HỌA SĨ ĐINH CƯỜNG pháp danh Quảng Thái đã qua đời vào lúc 9 giờ 41 phút tối thứ Năm ngày 7 tháng 01 năm 2016 tại bệnh viện Fairfax, VA, USA. Hưởng thọ 76 tuổi. Một Nhóm Thân Hữu Huế Xin Chân Thành Chia Buồn cùng tang quyến Nguyện cầu Hương Linh Họa sĩ Đinh Cường được sớm về miền Cực Lạc nguyễn văn trai - đoàn phạm túy linh - hồ đắc duy - nguyễn phú yên - viêm tịnh - phan lệ dung - nguyễn miên thảo - phạm tấn hầu - lê ngọc thuận - vương từ - hồ trọng thuyên - nguyễn đình thuần - nguyễn văn hiền - ngụy ngữ - mường mán - từ hoài tấn ... Ảnh: Họa sỹ Đinh Cường thăm lại Bưu cục Dran năm 2014, Nguyễn Sông Ba chụp | |
Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016
VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC
Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2016
VĨNH BIỆT HỌA SĨ ĐINH CƯỜNG
Tin buồn: HỌA SĨ ĐINH CƯỜNG (Hoa Kỳ) đã ra đi ngày hôm qua 7-1-2016. Thành kính chia buồn với gia đình anh ĐC.
Họa sĩ Đinh Cường sinh năm 1939 tại Thủ Dầu Một, Việt Nam. Đã sống ở Huế, Đà Lạt và Sài Gòn cho tới năm 1989. Hiện ông cư ngụ tại thành phố Burke (ngoại ô thủ đô Washington DC), tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.
Ông là cựu học sinh Trường Petrus Ký Sài Gòn (1951-1957), tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật Huế năm 1963 và tốt nghiệp trường Mỹ thuật Quốc gia, Sài Gòn năm 1964. Từng giảng dạy tại Trường Đồng Khánh, và sau đó là Trường Mỹ thuật Huế. Ông đã 25 lần tổ chức triển lãm độc lập và 21 lần tham dự các cuộc triển lãm tập thể trong suốt thời gian từ năm 1965 tới 2006, từng đoạt huy chương bạc liên tiếp hai năm 1962, 1963 tại Triển Lãm Xuân, Sài Gòn và đoạt giải danh dự của Tòa Đại sứ Trung Hoa tại Sài Gòn, Việt Nam.
Tranh Đinh Cường được bày ở Musée D'Art Moderne Paris và triển lãm trên nhiều thành phố ở Việt Nam cùng nhiều quốc gia khác.
Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA ngày 29-8-2005 đã ghi nhận về một buổi triển lãm tranh Đinh Cường tại Houston, Texas: "… Đinh Cường là họa sĩ nổi tiếng tại Việt Nam từ những năm đầu thập niên 60. Tranh của ông, theo đánh giá của nhiều người thì, đó là những bài thơ được viết bằng mầu sắc và đường nét. Lãng mạn, thơ mộng là đặc tính trỗi bật nhất của thế giới hội họa mang tên Đinh Cường. Những gam mầu của ông dù lạnh hay nóng, vẫn ấm áp, ngân vang niềm hạnh phúc liu điu những chân trời hiu quạnh."
Một nhà văn đã nhận định về họa phẩm của họa sĩ Đinh Cường như sau: “Đường bay nghệ thuật của Đinh Cường là đường bay của những cánh chim thơ mộng, và lãng mạn xóc, dằn nắng, gió, hương xa. Bằng cả tâm cảm, người ta sẽ nhận ra, trong mỗi tác phẩm của Đinh Cường, đều thấp thoáng những cánh chim Hồng, chim Lạc. Cánh chim tha những hạt kinh Việt Nam, thả xuống cánh đồng nghệ thuật; để từ đấy, thắp lên những thân lúa biếc, xanh, lắng, nghiêm hồn dân tộc. Trên nửa thế kỷ ăn ở toàn thời gian với hội họa, từ trong nước, tới hải ngoại, với những bức tranh từng được trưng bày giữa quảng trường tại hình thế giới, tôi nghĩ, đã đến lúc chúng ta nên nhìn Đinh Cường cùng sáng tác của ông, như một niềm hãnh diện chung - (Và,) do đó, như một thứ tài sản Việt Nam, vậy.”
Phòng trưng bày họa phẩm của Đinh Cường đặt tại số 9826 Natick Road, Burke, VA 22015.
Phòng trưng bày họa phẩm của Đinh Cường đặt tại số 9826 Natick Road, Burke, VA 22015.
Theo Nguyễn Phú Yên (FB)
Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016
Trần Bảo Định CÀ KHỊA ĐẦU NĂM CON KHỈ 2016
Trần Bảo Định
CÀ KHỊA ĐẦU NĂM CON KHỈ 2016
*
VỚI KHỈ, CUỘC SỐNG LÀ ĐẠO LÝ?
*
VỚI KHỈ, CUỘC SỐNG LÀ ĐẠO LÝ?
1.
Trong một ngươn đời với chu kỳ 60 năm, xoay quanh trục 12 con giáp thì, con khỉ đứng vào hàng thứ 9. Đồng thời, trải qua:Giáp-Bính-Mậu-Canh...và sao Thiên Cơ chiếu bổn mạng người tuổi khỉ nên, người tuổi khỉ thường sống cô quạnh trong nỗi cô đơn của chính mình, dù khỉ đực đầu đàn khỉ bao giờ cũng được hưởng đặc quyền đôi ba vợ, như sự mặc định chế độ đa thê và phụ hệ. Khỉ thuộc về dương, giờ khỉ từ 15 giờ đến 17 giờ.
Bạn thân quen thường hỏi tôi: Sao toa rành tuổi khỉ vậy?Bạn quên rồi à, tôi cốt tuổi khỉ. Cái tuổi khỉ Giáp Thân. Nghĩa là, má tôi đẻ tôi đúng 15 giờ khoảng 30-40 phút chi đó,của cái ngày đầu tiên tháng 1 năm 1944. Nếu tính ngày ta thì, nhằm ngày thứ bảy, mồng 6 tháng 10 (thiếu) năm Qúy Mùi. Như vậy, tâm tính lẫn máu xương của tôi là con dê và con khỉ(!?), Có lẽ, vì vậy tôi không bị sao Thiên Cơ chiếu bổn mạng chăng?Những năm sống ở rừng, nhiều khi khỉ trở thành người bạn thân thương và đáng tin cậy nhất của tôi. Khỉ cảnh giới từ xa và nhanh chóng báo động khi có kẻ lạ mặt xâm nhập, khỉ giúp chỉ nơi có nguồn thức ăn, nước uống; khỉ bày lắm trò vui những lúc tôi buồn, những khi nằm giữa lằn ranh mong manh sinh tử.
Nhớ hồi học lớp ba trường làng, mỗi chiều sau khi cơm nước xong, mấy bà hàng xóm bạn của má thường sang nhà, trải đệm ngoài sân và bắt tôi đọc truyện Bạch Viên Tôn Các. Con vượn trắng đó, đi theo tuổi thơ của tôi lớn dần năm tháng. Khác gì cái chữ Nho khoa bảng khi rớt vào chốn ''văn minh miệt ruộng''tự thân nó ''đáo xứ tùy nhân'' trở nên ''nho bình dân'', nho đeo dính từng chùm của châu thổ Cửu Long. Chữ Hán hay Háng thì, cũng là háng...phát âm đối với dân miệt ruộng Nam Bộ nó như nhau, chỉ có ruộng trũng hoặc gò, ruộng sâu hay cạn. Với khỉ cũng vậy thôi, người xứ tôi ưa mượn khỉ để ''diễn ý'' mỗi khi gặp quan quyền, bá hộ trong làng...họ muốn nói, bởi ít chữ nên họ khó nói. Nếu, nói không có gì cả, trớt quớt thì, họ nói: Khỉ khô, khỉ cùi. Gặp kẻ mặt mày bơ phờ, hốc hác...họ nói: Khỉ già!Mầy mần chi mặt như mặt khỉ già?Đám con nít đùa giỡn quá mức đùa giỡn, người lớn hay cho là:Khỉ khọt!Đụng việc, cứ lăng xăng má thường rầy:Bây mần gì giống con khỉ mắc phong?Chưa nói đã cười, trang lứa nói giống con đười ươi...Nóng giận, bực bội khiến mặt nhăn nhó, chị nói:Khỉ ăn ớt...Đám hương chức hội tề mần những việc vô nghĩa, người làng che miệng nói: Cái trò khỉ khọt!Trò đó, cũng có thể hiểu ''mèo mả gà đồng''...
Những câu nói của người miệt ruộng dẫu thô mộc nhưng, chẳng hiểu vì sao, tôi yêu nó như yêu sự sống của mình, tôi thuộc lòng như thuộc ca dao... Tôi dị ứng với những ngôn từ đẹp, thường được khen đáo khen để, rằng rất kỹ thuật thuộc hàng ''chất lượng cao'' song, toàn hóa chất cực độc, chứa từng đống con chữ vô nghĩa vô hồn. Đôi khi, chẳng biết ''ngôn từ đẹp'' muốn nói cái gì. Bí hiểm quá!Đời mần ruộng đã tay lấm chưn bùn tăm tối, sức đâu nghe ''ngôn từ đẹp'' tối tăm?
Trong một ngươn đời với chu kỳ 60 năm, xoay quanh trục 12 con giáp thì, con khỉ đứng vào hàng thứ 9. Đồng thời, trải qua:Giáp-Bính-Mậu-Canh...và sao Thiên Cơ chiếu bổn mạng người tuổi khỉ nên, người tuổi khỉ thường sống cô quạnh trong nỗi cô đơn của chính mình, dù khỉ đực đầu đàn khỉ bao giờ cũng được hưởng đặc quyền đôi ba vợ, như sự mặc định chế độ đa thê và phụ hệ. Khỉ thuộc về dương, giờ khỉ từ 15 giờ đến 17 giờ.
Bạn thân quen thường hỏi tôi: Sao toa rành tuổi khỉ vậy?Bạn quên rồi à, tôi cốt tuổi khỉ. Cái tuổi khỉ Giáp Thân. Nghĩa là, má tôi đẻ tôi đúng 15 giờ khoảng 30-40 phút chi đó,của cái ngày đầu tiên tháng 1 năm 1944. Nếu tính ngày ta thì, nhằm ngày thứ bảy, mồng 6 tháng 10 (thiếu) năm Qúy Mùi. Như vậy, tâm tính lẫn máu xương của tôi là con dê và con khỉ(!?), Có lẽ, vì vậy tôi không bị sao Thiên Cơ chiếu bổn mạng chăng?Những năm sống ở rừng, nhiều khi khỉ trở thành người bạn thân thương và đáng tin cậy nhất của tôi. Khỉ cảnh giới từ xa và nhanh chóng báo động khi có kẻ lạ mặt xâm nhập, khỉ giúp chỉ nơi có nguồn thức ăn, nước uống; khỉ bày lắm trò vui những lúc tôi buồn, những khi nằm giữa lằn ranh mong manh sinh tử.
Nhớ hồi học lớp ba trường làng, mỗi chiều sau khi cơm nước xong, mấy bà hàng xóm bạn của má thường sang nhà, trải đệm ngoài sân và bắt tôi đọc truyện Bạch Viên Tôn Các. Con vượn trắng đó, đi theo tuổi thơ của tôi lớn dần năm tháng. Khác gì cái chữ Nho khoa bảng khi rớt vào chốn ''văn minh miệt ruộng''tự thân nó ''đáo xứ tùy nhân'' trở nên ''nho bình dân'', nho đeo dính từng chùm của châu thổ Cửu Long. Chữ Hán hay Háng thì, cũng là háng...phát âm đối với dân miệt ruộng Nam Bộ nó như nhau, chỉ có ruộng trũng hoặc gò, ruộng sâu hay cạn. Với khỉ cũng vậy thôi, người xứ tôi ưa mượn khỉ để ''diễn ý'' mỗi khi gặp quan quyền, bá hộ trong làng...họ muốn nói, bởi ít chữ nên họ khó nói. Nếu, nói không có gì cả, trớt quớt thì, họ nói: Khỉ khô, khỉ cùi. Gặp kẻ mặt mày bơ phờ, hốc hác...họ nói: Khỉ già!Mầy mần chi mặt như mặt khỉ già?Đám con nít đùa giỡn quá mức đùa giỡn, người lớn hay cho là:Khỉ khọt!Đụng việc, cứ lăng xăng má thường rầy:Bây mần gì giống con khỉ mắc phong?Chưa nói đã cười, trang lứa nói giống con đười ươi...Nóng giận, bực bội khiến mặt nhăn nhó, chị nói:Khỉ ăn ớt...Đám hương chức hội tề mần những việc vô nghĩa, người làng che miệng nói: Cái trò khỉ khọt!Trò đó, cũng có thể hiểu ''mèo mả gà đồng''...
Những câu nói của người miệt ruộng dẫu thô mộc nhưng, chẳng hiểu vì sao, tôi yêu nó như yêu sự sống của mình, tôi thuộc lòng như thuộc ca dao... Tôi dị ứng với những ngôn từ đẹp, thường được khen đáo khen để, rằng rất kỹ thuật thuộc hàng ''chất lượng cao'' song, toàn hóa chất cực độc, chứa từng đống con chữ vô nghĩa vô hồn. Đôi khi, chẳng biết ''ngôn từ đẹp'' muốn nói cái gì. Bí hiểm quá!Đời mần ruộng đã tay lấm chưn bùn tăm tối, sức đâu nghe ''ngôn từ đẹp'' tối tăm?
*
Chữ ''Nho'' nhà Hán(?) văn vẻ:Thân cũng khỉ, Hầu cũng khỉ, Mai cũng khỉ...Nghĩa là, lắm chữ gọi khỉ. Rắc rối, lắc léo dễ sợ! Hồi còn ở nhà, chưa học xong trung học. Một hôm, tôi hỏi thầy Chu Hoài Nhân dạy Việt Văn năm Đệ Nhị.
- Thưa thầy, hầu là một trong những chữ gọi con khỉ. Vậy, chữ hầu ở đây là ''hầu tước'' hay ''chư hầu''?
Thầy Nhân cười:
- Em hiểu sao?
Mặt tôi như khỉ ăn phải ớt hiểm, bụng nghĩ:Mình hỏi thầy, bất ngờ thầy hỏi lại. Tôi liều:
- Thưa thầy, chẳng lý hầu ở đây là tước của quí tộc xưa:Công-Hầu-Bá-Tử-Nam?Nếu hầu là tước thì, tước kia phải có vị. Không có vị, âu cũng chỉ là hữu danh vô thực thôi.
Thầy Nhân nghiêm sắc mặt. Tôi phóng lao đành theo lao.
- Chẳng biết có không?Thưa thầy, chắc là có. Hễ người mình có gì hay thì người Tàu họ ''ho theo'' nên gọi ''hay ho''. Có nghĩa mình hay, họ ho, họ bắt chước. Nhân loại nầy, không chủng tộc nào bắt chước bì họ. Một ngón nghề tuyệt chiêu!
- Em thử cho ví dụ!
Thầy chịu vào cuộc và thử lửa thằng học trò mang cố tật hay hỏi, khoái cãi. Thời trước, ''Tiên học lễ''không có nghĩa ''thầy đọc trò chép'' và ''chép ngay cả khi mỗi đứa buộc phải xách đít tới nhà thầy cô nạp tiền, chép thêm!''. Chả là, đúng với cái điều học hỏi trước khi bước tới học hành!
Bạn trong lớp bắt đầu chú ý nghe. Bởi, trong lớp biết tính tôi hay cãi, dù tôi không dính dấp bà con với mấy anh Quảng Nam.
- Thưa thầy, sách cũ viết:Người có tướng khỉ, còn gọi là Hầu tướng thì, có tài mưu lược kể cả thao lược như đời nhà Trần có Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi. Sau nầy, nhà Mãn Thanh cai trị người Hán cũng bảo có tướng khỉ là Trương Chi Động. Nhưng, Động sao dám sánh cùng Chi?Bởi, Động tham ăn háo sắc, một đêm thiếu vắng đàn bà, Động có thể phát điên. Nhà Trần nước Việt có trước nhà Thanh bên Tàu, hẳn nhiên kẻ hâu sinh sao bì kịp tiền bối?Nhiều lúc chẳng có, bịnh sỉ bịa chuyện cho bằng chị bằng em?
Thầy trò trao qua đổi lại, tôi cố tìm đến cái ''chân lý'' của sự việc con khỉ mà, quên nghĩ đến cái ''đạo lý''. Tôi nhớ thưa với thầy, rằng:
- Tướng khỉ, đôi lúc là tướng phản phúc!
Thầy hỏi tại sao?Em dựa vào đâu, nói thế?
Tôi thưa nếu, không phản phúc sao dân quê em nói:''Nuôi khỉ dòm nhà''? Rồi tôi kể chuyện Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông, tuổi Dậu cầm tinh con gà trắng. Lê Qúy Ly, tuổi Hầu cầm tinh con khỉ mõm đỏ. Đến năm 1400, Lê Qúy Ly cướp ngôi nhà Trần, lên mần vua và lấy tên Hồ Qúy Ly.
Bấy giờ, Nghệ Tông mới sực nhớ và đoán ra điềm mộng ''Bạch Kê Xích Chủy Hầu''.Nghĩa là, con gà trắng và con khỉ mõm đỏ. Tôi nhắc lại, có lần thầy giảng:Tâm vọng động là tâm viên ý mã!
Thầy không nói gì, tôi nói tiếp:
- Người ghét khỉ vì, khỉ thông minh hơn muôn loài thú khác, khỉ bắt chước và có nhiều sáng kiến hay bất ngờ...chẳng những vậy, khỉ là đấng thủy tổ loài người. Mà đã gọi là loài thì, thưa thầy ''loài người, loài khỉ cũng là loài''. Tiếc rằng, Thượng Đế chơi thiếu công bằng với các loài khác. Loài người có trí khôn, loài khác không có. Loài người dùng trí khôn để ''tôn vinh cái ngã'', đưa ''cái tôi'' lên ngôi thống trị muôn loài!
Cả lớp lặng im. Tôi đang ngồi trên lưng cọp, không thể xuống. Thưa thầy, theo em:
- Lòng dạ người như vậy, chữ Hầu có lẽ là ''Chư hầu'' chớ không phải ''tước hầu''(?) đâu thầy ạ!
Tan trường, trên đường về nhà; thằng bạn cùng lớp vỗ vai:
- Sao toa không nhường bước thầy?
Chữ ''Nho'' nhà Hán(?) văn vẻ:Thân cũng khỉ, Hầu cũng khỉ, Mai cũng khỉ...Nghĩa là, lắm chữ gọi khỉ. Rắc rối, lắc léo dễ sợ! Hồi còn ở nhà, chưa học xong trung học. Một hôm, tôi hỏi thầy Chu Hoài Nhân dạy Việt Văn năm Đệ Nhị.
- Thưa thầy, hầu là một trong những chữ gọi con khỉ. Vậy, chữ hầu ở đây là ''hầu tước'' hay ''chư hầu''?
Thầy Nhân cười:
- Em hiểu sao?
Mặt tôi như khỉ ăn phải ớt hiểm, bụng nghĩ:Mình hỏi thầy, bất ngờ thầy hỏi lại. Tôi liều:
- Thưa thầy, chẳng lý hầu ở đây là tước của quí tộc xưa:Công-Hầu-Bá-Tử-Nam?Nếu hầu là tước thì, tước kia phải có vị. Không có vị, âu cũng chỉ là hữu danh vô thực thôi.
Thầy Nhân nghiêm sắc mặt. Tôi phóng lao đành theo lao.
- Chẳng biết có không?Thưa thầy, chắc là có. Hễ người mình có gì hay thì người Tàu họ ''ho theo'' nên gọi ''hay ho''. Có nghĩa mình hay, họ ho, họ bắt chước. Nhân loại nầy, không chủng tộc nào bắt chước bì họ. Một ngón nghề tuyệt chiêu!
- Em thử cho ví dụ!
Thầy chịu vào cuộc và thử lửa thằng học trò mang cố tật hay hỏi, khoái cãi. Thời trước, ''Tiên học lễ''không có nghĩa ''thầy đọc trò chép'' và ''chép ngay cả khi mỗi đứa buộc phải xách đít tới nhà thầy cô nạp tiền, chép thêm!''. Chả là, đúng với cái điều học hỏi trước khi bước tới học hành!
Bạn trong lớp bắt đầu chú ý nghe. Bởi, trong lớp biết tính tôi hay cãi, dù tôi không dính dấp bà con với mấy anh Quảng Nam.
- Thưa thầy, sách cũ viết:Người có tướng khỉ, còn gọi là Hầu tướng thì, có tài mưu lược kể cả thao lược như đời nhà Trần có Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi. Sau nầy, nhà Mãn Thanh cai trị người Hán cũng bảo có tướng khỉ là Trương Chi Động. Nhưng, Động sao dám sánh cùng Chi?Bởi, Động tham ăn háo sắc, một đêm thiếu vắng đàn bà, Động có thể phát điên. Nhà Trần nước Việt có trước nhà Thanh bên Tàu, hẳn nhiên kẻ hâu sinh sao bì kịp tiền bối?Nhiều lúc chẳng có, bịnh sỉ bịa chuyện cho bằng chị bằng em?
Thầy trò trao qua đổi lại, tôi cố tìm đến cái ''chân lý'' của sự việc con khỉ mà, quên nghĩ đến cái ''đạo lý''. Tôi nhớ thưa với thầy, rằng:
- Tướng khỉ, đôi lúc là tướng phản phúc!
Thầy hỏi tại sao?Em dựa vào đâu, nói thế?
Tôi thưa nếu, không phản phúc sao dân quê em nói:''Nuôi khỉ dòm nhà''? Rồi tôi kể chuyện Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông, tuổi Dậu cầm tinh con gà trắng. Lê Qúy Ly, tuổi Hầu cầm tinh con khỉ mõm đỏ. Đến năm 1400, Lê Qúy Ly cướp ngôi nhà Trần, lên mần vua và lấy tên Hồ Qúy Ly.
Bấy giờ, Nghệ Tông mới sực nhớ và đoán ra điềm mộng ''Bạch Kê Xích Chủy Hầu''.Nghĩa là, con gà trắng và con khỉ mõm đỏ. Tôi nhắc lại, có lần thầy giảng:Tâm vọng động là tâm viên ý mã!
Thầy không nói gì, tôi nói tiếp:
- Người ghét khỉ vì, khỉ thông minh hơn muôn loài thú khác, khỉ bắt chước và có nhiều sáng kiến hay bất ngờ...chẳng những vậy, khỉ là đấng thủy tổ loài người. Mà đã gọi là loài thì, thưa thầy ''loài người, loài khỉ cũng là loài''. Tiếc rằng, Thượng Đế chơi thiếu công bằng với các loài khác. Loài người có trí khôn, loài khác không có. Loài người dùng trí khôn để ''tôn vinh cái ngã'', đưa ''cái tôi'' lên ngôi thống trị muôn loài!
Cả lớp lặng im. Tôi đang ngồi trên lưng cọp, không thể xuống. Thưa thầy, theo em:
- Lòng dạ người như vậy, chữ Hầu có lẽ là ''Chư hầu'' chớ không phải ''tước hầu''(?) đâu thầy ạ!
Tan trường, trên đường về nhà; thằng bạn cùng lớp vỗ vai:
- Sao toa không nhường bước thầy?
2.
Thời gian cắt cứa tâm hồn con người, chính là để con người tùy nghi sử dụng trí khôn vào việc chiêm nghiệm cuộc đời. Khỉ núi Thất Sơn phần lớn đuôi dài bằng thân của nó. Khỉ đi 2 chưn, mỗi chưn có 5 ngón; 2 tay khỉ leo trèo, bẽ trái cây rừng, bồng con. Khỉ cái có đôi vú với 2 núm cho con bú hệt như người. Khỉ sống thành bầy đàn, tôn ti trật tự. Biết thương ghét, biết nổi giận với đầy cảm xúc. Đặc biệt không vô ơn, bội bạc với đồng loại của mình, không cấu xé nhau dành ngôi thứ. Khỉ luôn nhớ về chốn cũ, bầy xưa. Ai đã từng coi phim ''Tôn Ngộ Không''chắc sẽ rõ. Con khỉ đó, dù ''Thất thập nhị huyền công''với cây thiết bảng, lòng vẫn nhớ khôn nguôi ''Hoa Qủa Sơn'', giận thầy bỏ đi là, đi về cố thổ. Khỉ không quên khu rừng nghèo khó mà mẹ nó đã cưu mang và sinh nó ra. Khí trời, rừng thiêng. tình nghĩa yêu thương bầy đàn sống mãi trong trái tim của nó. Tôi và đơn vị từng giăng bẫy bắt khỉ về nuôi, buổi chiều thắp chút nắng qua rừng núi, con khỉ trong chuồng hú những tiếng hú buồn xa mấy cánh đồng dưới chưn núi. Chịu không thấu ruột gan, tôi biểu anh em thả khỉ về rừng. Khỉ rời chuồng, không thoát lên núi, nó trèo lên cây cao, ngó xuống chỗ đơn vị tôi đang đóng, ngó bốn phương như định hướng gọi đàn. Chốc lát, cả đàn khỉ kêu rộ sóc và nhảy nhót trên những cành cây, rước bầu bạn trở lại bầy. Đêm hành quân qua những xóm nhà xơ xác, pháo bắn cầm canh. Tự dưng, tôi vừa đi vừa nhớ đến cuốn Tiểu thuyết lịch sử ''Gia Long Bôn Tẩu'' của tác giả Tân Dân Tử, xuất bản hồi 1930. Nhớ đến nó, cốt là để đánh lừa cái buồn ngủ và sự mệt nhọc đang đè nặng trong người tôi. quên cái cảm giác lạnh của trời đêm...Nghĩ chuyện xưa, tích cũ, hòng nhận diện cái tình nghĩa tắm mẵn của dân Gia Định đối với Nguyễn Ánh bôn tẩu khi bị Tây Sơn truy sát.Và, cái sự đời Nguyễn Ánh đối với dân Gia Định, sau khi trở thành vua Gia Long.
Thời gian cắt cứa tâm hồn con người, chính là để con người tùy nghi sử dụng trí khôn vào việc chiêm nghiệm cuộc đời. Khỉ núi Thất Sơn phần lớn đuôi dài bằng thân của nó. Khỉ đi 2 chưn, mỗi chưn có 5 ngón; 2 tay khỉ leo trèo, bẽ trái cây rừng, bồng con. Khỉ cái có đôi vú với 2 núm cho con bú hệt như người. Khỉ sống thành bầy đàn, tôn ti trật tự. Biết thương ghét, biết nổi giận với đầy cảm xúc. Đặc biệt không vô ơn, bội bạc với đồng loại của mình, không cấu xé nhau dành ngôi thứ. Khỉ luôn nhớ về chốn cũ, bầy xưa. Ai đã từng coi phim ''Tôn Ngộ Không''chắc sẽ rõ. Con khỉ đó, dù ''Thất thập nhị huyền công''với cây thiết bảng, lòng vẫn nhớ khôn nguôi ''Hoa Qủa Sơn'', giận thầy bỏ đi là, đi về cố thổ. Khỉ không quên khu rừng nghèo khó mà mẹ nó đã cưu mang và sinh nó ra. Khí trời, rừng thiêng. tình nghĩa yêu thương bầy đàn sống mãi trong trái tim của nó. Tôi và đơn vị từng giăng bẫy bắt khỉ về nuôi, buổi chiều thắp chút nắng qua rừng núi, con khỉ trong chuồng hú những tiếng hú buồn xa mấy cánh đồng dưới chưn núi. Chịu không thấu ruột gan, tôi biểu anh em thả khỉ về rừng. Khỉ rời chuồng, không thoát lên núi, nó trèo lên cây cao, ngó xuống chỗ đơn vị tôi đang đóng, ngó bốn phương như định hướng gọi đàn. Chốc lát, cả đàn khỉ kêu rộ sóc và nhảy nhót trên những cành cây, rước bầu bạn trở lại bầy. Đêm hành quân qua những xóm nhà xơ xác, pháo bắn cầm canh. Tự dưng, tôi vừa đi vừa nhớ đến cuốn Tiểu thuyết lịch sử ''Gia Long Bôn Tẩu'' của tác giả Tân Dân Tử, xuất bản hồi 1930. Nhớ đến nó, cốt là để đánh lừa cái buồn ngủ và sự mệt nhọc đang đè nặng trong người tôi. quên cái cảm giác lạnh của trời đêm...Nghĩ chuyện xưa, tích cũ, hòng nhận diện cái tình nghĩa tắm mẵn của dân Gia Định đối với Nguyễn Ánh bôn tẩu khi bị Tây Sơn truy sát.Và, cái sự đời Nguyễn Ánh đối với dân Gia Định, sau khi trở thành vua Gia Long.
*
Mùa thu năm con khỉ 1788, quân Tây Sơn đồn trú thành Gia Định truy lùng Nguyễn Ánh ráo riết ở Ba Giồng, đang cơn nguy khốn, Nguyễn Ánh chột bụng và đòi ''canh y''. Dân nhà quê biết gí ''canh y với canh ỵ?''Tất cả ngơ ngáo, không hiểu Nguyễn Ánh muốn gì?Tình thế thiệt ngặt, Nguyễn Ánh chợt lanh trí:
- Cho ta đi ỉa!Đi ỉa...
Đám dân đem cười rần!Có kẻ vọt miệng:
- Đi ỉa thì, nói đi ỉa. Nói chi tiếng vua chúa, mần sao dân tôi hiểu.
Về sau, thiên hạ trong vùng gọi là gò cục cứt(!?).
Nếu lịch sử là sự tình cờ. ''Sự''hiểu theo cái chưa cụ thể, khác với ''vụ'', bởi ''vụ''là cái cụ thể. Ngày trước, cầm cái ''Sự vụ lệnh''của Bộ Giáo Dục đến nhiệm sở trình diện, người cầm Sự Vụ Lệnh chưa phải là thầy. Chưa đứng lớp dạy học trò, sao gọi là thầy?Người cầm Sự Vụ Lệnh là cầm ''cái chưa cụ thể trong cái cụ thể''. Và, vụ chính là việc!
Lúc chưa là vua, người sống cần dân, nhờ dân...dân hết lòng giúp kể cả mạng sống. Ngôn ngữ vua từ ngôn ngữ dân. Nhưng, một khi đã xác lập được triều đại, vua quyết tâm đặt ra một thứ ngôn ngữ riêng của giai cấp thống trị. Vua chối bỏ ''nơi từ đó đi ra''. Kẻ nào dại dột nhắc chuyện cũ, kẻ đó sẽ rước họa vào thân và cũng có khi mất mạng vì cái tội ''khi quân''!Vua chết, chẳng ai dám hé miệng nói chết mà, nhất tề nói ''băng hà''. Đi ỉa, lúc vua còn thân sơ thất sở thì nói ''đi ỉa''vua cười vả lả kiếm cơm. Đã là, Hoàng Đế thằng nào, dám nói ''vua đi ỉa''?Chém đầu!Phải râm rấp tâu Hoàng thượng ''canh y''. Có bạn cắc cớ hỏi:Canh y là quái quỷ gì ghê gớm vậy?Tôi học lóm, biết được:Canh y của vua ngày xưa là, cái Toilet ngày nay. Chỗ vu ỉa đái, có 2 buồng liền kề:Buồng ngoài, vua cỡi Long bào(áo) thay áo khác trước khi bước vào buồng ỉa đái. Xong, vua quay ra thay áo đi ỉa đái, mặc trở lại Long bào.
Ngôn ngữ Triều đình ngày một khác ngôn ngữ của dân. Một thứ ngôn ngữ đối kháng, khác gì ''ỉa là dứt khoát phải đái'' nhưng, ''đái chưa hẳn là phải ỉa''.
*
Khỉ chỉ có một tiếng kêu, tiếng hú...thuần khiết và xuyên suốt từ lúc vào đời, đến khi lìa đời. Sum hợp hay chia lìa, đớn đau hay vui thú...nó chẳng hề thay đổi. Hỏi vì sao?Tôi ngọng dù tôi có thâm niên ở rừng và gần gủi khỉ. Một buổi trưa rừng im ắng, tôi nằm trên võng nghe tiếng chim rừng lẫn tiếng súng vọng về từ xa. Bất chợt, tôi ngó lên cây, một hoạt cảnh đầy chất lãng mạn và kỹ thuật điêu luyện diễn ra:Khỉ mẹ dùng cái đuôi, nối nhánh cây nầy sang nhánh cây nọ, bắt cầu tập khỉ con bò qua. Từ đó, tôi hiểu tại sao bà con quê tôi gọi cái cây độc chiếc bắt qua con rạch là cây cầu khỉ!Ngôn ngữ càng bình dị càng trong sáng, thiết thân và phản ánh cụ thể cuộc sống.
Vẩn vơ suy nghĩ, đời người có thể mất nhiều thứ, lắm khi mất tất cả...Song, có một thứ chẳng thể mất và ta có quyền chọn lựa. Đó là, chân lý hay đạo lý? Tôi vẫn mang theo lời trách của bạn tôi ngày đó:''Sao toa không nhường bước thầy?''
Rõ là, khỉ bất cần chân lý vì, khỉ không có trí khôn như con người. Khỉ sống hợp đàn bằng thứ đạo lý bầy đàn. Với tình yêu thương đặc thù riêng có, khỉ kéo dài sự sống ba bốn mươi năm, bản chất khỉ của khỉ không dời đổi.
Ngước nhìn núi Thất Sơn, cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ. Tôi nhận ra, núi cao núi thấp, đồi trọc đồi cây, nơi có suối nước chảy róc rách, chỗ đá khô cằn...Thiên nhiên không công bằng thì, con người mong chi?Và, cái chân lý e có lẽ hoàn toàn thuộc về Thượng Đế?
Hồi tưởng chuyện cũ, thuở đó tôi háo hức cố tìm và mong nắm cho bằng được chân lý, đã vội hất đạo lý. ''Sao toa không nhường bước thầy?'', một vết thương lòng trải qua trên nửa thế kỷ vẫn còn rỉ máu!
Mùa thu năm con khỉ 1788, quân Tây Sơn đồn trú thành Gia Định truy lùng Nguyễn Ánh ráo riết ở Ba Giồng, đang cơn nguy khốn, Nguyễn Ánh chột bụng và đòi ''canh y''. Dân nhà quê biết gí ''canh y với canh ỵ?''Tất cả ngơ ngáo, không hiểu Nguyễn Ánh muốn gì?Tình thế thiệt ngặt, Nguyễn Ánh chợt lanh trí:
- Cho ta đi ỉa!Đi ỉa...
Đám dân đem cười rần!Có kẻ vọt miệng:
- Đi ỉa thì, nói đi ỉa. Nói chi tiếng vua chúa, mần sao dân tôi hiểu.
Về sau, thiên hạ trong vùng gọi là gò cục cứt(!?).
Nếu lịch sử là sự tình cờ. ''Sự''hiểu theo cái chưa cụ thể, khác với ''vụ'', bởi ''vụ''là cái cụ thể. Ngày trước, cầm cái ''Sự vụ lệnh''của Bộ Giáo Dục đến nhiệm sở trình diện, người cầm Sự Vụ Lệnh chưa phải là thầy. Chưa đứng lớp dạy học trò, sao gọi là thầy?Người cầm Sự Vụ Lệnh là cầm ''cái chưa cụ thể trong cái cụ thể''. Và, vụ chính là việc!
Lúc chưa là vua, người sống cần dân, nhờ dân...dân hết lòng giúp kể cả mạng sống. Ngôn ngữ vua từ ngôn ngữ dân. Nhưng, một khi đã xác lập được triều đại, vua quyết tâm đặt ra một thứ ngôn ngữ riêng của giai cấp thống trị. Vua chối bỏ ''nơi từ đó đi ra''. Kẻ nào dại dột nhắc chuyện cũ, kẻ đó sẽ rước họa vào thân và cũng có khi mất mạng vì cái tội ''khi quân''!Vua chết, chẳng ai dám hé miệng nói chết mà, nhất tề nói ''băng hà''. Đi ỉa, lúc vua còn thân sơ thất sở thì nói ''đi ỉa''vua cười vả lả kiếm cơm. Đã là, Hoàng Đế thằng nào, dám nói ''vua đi ỉa''?Chém đầu!Phải râm rấp tâu Hoàng thượng ''canh y''. Có bạn cắc cớ hỏi:Canh y là quái quỷ gì ghê gớm vậy?Tôi học lóm, biết được:Canh y của vua ngày xưa là, cái Toilet ngày nay. Chỗ vu ỉa đái, có 2 buồng liền kề:Buồng ngoài, vua cỡi Long bào(áo) thay áo khác trước khi bước vào buồng ỉa đái. Xong, vua quay ra thay áo đi ỉa đái, mặc trở lại Long bào.
Ngôn ngữ Triều đình ngày một khác ngôn ngữ của dân. Một thứ ngôn ngữ đối kháng, khác gì ''ỉa là dứt khoát phải đái'' nhưng, ''đái chưa hẳn là phải ỉa''.
*
Khỉ chỉ có một tiếng kêu, tiếng hú...thuần khiết và xuyên suốt từ lúc vào đời, đến khi lìa đời. Sum hợp hay chia lìa, đớn đau hay vui thú...nó chẳng hề thay đổi. Hỏi vì sao?Tôi ngọng dù tôi có thâm niên ở rừng và gần gủi khỉ. Một buổi trưa rừng im ắng, tôi nằm trên võng nghe tiếng chim rừng lẫn tiếng súng vọng về từ xa. Bất chợt, tôi ngó lên cây, một hoạt cảnh đầy chất lãng mạn và kỹ thuật điêu luyện diễn ra:Khỉ mẹ dùng cái đuôi, nối nhánh cây nầy sang nhánh cây nọ, bắt cầu tập khỉ con bò qua. Từ đó, tôi hiểu tại sao bà con quê tôi gọi cái cây độc chiếc bắt qua con rạch là cây cầu khỉ!Ngôn ngữ càng bình dị càng trong sáng, thiết thân và phản ánh cụ thể cuộc sống.
Vẩn vơ suy nghĩ, đời người có thể mất nhiều thứ, lắm khi mất tất cả...Song, có một thứ chẳng thể mất và ta có quyền chọn lựa. Đó là, chân lý hay đạo lý? Tôi vẫn mang theo lời trách của bạn tôi ngày đó:''Sao toa không nhường bước thầy?''
Rõ là, khỉ bất cần chân lý vì, khỉ không có trí khôn như con người. Khỉ sống hợp đàn bằng thứ đạo lý bầy đàn. Với tình yêu thương đặc thù riêng có, khỉ kéo dài sự sống ba bốn mươi năm, bản chất khỉ của khỉ không dời đổi.
Ngước nhìn núi Thất Sơn, cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ. Tôi nhận ra, núi cao núi thấp, đồi trọc đồi cây, nơi có suối nước chảy róc rách, chỗ đá khô cằn...Thiên nhiên không công bằng thì, con người mong chi?Và, cái chân lý e có lẽ hoàn toàn thuộc về Thượng Đế?
Hồi tưởng chuyện cũ, thuở đó tôi háo hức cố tìm và mong nắm cho bằng được chân lý, đã vội hất đạo lý. ''Sao toa không nhường bước thầy?'', một vết thương lòng trải qua trên nửa thế kỷ vẫn còn rỉ máu!
Tết Dương Lịch 2016.
1.1.2016
trần bảo định
1.1.2016
trần bảo định
Nguồn: FB
Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015
Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015
Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015
Trần Bảo Định : CÀ KHỊA CHUYỆN ĐỜI.
Trần Bảo Định
CÀ KHỊA CHUYỆN ĐỜI.
*
''ĐI CHỖ KHÁC CHƠI''(1)
*
''ĐI CHỖ KHÁC CHƠI''(1)
Thương nhớ chú Tư Sâm.
Phải nói ngay rằng, hồi trai trẻ, tôi không thích giới văn chương, chỉ thích giới văn nghệ. Chẳng hiểu vì sao?Nhưng, có lẽ cái chữ ''chương'' với tôi, hình như nó chứa nội hàm buộc ràng, khuôn mẫu. Còn chữ''nghệ'' với tôi, nó phóng túng theo cảm hứng cũng nên. Tôi nghĩ tầm bậy tầm bạ của người nhà quê không biết có đúng không?Có điều, biết chắc là, tôi khoái nghe vọng cổ ''Sầu vương biên ải'' của soạn giả Viễn Châu, do Út Trà Ôn hát, từ cái máy hát lên dây thiều hơn coi phim Âu-Mỹ ở rạp chớp bóng.
Một hôm, ông anh họ mang tặng tôi tập truyện ngắn''Nắng đẹp miền quê ngoại''của tác giả Trang Thế Hy vào khoảng năm sáu lăm(2)Tôi đọc lai rai suốt mùa hè năm đó. Và rồi, qua chữ nghĩa trên trang sách, tôi mến ông.
Một hôm, ông anh họ mang tặng tôi tập truyện ngắn''Nắng đẹp miền quê ngoại''của tác giả Trang Thế Hy vào khoảng năm sáu lăm(2)Tôi đọc lai rai suốt mùa hè năm đó. Và rồi, qua chữ nghĩa trên trang sách, tôi mến ông.
*
Khi trí của tôi bắt đầu trở chứng:Không khoái mần việc nữa. Ông nhà nước đồng ý cho cái trí của tôi nghỉ, tên chữ gọi là ''hưu trí''. Vợ tôi thường cằn nhằn, nói:
- ''Hưu trí''nghĩa là, cái trí của ông ''ngưng hoạt động''. Chờ đến nước nầy, nhà nước cho về, tôi thuộc ''nhà cái'' hốt trọn ổ!
Nghe vợ nói, nhột quá!Tôi phang bừa:
- Thì, bà cứ bảo cái trí của tôi giờ đã ngu, đừng xía vô chuyện của nhà cái mà hư bột hư đường.
Sợ lâu ngày dài tháng, sinh giặc ''cơm không lành, canh không ngọt'', tôi kiếm cớ dông tuốt về quê chẳng ''cắm câu'', cũng không ''ở ẩn, chiêm nghiệm''mà, thiệt tình ''sợ vợ sai, vợ bắt nộp thuế...'' hằng đêm thì, toi sinh mạng chớ chẳng phải chơi.
Thời gian thừa thải, rảnh rỗi tôi đi ''ta bà thế giới''bằng con ngựa sắt của vợ sắm cho. Nhờ vậy, thỉnh thoảng tôi gặp tác giả ''Nắng đẹp miền quê ngoại'', sống lặng lẽ trong căn nhà đơn sơ ẩm thấp, bên dòng kinh quê che bởi những tán dừa xanh. Tôi gọi tác giả ''Nắng đẹp miền quê ngoại'' bằng chú:Chú tư Sâm!
Khi trí của tôi bắt đầu trở chứng:Không khoái mần việc nữa. Ông nhà nước đồng ý cho cái trí của tôi nghỉ, tên chữ gọi là ''hưu trí''. Vợ tôi thường cằn nhằn, nói:
- ''Hưu trí''nghĩa là, cái trí của ông ''ngưng hoạt động''. Chờ đến nước nầy, nhà nước cho về, tôi thuộc ''nhà cái'' hốt trọn ổ!
Nghe vợ nói, nhột quá!Tôi phang bừa:
- Thì, bà cứ bảo cái trí của tôi giờ đã ngu, đừng xía vô chuyện của nhà cái mà hư bột hư đường.
Sợ lâu ngày dài tháng, sinh giặc ''cơm không lành, canh không ngọt'', tôi kiếm cớ dông tuốt về quê chẳng ''cắm câu'', cũng không ''ở ẩn, chiêm nghiệm''mà, thiệt tình ''sợ vợ sai, vợ bắt nộp thuế...'' hằng đêm thì, toi sinh mạng chớ chẳng phải chơi.
Thời gian thừa thải, rảnh rỗi tôi đi ''ta bà thế giới''bằng con ngựa sắt của vợ sắm cho. Nhờ vậy, thỉnh thoảng tôi gặp tác giả ''Nắng đẹp miền quê ngoại'', sống lặng lẽ trong căn nhà đơn sơ ẩm thấp, bên dòng kinh quê che bởi những tán dừa xanh. Tôi gọi tác giả ''Nắng đẹp miền quê ngoại'' bằng chú:Chú tư Sâm!
Thiệt ra, tôi gọi ông bằng chú tư Sâm là, gọi theo người bạn kết nghĩa tên Hoàng An. Hồi nẫm, chú tư Sâm cùng anh Hoàng An và một số các anh, như: anh Thảo(3)Lý Văn Sâm, Phan Lạc Tuyên, Thủy Thủ(4) Xuân Bắc(Cà Mau)Vân Lam (hy sinh cùng nhạc sĩ Hoàng Việt ngày 31.12.1967 trên đường đi công tác ở Quận Cái Bè thuộc tỉnh Định Tường)...trên dưới áng chừng 40 học viên, có Anh Đức(dự thính, vì đã học khóa viết văn ở Miền Bắc)...
Khóa 2, lớp Viết văn ở Miền Nam, gọi ''Tiêu Tương''đóng Xóm Rẫy, phía trên là Xóm Giữa(Tây Ninh)do nhà văn Nguyễn Văn Bổng(5)làm Hiệu Trưởng.
Anh Hoàng An, nói:
- Học viên từ các nơi tụ về, xúm nhau lo cất trường, lo đủ mọi thứ để kịp ngày khai giảng. Và, anh chị em Khóa 2 lớp Viết văn ngày đó, không ai không nhớ anh Thảo: Một tay guita có hạng, một kiện tướng đào đất ''số zách'' và, chỉ cần độc chiếc cái quần xà lỏn, anh ngồi bệt xuống đất với đôi tay điêu luyện... nghĩa là, một cái ''lò Hoàng Cầm''ra đời, một tay cật lực lao động cất trường, một tay cuốc đất trồng khoai...dẫu anh xuất thân từ cựu sinh viên Đại học Khoa học Sài Gòn. Anh là, mẫu người ''tranh nhau mần việc hết mình''.Tuy rằng, tính anh rất kiệm lời nhưng, không hẳn là người không tình cảm.
Ở xóm Rẫy có cái chợ, gọi là chợ xóm Rẫy. Gọi tiếng chợ cho nó oách, chớ chỉ là hàng quán lèo tèo kiểu nhà quê tuy cũng có:Hủ tiếu, cà phê, trà, thuốc lá, bánh kẹo...Vì, toàn ''văn sĩ''nên học viên được sinh hoạt thỏa mái hơn những lớp học ngành nghề khác. Đôi lần, tôi định lân la hỏi anh Thảo cho ra môn ra khoai.Tiếc rằng chưa có dịp.
Lớp học khai giảng năm 1964, lúc trời mưa sa dông và dân bắt đầu vào vụ sạ lúa hè thu trên đất gò biên giới.
Khóa 2, lớp Viết văn ở Miền Nam, gọi ''Tiêu Tương''đóng Xóm Rẫy, phía trên là Xóm Giữa(Tây Ninh)do nhà văn Nguyễn Văn Bổng(5)làm Hiệu Trưởng.
Anh Hoàng An, nói:
- Học viên từ các nơi tụ về, xúm nhau lo cất trường, lo đủ mọi thứ để kịp ngày khai giảng. Và, anh chị em Khóa 2 lớp Viết văn ngày đó, không ai không nhớ anh Thảo: Một tay guita có hạng, một kiện tướng đào đất ''số zách'' và, chỉ cần độc chiếc cái quần xà lỏn, anh ngồi bệt xuống đất với đôi tay điêu luyện... nghĩa là, một cái ''lò Hoàng Cầm''ra đời, một tay cật lực lao động cất trường, một tay cuốc đất trồng khoai...dẫu anh xuất thân từ cựu sinh viên Đại học Khoa học Sài Gòn. Anh là, mẫu người ''tranh nhau mần việc hết mình''.Tuy rằng, tính anh rất kiệm lời nhưng, không hẳn là người không tình cảm.
Ở xóm Rẫy có cái chợ, gọi là chợ xóm Rẫy. Gọi tiếng chợ cho nó oách, chớ chỉ là hàng quán lèo tèo kiểu nhà quê tuy cũng có:Hủ tiếu, cà phê, trà, thuốc lá, bánh kẹo...Vì, toàn ''văn sĩ''nên học viên được sinh hoạt thỏa mái hơn những lớp học ngành nghề khác. Đôi lần, tôi định lân la hỏi anh Thảo cho ra môn ra khoai.Tiếc rằng chưa có dịp.
Lớp học khai giảng năm 1964, lúc trời mưa sa dông và dân bắt đầu vào vụ sạ lúa hè thu trên đất gò biên giới.
*
- Chú Tư, cháu mạo muội muốn hỏi chú một chuyện.
Tôi vừa nói lối chưa vô câu vọng cổ để xuống xề. Chú Tư nhướng cặp chưn mày, rít một hơi thuốc lá, buông một câu gọn lỏn:
- Đi chỗ khác chơi!
Tôi không để tâm câu nói của chú nên, chẳng cớ gì tự ái. Tôi thoáng nghĩ:''Đi chỗ khác chơi''là tôi đi hay chú đi?Mà xin lỗi, ai đi rồi cũng được. Tôi nhón ké điếu thuốc, cười vả lả cầu tài:
- Thưa chú, cháu ''thỉnh ý''chú chuyện nầy không thể ''đi chỗ khác chơi''.
- Tại sao không?
Miệng dẫu nói vậy, nhưng dường như chú ''đánh hơi'' có điều lạ ở ''thằng nhỏ''không dính dáng đến chuyện ''văn nghệ, văn gừng''.
- Đâu, chú em nói thử, qua nghe!
- Chú Tư, cháu mạo muội muốn hỏi chú một chuyện.
Tôi vừa nói lối chưa vô câu vọng cổ để xuống xề. Chú Tư nhướng cặp chưn mày, rít một hơi thuốc lá, buông một câu gọn lỏn:
- Đi chỗ khác chơi!
Tôi không để tâm câu nói của chú nên, chẳng cớ gì tự ái. Tôi thoáng nghĩ:''Đi chỗ khác chơi''là tôi đi hay chú đi?Mà xin lỗi, ai đi rồi cũng được. Tôi nhón ké điếu thuốc, cười vả lả cầu tài:
- Thưa chú, cháu ''thỉnh ý''chú chuyện nầy không thể ''đi chỗ khác chơi''.
- Tại sao không?
Miệng dẫu nói vậy, nhưng dường như chú ''đánh hơi'' có điều lạ ở ''thằng nhỏ''không dính dáng đến chuyện ''văn nghệ, văn gừng''.
- Đâu, chú em nói thử, qua nghe!
Ngày đó, giữa lớp học Khóa 2 Viết văn, chú ''trình làng''một tiểu phẩm(6).Trong tiểu phẩm nầy, chú đặc tả ''nét đẹp ngũ sắc lộng lẫy của những cái bong bóng xà bông dưới ánh mặt trời, nhưng dễ bễ...''Và, chú ''còn nợ cái xe đạp như lời hứa đối với đứa con trai lúc chú ra đi kháng chiến...''
Tiểu phẩm của chú được học viên lớp học đóng góp và phê phán. Ông Tám Nhàn, phân tích có tình có lý, rất chân tình và thuyết phục, chớ ''không dùng đao to búa lớn''. Hồi ấy, anh chị em giới nhà văn thường đối xử nhau đúng mực'' kẻ cầm bút'', hiếm khi ''liệng đá'' hoặc báng bổ nặng lời.
Chú nhận ra điều cần nhận của một nhà văn từng là nhà thơ, nhà báo. Gần 20 ngày sau, truyện''Anh Thơm râu rồng''ra đời. Cả lớp học thích thú, ông tám Nhàn khen đáo khen để! Và, ''Anh Thơm râu rồng''nhận Giải thưởng''Văn học Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn Nghệ giải phóng Miền Nam(1960-1965)
- Việc đó, thực hư thế nào chú Tư?
Tôi hỏi.
Chú Tư im lặng, hút thuốc, mắt ngó ra bờ kinh. Buổi chiều trải nắng qua xóm nhỏ.
Tiểu phẩm của chú được học viên lớp học đóng góp và phê phán. Ông Tám Nhàn, phân tích có tình có lý, rất chân tình và thuyết phục, chớ ''không dùng đao to búa lớn''. Hồi ấy, anh chị em giới nhà văn thường đối xử nhau đúng mực'' kẻ cầm bút'', hiếm khi ''liệng đá'' hoặc báng bổ nặng lời.
Chú nhận ra điều cần nhận của một nhà văn từng là nhà thơ, nhà báo. Gần 20 ngày sau, truyện''Anh Thơm râu rồng''ra đời. Cả lớp học thích thú, ông tám Nhàn khen đáo khen để! Và, ''Anh Thơm râu rồng''nhận Giải thưởng''Văn học Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn Nghệ giải phóng Miền Nam(1960-1965)
- Việc đó, thực hư thế nào chú Tư?
Tôi hỏi.
Chú Tư im lặng, hút thuốc, mắt ngó ra bờ kinh. Buổi chiều trải nắng qua xóm nhỏ.
*
Chú bỏ chốn kinh kỳ, qua phà Rạch Miễu, về sống bên cạnh ''người vợ cực khổ sơn trường''với mình ở quê nhà. Thường thì, người ta cực mà không khổ hoặc khổ mà không cực. Đằng nầy, thiếm Tư gánh cả hai cái cực và khổ trên đôi vai gầy yếu. Thiếm Tư đi về trời trước chú. Chú nuối, chưa hẳn là tiếc trần gian. Song, cố ở lại ngóng coi mọi sự rõ ràng mà, không phải ''lộng giả thành chân''. Ngóng cổ chờ miết, chẳng thấy mưa rào, ngày một cứ tăm tăm, mù mù...Chú thở dài, một mình buông một câu: Đi chỗ khác chơi!Chuyện đời đâu phải dễ. Chẳng chơi được chỗ nầy thì, chỗ khác có gì chơi?
Sức yếu, tuổi cao...chú dựa vào anh hai Lê, nương nhờ vợ chồng Ái Thy(7)chống chọi bịnh tật và cái già. Hai năm cuối cuộc sống, gần như chú buông bút. Tôi lứa tuổi thuộc hàng con cháu, không ngồi''mâm chiếu''dùng ''đũa văn chương''gắp''chữ nghĩa''. Tôi thương mến chú, không là những tác phẩm chú để lại cho đời. Chưa chắc chú viết thiệt lòng và tôi, cũng chưa chắc đọc mà hiểu mà thấm hết những gì chú đã viết?Tôi thương mến chú từ thân phận con người trong cái cõi nhân gian:Hiền-Dữ!Biết sao hiền sao dữ?Không có dữ, chắc gì ló cái hiền?
Có điều chắc nuột, chú yêu liếp dừa, mương nước. Chú không thể nào quên tàu cau, tàu dừa lả lơi dưới ánh trăng quê thời thơ ấu. Từng lón phù sa Ba Lai, Hàm Luông làm nên vùng đất Hữu Định và, cái làng nghèo Hữu Định đã hun đúc nên một nhà văn yêu đất yêu người. Chú rời mái gia đình từ rất sớm, ''đi vào cách mạng như đi vào ngày hội lớn'' như ai đó từng viết. Chú không thuộc tiếp người ''ham vui'' đi vào cách mạng như đi vào'' ngày hội lớn'', chú đi vào cách mạng như một sứ mạng làm trai, một nghĩa vụ cứu nước giành Độc Lập, cứu dân thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than!
Chú Tư, chàng trai làng Hữu Định đã đáp lời cụ Đồ Chiểu:''Hỡi trang tuấn kiệt rày đâu vắng/Nỡ để dân đen mãi thế nầy?''và ''Tuyên ngôn Độc Lập'' ngày 2.9.1945 tại Ba Đình của Chủ Tịch Hồ Chí Minh!
Chú nhớ lại, ngày đó:Người người giành hy sinh, nhà nhà giành cống hiến. Nếu, phải tự tay mình đập nát căn nhà do mồ hôi nước mắt của mình làm ra, vợ chồng, con cái sẵn sàng đập vì, công cuộc ''Tiêu thổ kháng chiến''. Gia đình ba má chú thuộc gia đình có cái ăn cái để, giàu có trong vùng. Vậy mà, chú bỏ tất cả lại sau lưng, nốp với giáo lên vai đi vào khói lửa.
Chú Tư là một người yêu nước, đúng nguyên chất yêu nước của người Nam Bộ.
Chú bỏ chốn kinh kỳ, qua phà Rạch Miễu, về sống bên cạnh ''người vợ cực khổ sơn trường''với mình ở quê nhà. Thường thì, người ta cực mà không khổ hoặc khổ mà không cực. Đằng nầy, thiếm Tư gánh cả hai cái cực và khổ trên đôi vai gầy yếu. Thiếm Tư đi về trời trước chú. Chú nuối, chưa hẳn là tiếc trần gian. Song, cố ở lại ngóng coi mọi sự rõ ràng mà, không phải ''lộng giả thành chân''. Ngóng cổ chờ miết, chẳng thấy mưa rào, ngày một cứ tăm tăm, mù mù...Chú thở dài, một mình buông một câu: Đi chỗ khác chơi!Chuyện đời đâu phải dễ. Chẳng chơi được chỗ nầy thì, chỗ khác có gì chơi?
Sức yếu, tuổi cao...chú dựa vào anh hai Lê, nương nhờ vợ chồng Ái Thy(7)chống chọi bịnh tật và cái già. Hai năm cuối cuộc sống, gần như chú buông bút. Tôi lứa tuổi thuộc hàng con cháu, không ngồi''mâm chiếu''dùng ''đũa văn chương''gắp''chữ nghĩa''. Tôi thương mến chú, không là những tác phẩm chú để lại cho đời. Chưa chắc chú viết thiệt lòng và tôi, cũng chưa chắc đọc mà hiểu mà thấm hết những gì chú đã viết?Tôi thương mến chú từ thân phận con người trong cái cõi nhân gian:Hiền-Dữ!Biết sao hiền sao dữ?Không có dữ, chắc gì ló cái hiền?
Có điều chắc nuột, chú yêu liếp dừa, mương nước. Chú không thể nào quên tàu cau, tàu dừa lả lơi dưới ánh trăng quê thời thơ ấu. Từng lón phù sa Ba Lai, Hàm Luông làm nên vùng đất Hữu Định và, cái làng nghèo Hữu Định đã hun đúc nên một nhà văn yêu đất yêu người. Chú rời mái gia đình từ rất sớm, ''đi vào cách mạng như đi vào ngày hội lớn'' như ai đó từng viết. Chú không thuộc tiếp người ''ham vui'' đi vào cách mạng như đi vào'' ngày hội lớn'', chú đi vào cách mạng như một sứ mạng làm trai, một nghĩa vụ cứu nước giành Độc Lập, cứu dân thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than!
Chú Tư, chàng trai làng Hữu Định đã đáp lời cụ Đồ Chiểu:''Hỡi trang tuấn kiệt rày đâu vắng/Nỡ để dân đen mãi thế nầy?''và ''Tuyên ngôn Độc Lập'' ngày 2.9.1945 tại Ba Đình của Chủ Tịch Hồ Chí Minh!
Chú nhớ lại, ngày đó:Người người giành hy sinh, nhà nhà giành cống hiến. Nếu, phải tự tay mình đập nát căn nhà do mồ hôi nước mắt của mình làm ra, vợ chồng, con cái sẵn sàng đập vì, công cuộc ''Tiêu thổ kháng chiến''. Gia đình ba má chú thuộc gia đình có cái ăn cái để, giàu có trong vùng. Vậy mà, chú bỏ tất cả lại sau lưng, nốp với giáo lên vai đi vào khói lửa.
Chú Tư là một người yêu nước, đúng nguyên chất yêu nước của người Nam Bộ.
*
Tôi đến viếng chú Tư ngay ngày hôm sau lễ ''Mở cửa mã''. Nghĩa là, lúc ''con gà''chạy vòng quanh nắm mồ kêu những tiếng kêu báo thức. Và, chắc là chú giựt mình thức dậy trong một cảnh giới khác. Cái cảnh giới chỉ có ma, thiếu vắng người. Chú biết mình rời dương thế. Tôi tin ở thời khắc không dài lắm, chú sẽ gặp lại ''bằng hữu''và những ''cố nhân''mà, khi sống chú mong gặp. Thượng đế rất sòng phẳng và công bằng trong việc ân oán cõi thế gian.
Ngồi thềm mã chú, thợ hồ đương xây mộ dở dang. Tôi vin cây mía lau túm ngọn chao nghiêng gió sớm, ngó cái thang làm bằng sống lưng bẹ chuối, cái thang để đêm đêm chú trèo lên đứngngó trời sao, nghĩ thế sự man man...Tôi thắp nhang, thầm vái:
- ''Thằng nhỏ cà khịa''đến thăm chú Tư đây! Không phải ''ké, bón''chụp ảnh, dựa hơi hồn ma bóng quế ''Người hiền Nam Bộ''để đánh bóng bộ mặt nhà quê ''bùn sình''của mình. Đến để coi chú có nói gì với thằng nhỏ hay ''tò mò. tọc mạch'' lúc chú còn thở khí trời, lúc Thân-Tâm đoàn kết từ Thở, tạo thành sự sống con người. Tắt Thở, Thân-Tâm chia lìa vĩnh viễn. Đến để nghe chú nói:Chú chả trách oán ai bởi, Trang Thế Hy không bầm và dập thì, không có một Trang Thế Hy đích thực Trang Thế Hy! Tôi biết chú quý và thương nhà văn Nguyễn Ngọc Tư là ở chỗ đó, khi ''Cánh đồng bất tận'' lùm xùm nơi Đất Mũi.
Thương cảnh vợ chồng Ái Thy, đứa con gái mà lúc sống, chú rất mực yêu thương. Vợ chồng ăn ở với nhau nhiều năm, không có con. Chú mất, Ái Thy hụt hẫng tinh thần. Gặp tôi, em nó lơ mơ như người đãng trí. Một cảm xúc xót xa chạy rần rật trong tôi.
Hằng giờ, tôi ngồi bên mộ chú. Ngôi mộ khang trang nằm im lìm dưới những hàng dừa mượt mà trên 5 công đất. Nghe chồng con Út Thy nói, lễ Thanh Minh sang năm, anh hai Lê dời phần mộ của thiếm Tư từ ngoài mép lộ vào nằm cận kề chú Tư.
Ngó cái ảnh của chú trên bia mộ, tôi có cái cảm giác chú mỉm cười với thằng tôi. Cái thằng nhỏ ngịch ngợm, bạ đâu nói đó, tính thẳng ruột ngựa. Có lần, tôi tưởng đâu chú nghỉ chơi với tôi. Vì, tôi vượt qua vai vế. Tôi nhớ, tôi nói với chú khi chú hỏi:
- Thằng nhỏ, đọc ''Anh Thơm râu rồng'' thấy sao?
Tôi bậm trợn trả lời đại.
- Thưa chú, hay thì có hay vào cái thời đó. Cái thời quất sụm bà chè địa chủ. Nhưng, theo cháu địa chủ Nam Bộ không ác như địa chủ Bắc Bộ.
Chú nhỏm đít, xoay người trở bộ tư thế ngồi nghe tôi lý sự.
Tôi như được chú khuyến khích, nói tiếp:
- Gần như toàn bộ địa chủ Nam Bộ vào dân Tây, hấp thụ nền văn hóa Tây...moa, toa...tá lả. Tinh thần khoáng đạt, sẵn lòng tự nguyện ''Địa chủ kháng chiến'', góp công góp sức cho phong trào Việt Minh; kể cả gả con cho cốt cán, lãnh tụ phong trào. Thậm chí, sau mùa lúa, địa chủ còn mướn thầy giáo về dạy chữ cho con tá điền...Điều đó, khó có thể xảy ra ở Bắc Bộ bởi, tàn dư phong kiến kềm tỏa và nhuộm đen đầu óc địa chủ. Địa chủ Bắc Bộ mần gì biết ''moa, toa...nhảy đầm...''là cái quỷ quái gì?Nếu có biết chăng, là biết cái ''bàn đèn'', nói ''hoa hòe hoa sói'' là nàng tiên nâu hoặc cùng lắm đi hát ả đào... xin lỗi, được vậy đã là thuộc hạng chãnh...Nên, truyện ''Anh Thơm râu rồng'', thưa thiệt với chú, cháu đọc không thấy đã!
Tưởng chú giận mà không. Đôi mắt chú buồn...buồn rất xa. Tôi ân hận vì đã lỡ lời. Chú hút thuốc, nói lảng sang chuyện khác.
Tôi đến viếng chú Tư ngay ngày hôm sau lễ ''Mở cửa mã''. Nghĩa là, lúc ''con gà''chạy vòng quanh nắm mồ kêu những tiếng kêu báo thức. Và, chắc là chú giựt mình thức dậy trong một cảnh giới khác. Cái cảnh giới chỉ có ma, thiếu vắng người. Chú biết mình rời dương thế. Tôi tin ở thời khắc không dài lắm, chú sẽ gặp lại ''bằng hữu''và những ''cố nhân''mà, khi sống chú mong gặp. Thượng đế rất sòng phẳng và công bằng trong việc ân oán cõi thế gian.
Ngồi thềm mã chú, thợ hồ đương xây mộ dở dang. Tôi vin cây mía lau túm ngọn chao nghiêng gió sớm, ngó cái thang làm bằng sống lưng bẹ chuối, cái thang để đêm đêm chú trèo lên đứngngó trời sao, nghĩ thế sự man man...Tôi thắp nhang, thầm vái:
- ''Thằng nhỏ cà khịa''đến thăm chú Tư đây! Không phải ''ké, bón''chụp ảnh, dựa hơi hồn ma bóng quế ''Người hiền Nam Bộ''để đánh bóng bộ mặt nhà quê ''bùn sình''của mình. Đến để coi chú có nói gì với thằng nhỏ hay ''tò mò. tọc mạch'' lúc chú còn thở khí trời, lúc Thân-Tâm đoàn kết từ Thở, tạo thành sự sống con người. Tắt Thở, Thân-Tâm chia lìa vĩnh viễn. Đến để nghe chú nói:Chú chả trách oán ai bởi, Trang Thế Hy không bầm và dập thì, không có một Trang Thế Hy đích thực Trang Thế Hy! Tôi biết chú quý và thương nhà văn Nguyễn Ngọc Tư là ở chỗ đó, khi ''Cánh đồng bất tận'' lùm xùm nơi Đất Mũi.
Thương cảnh vợ chồng Ái Thy, đứa con gái mà lúc sống, chú rất mực yêu thương. Vợ chồng ăn ở với nhau nhiều năm, không có con. Chú mất, Ái Thy hụt hẫng tinh thần. Gặp tôi, em nó lơ mơ như người đãng trí. Một cảm xúc xót xa chạy rần rật trong tôi.
Hằng giờ, tôi ngồi bên mộ chú. Ngôi mộ khang trang nằm im lìm dưới những hàng dừa mượt mà trên 5 công đất. Nghe chồng con Út Thy nói, lễ Thanh Minh sang năm, anh hai Lê dời phần mộ của thiếm Tư từ ngoài mép lộ vào nằm cận kề chú Tư.
Ngó cái ảnh của chú trên bia mộ, tôi có cái cảm giác chú mỉm cười với thằng tôi. Cái thằng nhỏ ngịch ngợm, bạ đâu nói đó, tính thẳng ruột ngựa. Có lần, tôi tưởng đâu chú nghỉ chơi với tôi. Vì, tôi vượt qua vai vế. Tôi nhớ, tôi nói với chú khi chú hỏi:
- Thằng nhỏ, đọc ''Anh Thơm râu rồng'' thấy sao?
Tôi bậm trợn trả lời đại.
- Thưa chú, hay thì có hay vào cái thời đó. Cái thời quất sụm bà chè địa chủ. Nhưng, theo cháu địa chủ Nam Bộ không ác như địa chủ Bắc Bộ.
Chú nhỏm đít, xoay người trở bộ tư thế ngồi nghe tôi lý sự.
Tôi như được chú khuyến khích, nói tiếp:
- Gần như toàn bộ địa chủ Nam Bộ vào dân Tây, hấp thụ nền văn hóa Tây...moa, toa...tá lả. Tinh thần khoáng đạt, sẵn lòng tự nguyện ''Địa chủ kháng chiến'', góp công góp sức cho phong trào Việt Minh; kể cả gả con cho cốt cán, lãnh tụ phong trào. Thậm chí, sau mùa lúa, địa chủ còn mướn thầy giáo về dạy chữ cho con tá điền...Điều đó, khó có thể xảy ra ở Bắc Bộ bởi, tàn dư phong kiến kềm tỏa và nhuộm đen đầu óc địa chủ. Địa chủ Bắc Bộ mần gì biết ''moa, toa...nhảy đầm...''là cái quỷ quái gì?Nếu có biết chăng, là biết cái ''bàn đèn'', nói ''hoa hòe hoa sói'' là nàng tiên nâu hoặc cùng lắm đi hát ả đào... xin lỗi, được vậy đã là thuộc hạng chãnh...Nên, truyện ''Anh Thơm râu rồng'', thưa thiệt với chú, cháu đọc không thấy đã!
Tưởng chú giận mà không. Đôi mắt chú buồn...buồn rất xa. Tôi ân hận vì đã lỡ lời. Chú hút thuốc, nói lảng sang chuyện khác.
*
Bàn thờ chú-một nhà văn đại thụ, một người hiền Nam Bộ-rất đơn sơ hơn cả sự đơn sơ của người nghèo khó. Tôi ngậm ngùi trong cái bồi hồi của kẻ hậu sinh:''Đi chỗ khác chơi''!Tôi lần mối ra mới hiểu, ''Đi chỗ khác chơi'' vừa là câu thiệu khởi đầu, cũng là câu khẳng định cho một sự kết thúc. Có thể, đuổi bọn ''giá áo túi cơm'', đồng thời cũng là câu ''thấy chơi không được, đi chỗ khác chơi''. Đơn giản như tướt lá dừa mần chổi quét sân, quét bồ hống...
Tự dưng, tôi nghĩ đến thời khắc ra đi của chú. Chồng Út Thy kể với tôi:
- Buổi chiều, ba vẫn bình thường:Ăn cơm, uống sữa...khoảng tối, ba bảo khó chịu có lẽ hơi cảm, em đòi quậy sữa hoặc vắt cam cho ba uống, ba bảo khỏi. Lát khuya, ba tuột quần và lòm còm đứng dậy. Em hỏi:Ba mần gì vậy ba?Ba nói:Ba tiểu ướt cả quần, ba vắt chỗ quạt máy cho mau khô. Em nói, để con lấy cái quần khác cho ba mặc, kẻo lạnh. Ba không cho, ba bảo đắp mền lại cho ba. Em nhắm mắt thiu thiu nhưng, không ngủ được. Bất chợt, em thấy ba nhá nhá đèn pin lên cái đồng hồ...Em ngồi bật dậy, nghe tiếng ba thở rất nhẹ 2 cái...em chạy đến bên giường, hỏi:Có sao không ba? Ba em đã đi. Lúc đó, kim dồng hồ chỉ 0 giờ 50 phút rạng sáng ngày 8.12.2015.
Bàn thờ chú-một nhà văn đại thụ, một người hiền Nam Bộ-rất đơn sơ hơn cả sự đơn sơ của người nghèo khó. Tôi ngậm ngùi trong cái bồi hồi của kẻ hậu sinh:''Đi chỗ khác chơi''!Tôi lần mối ra mới hiểu, ''Đi chỗ khác chơi'' vừa là câu thiệu khởi đầu, cũng là câu khẳng định cho một sự kết thúc. Có thể, đuổi bọn ''giá áo túi cơm'', đồng thời cũng là câu ''thấy chơi không được, đi chỗ khác chơi''. Đơn giản như tướt lá dừa mần chổi quét sân, quét bồ hống...
Tự dưng, tôi nghĩ đến thời khắc ra đi của chú. Chồng Út Thy kể với tôi:
- Buổi chiều, ba vẫn bình thường:Ăn cơm, uống sữa...khoảng tối, ba bảo khó chịu có lẽ hơi cảm, em đòi quậy sữa hoặc vắt cam cho ba uống, ba bảo khỏi. Lát khuya, ba tuột quần và lòm còm đứng dậy. Em hỏi:Ba mần gì vậy ba?Ba nói:Ba tiểu ướt cả quần, ba vắt chỗ quạt máy cho mau khô. Em nói, để con lấy cái quần khác cho ba mặc, kẻo lạnh. Ba không cho, ba bảo đắp mền lại cho ba. Em nhắm mắt thiu thiu nhưng, không ngủ được. Bất chợt, em thấy ba nhá nhá đèn pin lên cái đồng hồ...Em ngồi bật dậy, nghe tiếng ba thở rất nhẹ 2 cái...em chạy đến bên giường, hỏi:Có sao không ba? Ba em đã đi. Lúc đó, kim dồng hồ chỉ 0 giờ 50 phút rạng sáng ngày 8.12.2015.
*
Đời chú Tư đã trải qua 2 lần coi giờ để đi.
Hồi năm 45 thế kỷ 20, qua vội lua ba hột cơm cho vững bụng, coi giờ sợ trễ cùng anh em làm cuộc Cách mạnh tháng tám ở quê nhà. Qua không chơi được với bọn cường hào, cò bót...nên xếp bút nghiêng ''đi chỗ khác chơi''. Bây giờ, ở tuổi 91 và nếu tính tuổi mụ là 92, chú xịt đèn pin coi giờ để ''đi chỗ khác chơi''.Tiếc là, thằng nhỏ cà khịa của chú chưa kịp hỏi:
- Vì sao, chú không ở lại chơi cuộc chơi còn dở dang?Vội vả, cuốn tượng ''đi chỗ khác chơi''vậy chú Tư!?
Đời chú Tư đã trải qua 2 lần coi giờ để đi.
Hồi năm 45 thế kỷ 20, qua vội lua ba hột cơm cho vững bụng, coi giờ sợ trễ cùng anh em làm cuộc Cách mạnh tháng tám ở quê nhà. Qua không chơi được với bọn cường hào, cò bót...nên xếp bút nghiêng ''đi chỗ khác chơi''. Bây giờ, ở tuổi 91 và nếu tính tuổi mụ là 92, chú xịt đèn pin coi giờ để ''đi chỗ khác chơi''.Tiếc là, thằng nhỏ cà khịa của chú chưa kịp hỏi:
- Vì sao, chú không ở lại chơi cuộc chơi còn dở dang?Vội vả, cuốn tượng ''đi chỗ khác chơi''vậy chú Tư!?
trần bảo định
Bến Tre,13.12.2015
(1)Câu nói thường khi của nhà văn Trang Thế Hy
(2)''Nắng đẹp miền quê ngoại, Tập truyện ngắn 1964.
(3)Nhà văn Lê Văn Thảo
(4)Phan Lạc Tuyên, Đại úy VNCH, Thiếu úy Hải quân VNCH
(5)Nhà Văn Nguyễn Văn Bổng, bút danh Trần Hiếu Minh, Bí danh Tám Nhàn
(6)Thời đó, không gọi tác phẩm
(7)Anh hai Lê (con trai). Ái Thy (con gái), Chín Hy(Trần Văn Hy, con rể)
*
Ảnh nguồn Băng Châu Nguyễn Thái.
Từ trái
1. Lối mòn dẫn vào mộ chú Tư Sâm
2. Vừa lễ ''Mở cửa mã'' và thợ hồ tiếp tục xâymộ.
3. Trước bàn thờ chú Tư Sâm
4. Vợ chồng Ái Thy và tác giả.
Bến Tre,13.12.2015
(1)Câu nói thường khi của nhà văn Trang Thế Hy
(2)''Nắng đẹp miền quê ngoại, Tập truyện ngắn 1964.
(3)Nhà văn Lê Văn Thảo
(4)Phan Lạc Tuyên, Đại úy VNCH, Thiếu úy Hải quân VNCH
(5)Nhà Văn Nguyễn Văn Bổng, bút danh Trần Hiếu Minh, Bí danh Tám Nhàn
(6)Thời đó, không gọi tác phẩm
(7)Anh hai Lê (con trai). Ái Thy (con gái), Chín Hy(Trần Văn Hy, con rể)
*
Ảnh nguồn Băng Châu Nguyễn Thái.
Từ trái
1. Lối mòn dẫn vào mộ chú Tư Sâm
2. Vừa lễ ''Mở cửa mã'' và thợ hồ tiếp tục xâymộ.
3. Trước bàn thờ chú Tư Sâm
4. Vợ chồng Ái Thy và tác giả.
NGuồn: từ FB
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)












