹp vừa có thú chơi thuyền ban đêm như sông Hương. Như vậy cây cầu mống bắc trên sông chắc chắn là cầu Trường Tiền mà cụ Tôn Thất Lương nói. Tôi hết sức mừng.

Thái Thuận sinh năm 1441, người Thừa Tuyên, Kinh Bắc, nay là tỉnh Hà Bắc, biệt hiệu là Lã Đường, đỗ tiến sĩ năm 35 tuổi (1475), làm quan ở viện Hàn Lâm, và có đi công cán nhiều địa phương. Đạo đức và tài văn chương nổi tiếng đương thời, ông đã từng được cử làm phó súy Hội Tao Đàn. Sau khi chết thơ của ông đã được con là Thái Đôn Khác và học trò là Đỗ Chính Mô sưu tập làm thành Lã Đường Di Cảo, hiện nay vẫn còn (bản in không rõ năm: VHv. 1459/a).

Thật ra đối với tập Lã Đường Di Cảo chúng tôi cũng chỉ "văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình", đọc được mấy bài trong các tuyển tập mà thôi. Nay được cho biết ông đã đọc Lã Đường Thi Tập, chúng tôi rất cảm thông với nỗi vui mừng của ông Quách Tấn, không những cảm thông mà chúng tôi vui mừng thật sự khi được ông cung cấp cho bài Thuận Hóa Thành Tức Sự.

Nhưng ông Quách Tấn cho rằng Thuận Hóa thành tức là Huế, dòng sông nói đến trong bài thơ là sông Hương và "cây cầu mống bắc trên sông chắc chắn là cầu Trường Tiền" thì lại cần phải xét lại.

Năm Đinh Mùi (1307) đổi Châu Ô, Châu Lý thành Châu Thuận, Châu Hóa. Năm Giáp Ngọ (1411) vào thời thuộc Minh, Châu Thuận và Châu Hóa làm thành phủ Thuận Hóa. Địa danh kép Thuận Hóa bắt đầu có từ đó để chỉ phần đất từ Cửa Việt cho đến sông Chợ Củi (một nhánh của sông Thu Bồn), nhưng phần đất phía Nam Hải Vân chỉ kể trên danh nghĩa chứ thực tế thì người Chiêm Thành đã chiếm lại mất rồi. Năm Bính Tuất (1466) Lê Thánh Tông đem phủ Thuận Hóa thời thuộc Minh nhập với phủ Tân Bình (bao gồm phần đất từ Cửa Việt đến Hoàng Sơn, vốn là đất Ma Linh, Địa Lý và Bố Chính của Chiêm Thành cũ) thành Thừa Tuyên Thuận Hóa gồm 2 phủ, phủ Thuận Hóa cũ đổi thành phủ Triệu Phong gồm có 6 huyện là Vũ Xương, Hải Lăng, Đan Điền, Kim Trà, Tư Vang và Điện Bàn, 2 châu Sa Bôi và Thuận Bình.

Vào thời Thái Thuận, vùng đất nằm bên bờ sông Hương mà Kinh thành Huế hiện nay đang tọa lạc lúc bấy giờ thuộc huyện Kim Trà, gồm những làng mạc và đồng ruộng sống cuộc đời phẳng lặng bên dòng sông. Mãi đến năm Bính Dần (1626) chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đem thủ phủ của xứ Đàng trong vào Phúc Yên. Năm Ất Hợi (1636) chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan đưa thủ phủ vào Kim Long bên bờ sông Hương, phía thượng lưu cầu Trường Tiền. Phải đợi đến năm Đinh Mão (1687) chúa Nguyễn Phúc Trăn mới đem thủ phủ về xây dựng tại Phú Xuân đúng vị trí của Kinh thành Huế bây giờ.

Thuận Hóa Thành trong bài thơ của Thái Thuận, lúc bấy giờ, nằm bên dòng sông Bồ thuộc huyện Đan Điền nay là xã Quảng Thành huyện Hương Điền Bình Trị Thiên. Riêng về cái thành Thuận Hóa này chúng tôi sẽ xin viết thành một bài sau.

Như vậy thì "Thuận Hóa Thành" ở đây không phải "là Huế rồi", dòng sông mà bài thơ của Thái Thuận nói đến không phải sông Hương và cây cầu mà bài thơ có đề cập, tất nhiên, cũng không phải là cầu Trường Tiền.

Sau đó vào khoảng một thế kỷ Dương Văn An, sinh năm 1513, người huyện Lệ Thủy, phủ Tân Bình, nay là huyện Lệ Ninh, tỉnh Bình Trị Thiên, đỗ tiến sĩ năm Đinh Mùi (1547), làm quan triều Mạc, chức thượng thư, khi chết được tặng tước Tuấn quận công. Năm Ất Mão (1555) ông viết Ô châu cận lục, là một tập địa phương chí xưa nhất viết về vùng đất thuộc tỉnh Bình Trị Thiên hiện nay. Trong đó ông có viết về một cái cầu như sau:

"Cầu Đan Điền: Cầu ở chợ xã Đan Lương, huyện Đan Điền, phía Đông chợ có con ngòi có cầu bắc qua. Đầu cầu là khu dân cư. Mái cầu cong nhô tựa cá kình phơi lưng tung sóng. Người đi bộ không phải lo ngại khi sang sông, khách qua đường được đi thông thuận lợi. Có người làm thơ để ở cột cầu, nói cảm tưởng khi qua cầu phiêu diêu như đặt chân cõi Quỳnh Tiên (phiêu diêu đạp Quỳnh Tiên). Quả là chiếc cầu quan trọng ở đất Ô châu"(1)

Ngoài chiếc cầu nói trên, quyển sách không nói đến một chiếc cầu nào khác trong phạm vi của Huế sau này và chiếc cầu này cũng như chiếc cầu trong bài thơ Thuận Hóa Thành Tức Sự của Thái Thuận lại cũng nằm ở huyện Đan Điền, một địa điểm rất xa cầu Trường Tiền hiện nay.

Như vậy là đến lúc đó vẫn chưa có cầu Trường Tiền.

Hoặc giả, cầu Trường Tiền đã có rồi mà Dương Văn An không đề cập đến. Chúng ta tiếp tục tìm kiếm xem thử sao.

Cầu Trường Tiền năm 1903 - Ảnh tư liệu của Nguyễn Đắc Xuân

Michel Đức Chaigneau, cha Pháp (J.B. Chaigneau, một tay phiêu lưu theo Bá Đa Lộc qua giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, sau đó làm quan tại Huế), mẹ Việt (Hồ Thị Huệ), sinh năm 1803 tại Huế và sống tại đây cho đến 1825 mới theo cha trở về Pháp. Suốt 17 năm đầu trong cuộc đời mình, Michel Đức Chaigneau sống ở Phủ Cam bên bờ sông An Cựu hữu ngạn sông Hương, năm 1820 có qua Pháp một thời gian ngắn, lúc trở về Việt sống ở Chợ Dinh, nay là đường Chi Lăng nằm về phía tả ngạn sông Hương cho đến lúc về Pháp luôn năm 1825.

Như vậy là hai bên bờ sông Hương Michel Đức Chaigneau đều có ở một thời gian khá dài và chắc là ông đi qua lại nhiều lần trên sông này.

Năm 1858 Michel Đức Chaigneau đã cho đăng những hồi ký về Huế của mình trên báo và năm 1867 cho xuất bản tại Paris tập Souvenirs de Huế (Những kỷ niệm về Huế), trong đó có viết như thế này:

"Des ponts, de bois, jetés sur la petite rivière circulaire, relient trois côté de la ville aux faubourgs, et des bateaux de passage, vv... transportent les habitants d'une rive du fleuve à l'autre devant la facade principalé"(2) (Những chiếc cầu gỗ bắc ngang qua những dòng sông nhỏ, nối liền ba phía kinh thành với các vùng ngoại ô, còn phía trước mặt thì có những chiếc đò ngang đưa dân cư qua lại hai bên bờ).

Đối chiếu với bản đồ, cũng trong tập sách nói trên, thì những điều được đề cập trong là hoàn toàn phù hợp. Nhìn trên bản đồ ta thấy ngang qua Hộ Thành Hà ở 3 phía phải, trái và sau kinh thành đều có ghi dấu những chiếc cầu, kể cả những chiếc cầu hiện nay không còn nữa, còn trên đoạn sông Hương chảy ngang qua trước kinh thành chẳng có dấu vết gì.

Theo một tấm bản đồ của L.Rey, người Pháp, thuyền trưởng tàu Henry đến Huế năm 1819, chúng tôi thấy trên đoạn sông này cũng chẳng có một chiếc cầu nào(3).

1863, Palanca, đại tá người Tây Ban Nha, cùng với Bonard đến Huế để ký Hòa ước Nhâm Tuất, có nói một người Việt theo Thiên chúa giáo vẽ một tấm bản đồ kinh thành Huế khá tỉ mỉ. Trên đó, chúng tôi thấy có ghi đủ các chiếc cầu có tại Huế lúc bấy giờ. Riêng trên đoạn sông Hương chảy ngang qua trước Kinh thành cũng chẳng thấy có một chiếc cầu nào.(4).

Jullien, một sĩ quan công binh Pháp tại Huế trong các năm 1884 - 1886, có thực hiện một tấm bản đồ Kinh thành Huế chi tiết và chỉnh nhất so với các bản đồ trước đó cũng chẳng có gì khác hơn những bản đồ chúng tôi đã dẫn chứng trên về vấn đề mà chúng ta đang tìm hiểu(5).

Ông Nguyễn Văn Mại, sinh năm Mậu Ngọ (1858), người Thừa Thiên, nay thuộc tỉnh Bình Trị Thiên, đậu phó bảng năm Ất Dậu (1885), làm quan Nam triều từ năm Đinh Hợi (1887) dưới triều Đồng Khánh, ông có kể một câu chuyện xảy ra tại Huế năm Mậu Tý (1888) như sau:

"Ngày tháng 10 năm ấy. Ông Toàn quyền về kinh thăm. Nguyễn Hữu Độ tướng công phụng chuẩn trích nhiều vật tặng hảo. Lưỡng Cung lại giao ra hai viên ngọc như ý để trong 2 hộp đưa tặng Toàn quyền. Khi giao ra thì viện thuộc cất đặt cẩn thận, đến khi đem qua Tòa tặng thì mưa to gió lớn. Các đồ tặng phẩm thì chia làm mấy chục thứ để ở Long đình mà đem xuống thuyền (lúc đó chưa có cầu trên sông Hương giang), bất đồ quên mất 2 viên ngọc như ý. Tôn nhơn và các văn võ đình thần đều phụng mạng qua Tòa sứ để tặng phẩm vật. Trong viện thuộc thì một mình ta (Nguyễn Văn Mại) và một người thừa phái, vì gấp gáp nên không kiểm kịp. Đến Tòa thì các quan chia nhau bưng tặng phẩm vào mà không thấy hai tráp ngọc. Ông Nguyễn Hữu Độ hỏi đi hỏi lại, các quan đều sợ lui ra đổ lỗi cho ta. Còn ta thì một mặt úy cho hai người thừa phái về Viện Cơ Mật tìm, một mặt vào Tòa thưa rằng 2 tráp ngọc ấy để riêng một long đình, xuống một long thuyền nhỏ, nhơn vì mưa gió nên qua chậm. Tướng công cũng tin là thật, cho uống rượu rồi ra. Các quan hỏi ta rằng: Anh vào thưa làm sao mà đi ra thong thả rứa? thì ta đáp như lời đã thưa với Tướng Công. Các quan nói nếu ngọc đến chậm thì anh có lỗi, nếu tìm không ra thì anh nói làm sao? Ta nói "khi đó tôi có một kế là nhận chìm một chiếc thuyền và đổ cho sóng gió. Nhưng trong viện lẽ nào lại có người trộm ngọc, xin các quan chớ ngại", đình thần lấy làm lo lắm. Một lúc sau, người thừa phái bưng ngọc đến, các quan mới lục tục vào tiệc rượu xong, ai nấy đều mừng. Viện đường là ông Đào Tấn cười mà nói rằng: Anh Tiểu Cao (Nguyễn Văn Mại) thật là Triệu Tử Long, gan to như sao Bắc đẩu"(6).

Qua câu chuyện trên, chúng tôi thấy mãi đến năm 1888 cầu Trường Tiền vẫn chưa có. Cho nên ông Quách Tấn dựa vào câu ca dao "Cầu Trường Tiền 6 vài..." mà tin vào lời cụ Ưng Bình do ông dẫn chứng là "câu ca dao này có từ thời Hàm Nghi, Đồng Khánh, tả tâm sự của kẻ bề tôi chạy theo không kịp nhà vua xuất bôn khi kinh thành thất thủ (1885)". Câu ca này cũng đủ chứng rằng "Cầu Trường Tiền có trước đời Thành Thái" thì quả là cần phải xét lại.

Nhân đây chúng tôi cũng xin dẫn chứng một ít cứ liệu cũng từ cụ Ưng Bình để đối chiếu với những dẫn chứng của ông Quách Tấn ở trên.

Năm 1952, 76 tuổi, cụ Ưng Bình có làm bài thơ Cầu Trường Tiền Hiện Thời thể thất ngôn bát cú, câu 1 và câu 2 như sau:

Trường Tiền bến cũ có đã lâu,
Thợ ở bên Tây đến bắc cầu
(7).

Năm 1959, 83 tuổi. Cụ có làm bài thơ thất ngôn bát cú Sông Hương Giang, hai câu 5 và 6 như sau:

Sáu nhịp vòng cung cầu đã bắc
Trăm năm bến cũ dấu còn lưu
(8)

Dưới bài thơ có phần nguyên chú của tác giả như sau:

(*) Cầu 6 nhịp là cầu "Clémenceau", tục thường gọi là cầu Trường Tiền vì nguyên trước có bến đò Trường Tiền ở đó...
(**) Bến cũ tức là bến đò Trường Tiền nói trên.

Như vậy thì chính cụ Ưng Bình cho rằng cầu Trường Tiền là do Tây bắc, còn trước đó thì ở đây đang còn là bến đò. Mà đã nói là Tây bắc cầu thì như trên ta đã thấy, theo bản đồ của Jullien cầu Trường Tiền phải có sau 1888, nghĩa là khác với những điều mà ông Quách Tấn đã viện dẫn ra ở trong bài của mình.

Đến đây bài cũng đã hơi dài, chúng tôi xin trương dẫn 2 tài liệu có giá trị, hầu mong giải quyết vấn đề đã được nêu ra. Đó là 2 bộ Đại Nam Nhất Thống Chí đời Tự Đức và Đại Nam Nhất Thống Chí đời Duy Tân, đều do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn.

Bộ Đại Nam Nhất Thống Chí đời Tự Đức, theo đề nghị của Bùi Quỹ, đã có ý định biên soạn từ năm 1849. Đến năm 1865. Tự Đức giao cho Quốc sử quán thực hiện biên chép những việc từ năm đó trở về trước. Năm 1882 thì sách làm xong đem dâng và xin khắc in, Tự Đức bắt phải xem kỹ lại và soạn tập Bổ Biên để chép tiếp các việc cho đến năm 1881. Nhưng sách chưa kịp đem in thì xẩy ra vụ Thất thủ Kinh đô năm 1885, tập Bổ Biên bị thất lạc.

Trong sách, quyển I Kinh Sư, có chép như sau:

"Trước tới sông Hương, có 2 bến đò, bến cửa Chính Nam và bến cửa Đông Nam. Ba mặt tả, hữu và sau thành đào sông Hộ thành, đều bắc cầu gỗ..."(9).

Bộ Đại Nam Nhất Thống Chí đời Duy Tân, theo lệnh của vua Thành Thái, Quốc sử quán bắt đầu soạn từ năm 1906, điều 1 Phàm lệ ở đầu sách có cho biết sách chép những việc từ năm 1906 trở về trước, nhưng chúng tôi đọc thấy có chép cả một số việc xẩy ra năm 1907. Đến tháng 12 năm Duy Tân thứ 3 (1-1910) thì sách được đem khắc in. Quyển thứ 2, Phủ Thừa Thiên tập thượng, mục Tân Độ có chép:

"Bến đò Trường Tiền: Ở bến đò ngang quan lộ, phía đông nam Kinh thành. Năm Thành Thái thứ 9 (1897) cải tạo cầu sắt"(10).

Mục Kiều Lương của quyển sách trên lại chép:

"Cầu sắt Trường Tiền: ở đông nam Kinh thành: Bờ phía bắc thuộc về đường Đệ Nhất tổng Phú Xuân huyện Hương Trà (11); bờ phía nam thuộc phường Đệ Bát (11). Khởi làm năm Thành Thái thứ 9 (1897). Cầu có 6 gian, mỗi gian 66 thước 8 tấc 5 phân, bề ngang 6 thước 2 tấc, trọn bề dài 401 thước 1 tấc đến năm 11 (1899) mới xong; qua ngày tháng 8 năm 16 (1904) bị gió bão sụp hết 4 gian, còn lại 2 gian, năm thứ 18 (1906) xây sửa lại"(12).

Như vậy là 2 bộ Đại Nam Nhất Thống Chí đã ra đời trong 2 thời điểm khác nhau, những thay đổi trong khoảng thời gian giữa 2 thời điểm đó để lại dấu ấn khá rõ nét trong sách, bộ thứ nhất được biên soạn trong lúc cầu Trường Tiền chưa có, bộ thứ hai khi cầu đã được xây dựng rồi. Nếu chẳng có cứ liệu nào khác chính xác hơn để bác bỏ thì những đoạn mà chúng tôi mới vừa trích dẫn từ 2 bộ sách này xem như đã trả lời một cách thỏa đáng câu hỏi "Cầu Trường Tiền có từ lúc nào?"

Lẽ dĩ nhiên còn nhiều vấn đề về chiếc cầu này cần phải xét lại, như cái tên Trường Tiền chẳng hạn. Nếu độc giả thấy cần và tòa báo nhất trí thì chúng tôi sẽ xin bàn tiếp.

Cuối cùng, chúng tôi xin hỏi rõ hơn cái ý mà chúng tôi đã viết từ đầu bài là chúng tôi thú vị khi đọc bài của ông Quách Tấn, vì ông viết có duyên và cái việc lật ngược vấn đề lại bao giờ cũng có lợi, buộc chúng ta phải tìm hiểu sâu hơn.

HTP - NTNT.
(SH28/12-87)

-----------------
(1) Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, bản dịch của Ngô Đức Thọ (Viện Hán Nôm), tư liệu của thư viện Bình Trị Thiên, tham khảo thêm bản dịch của Bùi Lương, Sài Gòn, 1961, trang 66.
(2) Michel Đức Chaigneau, Souvenirs de Huế, Paris, 1867 p.146
(3) Plan N01 BAVH, N01-2, 1933
(4) Plan N02 và Plan N02 bis, BAVH, N01-2, 1933.
(5) Planche LIV, BAVH, N02, 1930.
(6) Tiểu cao Nguyễn Văn Mại, Lộ Giang Tiểu Sử (Tự truyện), bản dịch của Nguyễn Hy Xước, in ronéo, tr.58.
(7) Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Đời Thúc Giạ (Thơ từ 1942 đến 1960), Nhà xuất bản Bốn Phương, Sài Gòn, 1961, tr.104.
(8) Sách đã dẫn tr.143. 144.
(9) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí đời Tự Đức, Quyển I Kinh sư, bản dịch của Viện sử học, tập I, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, tr.15.
(10) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí đời Duy Tân, quyển 2 Thừa Thiên Phủ, tập thượng, bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Sài Gòn, 1961, tr.107.
(11) Phường Đệ nhất nay là phường Phú Hòa, Phường Đệ Bát nay thuộc phường Vĩnh Lợi, Huế.
(12) Sách đã dẫn, trang 114.


http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p39/c54/n13276/Cau-Truong-Tien-co-tu-luc-nao.html

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Quán Văn 18 ra mắt - vài hình ảnh

Toàn cảnh

Nguyên Minh - Lữ Kiều - Lữ Quỳnh (từ Mỹ về) - Từ Hoài Tấn

Vũ Trọng Quang - Trần Từ Duy - Nguyễn Đình Thuần (từ Mỹ về)
Vương Chi Lan - Nguyễn Miên Thảo - LQ - THT - Âu thị Phục An

Huỳnh Như Phương - Đỗ Hồng Ngọc

---------

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

100 năm ngày sinh Albert Camus: Nửa thế kỷ vẫn 'hiện sinh'

(Thethaovanhoa.vn) - Sinh thời, nhà văn, triết gia Pháp nổi tiếng Albert Camus (1913-1960) từng nói rằng những người có văn phong mạch lạc ắt sẽ có độc giả, còn những người viết tối nghĩa, khó hiểu thì chỉ thu hút các nhà bình luận.
Camus luôn lấy phương châm ấy làm “kim chỉ nam” cho các tác phẩm văn học của mình. Chính vì vậy mà giờ đây, sau 100 năm ngày sinh của ông và hơn nửa thế kỷ sau khi ông qua đời, các tác phẩm của Camus vẫn đến được với lượng độc giả mới trên khắp toàn cầu.
Nhà văn có ảnh hưởng nhất của Pháp
Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông, L'Etranger (Người xa lạ), đã được xuất bản bằng hơn 40 thứ tiếng và tiêu thụ được hơn 8 triệu bản. Đây là một thành tựu đáng nói đối với một câu chuyện phức tạp, nhập nhằng về đạo đức, có bối cảnh trong thế giới thuộc địa, phân chia giai cấp, chủng tộc, mà giờ đây ít người có thể hiểu được.
Camus sinh ra trong một gia đình nghèo ở Algeria (lúc đó còn là thuộc địa của Pháp) vào ngày 7/11/1913. Suốt thời thơ ấu, Camus không mấy bộc lộ năng khiếu chứng tỏ sau này ông trở thành một trong những người khổng lồ văn học của thế kỷ 20.

Mẹ ông là một người mù chữ và hơi nghễnh ngãng. Cha ông là một công nhân sản xuất rượu nho, đã chết trong một trận đánh lớn từ Thế chiến thứ nhất. Khi ấy Camus vẫn còn là cậu bé ẵm ngửa.  
Nhưng năm 1957, khi Camus 44 tuổi, ông đã đoạt giải Nobel Văn học bởi các sáng tác của ông đã “đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài người ở thời đại chúng ta”.
Khi nhận giải, Camus nói rằng ông dành tặng giải thưởng này cho người thầy giáo tiểu học của mình, nhân vật đã trau dồi kiến thức cho ông bằng những bài học thêm hằng ngày. Người thầy cũng thuyết phục gia đình cho ông tham gia những cuộc thi, qua đó mở cánh cửa giúp ông được học cao hơn.
Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Algiers, Camus chuyển tới Paris vào thời điểm phát xít Đức đang chiếm đóng. Ông bắt đầu sự nghiệp viết lách của mình với vai trò là cây xã luận chính của Combat, một tờ báo kháng chiến ngầm.
Khi Camus qua đời do tai nạn ô tô hồi năm 1960 ở tuổi 46, ông đã là một trong những nhà văn, nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất của Pháp, là đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh, cùng với Jean-Paul Sartre.
Những bài viết về triết học của ông, về sự phi lý của thân phận con người và sự cần thiết phải chống lại tình trạng đó, chống lại nỗi khốn khổ của kiếp người, luôn bị giới phê bình thời đó chỉ trích tơi bời. 
Camus là người có tinh thần độc lập và khả năng thể hiện những ý tưởng của mình thông qua lối kể chuyện thuyết phục. Đây chính là lý do giải thích tại sao cho đến nay ông vẫn được độc giả đón nhận.
Frederic Worms, giáo sư triết học thuộc Trường ENS ở Paris, nói: “Camus vẫn sống trong lòng độc giả bởi các tiểu thuyết của ông hiện thân cho triết lý của ông về trải nghiệm con người”.
Được quan tâm trở lại
Ở Pháp vài năm trở lại đây, công chúng đã tìm đọc các tác phẩm của ông. Theo nhà xuất bản Gallimard, vào năm 2008-2012, lượng sách bán ra của ông tăng gần 5%.
Năm 2010, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã đề xuất chuyển di hài nhà văn từ miền Nam nước Pháp vào điện Pantheon ở Paris, nơi chôn cất và tôn vinh những nhân vật lịch sử và các cá nhân làm rạng danh cho nước Pháp. Tuy nhiên cuối cùng, kế hoạch không được con trai nhà văn là Jean Camus ủng hộ.
Kế hoạch tổ chức triển lãm lớn, mang tên Camus, the Rebel, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn cũng bị “đổ bể” sau khi người tổ chức triển lãm chính, sử gia Benjamin Stora, bị sa thải do tranh cãi với nhà chức trách địa phương ở Aix-en-Provence. Họ cho rằng, triển lãm mô tả quá nhiều về Algeria thuộc địa. Vụ việc này khiến Bộ Văn hóa Pháp rút kinh phí tài trợ.
Tuy nhiên, triển lãm Camus, Citizen of the World có quy mô nhỏ hơn, vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch, cùng sân khấu mới được dàn dựng dựa theo tiểu thuyết Người xa lạ của ông và 2 vở kịch khác.
Vài năm trở lại đây, sức lôi cuốn của Camus ở hải ngoại cũng gia tăng đáng kể, một phần do nhiều người hâm mộ bóng đá phát hiện ra những lời bình luận của ông có thể chống lại những kẻ thành kiến với thể thao.                                                  
Sinh thời, Camus là người rất mê thể thao, đặc biệt là bóng đá. Một người bạn từng hỏi Camus: “Ông thích sân khấu hay bóng đá hơn?”. Ông lập tức trả lời: “Bóng đá”.        
Mặc dù Camus chỉ có một thời gian ngắn là thủ môn của đội bóng Racing Universitaire d'Alger (RUA), (ông đã phải bỏ chơi thể thao vì mắc bệnh lao phổi), người ta vẫn nhớ ông là thủ môn rất can đảm và chơi đẹp. Sau này, Camus từng nói: “Sau nhiều năm quan sát mọi thứ, tôi hiểu được đạo nghĩa và bổn phận con người là nhờ thể thao và RUA”.
VIỆT LÂM (tổng hợp)
Thể thao & Văn hóa

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Giới thiệu “Thơ Tình Nguyễn Miên Thảo": những khúc tình ca giữa đất trời

(SHO) - Vào tối ngày 7/11, Hội Nhà Văn Thừa Thiên Huế phối hợp với Tạp chí Sông Hương, Tủ Sách Văn tuyển Sài Gòn tổ chức cuộc giao lưu, giới thiệu tập “Thơ Tình Nguyễn Miên Thảo” (2013) tại Trung tâm văn hóa Phương Nam, 15 Lê Lợi, Huế.
Giới thiệu “Thơ Tình Nguyễn Miên Thảo": những khúc tình ca giữa đất trời
Nhà thơ Nguyễn Miên Thảo sinh ngày 19 tháng 08 năm 1946 , quê Phú Vang (Thừa Thiên - Huế), hiện sống ở TP.HCM. Ông từng có thơ trên tập san Trình bày và các báo tranh đấu của sinh viên - học sinh miền Nam chống Mỹ trước 1975 và được đánh giá là “một cây bút thơ cứng cáp trong phong trào đấu tranh đô thị từ Huế đến Sài Gòn”.
Nhà thơ Nguyễn Miên Thảo kí sách tặng độc giả yêu mến thơ ông

Nhà thơ Nguyễn Miên Thảo là tác giả, đồng tác giả của những tác phẩm như: tập thơ ”Hãy Thức Dậy Cùng Ta Thầm Lặng Đêm Nay” (Thơ, NXB Nội Dung,1966),  “Những Dòng Sông Đêm” (Thơ in chung, NXB Thuận Hóa, 2007), Tuyển tập 1000 Nhà Thơ Huế Đương Thời (ba tập), đồng chủ biên với Cao Huy Khanh, Viêm Tịnh (NXB Thuận Hóa, NXB Hội Nhà Văn, 2008 – 2012).
Đông đảo các văn nghệ sĩ, người thân, bằng hữu nhà thơ đã tham dự. Tại buổi giới thiệu sách, các nhà thơ Phạm Nguyên Tường, nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc, nhà văn Nguyên Quân, nhà thơ Viêm Tịnh, nhà thơ Lê Ngọc Thuận, nhà thơ Đinh Thu, … đã có những lời phát biểu, nhận định về tập thơ và đời thơ của nhà thơ Nguyễn Miên Thảo. Nhiều bằng hữu cũng đã trân quý đọc thơ ông trong chương trình.
Nhà thơ Nguyễn Miên Thảo và phu nhận đón nhận những bó hoa tươi thắm của bạn bè

Theo nhà văn Nguyên Quân, tập thơ tình Nguyễn Miên Thảo có sự ra đời rất thú vị. Số là trong những ngày tháng gặp gỡ Nguyễn Miên Thảo ở Sài Gòn, Nguyên Quân sáng sáng chở nhà thơ đi cà phê ở 81 Trần Quốc Thảo, mỗi lần như vậy nhà thơ Nguyễn Miên Thảo lại làm thơ trong một cuốn sổ “bí mật” và để nhà văn Nguyễn Quân cất giùm. Sau đó, tập thơ Nguyễn Miên Thảo được xuất bản như hôm nay, phần lớn rút ra từ cuốn sổ đó.
Nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc, Tổng Biên tập Tạp chí Sông Hương nhận định về tập thơ tại buổi giới thiệu: “Với tập “Thơ tình” này, nhà thơ Nguyễn Miên Thảo có vẻ như là một đạo sỹ giáo phái tình si đi hát rong những khúc tình ca giữa đất trời, qua bao nắng mưa. Giáo phái tình si ấy, anh vừa là giáo chủ đạo trưởng, vừa là đạo sỹ, vừa là tín đồ, bởi như anh nói: “Thấy em xỏa tóc ngả nghiêng bên trời/ Anh cầm một sợi lên chơi/ Ai dè suốt cả một đời lao đao”…
Nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc, Tổng Biên tập Tạp chí Sông Hương phát biểu tại buổi giới thiệu sách

Nhà thơ Viêm Tịnh, một người bạn thân đã chia sẻ về tập thơ tình ấy: "...trong trái tim anh vô hồi kỳ trận những khuôn mặt hồng nhan cùng anh thủ thỉ lời yêu mà anh đã dùng thi ca để chuyển tải hạnh phúc riêng mình".
Nhà thơ Viêm Tịnh

Ở một góc nhìn khác, nhà thơ Cao Huy Khanh trong bài viết “Thay lời tựa Giỡn chơi cuộc đời vô tận” đã nói về hành trình thơ Nguyễn Miên Thảo: “... xem cuộc đời là chuyến đi dài long bong phiêu lưu may nhờ rủi chịu nên cũng không xem thơ là một cứu cánh gì quá đáng lắm: “Anh trót sinh ra làm lãng tử/ Đa tình mà không biết điêu ngoa” (Thơ gửi vợ từ Huế)…”
Trường Giang
http://tapchisonghuong.com.vn/hue/p1/c12/n13215/Gioi-thieu-Tho-Tinh-Nguyen-Mien-Thao-nhung-khuc-tinh-ca-giua-dat-troi.html

RA MẮT THƠ TÌNH NGUYỄN MIÊN THẢO Ở HUẾ

19 giờ ngày 07 tháng 11 năm 2013,trong thời điểm một số nơi trong thành phố Huế bị ngập lụt do ảnh hưởng cơn bão số 13,tập Thơ Tình Nguyễn Miên Thảo ra mắt tại Cà phê Sách Phương Nam số 15 Lê Lợi, Huế do Hội Nhà Văn Thừa Thiên Huế, Tạp chí Sông Hương, Nhà sách Phương Nam, Tủ sách Văn Tuyển phối hợp tổ chức.

                    
Đến dự có Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Thừa Thiên Huế Họa sĩ Đặng Mậu Tựu, Chủ tịch Hội Nhà Văn Thừa Thiên Huế Nhà thơ Phạm Nguyên Tường, Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương Nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc, Giám đốc Nhà sách Phương Nam Bà Trâm Anh và đông đảo nhà văn,nhà thơ và anh chị em văn nghệ sĩ, phóng viên báo đài, bạn bè thân hữu và  gia đình nhà thơ Nguyễn Miên Thảo
                    
Đặc biệt Họa Sĩ Kim Long dù đang nằm trên giường bệnh cũng đã đến dự.
                  
Các nhà  thơ Phạm Nguyên Tường, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Viêm Tịnh, Hoàng Thị Thiều Anh, Lê Ngọc Thuận, Đinh Thu, Trường Thắng , Nguyên Quân, Lê Thị Nguyện đã phát biểu chào mừng, đọc thơ của NMT trong không khí ấm áp chân tình, một món quà vô cùng quý báu của quê hương dành cho đứa con xa xứ nhà thơ Nguyễn Miên Thảo
 
 
Lục bát tình si của Nguyễn Miên Thảo
Hồ Đăng Thanh Ngọc
Tôi thật sự giật mình khi nhìn thấy bài thơ đầu tiên của nhà thơ Nguyễn Miên Thảo in trong tập “Thơ tình” – bài “Tuổi mộng” ghi năm 1966. Thì ra phải sau 48 năm, kể từ sau tập thơ “Hãy thức dậy cùng ta thầm lặng đêm nay” được xuất bản giữa không khí sục sôi của phong trào đô thị miền Nam, tập thơ thứ hai của anh mới xuất hiện. Mặc dù giữa hai lần xuất bản này, nửa thế kỷ đi qua, biết bao thăng trầm cuộc đời, biết bao trang viết đã được anh Nguyễn Miên Thảo thực hiện, từ những trang nhật trình nóng hổi đến những trang văn thao thức, ray rứt bên đời.
Có lẽ với Nguyễn Miên Thảo, thơ trong cuộc đời không là cứu cánh, nên cái sự rỉ rả làm thơ, rồi thủng thẳng mới in thơ là cách giải thích cái sự thơ của anh có vẻ hợp lý nhất. Nhưng đó là nói vậy thôi, chứ thực ra không phải vậy.
Với tập “Thơ tình” này, nhà thơ Nguyễn Miên Thảo có vẻ như là một đạo sỹ giáo phái tình si đi hát rong những khúc tình ca giữa đất trời, qua bao nắng mưa. Giáo phái tình si ấy, anh vừa là giáo chủ đạo trưởng, vừa là đạo sỹ, vừa là tín đồ, bởi như anh nói: “Thấy em xỏa tóc ngả nghiêng bên trời/ Anh cầm một sợi lên chơi/ Ai dè suốt cả một đời lao đao”…
Ai đọc kiếm hiệp Kim Dung hẳn nhớ chất độc “Tình Hoa”của hoa hồng. Ai lỡ bị gai Tình Hoa đâm vào, kẻ đó khi nhớ người yêu thì phải thổ huyết cho đến chết. Cái sợi tóc lỡ cầm chơi đó cũng như cái chất độc “Tình Hoa” khi các giang hồ lãng tử ngày xưa lỡ để chạm tay vào gai hoa hồng vậy. Để phân biệt, xin gọi nó là Tóc Tình Hoa của Nguyễn Miên Thảo.:
            “Chỉ vì yêu em mái tóc
            Cuộc đời lận đận trăm năm”
                                    (Nghìn năm cô độc)
Nguyễn Miên Thảo đi hát rong những đoản khúc tình si bằng đủ các chiêu pháp là các thể loại thơ anh có: Thơ vần, thơ không vần, thơ tự do, ngũ ngôn, thất ngôn… Nhưng có lẽ phải với lục bát, các chiêu thức thi triển “Thơ tình” của Nguyễn Miên Thảo mới thể hiện hết cái lạ và đằm sắc vô cùng, là một thứ “lục bát dương chỉ” của riêng anh. Theo đó, “Thơ tình” thật sự là một “diễn từ lục bát yêu”, bởi như anh viết:
            “Trong mơ Phật nói rõ ràng
            Anh yêu em đã nghìn năm trước rồi”
Lục bát là tiếng lòng thoát thai từ trái tim và cũng biểu hiện sự minh triết chiêm nghiệm sống của dân gian. Với một người đi tới tuổi thất thập cổ lai hy, cái tình của tín đồ Tóc Tình Hoa, các chiêm nghiệm ắt hẳn phải khác người.
Vì lỡ cầm sợi tóc để Tóc Tình Hoa ngấm tận tim, nên cái sự đảo điên bắt đầu cuộc phiêu lưu riêng của nó:
            “Ngày em giáng xuống chữ tình
            Tôi điên đảo cũng một mình đấy thôi”
                                    (Một mình)
            Cái lao đao như anh nói, cứ trở đi trở lại trong suốt tập thơ, không quá đau đớn mà sao cũng cứ rười rượi buồn, không quá mê muội mà sao cứ đắm đuối làm vậy:
            “Dù ai nói ngả nói nghiêng
            Anh ngồi tĩnh lặng hành thiền nhớ em”
                                    (Đóa lặng thầm)
            Bởi vì sao vậy? Bởi vì cái khí hạo ngất trời của gã tình si biết mình đang chết vì Tóc Tình Hoa. Với gã tình si, được nàng cho phép yêu là đã hạnh phúc, huống chi là được em yêu:
            “Cảm ơn em đã cho anh
            Tình yêu với những tươi xanh cuộc đời
            Tim anh chết lặng lâu rồi
            Từ em thức dậy đất trời…lãng du”
                                    (Cảm ơn em)
            Cho nên dễ hiểu trong tập thơ, ngoài 3 bài “tạ tội” viết bằng lục bát được đánh số thứ nhất, thứ hai, thứ ba, Nguyễn Miên Thảo còn có bài “Tạ ơn em”. Tạ tội vì được yêu mà tạ ơn là cũng bởi vì yêu:
“Anh chừ tóc trắng bông lau
            Em còn xanh mướt nỗi đau dậy thì”
(Bài tạ tội thứ nhất)
Và cũng vì yêu mà đạt ngộ tình si:
“ Bởi vì kiếp trước chăm tu
Kiếp này anh được ở tù trong em”
(Ca dao mới)
Cho nên bao giờ cũng sẵn sàng hành hiệp:
            “Anh xin làm bóng trăng tà
            Để che khuất cái nõn nà giùm em”
                                    (39o C)
            “Hôn em sợi tóc rối nhàu
            Anh xin gánh hết nỗi sầu thế gian”
                                    (Hình như Huế đã…)
Yêu đến thế cho nên mới có bài “Ghen” dài đến 34 câu lục bát toàn nói chuyện ghen:
“Ghen em ghen đến bơ phờ
Ghen chi sớm ngẩn chiều ngơ thế này…
…Anh là một gã tình si
Ghen em đọa xuống A tỳ cũng vui…”
            Và đây đúng là yêu quay yêu quắt, đến cả cái sự mưa cũng được vơ vào:
            “Ngày xưa chỉ có mưa bay
            Sài gòn giờ lại mưa ngày mưa đêm
            Từ ngày anh gặp được em
Sài gòn với Huế mưa đêm mưa ngày”
                                    (Mưa)
            Và nhớ nữa, sao mà nhớ quắt quay tội nghiệp thế:
            “Nhớ em anh tự dỗ dành
            Nhớ em anh tự dỗ dành anh thôi”
(Nhớ trời tháng Giêng)
            Cái cách yêu đó, vừa tận cùng mà lại như cà rỡn, đúng là ít ai chịu nổi:
            “Yêu em trì chú đại bi
            Mở mắt ra Phật bỏ đi mất rồi
            Yêu em ngày rộng tháng dài
            Yêu em Phật Chúa đứng ngồi không yên”
                                    (Yêu em)
            Cứ thế cho đến khi:
“Từ ngày em bỏ ta đi
Câu thơ cũng úa huống gì là ta”
(Từ ngày em bỏ ta đi)
Đúng lúc này đây, độc Tóc Tình Hoa như đã phát tán khắp châu thân, khiến nhà thơ ngã gục. Các chiêu thức võ công bị phế bỏ. Nhà thơ lại lang thang cô đơn trên bước đường hành hiệp tình si, có lẽ không còn nỗi cô đơn nào lớn hơn:
“Đã xoay đủ cả trăm chiều
Phía nào ta cũng cô liêu một mình”
(Từ ngày em bỏ ta đi)
            Gã tình si đã u sầu bỏ đi. Chúng ta tạm thời dừng nói chuyện yêu của gã, bây giờ thử xem ngoài tình yêu, giáo chủ tình si có gì? Ồ, thì ra nhiều cái rất đỗi tài hoa:
            Như một thảng thốt nhớ Mẹ của một đứa con nơi xa xứ. Viết về nỗi nhớ mẹ mà kêu thốt hồn nhiên như đứa trẻ khi trên đầu hai thứ tóc là chuyện ít ai làm được:
“Câu thơ làm mới giữa chừng
Bỗng dưng nhớ Mẹ vô cùng Mẹ ơi”
(Nửa chừng)
            Hay một khoắt khuya đi qua vùng di sản, cũng thấy rất ít người có được những câu thơ về Huế thế này:
“Hoang vu mấy góc cổ thành
Hồn xưa vọng tiếng lạnh tanh kiếp người”
                                    (Nhẹ bước chân khuya)
            Hay một thảng thốt tự chiêm nghiệm khác trong đời:
“Tập cười sao lại buồn tênh
Tập làm thinh để mình quên chính mình”
                                    (Tập thiền)
            Và tiếp đây là hai câu có lẽ hay nhất trong số những câu thơ lục bát:
“Em ơi thế giới quá buồn
Có con chim chết trong vườn sáng nay”
(Dạo vườn)
            Có lẽ chỉ cần đọc lên thôi, không cần phải bình luận gì thêm.
            (xin đọc lần nữa)
           
            Vậy đó. Tài hoa là thế, nên yêu cũng lắm tài nhiều tật là chuyện đương nhiên. Như giáo chủ Tóc Tình Hoa một hôm bỗng tuyên bố “Quy y em”
Em cười
xóa cả vô mình
Anh trong kinh kệ
giật mình bước ra
mõ chuông
gửi lại trăng tà
anh xin phiêu hốt
bên tà áo em
(Quy y em)
Lại thế nữa rồi, cuộc rong ruỗi của kẻ tình si lại bắt đầu. Xin chúc nhà thơ lên đường chân cứng tình mềm…
H Đ T N
 
Nguồn : http://nguyenmienthao.blogspot.com/

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

Hậu Người tình" L'Amant

  
alt
Bà Duras thời còn trẻ.
   Nhiều người đã đọc tiểu thuyết “Người tình” (L’Amant, tiểu thuyết nổi tiếng thế giới của nữ văn sĩ người Pháp Marguerite Duras) và xem bộ phim cùng tên được chuyển thể từ chính cuốn tiểu thuyết “Người tình” bởi đạo diễn nổi tiếng Jean-Jacques Annaud. Nhưng còn ít người biết rằng, đó không chỉ là chuyện tình Pháp – Hoa trên đất Việt, mà là chuyện tình Việt – Pháp – Hoa, và hiện tại câu chuyện tình này đang trở thành giá trị văn hóa lịch sử lớn, góp phần phát triển du lịch ở vùng đất miền Tây Nam bộ, trên cả huyền thoại Công tử Bạc Liêu.
     Thị xã Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) và thành phố Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) nằm hai bên bờ sông Tiền, cách nhau khoảng 70 cây số. Gia đình chàng trai Huỳnh Thủy Lê “anh ở đầu sông” nơi thị xã Sa Đéc đã kết thông gia với gia đình cô Nguyễn Thĩ Mỹ “em ở cuối sông” bên bờ sông Tiền thành phố Mỹ Tho. Thế nhưng, trong khi gia đình hai bên chuẩn bị cho cuộc hôn nhân, thì bất ngờ một cô gái người Pháp (là tác giả của tiểu thuyết “Người tình”) xuất hiện. Sự xuất hiện của cô gái Pháp tuy có làm chao đảo, nhưng vẫn không làm tổn hại đến cuộc hôn nhân đã hẹn ước ở hai bên sông Tiền, mà sự xuất hiện đó đã là cơ duyên cho sự ra đời sau này một tác phẩm văn học lừng danh trong thế giới Pháp ngữ và trở thành giá trị lớn của vùng đất Tây Nam bộ cho đời sau.Sự ra đời của một cuốn tiểu thuyết lừng danh Một ngày cuối năm 1971 giữa thủ đô Paris tráng lệ của nước Pháp. Nữ văn sĩ đang được độc giả nước Pháp và cả thế giới Pháp ngữ yêu mến Marguerite Duras soạn lại các tác phẩm trong một đời viết văn của mình. Nữ văn sĩ 57 tuổi này có thói quen sống lại với các tác phẩm của mình mỗi lần năm cũ sắp kết thúc, năm mới sắp đến.

    
     Trước mặt bà là những cuốn tiểu thuyết mà bà đã rút ruột viết ra trong gần 30 năm cầm bút. Bà Duras dừng lại hồi lâu với cuốn tiểu thuyết L’Amant, bởi nó mang hơi thở của mối tình rất đẹp của bà với một chàng trai người Pháp cũng trong một chiều cuối năm. Bỗng chuông điện thoại nhà bà reo vang, chiếc điện thoại giả cổ theo kiểu Tướng Charles De Gaulle từng sử dụng phát lên những tiếng chuông như tha thiết, như giục giả. Bà Duras chợt thấy hồi hộp, tim đập mạnh, bà cũng không hiểu lý do tại sao, có lẽ tiếng chuông điện thoại trong một chiều cuối năm vang lên giữa tĩnh lặng đã làm rung động trái tim của người phụ nữ nổi danh là đa cảm này. Nhấc điện thoại, bà Duras vẫn còn hồi hộp chờ nghe thông điệp từ bên kia đầu dây. Giọng người đàn ông có vẽ đã lớn tuổi, phát âm không thuật chuẩn giọng Pháp, có thể là người nước ngoài, cụ thể là vùng Đông Á bởi đặc thù của cách phát âm theo lối ngôn ngữ đơn âm. 

Người đàn ông bên kia đầu dây cũng lịch sự hỏi thăm có phải bà là nữ văn sĩ Marguerite Duras, là câu hỏi mà bà rất thường nghe mỗi khi nhấc điện thoại. Sau khi biết chắc là bà Duras, giọng nói trong điện thoại bỗng trở nên thổn thức hỏi bà: “Bà có nhận ra ai đang nói chuyện điện thoại với bà không?”. Tất nhiên là bà Duras không thể nhận ra, vì đã hơn 40 năm có hơn bà không nghe lại giọng nói ấy, ngày trước là giọng sang sảng của một thanh niên trẻ trung, khỏe mạnh, giờ là giọng khàn đặc của một cụ già, thỉnh thoảng chen vào tiếng ho sù sụ.
                      alt
Bà Duras khi đã già.

Bà Duras bỗng thấy chân tay run rẩy, đứng không còn vững, khi từ đầu dây bên kia nói rành mạch: “Anh là Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc – Việt Nam 42 năm trước nè, em còn nhớ không?”. Là một nữ văn sĩ rất nhanh nhạy với từ ngữ, tế nhị trong ứng xử, nhưng trước tình huống quá bất ngờ và xúc động, bà Duras không biết phải nói gì, miệng chỉ ấp úng những lời thừa thải: “Ôi, anh Thủy Lê, làm sao anh biết số điện thoại của tôi…”. Ông Thủy Lê trả lời: “Em là nhà văn nổi tiếng, có khó gì chuyện tìm xin số điện thoại của em”. “Thế anh đang ở đâu, anh từ Trung Hoa gọi cho em phải không?”, bà Duras hỏi. Khi ông Huỳnh Thủy Lê trả lời rằng, ông đang gọi điện thoại ngay tại Paris, bà Duras chỉ còn biết thốt lên: “Ôi chúa ơi, cảm ơn chúa đã cho đời con còn có được ngày này, con còn có thể gặp được người đàn ông này”. Họ lặng lẽ đi bên nhau bên bờ sông Seine. Dòng sông thơ mộng chảy ngang qua Paris này thường dành làm nơi hẹn hò của những đôi tình nhân trẻ, còn người lớn tuổi ở Paris thường đi dạo trong những công viên dưới chân tháp Effel. Thế nhưng, bà Duras lại hẹn gặp ông Thủy Lê bên bờ sông Seine tình tứ, tất nhiên là có lý do của bà. Ngay khi vừa gặp nhau, ông Thủy Lê đã rưng rưng đôi mắt mờ đục của tuổi già và nói: “Anh vẫn yêu em, trọn cuộc đời anh vẫn yêu em”. Bà Duras cũng bất chợt thốt lên những câu nói tương tự. Họ đứng tựa vào nhau, hai mái đầu đã trắng màu sương tuyết nhưng hai trái tim thì vẫn nóng hổi, thổn thức.
 Dòng sông Seine mùa đông mặt nước lặng lờ trôi, không một gợn sóng, nhưng trong tâm tưởng của đôi tình nhân già đứng trên bờ sông lại ào ạt sóng nước sông Cửu Long, sóng nước đập vào mạn phà Mỹ Thuận chạy ngang dòng sông Tiền, trong một ngày cuối năm nước đổ như thác từ phía thượng nguồn… Cô nữ sinh Marguerite Duras tuổi 15 rời chiếc xe đò Sa Đéc – Sài Gòn, bước xuống phà, đứng tựa vào lan can phà nhìn nước sông Cửu Long chảy siết mang theo những đám lục bình trôi tản mạn. Chàng trai Huỳnh Thủy Lê cũng bước ra khỏi chiếc Limousine màu đen sang trọng tiến đến mạn phà nơi cô gái Tây đang đứng…Để rồi một mối tình dữ dội và lãng mạn đã đến với chàng thương gia người Hoa và cô nữ sinh người Pháp…

Chia tay với ông Thủy Lê trên bờ sông Seine, bà Duras trở về nhà cả đêm không thể ngủ, hình ảnh mối tình đầu của bà nơi xứ thuộc địa Đông Dương xa xôi cứ ào ạt tràn về như nước sông Cửu Long năm nào. Đối với những người cầm viết, nhất là những nhà văn nữ, những khoảnh khắt cảm xúc cao độ như thế thường cho ra những tác phẩm hay, và bà Duras cũng không bỏ qua cơ hội tuyệt vời này. Quyển tiểu thuyết “Người tình” (L’Amant, Nhà xuất bản Les Éditions de Minuit năm 1984) đã ra đời trong hoàn cảnh như thế và nhanh chóng chinh phục độc giả Pháp vốn rất tinh tế với văn chương, ngay sau khi xuất bản nó đả trở thành cuốn sách “best seller” (bán chạy nhất) với 2,4 triệu bản, đoạt giải Goncourt - một giải thưởng danh giá của văn học Pháp. Quyển tiểu thuyết cũng nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong thế giới Pháp ngữ và trên toàn thế giới, nó đã được dịch ra 43 thứ tiếng, tất nhiên là có cả tiếng Việt, và được dựng thành phim cũng rất nổi tiếng.Tiếng sét ái tình trên sông Tiền Phà Mỹ Thuận một ngày cuối năm năm 1929. Con đường thiên lý từ Sài Gòn đi về vùng sông nước miền Tây Nam bộ phải qua rất nhiều sông rạch, hầu hết đều đã được bắc cầu, duy chỉ có hai nhánh sông 

Tiền và sông Hậu của dòng sông Cửu Long rộng mênh mông là vẫn phải “lụy phà”. Mãi cho đến năm 2000 chiếc phà Mỹ Thuận mới kết thúc vài trò lịch sử của nó khi chiếc cầu Mỹ Thuận – cầu dây văng hiện đại đầu tiên của Việt Nam – nối liền hai bờ sông Tiền. Sau đó 10 năm, phà Cần Thơ cũng kết thúc sứ mạng lịch sử kéo dài gần 100 năm của nó khi cây cầu Cần Thơ lớn nhất nước thông xe. Ngày ấy, vào cuối thập niên 1920, xe đò “lục tỉnh” phải đợi qua phà Mỹ Thuận trung bình 1 giờ/chuyến. Trên chuyến xe đò Sa Đéc – Sài Gòn ngày hôm ấy, giữa những “anh Hai”, “chị Ba” đậm chất nông dân miền Tây đi Sài Gòn vì một chuyện gì đó, người ta thấy có một cô gái Tây ra dáng nữ sinh với chiếc cặp bên người, mái tóc buộc hai nhánh, đội chiếc nón rộng vành. Xe đò xuống phà Mỹ Thuận, phà rời bến, trên xe tiếng gà vịt lao xao, từng giỏ trái cây chất đầy trên nóc xe. Cô gái Tây rời khỏi xe, đến đứng tựa vào lan can phà, hít thở không khí trong lành, cặp mắt mơ màng nhìn dòng sông Cửu Long “sông dài cá lội biệt tăm”. 

Cô tên Marguerite Duras, con gái của một bà giáo là hiệu trưởng trường tiểu học ở Sa Đéc. Đó là bà Marie Donnadieu, Hiệu trưởng trường L’ecole Primaire De Jeunes Filles De Sadec,nay là Trường Tiểu học Trưng Vương thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Đây là ngôi trường cổ nhất Đồng Tháp.
                             alt
Ngôi nhà của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc.

Quê cô ở tận Paris nước Pháp, sau khi cha mẹ cô chia tay, mẹ cô đã dắt 3 đứa con nhỏ qua xứ thuộc địa Đông Dương để dạy học theo chủ trương truyền bá văn hóa Pháp sang các nước thuộc địa. Đến Sài Gòn, mẹ cô tình nguyện về một tỉnh miền Tây xa xôi để dạy học và bà đã dắt các con đến thị xã Sa Đéc, nơi đó có một ngôi trường tiểu học xập xệ, thiếu thốn mọi bề để dạy học. Thuở ấy ở Sa Đéc mới có trường tiểu học, muốn học cao hơn phải đến Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc lên Sài Gòn. Học hết tiểu học, Duras được người mẹ là giáo viên nghèo gửi lên học trung học ở Sài Gòn, nơi bà có người bạn thân làm hiệu trưởng. Duras có 2 người anh, không ai chịu học hành gì nhiều, trong đó có một người bị nghiện hút, là nỗi khổ tâm của mẹ cô, vì vậy người mẹ khắc khổ đã quyết tâm cho đứa con gái út học hành đàng hoàng. Hậu thế phải mang ơn bà Marie Donnadieu rất nhiều, vì nhờ sự quyết tâm của bà cho cô con gái Duras học hành đàng hoàng mà sau này thế giới có một nữ văn sĩ tài năng, đóng góp vảo kho tàng văn học của nhân loại nhiều tác phẩm có giá trị. 
Trên chiếc phà Mỹ Thuận chạy ngang sông Tiền vào cái ngày cuối năm 1929 tiền định ấy, ngoài chiếc xe đò chạy bằng than đá cổ lỗ nói trên, còn có chiếc xe hơi sang trọng hiệu Limousine. Thời ấy, vào cuối thập niên 1920, xe hơi nhãn hiệu Limousine nổi tiếng của Mỹ mới nhập vào Đông Dương chưa tới 10 chiếc, ở miền Tây Nam bộ chỉ có vài chiếc, trong đó công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy cũng tậu một chiếc ngay từ đợt đầu tiên. Chiếc Limousine màu đen trên chiếc phà Mỹ Thuận qua sông Tiền ngày hôm ấy không phải của công tử Bạc Liêu đang nổi tiếng về ăn chơi trên đất Nam kỳ, mà là của một “công tử” khác cũng trên đất “Nam kỳ lục tỉnh”, nhưng ít giàu có và không nổi tiếng bằng, đó là ông Huỳnh Thủy Lê, con trai út của ông chủ chành gạo Huỳnh Thuận giàu có nhất nhì tỉnh Sa Đéc. Là người gốc Hoa, ông Huỳnh Thuận không khởi nghiệp làm giàu bằng ruộng lúa như những đại điền chủ khác ở miển Tây Nam bộ, ông đã tận dụng lợi thế của người Hoa trong kinh doanh thương mại để kinh doanh lúa gạo, cả mua bán trong nước và xuất khẩu. Ông có chành gạo lớn nhất Sa Đéc, nơi tập trung lúa gạo để chuyển đi bán ở Bắc kỳ và Trung kỳ, cũng như đưa về cảng Nhà Rồng để xuất khẩu ra nước ngoài. Phất lên với nghề kinh doanh, xuất khẩu gạo, ông Huỳnh Thuận xây dựng nên những dãy phố sầm uất ở thị xã Sa Đéc để cho thuê, rồi ông về khu người Hoa ở Chợ Lớn xây dãy phố cũng với mục đích cho thuê. Chỉ riêng ở Sa Đéc, ông Huỳnh Thuận đã có hàng trăm căn phố, ông trở thành người giàu có nhất nhì tỉnh Sa Đéc thời đó. Cậu con trai út Huỳnh Thủy Lê được ông Huỳnh Thuận chọn nối nghiệp trao cho toàn bộ gia sản. Vì vậy mà ông Thủy Lê thường xuyên đi lại giữa Sa Đéc và Sài Gòn để quán xuyến chuyện làm ăn của gia đình bằng chiếc xe Limousine màu đen sang trọng. Năm ấy ông Huỳnh Thủy Lê đã 27 tuổi, nhưng vẫn chưa lập gia đình, thời đó như thế là quá đứng tuổi, là hiện tượng lạ của một đàn ông thuộc gia đình giàu có. Ông Thủy Lê lập gia đình trễ là có nguyên nhân của nó, cách đó gần 10 năm gia đình ông đã hứa hôn cho ông với 1 cô gái trẻ, nổi tiếng xinh đẹp ở Mỹ Tho, tên là Nguyễn Thị Mỹ. Bà Mỹ nhỏ hơn ông gần 10 tuổi, vì vậy ông phải đợi cho vị hôn thê “đủ lớn” để làm đám cưới.


Trong chuyến đi từ Sa Đéc đến Sài Gòn ngày hôm ấy, ông Thủy Lê cũng dự định ghé qua Mỹ Tho để thăm gia đình nhạc gia và nhìn mặt người vợ chưa cưới. Đang ngồi nghĩ ngợi về những thương vụ làm ăn đang chờ đợi ở Sài Gòn và nghĩ cách chào hỏi gia đình nhạc gia ở Mỹ Tho sau vài giờ nữa, bất ngờ ông Thủy Lê nhìn thấy một bóng sắc giai nhân nổi bật lên trong đám đông người bộ hành nghèo khó trên phà. Cô gái có nước da trắng, tóc nâu vàng, dáng người cao ráo, có thể cô không phải là người Việt hay người Hoa, mà là người Pháp. Cô gái mặc chiếc đầm màu sáng, đội chiếc nón rộng vành, mặt hướng theo dòng sông, không quan tâm gì đến cảnh xô bồ trên phà. Là người nổi tiếng đứng đắn, không thuộc loại “mèo mả gà đồng”, nhưng hình ảnh cô gái đứng tựa lan can phà nhìn dòng nước chảy xuôi chợt làm trái tim ông Thủy Lê rung động. Ông như bị tiếng sét ái tình, như bị thôi miên, đã lặng lẽ mở cửa xe đến đứng bên cô gái. Không nhiều lời, chỉ vài câu “tán tỉnh” của ông Thủy Lê, họ bỗng thấy như thân quen từ thuở nào, nhất là khi chợt nhận ra họ cùng ở thị xã Sa Đéc, sống gần nhau “hai nhà cuối phố”. Ông Thủy Lê đề nghị và cô gái Duras chấp nhận, cô trở về chiếc xe đò lấy chiếc va li nhỏ và chiếc cặp học trò mang qua chiếc Limousine màu đen để đi cùng người đàn ông mới quen về Sài Gòn. Tất nhiên là trên quảng đường từ Mỹ Thuận về Sài Gòn, ông Thủy Lê cũng đã “quên” ghé lại Mỹ Tho thăm nhạc gia và người vợ chưa cưới như đã dự tính.

 Sau đó, tình yêu lãng mạn và dữ dội giữa cô nữ sinh trường dòng người Pháp mới 15 tuổi rưởi và chàng thương gia giàu có người Hoa lớn hơn 12 tuổi đã kéo dài gần 2 năm trong bí mật. Dù yêu nhau đắm đuối, thường xuyên chìm đắm trong sự hòa điệu của đôi trái tim và trong những cơn mê thể xác, nhưng họ không thể công khai mối quan hệ của mình, mà luôn sống trong lo lắng, ngờ vực, sợ hãi... bởi những mâu thuẫn xã hội sâu sắc, giữa sự ngăn cách về chủng tộc và thứ tầng xã hội. Còn có một nguyên nhân quan trọng khác làm ông Thủy Lê không thể vượt qua những rào cản vô hình để sống trọn vẹn với tình yêu, đó là cuộc hôn đã hứa hẹn gần 10 năm với 1 cô gái Việt ở thành phố Mỹ Tho. Có thể đối với Marguerite Duras, mọi rào cản đều có thể bị san bằng, bởi cá tính mạnh mẽ và sự “nổi loạn” của tuổi trẻ, nhưng với Huỳnh Thủy Lê thì lại khác, nền giáo dục Nho học hàng ngàn đời đã không cho phép chàng vì tình yêu mà vượt qua tất cả những định chế của gia đình, dòng tộc, xã hội. 
Sau khoảng một năm rưỡi, cuộc tình của họ đã kết thúc trong nước mắt khi ông Thủy Lê phải đi đến cuộc hôn nhân đã được an bày từ gần 10 năm trước, còn Duras cùng gia đình lên tàu trở về cố hương bên trời Tây xa xôi. Trước ngày rời Sài Gòn, Duras đã đến ngôi nhà nơi cô từng sống những tháng ngày êm đềm bên người tình, nhưng ông Thủy Lê đang bận lo đám cưới ở tận miền Tây. Sau này khi viết tiểu thuyết “Người tình”, bà Duras đã kể lại khoảnh khắc này bằng những trang sách đẫm nước mắt:“Khóc mà không để cho mẹ nàng và người anh kế của nàng nhìn thấy nàng đang buồn, không để cho họ nhìn thấy gì hết, là thói quen giữa họ với nhau”. Ngày hôm sau, khi ra bến tàu, Duras cố nấn ná, kiếm tìm trong vô vọng hình bóng người đàn ông đã mang đến cho cô cả niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau, cô ước mong được nhìn thấy ông 1 lần cuối cùng trong đời. Duras đâu ngờ rằng, ông Thủy Lê đã ra bến tàu tiễn cô, để nhìn thấy cô 1 lần cuối cùng trong đời, nhưng ông không để cô biết, mà đứng lặng lẽ trong con đường nhỏ cạnh bến tàu để làm 1 cuộc chia ly. Thật kỳ diệu, khi chiếc tàu nhổ neo rời bến, Duras cũng đứng tựa vào lan can tàu như đã đứng trên phà Mỹ Thuận ngày nào, mắt hướng vào bờ, nhờ vậy mà cô đã nhận ra ông Thủy Lê đứng nép bên chiếc Limousine màu đen quen thuộc trong con đường khuất để dõi theo bóng tàu. Chỉ vài giây ngắn ngũi, họ thậm chí còn không kịp đưa tay chào nhau, chiếc tàu đã khuất bóng. 
Ông Thủy Lê phải vội vã quay về lo đám cưới, còn Duras lênh đênh trong cuộc hành trình dài 1 tháng rưởi, với những cơn vật vã do say sóng và với nỗi buồn thiên cổ vì yêu! Bà Duras đã kể lại trong cuốn tiểu thuyết “Người tình”: “Chiếc xe to lớn của chàng ở đó, dài và đen với người tài xế mặc chế phục trắng đàng trước. Chỗ đó chỉ cách chỗ đậu xe của hãng tàu thủy Messageries Martimes một con đường nhỏ, riêng biệt. Đó là điều mà nàng đã nhận ra. Đó chính là chàng ở phía sau, chỉ đủ trông thấy hình dáng, bất động, kiệt sức. Nàng tựa người vào lan can tàu, giống như lần đầu tiên, trên phà. Nàng biết chàng đang nhìn nàng, nàng cũng đang nhìn chàng, nàng không thể nhìn thấy chàng nữa nhưng nàng vẫn nhìn về phía cái hình dáng của chiếc xe đen. Rồi sau cùng thì nàng không thể nhìn thấy nó nữa. Bến cảng nhòa đi, rồi đến đất liền”.Rơi vào quên lãng Ông Huỳnh Thủy Lê trở về Sa Đéc để chuẩn bị cho 1 đám cưới lớn nhất từ trước đến giờ trong cái thị xã nhỏ bên bờ sông Tiền này. Đám cưới giữa ông với cô gái vùng đất “miệt vườn” cây lành trái ngọt Mỹ Tho kéo dài suốt 3 ngày, trở thành ngày hội của người dân Sa Đéc, nhưng trong lòng của chú rể thì như “một nửa hồn tôi chết”. Ngày ông rước cô dâu trẻ đẹp Nguyễn Thị Mỹ từ Mỹ Tho về Sa Đéc ngang qua phà Mỹ Thuận, cô dâu luôn tươi vui trong bộ áo dài vải gấm và bó hoa cưới rực rở, còn chú rể cố giữ nét mặt không biểu hiện cảm xúc. Tình cờ, cô dâu bước xuống xe, cũng đến đứng tựa vào lan can phà để khuây khỏa sau đoạn đường dài tù túng trong chiếc Limousine, ở ngay tại nơi mà cô nữ sinh Marguerite Duras đã đứng ngày trước… Trong tiệc cưới của mình, ông Thủy Lê uống thật nhiều rượu, uống như chưa bao giờ ông được uống, mọi người cho rằng vì ông quá vui trong ngày vui của mình, nhưng có lẽ chỉ một mình ông biết là trong những chén rượu chảy tràn có chứa những hương vị gì:hạnh phúc hôn nhân, tình yêu, nỗi buồn, đau khổ…? Không biết bên trời Tây người con gái có tên Duras có đau buồn kéo dài hay không, còn ở trời Nam, chú rể mới là thương gia Thủy Lê đã sớm nguôi ngoai chuyện tình buồn để trở về với công việc quán xuyến toàn bộ sản nghiệp và cơ ngơi làm ăn do cha là ông Huỳnh Thuận giao lại cho đứa con trai út sau khi nó đã thành gia thất. 
Rồi “chim quyên quen trái nhản lồng”, ông Huỳnh Thủy Lê và bà Nguyễn Thị Mỹ đã trở thành đôi vợ chồng đầm ấm, hạnh phúc hơn người, là hình ảnh mơ ước của bao người dân Sa Đéc và khu người Hoa ở Chợ Lớn. Bà Mỹ đã sinh cho ông Thủy Lê tổng cộng 5 đứa con, 3 gái, 2 trai. Họ sinh ra trên nhung lụa, lại được nền giáo dục nề nếp của gia đình, nên tất cả đều thành đạt.

                            alt
Bến phà Mỹ Thuận ngày nay.

Cô con gái giữa Huỳnh Thủy Anh của họ từng là hoa khôi của một trường trung học ở Chợ Lớn, cô về làm dâu của ông Trần Văn Hương, nguyên thủ tướng của chính quyền Sài Gòn cũ, từng có 1 tuần lễ làm tổng thống chế độ Sài Gòn cũ sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Hiện tại, các con của ông Lê đều sống ở nước ngoài, trong đó Huỳnh Thủy Tiên là GS.TS - Giám đốc Bệnh viện Nhi ở bang Califonia (Mỹ), Huỳnh Thủy Hà là giảng viên trường ĐH Sorbonne (Pháp ) . 
Năm 1972 ông Huỳnh Thủy Lê qua đời ở tuổi 70, đám ma của ông có ông thông gia là Trần Văn Hương đáp máy bay từ Sài Gòn về đưa tang. Chuyện tình, chuyện cuộc đời của người đàn ông nổi tiếng trên đất Sa Đéc tên Huỳnh Thủy Lê tưởng như đã đi vào quên lãng, nếu như 1 năm trước ngày qua đời ông không có chuyến đi Pháp để gặp lại người con gái trên phà Mỹ Thuận năm nào. Cuộc gặp ở Paris, bên bờ sông Siene đã giúp cho tiểu thuyết, sau đó là bộ phim “Người tình” ra đời. Để rồi từ đó, thị xã Sa Đéc, nơi ông Huỳnh Thủy Lê và bà Marguerite Duras từng sống và từng yêu nhau, như được phủi lớp bụi thời gian, trở nên lung linh sống động, trở thành điểm du lịch hấp dẫn của du khách trên khắp thế giới.
__._,_._

Bài Trần Ngọc Bảo sưu tầm và gửi