I. Thơ Phạm Ngọc Lư thời văn-học miền Nam

Nhà thơ Phạm Ngọc Lư
Sinh
năm 1946 tại Phú Vang, Thừa Thiên, giáo chức tốt nghiệp Viện Hán Học và
Đại Học Văn khoa Huế, động viên khóa 5-1968 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ
Đức. Từ 1963, ký tên thật và bút hiệu Phạm Triều Nghi, ông có thơ văn
đăng trên các tạp-chí văn-học Văn, Nghệ Thuật, Bách Khoa, Ý Thức, Trình Bầy, Khởi Hành, Tuổi Ngọc, ... Tác-phẩm xuất-bản sau 1975: Đan Tâm (Thư Ấn Quán, 2004 gồm một số thơ trước 1975) và Mây Nổi
(tác giả xuất bản, 2007). Phạm Ngọc Lư đến và ở lại với văn-học miền
Nam với những bài Hành đặc sắc. Thể thơ Hành thuộc thơ xuất xứ từ Trung
Hoa, thường viết theo các thể song thất lục bát, thất ngôn hoặc ngũ
ngôn, và thường dài hơi. Với nhà thơ Việt-Nam, hành thường dùng để nói
lên nỗi niềm, tâm sự, những cái bất hạnh, đớn đau, có khi hiền hòa nhẫn
nhục, có khi là tiếng "thét" lớn, nhưng thường thường bi hận, lắng đọng.
Phạm Ngọc Lư viết Biên Cương Hành vào năm 1972, lúc mà cuộc nội chiến
huynh đệ tương tàn lên cao điểm với những cuộc tấn công, khủng bố lan
khắp vùng đất nước – Mùa Hè Đỏ Lửa tiếp nối Tết Mậu Thân. Có thể nói bài
Biên Cương Hành thuộc vào những bài Hành hay nhất của văn-học miền Nam,
hay về đề tài chiến-tranh và đặc sắc thể-loại: những con chữ trung thực
của con người sống thực, với hành trang và xuất xứ cổ điển, lời thơ
trang trọng, nhiều ẩn dụ, có chiều sâu tri thức và tâm thức, lương tri,
bi thương, như những tiếng chuông chiêu hồn từ chiến trường. Những tàn
nhẫn của chiến-tranh, của con người, của nhiều thế lực có thể vô hình,
với phẫn uất và nỗi đau tận cùng của người lính, của con người Việt-Nam.
Đây đó như một bản cáo trạng tội ác đối với những kẻ đã gây ra cuộc nội
chiến huynh đệ tương tàn. Với người lính Phạm Ngọc Lư, những vần trung
thực, chân thành mới tỏ bày được hồn thơ lâm chiến:
Biên cương hành
"Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn?
Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khí đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán bọn cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hóa thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương
Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương?
Em đâu, quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông
Thôi em, chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường!
Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương".
- tháng 5-1972(Văn tháng 10-1972; Trích từ Đan Tâm, tr. 15-18)
Bài sau, Thâu Đêm Trằn Trọc Nghe Mưa, cũng mang âm hưởng những bài Hành thời tráng sĩ đầy tâm sự biết ngỏ cùng ai ở chốn nhân gian thường tình:
Thâu Đêm Trằn Trọc Nghe Mưa
"Chưa mùa mưa trời bỗng mưa mau
Mái nghiêng gác lệch mưa rêm đầu
Nghe lòng chăn chiếu ê chề quá
Hơi hướm giang hồ chẳng ấm nhau
Cứ gom tâm sự nằm nhai lại
Tâm sự một đời [ôi] bể dâu
Năm năm mười năm không là mấy
Góp lại không đầy một đêm thâu
Đêm thâu nghe mưa rơi trằn trọc
Đời mòn chí mỏi biết về đâu?
Bao khách xa nhà trong thiên hạ
Đêm mưa thanh khí chẳng tương cầu
Cứ nghe mưa héo mòn trời đất
Tê buốt lòng ngàn mũi kim khâu
Chưa mùa mưa sao mưa rười rượi
Không chừng trời ốm khiến mưa đau
Chiếu chăn meo mốc chua mùi mộng
Mộng sớm mộng khuya chóng bạc màu
Nhốn nháo sinh linh thời nhiễu loạn
Lều bều thân thế lộn vàng thau
Năm nổi tháng chìm ngày mắc cạn
Đêm mưa lòng nghẽn nước đục ngầu
Nằm suông thức trắng nghe mưa giọt
Sáng dậy ngu ngơ: tóc bạc đầu!".
- 1973