Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

Tư tưởng Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam

  •   Nguyễn Thị Trang
1. Dẫn luận
1.1. Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp. Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão và đạo Thiên chúa.
Tuy nhiên, tùy ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc mà học thuyết tư tưởng, tôn giáo này hay học thuyết tư tưởng, tôn giáo khác nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của người Việt, như Phật giáo ở thế kỷ thứ X - XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV - XIX, học thuyết Mác - Lênin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX. Cho đến nay, những học thuyết này không giữ địa vị độc tôn mà song song cùng tồn tại với các học thuyết, tôn giáo khác, tác động vào đời sống xã hội.
1.2. Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận soi đường cho chúng ta. Nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng, tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể, nên chúng ta cần vận dụng một cách phù hợp để góp phần đạt được mục tiêu của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Do đó, việc tìm hiểu nghiên cứu Phật giáo đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết. Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt tiến bộ cũng như hạn chế, Phật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được một phương cách để hướng đạo cho con người một cách chân chính, đúng đắn. Theo đạo để làm điều thiện, tránh cái ác.
Hơn nữa quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người. Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến Phật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng.
Tóm lại, nghiên cứu Phật giáo và nhìn nhận, đánh giá nó là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai.

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Nhớ thương Phạm Công Thiện

Nhớ thương Phạm Công Thiện
Phạm Công Thiện, mới qua đời tại Houston ngày 8.3.2011, với tôi là chỗ cố tri thân thiết, ngang trang ngang lứa, cùng tập tành bước vào nghề văn những năm đầu thập niên 1960.
Thời đó, Thiện đã có chút ít tiếng tăm vì từ 16 tuổi đã có soạn một từ điển tiếng Anh (Anh ngữ tinh âm Từ Điển, 1957) được Nguyễn Hiến Lê viết lời giới thiệu nồng hậu.
Trước tiên, chúng tôi là bạn chơi, tại Sài gòn, cùng thân thiết với nhà thơ Hoàng Trúc Ly, đàn anh hiền lành và hòa nhã. Cùng đi chơi đêm lúc ấy với Thiện, thường có Trịnh Cung và nhà thơ Ninh Chữ, có tiệm may trên đường Tự Do, thường là kẻ chi tiền, dường như thỉnh thoảng có cả Tuấn Huy. Là sinh viên bận học tôi không tham dự những cuộc vui chơi này, nhưng hôm sau được nghe kể lại cặn kẽ.
Tiếp theo là bạn làm báo. Khoảng 1962-1963 gì đó, anh Hoàng Minh Tuynh làm chủ báo Mai, Sài gòn, bán nguyệt san. Anh Tuynh là người công giáo tiến bộ, có uy thế lúc ấy, và ưa giao thiệp với các bạn trẻ mà anh tin cậy, chung quanh Nguyễn Hữu Thái là sinh viên kiến trúc. Thái kéo bè với đám bạn trẻ như Phạm Công Thiện, Quỳnh Tân, Lê Hiếu Đằng, Bửu Ý và tôi. Có lúc anh Tuynh sang Đức vài tháng, giao phó tờ báo cho chúng tôi « muốn làm gì thì làm ». Thái và Thiện viết vung vít sao đó, tòa Tổng giám Mục có lưu ý và anh Tuynh kiểm soát tại tòa soạn.
Thiện và tôi dường như có duyên nợ.  Khoảng 1964, không hẹn mà chúng tôi cùng lên dạy học tại Đà Lạt. Thiện thích Đà Lạt : gia đình anh dường như trước đó, có trang trại ở Fin Nom. Thời kỳ êm đẹp : việc dạy học nhẹ nhàng, thành phố đẹp, đồng lương dư dả. Thiện khoe tôi bài thơ mới làm xong :
Mùa xuân bay thành khói
Tôi ca hát một mình
Suốt đời không biết nói
Nước chảy tràn con kinh.
Thơ hay thiệt hay.
Anh có cho xem bài « gió thổi đồi tây hay đồi đông » mà nói rằng thơ làm trong cơn mê ngủ.
Vì thân cận, chúng tôi thường bị ảnh hưởng thơ Hoàng Trúc Ly :
          Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh…
Thơ Phạm Công Thiện :
         Cô đơn về trắng sương rừng
Ta nghe tiếng  hát hoang đường nửa đêm
Sau này, Thiện có sửa lại câu trước.
Thơ Hoàng Trúc Ly :
Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn,
Em ngủ một mình đêm gió mưa.
Thơ Phạm Công Thiện :
Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
 Cây khế đồi cao trổ hết bông.
Nội dung thì khác « chiều thứ bảy » trong thơ H.T.L. là một ngày trong tuần, trước chủ nhật. Còn « chiều thứ bảy » trong P.C.T. là lấy ý tự kinh Phật. « Cây khế » cũng vậy.
Dạo ấy, Thiện đi tu ở Nha Trang với thầy Trí Thủ, pháp danh Ngươn Tánh. Một hôm xuống chơi nhà Võ Hồng – mà anh rất thân – khi về chùa thì làm câu thơ này mà về sau anh tự dịch ra tiếng Pháp :
Je suis le Retour / il fait tard sur le Chemin
      Sept jours après la pluie tombe
             En haut du Temple
          L’arbre est le Défleuri

Thế giới thi ca tư tưởng Bùi Giáng

  • Tâm Nhiên
  • Thứ ba, 13 Tháng 1 2015 01:08
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia, văn nghệ sĩ cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
Tạp chí Tư Tưởng do viện trưởng Thích Minh Châu làm chủ nhiệm là cơ quan luận thuyết là tiếng nói của viện Đại học Vạn Hạnh, thường xuyên đăng tải bài viết của các bậc cao thủ này. Những tác phẩm thi ca, tư tưởng, triết lý, đạo lý của họ vô cùng thâm thúy, có giá trị mãi cho đến ngày hôm nay.
Lúc bấy giờ có nhà xuất bản An Tiêm do Thanh Tuệ làm giám đốc, vì một cơ duyên hy hữu nào đó đã dốc toàn tâm toàn lực ra để lo cho công việc in ấn riêng biệt những tác phẩm thơ văn, biên khảo, dịch thuật của Bùi Giáng. Sức sáng tạo của thi sĩ vào thời gian này, từ năm 1960 đến năm 1975 rất mãnh liệt, như ngọn lửa thiêng sáng bừng rực rỡ khắp trời đất u huyền, khiến cho nhà xuất bản An Tiêm in ấn không kịp :
Tưng bừng xuất bản An Tiêm
Ấn hành cổ lục chung niềm cảo thơm
Mưa nguồn tuôn ngát xanh rờn
Ngàn thu rớt hột cô đơn cuối bờ
Đó là một điều không ai hiểu nổi vì suốt ngày thâu đêm, người ta chỉ thấy một Bùi Giáng lang thang rong chơi, nhảy múa ngoài đường. Thường ngâm thơ uống rượu lu bù với mọi giới bình dân đây đó, bạ đâu ngủ đấy ngay ngoài vỉa hè xó chợ, góc quán hiên chùa, rong rêu lêu lổng khắp đầu phường cuối phố, ngao du trào lộng giữa ta bà, quá độ nồng say như Tản Đà, Lý Bạch nhưng vẫn thung dung :
Uống xong ly rượu cuối cùng
Bỗng nhiên chợt nhớ  đã từng đầu tiên
Uống như uống nước ngọc tuyền
Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau
Uống  xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời
Em còn ở lại vui chơi
Suốt năm suốt tháng suốt nơi lan tràn
Riêng anh về suốt suối vàng
Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Đà

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Bùi Giáng "chơi"

  •   Nhật Chiêu
  • Thứ sáu, 09 Tháng 1 2015 06:10
Con người và thơ ca Bùi Giáng dường như ăn nằm với một chữ “Chơi”.
Một cuộc chơi lu bù, bất tận, điên đảo, “tục tĩu mà thần tiên”.
Nói theo ngữ ngôn của ông là: trùng du điệp hí, anh nhi hí, đồng tử hí, trần gian du hí, thần thông du hí, ngày tháng ngao du, đùa với tuyết rỡn với vân, tót vời cuộc chơi, mở trận đùa rỡn từng cơn cơn cuộc cuộc, chơi theo lối nghịch hành, chơi trùng khơi trí hải….
Chơi thiên nhiên, chơi đời, chơi thơ, chơi huyền thoại, chơi kinh điển, chơi giai nhân, chơi hỗn độn, chơi thiêng liêng, chơi sáng tạo. Và chơi cái chết.
Thế giới đầy sáng tạo này là Vishnu Lila, trò chơi của Vishnu theo người Ấn Độ. Lila là chơi đùa, nhảy múa. Riêng cõi thơ này là Bùi Giáng Lila.
Đừng đọc thơ Bùi Giáng. Hãy chơi đùa và nhảy múa cùng thơ ấy.
Đó là thơ của Hồn du mục, thơ của Đời vui đón hội và thơ của Ngữ ngôn cuồng dại.
HỒN DU MỤC
Tập Mưa Nguồn là thơ của du tử, mục tử hiểu theo mọi nghĩa. Trang thơ mở đầu đã ngân lên hồn du mục:
Cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng
Hồn du mục cũ xa gần hử em
Bùi Giáng từng chăn dê chăn bò vào mấy năm cuối thập niên 40 vào cuối thế kỷ trước. Có thể thấy rõ việc làm đó cũng là trò chơi, đúng cốt cách Bùi Giáng.
Và chắc chắn nhà thơ mục tử xem chuyện chăn dắt ấy có hẳn một tư cách khác. Con người là mục tử chăn giữ “Tính thể”. Ý tưởng ấy Heidegger bày tỏ trong Thư về Nhân bản luận, một tác phẩm mà Bùi Giáng rất tán tụng.
Không chỉ cánh đồng của du mục là cánh đồng mà thân thể cũng là cánh đồng theo cách nói của Chí Tôn ca (Bhagavad Gita, khúc 13).

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

Sơ thảo tiểu truyện Bùi Giáng (*)

  •   Đặng Tiến
  • Thứ năm, 01 Tháng 3 2012 17:09
                                                                                      Des lisières lointaines
                                                                                        les cerfs ont bramé
                                                                                            (Từ ven rừng xa
                                                                                            tiếng nai gào gọi)
                                                                                               Apollinaire
Sơ thảo, gọi như vậy vì tính cách sơ lược của bài viết.
Vì một số dữ kiện nêu lên, không chắc chắn, dù cho người viết hết lòng tìm căn cứ. Chung quanh Bùi Giáng có nhiều giai thoại, dần dần trở thành huyền thoại, đồng thời với những tư liệu có khi không hợp lý, hay mâu thuẫn, không dễ gì kiểm chứng.
Sơ thảo, vì lối biên tập còn rườm rà, khi chúng tôi cố tình muốn đưa ra nhiều tư liệu, có lúc ngoài lề, để người khác có thể men theo và truy cứu thêm, về chuyện này hay chuyện khác.
Sơ thảo, tóm lại, không phải là lời từ tốn vào đề chiếu lệ, mà là lời mời gọi giới văn học và độc giả cải chính, bổ sung đào sâu hay nâng cao.
 Bùi Giáng đứng tên trên khoảng 60 đầu sách, chủ yếu là 14 tập thơ, xen kẽ 19 dịch phẩm, 6 sách giáo khoa đầu tay, phần còn lại là biên khảo về triết học và thơ. Hiện nay còn khoảng 10 tập thơ và nhiều văn bản dịch, chưa in... Bùi Giáng có vẽ tranh và có để lại tác phẩm, chủ yếu là ký họa.
Trên cơ bản, Bùi Giáng là nhà thơ.
*
*      *
Bùi Giáng là tên thật.
Có khi sử dụng nhiều bút danh khác: Vân Mồng, Bùi Bàng Giúi, Bùi Báng Giùi, Báng Giùi, Trung Niên Thi Sĩ, Ðười Ươi Thi Sĩ.
Ông sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926, Bính Dần, tại làng Thanh Châu, nay đổi thành Duy Châu vì thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam(1).
Thân phụ là Bùi Thuyên, tục danh Cửu Tý, địa chủ giàu có; thân mẫu là Huỳnh Thị Kiền, còn tên là Hai. Cụ Bùi Thuyên có hai đời vợ, bà trước là con Phạm Tuấn, là một trong năm tiến sĩ đồng khoa 1898 cùng quê Quảng Nam, gọi là Ngũ Phụng Tề Phi(2). Bà mất sớm khi hạ sinh người con thứ ba. Bà sau là cháu nội cụ Hoàng Văn Bảng, em ruột Hoàng Diệu, Phó bảng khoa 1853, Thượng thư Bộ Binh, Tổng đốc Hà Ninh, tuẫn tiết tại Hà Nội năm 1882. Bà sinh được hai gái và bảy trai. Bùi Giáng là con thứ năm, kể cả con bà mẹ trước, nên còn tên là Sáu Giáng.
 Những chi tiết này chứng tỏ Bùi Giáng xuất thân tự một dòng họ gia thế. Họ này gốc Nghệ An, di dân vào đây từ đời Hồng Ðức(3)

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Khi" Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn"



Tượng Đại thi hào Nguyễn Du.
Tượng Đại thi hào Nguyễn Du. 
NDĐT- Ngày hôm nay, 3-1, đúng 250 ngày sinh Nguyễn Du. Năm 2015 là năm UNESCO lần đầu tiên tổ chức Lễ kỷ niệm Nguyễn Du với tư cách là Danh nhân văn hóa thế giới.
Thời gian càng lùi xa, vẻ đẹp của Truyện Kiều càng hiện lên rực rỡ, tư tưởng của Nguyễn Du càng bộc lộ sự thâm thúy, sâu sắc, kể cả những điều mà mới đây, chúng ta từng coi là hạn chế. Đất nước văn hiến đã sinh ra Nguyễn Du và Truyện Kiều, Truyện Kiều đã làm cho đất nước càng thêm văn hiến.
Nguyễn Du trong và ngoài thời đại của ông
Thủy tổ họ Nguyễn ở Tiên Điền tên là Nguyễn Nhiệm, hiệu Nam Dương, vốn quê ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai (Hà Nội); một dòng họ có nhiều người làm quan cho nhà Mạc và nhà Lê.
Tính từ cụ Nam Dương đến thân phụ Nguyễn Du, là đời thứ sáu.
Khi cụ Nguyễn Nhiệm vào Hà Tĩnh, làng Tiên Điền khi ấy có tên là Tân Điền (ruộng mới khai phá), trước đó là U Điền (bãi rậm) và Vô Điền (không có ruộng).
Nguyễn Du tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh ngày 23-11 năm Ất Dậu 1765, tức ngày 3-1-1766 dương lịch tại phường Bích Câu, Thăng Long.

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

Về quê ăn cưới

 
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
 
 
          Chỉ sắp xếp được ba ngày cuối tuần về quê dự đám cưới đứa em họ, tôi đắn đo không biết nên đi bằng phương tiện gì. Dịp hè, về ăn giỗ bà nội, nghe lời khuyên của Mai Sơn, lần đầu tiên tôi đi máy bay về Chu Lai. Tuyến đường này dùng máy bay ATR72, chỉ hãng hàng không quốc gia khai thác, không cạnh tranh, nên giá vé cao hơn về Đà Nẵng. Mai Sơn còn dặn kỹ, ra ga nhớ lên xe buýt ngay, kẻo không có chỗ ngồi, phải đứng suốt 40 cây số đường về thành phố Quảng Ngãi! Thật may mắn, hôm đó tình cờ gặp Lương Minh Cừ đi cùng chuyến bay ra phát bằng cho sinh viên tốt nghiệp Đại học Marketing, anh cho bạn đồng môn đi nhờ xe về thành phố, còn dặn tài xế đưa về tận trong quê cách hơn 20 cây số.
 
          Lần này tiết kiệm, vào mạng thử tìm hàng không giá rẻ đi Đà Nẵng. “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”: hãng VietJet Air tung ra loạt vé khuyến mãi giá 10 ngàn đồng. Cộng lệ phí sân bay, cước hành lý, đặt chỗ trước… tất tần tật chỉ 215 ngàn, rẻ bằng một phần ba vé tàu lửa! Chuyến bay vào sáng sớm, đề phòng trường hợp “Sorry Airlines”, tôi ra ga Sài Gòn mua sẵn vé tàu Đà Nẵng – Quảng Ngãi chuyến buổi chiều. Biết ý mình, máy bay khởi hành đúng giờ, về Đà Nẵng còn kịp thời gian thăm nhà hai đứa em và đến chùa Tường Quang uống cà-phê, nhìn mưa phùn, tán gẫu với Nguyễn Đông Nhật.