Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Với Thạch Lam

HỒ DZẾNH
         Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

                             NGUYỄN DU

Với Thạch Lam
Nhà văn Thạch Lam - Ảnh: internet
Mỗi độ giao mùa, gió heo may trở lạnh, tôi lại xao xuyến nhớ tới Thạch Lam. Tôi nhớ anh những hôm đi qua phố Hàng Đào, Hàng Ngang, tưởng chừng như phong vị một "Hà Nội băm sáu phố phường" vẫn còn phảng phất đâu đây. Trước Thạch Lam, chưa mấy ai phát hiện được đầy đủ cái thi vị, tinh hoa của những món quà thổ ngơi Hà Nội, khoan nói đến nghệ thuật thưởng thức như anh, với tấm lòng nâng niu, trân trọng. Và cũng ít có cây bút nào như anh, mất rồi mà cũng còn lưu lại trong lòng độc giả những cảm xúc bâng khuâng, những cái "rùng mình đột khởi theo ngọn gió mùa", trước số phận hẩm hiu của lớp người nghèo khổ.

"Lòng tôi se lại khi nghĩ rằng chỉ một chút âu yếm, một chút tình thương, cũng đủ nâng đỡ, an ủi những con người cùng khổ ấy".

Ai viết câu đó?

Thạch Lam.

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Từ đọc ngôn tình đến… viết ngôn tình!



Nhiều người quan tâm đến văn hóa đọc trong nước cho rằng kể từ năm 2006, sau khi cuốn sách do Trang Hạ dịch có tên "Xin lỗi em chỉ là con đĩ" trở thành hiện tượng, đó cũng là dấu mốc để truyện ngôn tình Trung Quốc ào ạt xâm lấn thị trường Việt Nam. Hiện nay tuy nhiều người cho rằng thứ sách nhảm nhí này đã thoái trào nhưng thực sự chưa có một con số thống kê chính xác nào để biết được sách ngôn tình hiện đang chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong số các đầu sách văn học được xuất bản tại Việt Nam, chỉ biết rằng nó vẫn là những đầu sách áp đảo về số lượng trong các nhà sách từ bắc chí Nam. Vì tiền, các nhà xuất bản, phần lớn là phía Bắc, đã bán giấy phép ào ạt để cho ra đời loại sách này, và cũng vì tiền, các nhà sách lớn nhỏ luôn trưng bày nó tại những nơi “bắt mắt” nhất mà không hề có một cảm xúc xấu hỗ.

Cái gọi là sách ngôn tình của Trung Quốc, mà nhiều người mỉa mai đặt tên “sến Tàu” là một loại sách á văn học, đầy tính chất uỷ mị, viển vông và cả gợi dục nhưng lại được các nhà xuất bản, các người dịch trẻ biết Trung văn tung ra ào ạt, và như một hệ lụy hiển nhiên, các cây bút trẻ Việt Nam cũng bắt đầu viết theo thể loại này. Nó nhanh chóng được các đầu nậu đánh hơi và ngay lập tức tung hê lên thành một “hiện tượng” để bán sách. Như việc một nữ MC truyền hình tung ra một cuốn sách dán nhãn 18+ với hình bìa là ảnh hở vòng một của chính cô, rồi mới đây việc một tập thơ cũng của một tác giả nữ, mang cái tên dài và đầy hơi hướm ngôn tình “Anh ngủ nữa đi anh, em phải dậy lấy chồng”, ngôn ngữ bên trong đầy tính chất gợi dục khá trơ trẻn, lại được giới thiệu như một “phát hiện” từ những nhà báo con buôn, là một ví dụ sinh động.

Điều này tạo ra một nhận thức lệch lạc trong cách đọc của giới trẻ, bởi chỉ nói riêng về sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam, dù phải tiết chế dưới chế độ kiểm duyệt, không ít các tác phẩm rất đáng đọc, nhưng trước sự thờ ơ của báo chí, của các nhà phê bình, các tác phẩm đó gần như bị trôi tuột đi. Còn với những tác phẩm văn học, những tác giả lớn của thế giới, hầu như không có tác phẩm thơ nào được dịch và in, thậm chí nữ văn sĩ Alice Munro, người Canada chuyên viết truyện ngắn, đoạt giải Nobel Văn chương 2013, một cái tên lẫy lừng như vậy nhưng chỉ trừ những người quan tâm đến văn học đích thực, phần lớn các bạn trẻ Việt Nam, ngay cả tầng lớp sinh viên, không biết bà là ai!

Điều đáng nói, Việt Nam là một quốc gia có tỷ lệ người đọc sách thấp đến kinh ngạc. Theo thống kê hiện nay trung bình 1 người Việt Nam đọc 3 cuốn sách 1 năm - trong đó có 2,3 cuốn là sách giáo khoa. Như vậy số lượng sách tự chọn chỉ chưa đến 0,7 cuốn/1 người/1năm, trong khi đó tại Thái Lan, con số này rơi vào khoảng 5 cuốn/1 người/1năm - không tính sách giáo khoa, tức người Thái đọc gấp khoảng gần 10 lần người Việt!
Ai cũng biết để đánh giá tri thức của một quốc gia, người ta sẽ nhìn vào nền giáo dục, xuất bản, báo chí, tỷ lệ đọc sách… của đất nước đó, về vấn đề này, thực tế cho thấy Việt Nam đang tụt hậu không chỉ với thế giới nói chung, mà tụt hậu cả với láng giềng cùng chung khối Đông Nam á.

Ở miền Nam trước đây, có một cái “phong trào” rất dễ thương của người trẻ. Hồi đó sinh viên và học sinh đều “cặp nách” một vài cuốn sách triết của Phạm Công Thiện, hoặc các tác giả “hiện sinh” lẫy lừng như Henry Miller, hoặc đọc tiểu thuyết của Erich Maria Remarque. Ai muốn đọc Quỳnh Dao hay Bà Tùng Long đều dấm dúi vì sợ quê. Còn ngày nay, thử nhìn vào một căn nhà trọ của các bạn nữ sinh viên ngữ văn, ở đó chắc chắn có cả chồng sách ngôn tình Trung Quốc, và hiện nay là các tập sách, thơ mang hơi hướm ngôn tình Việt.
 
Blog Nguyễn đình Bổn

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Bùi ngùi nhớ tới Kim Phượng

 
Không thể nào nhớ chính xác, nhưng chắc vào khoảng năm 1959 thì tôi có duyên quen biết với chị Ba, thân thương thì gọi vậy, tên thật của chị là Đoàn Thị Kim Cúc, ở làng An truyền, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, Huế.
Theo lời chị kể, xưa kia chị theo kháng chiến, bị bắt vào tù, anh lãnh chị ra rồi cưới chị, trước đó anh đã có gia đình, chị Ái Liên là con của đời vợ trước, ngoài ra còn có chị Thu, anh Luyện và hai người em trai nữa.
Trước khi chị định cư ở Sàigòn, anh từng làm việc ở Phan Thiết, có nhà cửa tại đó, rồi đổi về Tân An làm Phó Tỉnh Trưởng Hành chánh, anh mất vì bệnh phổi, chôn cất ở Nghĩa trang Trung Việt, gần khu ngã ba Ông Tạ, Tân Sơn Nhất, chị và các con được lãnh tiền cô nhi quả phụ.
Khi các em, con chị đi sinh hoạt ở Gia Đình Phật Tử Giác Minh, anh Trúc Hải Phan Văn Bưởi vừa là người Huế quê ở Dương Biều vừa là Đoàn Trưởng Nam Oanh Vũ, nên anh đến nhà thăm viếng phụ huynh, rồi thân thiết gia đình chị với tình đồng hương, anh kéo theo Nguyễn Khánh Thuận, Lê Xuân Thiệu, Nguyễn Văn Chức và tôi, chị nhận chúng tôi là những đứa em nuôi, vài năm sau có thêm Hồng Loan và vài chục năm sau có thêm Yến Như, vợ cũ của Bạch Hoa Mai, khi chị định cư ở Virginia.
Dạo đó, chị thuê một căn nhà ở trong hẽm đường Trương Tấn Bửu, gần giáp ranh với quận Phú Nhuận thuộc tỉnh Gia Định và cũng không xa chùa Kim Cương.
Căn nhà thuê này ngang chừng 3 thước, dài chừng 10 thước, phía sau có cái chái nhỏ làm bếp, cạnh nhà chị là cái sân, lùi vào trong 5, 7 thước là căn nhà của chị Cả là chị ruột của chị Cúc. Chị Cả có con gái lớn chừng bằng tuổi Phú, cũng tên là Trâm, con trai kế tên Nam, kế nữa tên Đăng.
Năm con của chị Cúc là Hồ Văn Phú, Hồ Thị Kim Quỳ, Hồ Thị Kim Trâm, Hồ Thị Kim Phượng và Hồ Văn Phước. Tôi đến nhà chị Cúc thường xuyên hơn các anh kia, để kèm cho Phú và Quỳ học Toán, Luận văn để Phú thi vào Đệ Thất. Quỳ hay Trâm, Phượng thỉnh thoảng cắt tóc cho các em. Các em tóc cắt ngắn chấm vai phía sau, và phía trước cắt ngang chân mày cho khỏi che mắt, giản dị thế thôi.
Phú đã học lớp nhất nên có thể chơi đùa được, mấy em kia còn nhỏ, thậm chí có lúc Phước chơi đùa rồi khóc, còn phải dỗ dành, nhưng trong mấy anh em chỉ có Phước là có cặp mắt trong sáng tinh anh.
Nhà chị Cúc có mượn một người làm, cô gái này người miền Trung, về sau cô theo cách mạng, nên có lúc người em thứ mười của chị Cúc vào giúp nấu ăn, giặt gỵa.
Có một lúc nào đó, chị Ái Liên ở nhà chị Cúc một thời gian đi học, lúc đó chị Ái Liên còn trẻ, nhưng tuyệt đối không thấy có bạn trai hay bạn gái đến chơi.
Chị Cúc có người em gái thứ Tám*  ở Pleiku buôn bán, gửi con ở nhà chị đi học, đó là Hồ Văn Hiền, tôi không gặp chị này, nhưng gặp chồng chị là anh Diên thỉnh thoảng xuống thăm con, nay Hiền sống ở Sàigòn là nhà thơ Từ Hoài Tấn.
Khoảng năm 1961, 1962 chị Cúc bán nhà ở Phan Thiết, cất một căn nhà ở đường Bạch Đằng, Gia Định, cạnh chùa Bồ Đề, nằm trong đất của một trại cưa cây. Nhà hai gian rộng rải, thoáng mát nhờ bên cạnh con rạch.
Gia cảnh mẹ góa con côi, nên chị dạy cho các con rất nề nếp, từ việc bếp núc cho đến dọn dẹp nhà cửa, mọi thứ đều ngăn nắp. Từ Quỳ cho đến Trâm, Phượng đều có thể nấu ăn cho cả nhà dùng bữa.
Trong những anh em đến nhà chị Cúc, chị không cho ai tiền bạc hay vật chi hết, trừ có tôi khi thầy Thiên Ân du học ở Nhật về, chị đi thăm Thầy, khi về chị cho tôi một bộ nút machete và một cà-vạt. Phú đã lớn có nhận xét, một hôm hỏi chị, có tôi ở đó:
- Tại sao mẹ thương anh Tông hơn các anh chị đến nhà mình vậy mẹ ?
Chị Cúc trả lời dứt khoát không suy nghĩ:
 - Tại vì mẹ đẻ anh ấy được !
Thời gian này, chị Cúc có người em họ là anh Thuyên, sĩ quan không quân, thỉnh thoảng ra trại Tân Sơn Nhất tới chơi, nay anh ở Florida.
Tôi đi dạy và lập gia đình, thỉnh thoảng mới ghé thăm chị, các em lớn dần theo thời gian.
Rồi sau khi Tổng Vụ Thanh Niên cất, Thầy Thiện Minh cho chị Cúc cất ngôi nhà trệt phía sau Tổng Vụ, ngang chừng 3 thước nhưng dài khoảng 20 thước.
Thời gian này, thỉnh thoảng tôi mới ghé thăm chị, các em đã trưởng thành, Phú học Trường Hàng Hải Phú Thọ rồi đi Sĩ Quan, Quỳ học Mỹ Thuật Gia Định. Quỳ hay Trâm vẫn trò chuyện cùng tôi, nhưng Phượng hay Phước thì ít, có thể do từ khi các em còn nhỏ vẫn còn giữ khoảng cách với tôi, khi nói chuyện với tôi, Phượng vẫn cười vui, nhưng luôn trên mặt bao giờ cũng phảng phất nét buồn.
Nay các em đều đã lập gia đình, Phú đã có cháu nội, ngoại, nhưng tôi nhớ chỉ có dự đám cưới của Quỳ, tiệc cưới đãi ở nhà hàng Continental sau năm 1975.
Phượng lập gia đình tôi không nhớ lúc nào, nhưng gia đình bên chồng Phượng, ở góc đường Hai Bà Trưng – Lê Thánh Tôn, tôi nhớ có lần tôi ghé đó để nhắn Phượng việc chi đó vì sở làm của tôi trước kia ở địa điểm cư xá Brink nay là khách sạn Hyatt, không xa nhà bên chồng của Phượng.
Khi tôi đi định cư ở Mỹ rồi, nghe nói chồng của Phượng làm ăn khá, có cho con gái lớn du học ở Mỹ, rồi nghe Phượng và con trai sang Canada, Phượng học chi đó – tin không rõ, tôi nghĩ Phượng cho con du học rồi đi theo con, sẵn đó học thêm.

Phú, chồng của Kim Trâm, Kim Trâm, Phước, Kim Phượng
Năm 2010, sang Virginia dự đám cưới con gái lớn của Phú, cũng đã có trên 20 năm mới gặp lại Phượng, hỏi chồng con, Phượng trả lời đã ly dị lâu rồi. Trông em có vẻ buồn chuyện gia đình tôi không hỏi thêm, chỉ đi xem nhà Phượng vừa mới mua đang sửa sang lại.

Kim Trâm, Phước, Kim Phượng, Tông
Ngày 14 – 7- 2014, check mail, tôi không ngờ được tin buồn từ Hồ Văn Phú
Kính anh Tông,

Hồ Thị Kim Phượng, em của em vừa mới qua đời chiều tối hôm qua sau gần 18 tháng cầm cự với ung thư phổi và cuối cùng đã thua rồi. 

Em và chị Hồ Thị Ái Liên sẽ đáp chuyến bay trưa nay qua Calgary, Canada để tham dự tang lễ. Các em Hồ Thị Kim Trâm và Hồ Văn Phước đã đáp chuyến bay sáng nay rồi. 

Sau đây là nội dung email thông báo vào khuya hôm qua của Nguyễn Hồ Hương Trà, con gái đầu của Kim Phượng:

====================================
Dear all,
My mother has passed away today at 5:37pm. The monk just came to the hospital to pray for her. Her body will remain in the hospital till 2:00 am and the funeral home will come to pick her up.
=====================================
Vài hàng ngắn gọn thông báo đến anh trước khi tắt máy để chuẩn bị lên đường. Chủ Nhật 20 tháng 7 em và chị Ái Liên sẽ về lại Virginia.

Đọc xong tôi thật xúc động, vì luôn luôn nghĩ tới Phượng như ngày nào, khi các em còn nhỏ ở trong căn nhà đường Trương Tấn Bửu hay ở đường Bạch Đằng, nhìn tấm ảnh của anh Thuyên chụp lại, trông Phượng và mái tóc vẫn như xưa, như mới đó, còn đó vậy mà đã đi xa, không bao giờ quay lại, trông mong gì gặp nữa.

22-7-2014
HUỲNH ÁI TÔNG

Chép lại từ Email của : Phu Ho :
phu.v.ho@gmail.com

Ghi chú của blogger: 
Mẹ tôi thứ Bảy theo thứ tự sinh của Ông bà Ngoại ở Thừa Thiên Huế, trong Miền Nam là thứ Tám. Gia đình tôi lúc đó đi lập nghiệp ở Khu Dinh Điền Quận Tánh Linh Tỉnh Bình Tuy, sau dời lên Địa Điểm MéPu - Võ Xu Võ Đắt cũng thuộc Tỉnh. Thời gian tôi ở nhà Dì (136/33 Trần Quang Diệu (Trương Tấn Bửu (?) - Sài Gòn) Tôi theo học lớp Nhì và Lớp Nhất ở Trường tiểu học Trương Minh Giảng, thi rớt Đệ Thất rồi mới trở về Huế học tiếp. Tôi cũng có sinh hoạt Nam Oanh Vũ ở Chùa Giác Minh với các anh chị con Dì Ba.
Có lẽ anh Tông nhớ nhầm, đến năm 1962 gia đình tôi mới lên Kontum lập nghiệp lại. Không phải Pleiku


Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

Dấu ấn Lê Huy Miến qua 2 bức tranh 100 năm tuổi

Cho đến tận bây giờ, những tác phẩm của Lê Huy Miến - vị họa sĩ Tây học đầu tiên, người được coi là mở đầu cho nền mỹ thuật VN hiện đại, vẫn còn chứa đựng những điều bí ẩn với các nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam.
Dấu ấn Lê Huy Miến qua 2 bức tranh 100 năm tuổi
2 bức tranh vẽ ông bà Nguyễn Khoa Luận được lưu giữ tại chùa Ba La Mật (Huế) - Ảnh do họa sĩ Lê Huy Tiếp cung cấp
Hai bức tranh 100 năm tuổi
Những ngày tháng sáu vừa qua, một nhóm chuyên gia của Viện Mỹ thuật và Bảo tàng Mỹ thuật VN đã tìm đến chùa Ba La Mật (Huế) để khảo cứu hai bức chân dung ông bà Nguyễn Khoa Luận của họa sĩ Lê Huy Miến đang được lưu giữ tại đây. Trước đó, nhiều người từng được nghe tới hai bức tranh này, nhưng không phải ai cũng đã nhìn thấy tận mắt.
Hai bức chân dung có kích thước nhỏ (chỉ khoảng 40 x 60 cm) nhưng từng nét vẽ vô cùng tinh xảo. Người ta thậm chí còn đọc được chữ viết trên cuốn sách mà cụ ông cầm, hay từng chiếc lông quạt trên tay cụ bà. Điểm nhấn của hai bức chân dung là cách họa sĩ thể hiện thần thái của ông bà Nguyễn Khoa Luận qua ánh mắt sáng rỡ và sinh động. Hai bức tranh cho thấy rõ khuynh hướng hội họa ảnh hưởng châu Âu cổ điển đối với Lê Huy Miến.
Nhiều tài liệu ghi họa sĩ đã sử dụng chất liệu phấn màu, nhưng thực ra ông đã dùng màu nước. Ngay cả niên đại của hai bức tranh được cho là năm 1895 cũng phải xem xét lại. Theo họa sĩ Lê Huy Tiếp (người cháu gọi Lê Huy Miến là ông trẻ), thời gian Lê Huy Miến vẽ hai bức tranh vào khoảng từ năm 1913 -1924. Suy luận này được dựa theo thời gian họa sĩ Lê Huy Miến làm rể họ Nguyễn Khoa (ông kết hôn với cả hai người con gái của dòng họ Nguyễn Khoa).

Dấu ấn Lê Huy Miến qua 2 bức tranh 100 năm tuổi 2
Chữ viết trên cuốn sách mà cụ ông cầm
Tranh quý tại TP.HCM ?
Chính việc tìm lại hai bức chân dung của ông bà Nguyễn Khoa Luận đã tình cờ đưa đoàn khảo cứu đến cuộc hành trình khác. Một thành viên trong đoàn ngờ ngợ liên tưởng phong cách vẽ trong hai bức chân dung trên đến những bức tranh mà chị có lần phục chế. Ngay lập tức đoàn khảo cứu quyết định đến TP.HCM, tìm tới ngôi nhà nhỏ bên sông Sài Gòn, nơi lưu giữ những bức tranh này. Nhiều chi tiết cho thấy sự trùng hợp: đây cũng là hai bức chân dung được vẽ bằng màu nước, sự tỉ mỉ, sắc nét và thần thái trong tranh không khác với hai bức chân dung của ông bà Nguyễn Khoa Luận tại Huế là mấy.
“Người lưu giữ không nhớ chính xác tên họa sĩ. Ông này chỉ nhớ được mẹ kể lại là hai bức tranh do một họa sĩ đi học ở Tây về vẽ. Họa sĩ vẽ theo trí nhớ của mình, chỉ đến nhà uống rượu vài ba buổi mà đã vẽ được”, họa sĩ Lê Huy Tiếp kể. Thêm một chi tiết trùng hợp khác, người được vẽ trong tranh sống cùng làng với người chị ruột của cụ Lê Huy Miến. Rất có thể cụ Miến trong lần đến nhà chị chơi đã vẽ hai bức chân dung này tặng cho người hàng xóm. Mặc dù vậy, đây vẫn chỉ là những phỏng đoán. Để khẳng định chắc chắn có phải là hai bức tranh do họa sĩ Lê Huy Miến vẽ không thì cần phải có thêm thời gian phân tích kỹ càng.
Số lượng các tác phẩm của họa sĩ Lê Huy Miến nhiều, nhưng rất khó tìm thấy dấu tích. Những bức tranh của ông được tìm thấy trong nước cho đến nay có thể kể tới bức Bình văn và Chân dung cụ Tú Mền đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật VN, bên cạnh đó là bức chân dung cụ Lê Hy, ông bà Nguyễn Khoa Luận tại Nghệ An và Huế. Nhiều bức tranh của ông đã bị thất lạc, đến giờ không rõ ở đâu, còn hay mất. Trong số đó có thể kể tới bức tranh vua Thành Thái được Lê Huy Miến vẽ khi ông giữ chức Hành tẩu Bộ Công tại Huế.

Họa sĩ Lê Huy Miến (1874 - 1943) (nhiều tài liệu và mộ phần của ông ghi tên Lê Văn Miến) sinh ra trong gia đình khoa bảng tại làng Ông La, xã Kim Khê (nay là xã Nghi Long), H.Nghi Lộc, Nghệ An. Cha ông là Lê Năng Nghiêm, người giữ nhiều chức quan dưới triều Nguyễn, trong đó có chức Án sát Hải Dương. Bản thân Lê Huy Miến là người học rộng tài cao, có tư tưởng chống Pháp nên e ngại chốn quan trường. Năm 1892, Lê Huy Miến tới Paris học tại Trường Thuộc địa (École Coloniale) theo diện tuyển chọn con cái quan lại triều đình. Sau khi tốt nghiệp, có lẽ vì không muốn về làm quan, bên cạnh đó là lòng đam mê nghệ thuật sẵn có, Lê Huy Miến ở lại tiếp tục theo học tại Trường Mỹ thuật Paris (École des Beaux - Arts de Paris) và trở thành học trò xuất sắc của Jean Léon Gérôme. Lê Huy Miến là họa sĩ Tây học đầu tiên ở VN với kỹ thuật vẽ sơn dầu. Sau khi trở về nước, cuộc đời ông gắn bó nhiều với công việc dạy học. Ông đã dạy tại Trường Quốc học Huế, Trường École des Mandarins. Năm 1923, ông giữ chức Tế tửu (hiệu trưởng) Quốc Tử Giám. Trong thời gian dạy học ông đã truyền tinh thần yêu nước cho rất nhiều học trò, trong đó có Nguyễn Sinh Cung (Chủ tịch Hồ Chí Minh), Lê Thước...
Nguồn: Minh Ngọc - TNO

Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014

Marcel Reich-Ranicki, Một lời biện hộ cho thơ


(Chép lại từ trang : http://drtruong.wordpress.com/2002/09/03/marcel-reich-ranicki-mot-loi-bien-ho-cho-tho/)

Xin cứ nói thẳng: Thơ ư, có thật cần không? Hàng triệu người sống không thơ mà có sao đâu. Họ chẳng biết gì đến thơ mà vẫn hoàn toàn hạnh phúc. Họ chẳng thấy thiếu gì hết và còn tránh được khối điều phiền toái. Bởi thơ là một thể loại văn chương vô cùng đáng ngờ – và có đủ lí do để nhắc nhở ta hãy coi chừng nó. Trong văn xuôi người ta đánh bài ngửa, còn trong thơ nhiều khi lại đánh lận con đen. Thơ vốn luôn là chốn dung thân của những kẻ chẳng có gì đáng nói song lại thích được người khác nghe, những kẻ chuộng hát bởi không biết nghĩ, những kẻ buộc phải gieo vần bởi viết là thứ rào cản mà họ không sao vượt nổi.
Cái không tiêu thụ nổi trong văn xuôi lại được nhiều tác giả bày bán xổi trong thơ và cũng tìm được khách mua. Điều quá rồ dại để có thể nói xuôi thì họ lại thích đem ra để ngâm nga. Phải chăng thi sĩ là những ca sĩ giọng nam cao trong giới cầm bút? Có một điều chắc chắn là âm giai êm ái của ngôn từ – hay ít ra là cái được cho là êm ái – có thể dễ dàng che đậy sự nghèo nàn của trí tuệ. Ai trịnh trọng ngâm và xướng, kẻ đó không cần sợ bị chất vấn về ý nghĩa và mức độ thông minh trong lời lẽ của mình.Vâng, người ta yêu cảnh mờ tỏ và cái bí ẩn hơn là sự rõ ràng và tỉnh táo, tin vào bùa chú hơn vào phân tích. Những nhà tư tưởng ở đất nước này được đánh giá cao nhất khi họ làm thơ và những nhà thơ trước hết được ca ngợi khi họ không còn biết suy nghĩ. Việc lợi dụng hình thức thơ để lẩn tránh vào sự không rõ ràng và mơ hồ, để rút lui vào một tình trạng không thể kiểm soát và xa vời đến tận các huyền thoại về Đức Thánh mẫu đã và có lúc vẫn đang còn là một tai ương cố hữu trong nền văn học của chúng ta.Và như vậy, ở Đức, thơ là chốn ẩn mình của những tác giả có tài và bất tài, song đều chung nhau ở một điểm là ít dính dáng đến trí tuệ. Và của một công chúng dễ dãi chấp thuận yêu cầu: đến đây để hát theo, chứ không phải đến đây để cùng suy ngẫm! Sở dĩ chúng ta, dân tộc của các thi sĩ và các nhà tư tưởng, lại có được cái quan niệm rằng người ta chỉ có thể hoặc là thi sĩ, hoặc là nhà tư tưởng chứ khó lòng là cả hai, là do ảnh hưởng của một nhân vật lớn, người đã gieo rắc biết bao tai hoạ bằng vô số ý kiến của mình về văn chương, đặc biệt là về thơ và phê bình.

Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

Hai bài thơ tháng 7



Giả danh

Trùm đầu bằng sự ngu muội
Ký ức rêu xanh
Hàng ngày tôi hiện diện ở đây
Như kẻ đánh mất hình bóng

Ở cõi trên
Sự ám ảnh bất tận
Là nỗi lãng quên

Như được một lần bày tỏ cùng sự thật
Kẻ ẩn mình ăn năn

Không còn thời gian cho sự hối lỗi
Cuộc đời đắm mê ngoài tầm bắn của quá khứ

Trình bày tôi kẻ giả danh
Đội mũ xéo






Khi mùa thu


Khi mùa thu đi ngang qua lòng dửng dung
Lá vàng rơi mặc
Ẩn dấu trong tận cùng
Sự thèm thuồng thiếu nữ

Ngày nằm ngang khúc đường ray
Thưởng thức nỗi tàn hơi giờ chặp tối
Tung hết lên trời
Không đội mũ
Không che mặt
Đêm trần ai
Bẽ bàng sự giả tạo

Như lớp vôi trên mặt người đàn bà
Vỡ ra
Khi mùa thu tới


Từ Hoài Tấn

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Thơ LÊ VĂN NGĂN : Giây phút chạnh lòng