Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2016

Vài cảm nghĩ về thơ và truyện Phạm Ngọc Lư

I. Thơ Phạm Ngọc Lư thời văn-học miền Nam


blank
      Nhà thơ Phạm Ngọc Lư
Sinh năm 1946 tại Phú Vang, Thừa Thiên, giáo chức tốt nghiệp Viện Hán Học và Đại Học Văn khoa Huế, động viên khóa 5-1968 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Từ 1963, ký tên thật và bút hiệu Phạm Triều Nghi, ông có thơ văn đăng trên các tạp-chí văn-học Văn, Nghệ Thuật, Bách Khoa, Ý Thức, Trình Bầy, Khởi Hành, Tuổi Ngọc, ... Tác-phẩm xuất-bản sau 1975: Đan Tâm (Thư Ấn Quán, 2004 gồm một số thơ trước 1975) và Mây Nổi (tác giả xuất bản, 2007). Phạm Ngọc Lư đến và ở lại với văn-học miền Nam với những bài Hành đặc sắc. Thể thơ Hành thuộc thơ xuất xứ từ Trung Hoa, thường viết theo các thể song thất lục bát, thất ngôn hoặc ngũ ngôn, và thường dài hơi. Với nhà thơ Việt-Nam, hành thường dùng để nói lên nỗi niềm, tâm sự, những cái bất hạnh, đớn đau, có khi hiền hòa nhẫn nhục, có khi là tiếng "thét" lớn, nhưng thường thường bi hận, lắng đọng. Phạm Ngọc Lư viết Biên Cương Hành vào năm 1972, lúc mà cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn lên cao điểm với những cuộc tấn công, khủng bố lan khắp vùng đất nước – Mùa Hè Đỏ Lửa tiếp nối Tết Mậu Thân. Có thể nói bài Biên Cương Hành thuộc vào những bài Hành hay nhất của văn-học miền Nam, hay về đề tài chiến-tranh và đặc sắc thể-loại: những con chữ trung thực của con người sống thực, với hành trang và xuất xứ cổ điển, lời thơ trang trọng, nhiều ẩn dụ, có chiều sâu tri thức và tâm thức, lương tri, bi thương, như những tiếng chuông chiêu hồn từ chiến trường. Những tàn nhẫn của chiến-tranh, của con người, của nhiều thế lực có thể vô hình, với phẫn uất và nỗi đau tận cùng của người lính, của con người Việt-Nam. Đây đó như một bản cáo trạng tội ác đối với những kẻ đã gây ra cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Với người lính Phạm Ngọc Lư, những vần trung thực, chân thành mới tỏ bày được hồn thơ lâm chiến:

Biên cương hành

"Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn?
     Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khí đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán bọn cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hóa thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương
     Đây biên cương, ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương?
Em đâu, quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
     Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông
Thôi em, chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường!
Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về: thân cạn máu khô xương
Ngày về: hôn lễ hay tang lễ
Hề chi! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương".
- tháng 5-1972
(Văn tháng 10-1972; Trích từ Đan Tâm, tr. 15-18)

Bài sau, Thâu Đêm Trằn Trọc Nghe Mưa, cũng mang âm hưởng những bài Hành thời tráng sĩ đầy tâm sự biết ngỏ cùng ai ở chốn nhân gian thường tình:

Thâu Đêm Trằn Trọc Nghe Mưa

"Chưa mùa mưa trời bỗng mưa mau
Mái nghiêng gác lệch mưa rêm đầu
Nghe lòng chăn chiếu ê chề quá
Hơi hướm giang hồ chẳng ấm nhau
Cứ gom tâm sự nằm nhai lại
Tâm sự một đời [ôi] bể dâu
Năm năm mười năm không là mấy
Góp lại không đầy một đêm thâu
Đêm thâu nghe mưa rơi trằn trọc
Đời mòn chí mỏi biết về đâu?
Bao khách xa nhà trong thiên hạ
Đêm mưa thanh khí chẳng tương cầu
Cứ nghe mưa héo mòn trời đất
Tê buốt lòng ngàn mũi kim khâu
Chưa mùa mưa sao mưa rười rượi
Không chừng trời ốm khiến mưa đau
Chiếu chăn meo mốc chua mùi mộng
Mộng sớm mộng khuya chóng bạc màu
Nhốn nháo sinh linh thời nhiễu loạn
Lều bều thân thế lộn vàng thau
Năm nổi tháng chìm ngày mắc cạn
Đêm mưa lòng nghẽn nước đục ngầu
Nằm suông thức trắng nghe mưa giọt
Sáng dậy ngu ngơ: tóc bạc đầu!".
- 1973

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016

GS Trịnh Xuân Thuận: Đạo Phật giúp tôi những ngày xa Tổ quốc


TTO - Sáng ngày 2-7, tại Trung tâm văn hoá Pháp, Hà Nội, GS Trịnh Xuân Thuận có buổi gặp gỡ, giao lưu với độc giả xung quanh cuốn sách Số phận của vũ trụ - Big Bang và sau đó.
GS Trịnh Xuân Thuận: Đạo Phật giúp tôi những ngày xa Tổ quốc
GS Trịnh Xuân Thuận ký sách tặng độc giả - Ảnh: V.V.TUÂN
Đây là buổi giao lưu đầu tiên của GS Trịnh Xuân Thuận trong chuỗi hoạt động hội thảo, trao đổi với công chúng, bạn đọc ở thủ đô và TP.HCM.
Tại buổi giao lưu, GS Trịnh Xuân Thuận nói rằng ông rất vui khi được về nước lần này. Ông nói tiếng Việt khá chậm, và không được trôi chảy. Ông đề nghị các bạn đọc hãy nhắc ông mỗi khi ông chưa nghĩ ra được danh từ tiếng Việt nào đó.
“Nhiều khi danh từ khoa học bằng tiếng Việt tôi hơi quên vì ở ngoại quốc tôi ít có cơ hội sử dụng” - GS Trịnh Xuân Thuận thật thà chia sẻ.
Nói về con đường đưa ông đến với khoa học vũ trụ và nghiên cứu bí ẩn bầu trời, GS Trịnh Xuân Thuận kể lại, hồi nhỏ ông rất thích đọc sách của hai nhà bác học nổi tiếng trên thế giới là Albert Einstein và Isaac Newton. Đọc sách với ông không chỉ là nguồn cảm hứng mà còn gợi cho ông nhiều câu hỏi cùng sự tò mò.
Vì vậy, sau khi đậu tú tài ở Sài Gòn, ông có ý chí muốn thực sự được học hỏi với những người có thành tựu trên thế giới về vật lý thiên văn.
Ông muốn đi Pháp nhưng không được, nên ông đi Thuỵ Sĩ. Sau một năm ở Thuỵ Sĩ, ông thi sang những ngôi trường nổi tiếng về thiên văn học ở Mỹ bởi:
“Tôi thực sự muốn được học những thầy giáo nổi tiếng nhất trên thế giới. Dù lúc đó gặp nhiều khó khăn, nhưng tôi luôn nghĩ rằng mình muốn cái gì thực sự thì mình phải ráng hết sức rồi thế nào cũng có cách vượt qua”.
Ông nói thích vật lý thiên văn bởi đó là môn học rất hay cho một người trẻ có thể khám phá ra nhiều điều huyền bí.
Chia sẻ về bí quyết nôi dưỡng đam mê của mình, ông nói rằng, trước hết phải ham học hỏi, phải có ý chí.
“Thế nào mình cũng gặp khó khăn, nhiều lúc muốn bỏ cuộc, nhưng mình phải có ý chí, nhất là khi mình trẻ, mình luôn nghĩ là không sợ. Mình cũng có may mắn là được gặp những thầy giáo giỏi” - GS chia sẻ.
VN cần phải có cách để khơi dậy ý chí khoa học trong giới trẻ, bởi khoa học là tương lai của đất nước. Chính phủ VN cần phải lưu ý hơn về điều này
GS Trịnh Xuân Thuận
Trong những năm tháng khó khăn khi học xa Tổ quốc, mà thời đó chưa có internet phổ biến như bây giờ, còn tiền điện thoại lại rất đắt, ông thường liên lạc với gia đình ở trong nước qua những lá thư viết tay.
Thường phải mất ba đến bốn tuần, thư của ông mới về đến gia đình, và cũng mất chừng đó thời gian, ông mới nhận lại được thư hồi âm của cha mẹ.
Ra nước ngoài từ năm 1966 mà đến năm 1974, ông mới có thể về nước. “Từ nhỏ bố mẹ tôi hay đưa tôi đi chùa, nên đạo Phật đã giúp tôi rất nhiều trong những ngày tháng tôi một mình ở ngoại quốc”.
Trả lời câu hỏi của độc giả về vai trò của sách khoa học đối với những bạn trẻ VN hiện nay, GS Trịnh Xuân Thuận nói:
“Sách khoa học rất cần thiết cho độc giả trẻ, nó làm nảy nở thiên hướng về khoa học. Khoa học là một phần quan trọng để một đất nước vươn lên.
Vì vậy VN cần phải có cách để khơi dậy ý chí khoa học trong giới trẻ, bởi khoa học là tương lai của đất nước. Chính phủ VN cần phải lưu ý hơn về điều này”.
Trong tháng 7-2016, GS Trịnh Xuân Thuận còn nhiều chương trình giao lưu với độc giả, cộng đồng yêu thích thiên văn học tại Hà Nội và TP.HCM.
GS Trịnh Xuân Thuận sinh năm 1948 tại Hà Nội, lớn lên tại Sài Gòn. Sau đó ông trải qua nhiều trường đại học nổi tiếng ở Thụy Sỹ, Mỹ. Từ năm 1976, ông là GS thiên văn học tại ĐH Virginia (Mỹ).
Ông là một nhà vật lý thiên văn cho ra mắt bạn đọc nhiều cuốn sách nổi tiếng như: Giai điệu bí ẩn, Và con người tạo nên vũ trụ, Hỗn độn và hài hoà, Cái vô hạn trong lòng bàn tay, Vũ trụ và hoa sen, Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao
Trong đó, Số phận của vũ trụ - Big Bang và sau đó xuất bản năm 1992 được dịch ra 20 thứ tiếng trên thế giới.
V.V.TUÂN

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2016

KHỔNG ĐỨC : Cầm sắt琴 瑟




            瑟无端 五十弦  - 
           生曉夢 迷蝴蝶  - .
          海月明 珠有淚  - .
          情可待追 成忆  -

Phiên âm : Cầm sắt vô đoan ngũ thập huyền - Nhất huyền nhất trục tư hoa niên
                   Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp - Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.
                   Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ- Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên
                   Thử tình khả đải truy thanh ức  -  Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.
Chú thich :  
 1.- Cầm sắt: hình nó đẹp như gâm hoa văn là sắt. Ở đây lấy hai chữ đầu câu bài thơ làm đề mục, thực tế là mượn “cầm sắt” để ẩn dụ là “vô đề”. 2- Vô đoan: là không có lý do gì. 3- Ngũ thập huyền: truyền thuyết “ cổ sắt” vốn có 50 giây, về sau sửa lại thành 25 giây. 4-Trục : là trục của mỗi giây đàn. 5- Hoa niên : là thời trẻ, khi  tác giả làm bài thơ này, tuổi đã gần 50, nên nhân huyền trục mà nhớ đến thời trai trẻ. 6- Trang sinh hiểu mộng …: Trong thiên Tề vật luận của Nam Hoa kinh Trang sinh kể là nằm mơ thấy mình hóa bướm, hay chính bướm kia là Trang Chu; nên khi tỉnh giậy vẫn còn mơ màng về bướm. Hiểu mộng là giấc mộng ngắn ngủi tạm thời. 7- Vọng đế: Cuối nhà Chu , quốc vương đất Thục là Đỗ Vũ, truyền thuyết rằng khi ông ta chết rồi thì hồn phách hóa làm chim “đỗ quyên”- tức chim quốc, cất tiếng kêu tha thiết với tâm trạng nhớ thời trai trẻ vàng son…Cả hai câu thơ đều coi vạn sự như mộng ảo. 8-: Thương hải nguyệt minh… Theo truyền thuyết có thứ cá giống như người, vợ chết khóc thương thảm thiết, nước mắt rơi thành châu ngọc; lại cũng có thuyết ngọc ở Phong châu cảm ứng với trăng, trăng tròn thì ngọc cũng tròn và lấp lánh như rơi lệ. 9- Lam điền là tên núi, nay là Thiểm tây. Lam điền nỗi tiếng là đất sinh ra ngọc; mỗi khi thái dương rực sáng thì ngọc lành như bốc khói. 10- Hai câu cuối là nói lên nỗi thương nhớ phẩn uất; nếu ngay bây giờ mà nhớ lại thì không khỏi buồn hận: vi hiện tại người đương thời còn chán ngấy muốn chết.
Phân  tích :
Nhập đề lấy việc cảm xúc sự vật khởi hứng, tiếng đàn cầm sắt ai oán vô cớ gồm có 50 dây, khi  nghe tiếng đàn vang lên làm sao không nhớ đến thời trai trẻ đầy thơ mộng. Nhất huyền nhất trục
cũng như nhất âm nhất tiết, chung cả đàn sắt, đàn cầm là 50 dây, âm  tiết của nó chắc à vô cùng rồn rập phức tạp khiến con người không thể không suy tư lãnh hội, không thương tiếc thời xa xôi, trong khi thi nhân lại mang một nỗi đau khôn tả, một mối tình u uất khôn vơi. Tiếng cầm sắt vang lên thời niên hoa không thể không sôi động, vì âm tiết rồn rập mà tình tự như rối tung không sao nói được, từ đó phát xuất những nỗi niềm ai oán buồn thương. Nhất huyền nhất trục tự nó như khiến con người thương cảm, lòng như đứt từng đoạn triền miên bất tận !
      Hai câu 3,4 tức trạng đưa điển tích Trang sinh mộng hồ điệp để mô tả cuộc đời con người như mộng mị, phá hủy cảm khái lý tưởng. Trang sinh mơ thấy mình hóa bướm là tình cảnh quá đẹp, mà là cảnh mộng hư vô xa xôi, thi nhân tự mình tiến thủ nhưng lại gặp sự chèn ép khiến rơi rụng, cuộc đời hoa niên thành mộng ảo bi kịch. Tiếp theo mượn điển tích Vọng đế sau khi chết hồn phách biến thành đỗ quyên để bộc lộ nỗi thương đau mãi mãi không nguôi; cứ mỗi chiều xuân kêu khóc đến nỗi miệng chảy ra máu, tiếng khóc động đến tâm can con người đời sau, mới lấy danh là đỗ quyên đúng như thi nhân ký thác vào cầm sắt, âm tiết ai oán truyền đạt đến nội tâm thi nhân mông lung cả một thế giới thương đau…
     Đến câu 5,6 tức luận  dùng hai từ “lệ và  noãn” làm thi nhãn, miêu tả minh châu và mỹ ngọc là hai hình ảnh mông lung; nguyệt hay trăng là minh châu ở trên trời hay như ánh trăng trong nước, ánh trăng chiếu trong biển xanh (thương hải); minh châu đẩm mình trongg sóng nước mắt hình thành một thứ nguyệt, châu, lệ, là ba hình ảnh không sao giải được. Ba hình ảnh phức tạp phối hợp thể hiện thi nhân đối với cảnh trăng sáng trên biển xanh mênh mông tuyệt vời mà cũng chính là cảnh ngộ cô đơn lạnh lẽo của thi nhân nhớ tới hình ảnh người vợ thương yêu đã qua đời trong thời trai trẻ. “Thương hải minh châu” chính là trong lòng thi nhân đầy tài trí mà bị chìm đắm trong cảnh khốn khổ đau thương. “Lam điền nhật  noãn” là chỉ vùng đất thiêng sản xuất ngọc quí, chỉ khi nào ánh thái dương rực sáng thì ngọc mới bốc khói; đó là cảnh sắc vô cùng kỳ lạ, tính khí của mỹ ngọc như có như không, như ẩn như hiện, nhưng người không thể nào đến gần, không thể cầm nắm được mà chỉ có thể ngắm nghía từ xa….
      Đến hai câu cuối “Thử tình khả đải….” Thử tình ở đây là bao gồm hai cặp trạng luận; riêng hai chữ “võng nhiên” (buồn đến chết được) là sự cảm thụ cả câu “nhất huyền nhất trục tư hoa niên”, cái khổ,  cái buồn  của thi nhân trong buổi trai trẻ không sao mô tả nói ra hết được, chỉ có thể hồi tưởng nhớ mãi trong ký ức với những buồn đau bất tận. Cũng có thể nói hai câu kết là đap ứng cả toàn bài thơ.
      Bài thơ dùng  đề là Cầm Sắt, nhưng không phải để mô tả vật thể là cây đờn, mà chỉ là đẻ khởi hứng, rồi dùng thơ để biểu đạt tình cảm. Nhưng thực tế nội dung vẫn có sự ám hợp với cầm sắt; như ngay câu mở đề đã viết “ nhất huyền nhất trục tư hoa niên”; và trong hai cặp trạng luận vẫn  gián tiếp đưa ra những âm tiết như “ Trang sinh mê hồ điệp…, Vọng đế thác đỗ quyên; “ châu hữu  lệ…” , “ ngọc sinh yên… “. Nói chung ý tứ và hình ảnh trong thơ rất mông lung, tình cảm vô cùng ai oán, cách truyền đạt của bài thơ vẫn đầy ma lưc hấp dẫn mê ly; dù rằng  cảnh giới và tình tứ mông lung, nội hàm mang tính đa ý nghĩa… nên thơ Nghĩa Sơn có nhiều cách giải thích.
Như có người cho bài Cầm sắt là do cảm xúc thế nước hưng suy mà làm ra. Ngũ thập huyền , nhất huyền nhất trục, là 100 năm; vì từ loạn An lộc sơn đến giai đoạn Nghĩa Sơn làm bài thơ là 100 năm. Mộng mê hồ điệp, là chỉ vào nền chính trị tối tăm loạn lạc thời Thiên Bảo, Vọng Đế xuân tâm là chỉ vào mối loạn Thượng hoàng thất thế. “Thương hải minh châu” là nói đến nguồn lợi nhuận vô tận, “Lam ngọc sinh yên” là có ý nói đến sự tiều tụy của người hiền. Hai câu kết là nói  đến sự cảm ngộ của người đời sau, tức kẻ thức giả đương thời cũng điên đảo vì sự ưu hoạn.
Câu Trang sinh …là để nói về công danh thất thế, có tài mà không được dùng; và Vọng đế là chỉ nỗi uất ức không sao nói được… Câu Thương hải minh nguyệt là chỉ thời thanh bình, nhưng châu nằm dưới biển sâu không sao thấy được, biểu lộ ý tự thương mình. Cũng như Lam điền ngọc sinh…tức  ý nói không được người biết đến, nhưng ánh thái dương tức văn chương thì rồi mọi ngưởi phải biết, chung quy cũng chẳng được gì. Đó chính là sự biểu hiện thi ca của Lý Nghĩa Sơn mang đặc tính đa ý nghĩa.

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

Lễ cúng Âm hồn ở Huế - Nhớ lại một sự kiện bi hùng

Ngày 23 tháng 5 Âm lịch hàng năm là ngày cúng âm hồn của người dân thành Huế. Việc tổ chức cúng âm hồn có liên quan đến sự kiện kinh đô thất thủ năm 1885.
Lễ cúng Âm hồn ở Huế - Nhớ lại một sự kiện bi hùng
Toàn cảnh đại lễ xá tội vong linh tại miếu Âm hồn ở ngã ba Mai Thúc Loan - Lê Thánh Tôn
Cách đây tròn 130 năm, 23/5 Ất Dậu, một đợt chết chóc đẫm máu chưa từng có đã xảy ra tại Huế. Hàng nghìn người dân và binh lính triều đình đã ngã xuống vì bị trúng đạn của Pháp, hay một số do chen lấn, giẫm đạp lên nhau khi cố vượt ra khỏi kinh thành. Từ đó, ngày 23/5 Âm lịch trở thành ngày “giỗ chung” của người dân xứ Huế. Họ cúng cho những người xấu số đã tử nạn: Những quân sĩ, quan lại, dân chúng trong đêm rạng sáng 23/5 Ất Dậu.
Hôm 23/5 (Âm lịch), khắp các ngã ba và ngã tư phố Huế, người dân đều bày biện mâm cúng Âm hồn nhằm tưởng nhớ đến những người đã ngã xuống trong sự kiện thất thủ kinh đô năm 1885.
Mâm cúng lễ được bày biện giữa trời, thường là trước cổng hoặc giữa sân nhà. Với hai bàn thượng và hạ. Đồ cúng thường không thể thiếu: hương đèn, cau trầu, rượu trắng, cháo trắng, các loại hoa quả, hạt nổ, gạo, muối, các loại giấy cúng, con gà trống luộc và xôi, chè, khoai sắn…
Bên cạnh nhiều nhà dân, các nhóm dân cư sống gần các miếu cũng bày biện mâm cúng, tổ chức cúng tế tại đàn trong ngày 23/5 này. Tại miếu Âm hồn ở ngã ba Mai Thúc Loan- Lê Thánh Tôn, phổ Vĩnh Nghĩa (nhóm dân cư sống gần miếu Âm hồn) tổ chức “Đại lễ cầu nguyện Âm siêu dương thái trai đàn chẩn tế” để cầu nguyện quốc thái dân an, Âm siêu dương thái, ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân hi sinh vì vận nước.
Bác Phan Méo (ngụ tại Lê Thánh Tôn) cho biết: Cứ 5 năm lại tổ chức Chai Đàn một lần, mời thầy về làm lễ cầu cho vong linh được siêu thoát.

Mâm cúng lễ âm hồn được bày biện với những đồ cúng không thể thiếu: hương đèn, cau trầu, rượu trắng, cháo trắng, các loại hoa quả, hạt nổ, gạo, muối, các loại giấy cúng, xôi, chè, khoai sắn…
Đặc biệt trong ngày cúng âm hồn này, người dân luôn chuẩn bị sẵn một vài thanh củi để đốt sau khi làm lễ xong. Được biết, việc châm lửa đốt củi này tái hiện lại lịch sử người dân đốt đuốc để soi đường trong lúc chạy ra khỏi thành trong đêm 23/5 Ất Dậu.
Ở Huế, có khá nhiều miếu âm hồn được lập nên bởi những người con ở đất Thần kinh. Nhỏ thì các am thờ cô hồn, lớn hơn thì các miếu của cả làng xóm lập nên. Một số nơi người dân làm lễ cầu nguyện trong ngày 23/5 này như miếu Âm hồn của phường Thuận Lộc cạnh giao lộ ngã tư đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn, miếu ở phường An Hòa cạnh khu đất xưa từng là nơi hành quyết bêu đầu các anh hùng chống lại triều đình, các khu lăng mộ tập thể ở đường Nguyễn Khoa Chiêm, nghĩa trang 12 vòng mộ tập thể tại Cồn mồ Trà Am nối dài thành phố Huế…

Người dân kính cẩn cầu nguyện cho các vong linh đã mất trong ngày lễ Âm hồn
Nhà nghiên cứu Huế, Phan Thuận An nhận xét: “Lễ cúng âm hồn là một cuộc tưởng niệm tập thể của cộng đồng dân chúng ở Huế. Nó ghi lại một sự kiện bi hùng đã xảy ra trên đất Cố đô trong ngày 23/5 Ất Dậu. Hàng ngàn người chết trong biến cố đau thương này. Vì vậy, từ 1885 đến nay, dân Huế ở khắp hang cùng ngõ hẻm, làng xóm, phố phường nào đến ngày 23/5 đều tổ chức cúng âm hồn, cúng những vong linh không biết tên biết tuổi để tưởng nhớ đến công lao của họ đã có công chống thực dân để giành lại độc lập tự chủ cho nước nhà”.
Trải qua bao năm tháng thăng trầm của lịch sử, người Huế vẫn không thể nào quên được biến cố lịch sử đầy đau thương năm Ất Dậu đó. Tập tục cúng âm hồn trở thành một nét đặc trưng quần tụ trong bản sắc văn hóa của chốn Thần kinh. Cuốn tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Thái Vũ nhấn mạnh: “Nhớ lấy, hãy nhớ lấy ngày hai mươi ba tháng Năm này là ngày mất nước, ngày tủi nhục, ngày chít khăn tang”.
Theo Thanh Nhàn (Thể thao & Văn hóa)

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

TRẦN BẢO ĐỊNH : MIỄU SÁO TRÂU!

1.
- Chào ông!
Thầy cai giật mình, ngước mắt thấy lồng chim sáo trâu treo xiên nhà. Thầy chưa kịp phản ứng.
- Con c...(!?)
Cô hai quần ống thấp ống cao, từ dưới bếp chạy hớt hơ hớt hãi ra thềm hàng ba ngạch cửa.
- Thôi chết rồi!Chết rồi...Thầy cai bỏ qua cho em!Con sáo mắc dịch, m...ắ...c...
Cô thở hổn hển, thở đứt hơi, rớt tiếng... bộ ngực căng cứng phồng lên xẹp xuống theo nhịp hổn hển!
Thầy cai đứng như trời trồng, mắt ngó chết trân bộ ngực cô hai thiếu điều rớt răng... quên giận!
*
- Bộ em giỡn mặt qua hả?Lần nào cũng ''bị'' là ''bị'' mần sao?
Thầy cai nổi thầu lậu, mặt quạu giống mặt thợ thiến trâu.
Tiếng sáo trâu nói liên tục:
- Hôi lắm!Tanh lắm!Gớm...
Mà thiệt, cô hai lúc nào cũng cố tình mần mình mẩy hôi hám, mùi lợm giọng khiến ai ngửi đều muốn nôn...Sống thời buổi làng xóm bất ổn, lòng người bất an...đành mượn giả che thật.
Thầy cai cầm cây gậy, dọm đứng dậy ra hàng ba nhà đập con sáo. Cô hai kịp thời ấn vai thầy cai ngồi xuống ghế.
- Chấp nhất chi thú vật nói tiếng người. Thầy quá bộ tới thăm, em sướng lắm!Chuyện xui xẻo, thầy tưởng em không buồn sao?
Nắng ban trưa liếm chưn thầy cai khi nhảy qua vách trống trơn đầu song.
- Về đi cha nội!Về đi cha nội! Về...
Sáo trâu nhả tiếng khàn và đục như lời thúc giục từ cõi âm. Da thầy cai nổi ốc!
Mấy canh giờ chìm trong thời khắc õm ờ bỡn cợt, cô hai thấy đã đủ và đến lúc đuổi thầy cai. Như thể thiệt thà và ngây thơ, cô hai trật dây lưng, kéo quần xệ mí cho thầy cai ngó cái ''bị'' đỡ hậm hực. Thấy mới tin, thầy cai thấy ''cục đỏ lòm'' nên vui trong bụng:''Tưởng con hai nó trát, nào dè nó thiệt!'.
Thầy cai đứng dậy phủi đít, nắm tay cô hai thay lời từ giã.
- Chào ông!Chào ông...
Tiếng sáo trâu đu theo lỗ tai thầy cai ra tới ngõ. Bực cái mình, thầy chẳng thèm giữ ý giữ tứ:
- Ông! Ông... cái con c...!?
Cô hai tủm tỉm cười nhìn con sáo trâu, rồi quày quả xuống bếp cất gói bông gòn, đổ chén nước bông mồng gà đỏ ối!
2.
Ông ba Thịnh tía cô hai cùng một vài người anh em bạn, ngắm nghía đám chim sáo vừa bẫy bắt ở cù lao An Hóa; họ muốn lựa trong số chim sáo rừng nầy, chọn một con tập nói tiếng người.
Người bạn trung niên nói với ông ba:
- Bẫy chim sáo dù sáo đen(sáo trâu), sáo nâu, sáo sậu (cà cưỡng) bẫy lúc con nước ươn, bữa nay con nước nhảy, tui thấy nên dẹp bẫy và chọn số chim sáo mình đang nắm trong tay.
- Được đó chú ba!
Chàng trai trẻ Tân Thạch lên tiếng.
Ông ba hiểu cái khó không phải dạy chim sáo nói tiếng người mà cái khó là chọn ra được con sáo ưng ý. Chọn con có đủ yếu tố bộ óc tiếp thu nhanh và thích lập đi lập lại theo phản xạ bắt chước có điều kiện. Việc nầy, không ai qua nổi lão Minh. Trong đám chim sáo xây lố cố, lão Minh chọn ra con sáo trâu chưa tàn điếu thuốc. Nó đầu to, mỏ, móng cực đẹp; chưn cẳng bự, lông đuôi ngắn, cuống lông đuôi to, dáng linh hoạt ...anh em hôm đó, ai nhìn cũng thích.
Chàng trai trẻ Tân Thạch nhận luyện tập sáu trâu nói được tiếng người trong một thời gian sớm nhất, trước khi ông ba dời vợ con lánh qua xứ khác và anh em gia nhập nghĩa binh Thủ Khoa Huân.
Lão Minh nói với chàng trai trẻ:
- Người xưa truyền rằng:''Cha mỏ vàng chưn vàng, mẹ mỏ vàng chưn cước''. Cái vàng là màu của ‘’Thổ’’trong ngũ hành. ‘’Thổ’’đây chịu sự nhẫn nhục và bao dung như lòng đất mẹ. Một khi đất mẹ bị xâm lấn thì, cái ‘’dũng’’ xuất đầu lộ diện. Cái dũng mãnh ở cha, cái thông minh ở mẹ khi kết hợp khác chi song kiếm hợp bích, lo chi chẳng thành!
- Ông nói vậy, sao ông chọn sáo trâu nầy mỏ trắng?
Chàng trai trẻ thắc mắc.
- Ta không theo lời người xưa vì tình hình hiện nay ta chưa cần sự dũng mãnh và thông minh. Cái ta cần kíp bây giờ là sáo trâu nhanh chóng nói được tiếng người. Việc nầy, sáo trâu mỏ trắng vượt trội hơn sáo trâu mỏ vàng vì, mỏ trắng thuộc hành ‘’Kim’’. Trong ngủ hành, Kim khắc Mộc. Mộc sinh từ Thủy nên Kim thừa sức chống đỡ những kẻ mạnh bên ngoài đến bằng con đường thủy…
Lão Minh không muốn nói thêm sự suy nghĩ của mình nữa, người trung niên chêm vô:
- Lý sao lão không chọn sáu sậu?Tui thấy sáo sậu nhạy nói hơn sáo trâu, nó huých gió tài tình dù chưa biết nói!
Ông ba rót chén trà mời lão Minh. Hoa dừa rụng trắng đất cù lao, hơi mát phả từ những bóng râm của vườn cây ăn trái dịu lòng người.
Lão Minh nói chậm rãi:
- Ta không chọn sáo nâu vì, sáo nâu ăn no thích nằm, tính làm biếng và hung dữ. Còn cà cưỡng tức sáo sậu hay nói chớ không nói hay, miệng tía lia suốt ngày, bắt chước tiếng động...nghe vui tai và ngắm nghía đã con mắt, dùng nó thì hỏng việc chẳng đặng tích sự gì!
Có tiếng người chen vô, hỏi:
- Mần sao biết nó là cà cưỡng để chọn không lầm?
Lão Minh ngoái cổ ra sau, cười:
- Tưởng ai, té ra thím ba vợ ba Thịnh. Thím hỏi đố chơi, chớ cha sanh mẹ đẻ thím ở cái cù lao nầy, sao thím không biết?Cà cưỡng có miếng da màu vàng ở đuôi mắt, nếu miếng da dài, to là con trống;ngược lại, miếng da vừa, nhỏ là con mái. Mái, trống gì rồi cũng không giúp được thím lúc gặp nguy nan!
Lão nói chắc nịch:
- Trong ba sáo đó, sáo trâu hợp tình cảnh bây giờ và hơn hẳn kể cả nhồng, vẹt chẳng thể bường!
*
Chàng trai trẻ mang sáo trâu về quê Tân Thạch, lão Minh bí mật chỉ riêng chàng tập luyện thành công sáo trâu nói tiếng người trong vòng năm, sáu tháng. Lúc xuống ghe, lão còn chạy ra bến sông căn dặn :
- Nhớ chọc tức nó xù mào, khi sáo trâu xù mào nó sẽ nói lời người dạy vì thấy kẻ lạ nó phát ghét!
3.
Nửa đêm, má con cô hai ôm sáo trâu sang sông Tiền, bỏ xứ Trúc giang tới tá túc đất An Khương. Mấy tháng đầu yên ổn, từ lúc thầy cai lui tới thả dê tuy có phiền nhưng chưa phức tạp và hiểm nguy. Dù sao thì con sáu trâu cũng đủ sức nói lời người can ngăn sự trân tráo, sàm sỡ của thầy cai đối với cô chủ.
Sau ngày nghĩa binh Thủ Khoa Huân san bằng đồn giặc Tây ở Bình Cách thành bình địa. Bọn vong nô làm chỉ điểm sùng sục tối ngày, truy tìm người theo ông Thủ khoa. Gia đình má bị chúng chấm điểm và điều tra. Thầy cai bị tên tri huyện Chợ Gạo lột chức và thải hồi. Má không liên lạc được tía và bạn tía. Nghe thiên hạ phông phanh ông Thủ khoa cùng nghĩa binh đã rút về miệt Thuộc Nhiêu và có lẽ, xuống An giang. Má con cô hai và sáo trâu quyết định trốn khỏi An Khương.
- Má!Chị hai!Giặc...giặc...c...h...ạ..y...
Sáo trâu bay phía trước dò đường, cảnh giới nó la bài hãi!
Đương lòn qua đám rừng trâm bầu chạy cặp hướng Tịnh Hà, má con cô hai khựng lại khi nghe tiếng la của sáo trâu. Muộn rồi, lũ người Việt theo Tây ập đến bắt trói thúc ké và lôi kéo má con cô hai như lôi kéo súc vật.
Trời chưa sáng tỏ, thằng sếp chỉ huy phùng mang trợn mắt ra lịnh đám lính tiếp tục hành hạ thân xác má con cô hai. Bất thần, từ cành mận trắng sáo trâu vỗ cánh lao vút tựa mũi tên bay thẳng mặt kẻ thù, móng chưn sắt của đôi chưn dũng mãnh đâm mù hai mắt thằng sếp, máu trào xối xả và đôi chưn nó dính tòn teng!
- M...á!C..hị...
Chúng bứt đứt đầu và xé sáo trâu từng mảnh!
Về sau, nghe nói xác má con cô hai lũ giặc liệng xuống sông Bảo Định chỗ giáp nước.
*
Đoạn đường từ chợ Hòa Tịnh đến chợ An Khương, nơi ngã ba quẹo về làng Trung Hòa huyện Chợ Gạo xưa kia, người sở tại lập miếu thờ sáo trâu, tục gọi ''miếu sáo trâu''. Trải qua mấy trăm năm, bao lần nhiều lượt đường mở rộng, người làm đường không biết hoặc vô tình ủi sập... Dấu mất, tích còn!Có lẽ, nhờ miệng đời truyền miệng?
Người thạo chuyện, ngửa mặt than:
- Thú nói tiếng người. Người thì ngược lại!?
*
Trần Bảo Định

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2016

Ai là 'ông tổ' nghề báo nước Việt?

   Người Việt làm báo trước nhất trong buổi đầu báo chí sơ khai, không ai khác hơn là Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898). Trước khi Gia Định báo được ông tiếp quản năm 1869, thì trước đó, cây bút họ Trương đã cộng tác viết bài cho báo Pháp ngữ rồi. Bởi vậy mà trong Sài Gòn năm xưa, cụ Vương Hồng Sển cho rằng ông “là tổ nghề báo quốc văn ta vậy”.
Lợi thế lớn nhất của nhà báo họ Trương, hẳn ai cũng thèm muốn, thậm chí chỉ xin được có được một mảnh lưng vốn ngoại ngữ và kiến thức uyên bác của Trương Vĩnh Ký thôi, cũng lấy làm thỏa lắm rồi. Vì chăng, Trương Vĩnh Ký biết tới 26 ngoại ngữ khác nhau, trong đó bao gồm nhiều sinh ngữ và cả tử ngữ, nên ông từng được gọi là “nhà bác ngữ” là vì thế. Với vốn kiến thức uẩn súc, học giả họ Trương còn được vinh dự nằm trong danh sách 18 nhà bác học thế giới của thế kỷ XIX. Vốn ngoại ngữ siêu phàm cùng vốn văn hóa uyên thâm như thế, nên cái sự làm người xây nền cho báo chí nước Việt, thật xứng lắm thay.
Trước khi góp công lớn cho sự ra đời, phát triển của báo chí Việt ngữ, thì Trương Vĩnh Ký cộng tác viết bài cho một tờ báo Pháp ngữ, mà theo Lược sử báo chí Việt Nam, đó là tờ Bulletin du Comité Agricole et Industriel de la Conchinchine, một tờ báo có “mục đích để nghiên cứu về nông nghiệp và công nghệ xứ này và mở rộng công cuộc đấu xảo hàng năm để khuyến khích hai nghề đó”. Nhờ việc viết bài cho tờ báo ấy, mà “ta đã được thấy người Việt Nam viết báo bằng Pháp ngữ đầu tiên là Trương Vĩnh Ký”.
Con đường công danh, sự nghiệp của học giả họ Trương, kể ra thiên hạ bàn luận, mổ xẻ đã nhiều. Thôi thì ở đây, xin miễn bàn việc ấy, chỉ xin xét về ông ở lĩnh vực báo chí, sách vở, với vai trò là người tiên phong, khai mở cho báo chí Việt ngữ của người Nam ta buổi sơ kỳ báo chí đất Việt.
Trước nhất, là sự dự phần to lớn của Trương Vĩnh Ký đối với tờ báo Việt ngữ đầu tiên: Gia Định báo. Sau khi ra đời và được quản lý bởi thông ngôn người Pháp Ernest Potteaux, đến ngày 16.9.1869, báo nằm dưới quyền quản lý của Trương Vĩnh Ký. Và theo biên khảo Sài Gòn năm xưa, cụ Sển phát hiện điều thú vị rằng “Ngộ hơn hết là trong cái ô chừa đợi chữ ký của người quản lý, thuở ấy không dịch “gérant” mà viết là kẻ làm nhựt trình”. Dưới bàn tay điều khiển của học giả Trương, Gia Định báo trở nên có hồn hơn, đa dạng về thể loại, đề tài hơn, đúng như nhận định của Nguyễn Việt Chước là “Từ khi được Trương Vĩnh Ký trông nom, với sự cộng tác của Tôn Thọ Tường, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, nội dung tờ báo bớt khô khan và thêm phần phong phú: có bài khảo cứu, nghị luận, có mục sưu tầm tục ngữ ca dao, thi ca và cổ tích”.
Sau khi kết thúc vai trò tổ chức, quản lý với tờ báo quốc ngữ đầu tiên này, mặc dù đảm nhận nhiều vị trí khác nhau theo thời gian trong bộ máy chính quyền bảo hộ, hoặc tham gia chính quyền nhà Nguyễn, nhưng nghiệp báo của Trương Vĩnh Ký không vì thế mà dừng. Ngược lại, ông vẫn dành tâm huyết cho báo chí nước Việt buổi ban đầu mới được phôi thai. 

Theo cụ Sển cho hay, trong thời gian 1888 – 1889, Trương Vĩnh Ký đã chủ trương một tờ báo khác, được biết đến với tên gọi Thông loại khóa trình (miscellanées), sau này đổi tên là Sự loại thông khảo. Theo quan điểm của GS Nguyễn Văn Trung (trong tác phẩm Hồ sơ về Lục châu học), cũng như Thuần Phong (trong Đồng Nai văn tập số 3, tháng 1.1969) cho rằng Thông loại khóa trình “là tạp chí văn học hay học báo đầu tiên bằng Quốc ngữ ở miền Nam” (lời GS Nguyễn Văn Trung). Báo này xoay quanh các mục về thơ văn cổ, thơ văn đương thời, phong tục văn hóa… Theo Báo chí quấc ngữ ở Sài Gòn cuối thế kỷ 19 thì Thông loại khóa trình là tờ nguyệt san có nhiều cái đầu tiên như: báo tư nhân đầu tiên, báo do người Việt làm chủ đầu tiên, báo đầu tiên dành cho học sinh, báo tự đình bản đầu tiên…
Thông loại khóa trình in từ 12 – 16 trang mỗi kỳ, được Trương Vĩnh Ký bỏ tiền túi ra thực hiện. Theo nhà nghiên cứu báo chí Việt Nam Huỳnh Văn Tòng, thì báo “được trình bày như một quyển sách, khổ 16x23,5 có trang bìa và cả trang nhan đề”. Báo bán được 300 – 400 số. Tuy nhiên, do không đủ vốn nên sau khi ra được 18 số, ông phải dừng in. Trong tác phẩm Trương Vĩnh Ký, nhà văn hóa, GS Nguyễn Văn Trung sau khi thống kê cho hay trong 18 số báo thì có 12 số năm đầu và 6 số năm thứ hai. Số cuối cùng đề tháng 10.1889. Mục đích của Thông loại khóa trình được thể hiện ngay trong lời nói đầu số 1.1888 của báo là: “nói chuyện sang đàng, chuyện tam hoàng quốc chí, phá phách lộn lạo xài bẩn để cho học trò coi chơi cho vui. Mà chẳng phải là vô ích đâu; cũng là những chuyện con người ta ở đời nên biết cả. Có ý, có chí thì lâu nó cũng thấm, nhứt là trí con trẻ còn đang sáng láng, sạch sẽ, tinh thần còn minh mẫn, tươi tốt, như tờ giấy bạch, như sáp mềm, vẽ vời, uốn sửa sắc nào thế nào cũng còn đặng; tre còn măng để uốn, con trẻ nhỏ dễ dạy” (Chúng tôi trích nguyên văn ngôn ngữ thời bấy giờ).

Không chỉ là người làm chủ tờ báo tư nhân đầu tiên, là chủ bút báo tiếng Việt đầu tiên, Trương Vĩnh Ký với sở học của mình, còn cộng tác với nhiều tờ báo Pháp ngữ, Việt ngữ khác nhau. Ngoài nghiệp làm báo, học giả họ Trương còn có công lớn trong việc xuất bản sách báo tiếng Việt. Trong Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 có cho biết một điểm đáng lưu ý, rằng: “Ông bắt đầu có sách xuất bản từ năm 26 tuổi (1862) và theo nghiệp viết văn cho đến lúc từ trần (1898)”. Điểm này, Nguyễn Liên Phong trong Điếu cổ hạ kim thi tập có đề cập đến “thường khi dạy các quan Langsa học chữ nho, và lại phiên dịch các truyện sách chữ nho ra chữ quốc ngữ cũng nhiều thứ”. Sách này khen ông là:
Phong tư nết dịu dàng,
Chữ nghĩa hơi thâm thúy.
Thường dạy quan Langsa,
Sảo thông tiếng  u Mỹ.
Sách vở dọn nhiều pho,
Thẻ biên không mỏi chí.
Cờ dựng chốn Hàn lâm,
Bia truyền nhà Sử thị. 

Bên cạnh việc chủ trương báo chí, để phổ biến văn hóa rộng rãi, Trương Vĩnh Ký đã cho in nhiều thơ văn Việt như Lục Vân Tiên, Thúy Kiều, Phan Trần… Căn cứ vào biên khảo Trương Vĩnh Ký, nhà văn hóa của GS Nguyễn Văn Trung, và thống kê này chưa hẳn đã đủ hết, ta thấy được sự nghiệp sáng tác, sưu tầm, in ấn đồ sộ của Trương Vĩnh Ký. Theo đó ông đã sưu tầm văn thơ đủ loại như văn, vãn, vè, văn tế, văn xuôi… gồm 52 tài liệu khác nhau. Có thể kể ra đơn cử như: Nữ tắc, Thơ dạy con, Huấn nữ ca, Thương dụ huấn điều, Phan Thanh Giản tự thuật thế sự, Bài hịch Nguyễn Tri Phương, Nhựt trình đi sứ Lang sa (1863)…  Xem thế đủ thấy, không chỉ là người tiên phong cho báo chí Việt ngữ, sự đóng góp của Trương Vĩnh Ký cho sự phát triển, phổ biến văn hóa trong lĩnh vực sưu tầm, sáng tác, in ấn, xuất bản cũng thật đáng nể. Thế nên sau khi ông mất, từng có cuộc lạc quyên để dựng tượng nhà bác ngữ, nhà báo nổi tiếng nước Nam ngay nơi đất Sài Gòn. Còn thời điểm học giả họ Trương lìa xa dương thế, bao lời tiếc thương gửi đến, đều ngợi ca những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa của ông. Tỉ như:
…Dốc chí mở mang giáo hóa,
Đêm sách đèn đợi sáng thức khuya;
No lòng gói ghém văn chương,
Ngày cơm nước quên xơi biếng khát,
Sắp cuốn này, chua cuốn khác, phí lương tiền phó tử;
Nào Annam lễ tiết, nào Huấn nữ cách ngôn,
Nào Địa dư danh hiệu; dạy người đường chẳng mỏi,
Nhắm nay làm ít kẻ ra công.
Tiếng nước nọ, chử nước kia, rộng kiến thức lập thành:
Nào Tự vị giải âm, nào Học qui thông khảo,
Nào Văn tự nguyên lưu; trí nhớ rất lạ thường…

(Trích bài Khóc điếu của Nguyễn Khắc Huề đăng lại trong Trương Vỉnh Ký hành trạng (lưu ý những chữ trích chúng tôi tôn trọng nguyên văn ngôn ngữ, dấu câu thời xưa không đổi).
Trần Đình Ba

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2016

Vĩnh biệt danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, 1918-2016: Truyền kỳ họa lục

Đặng Tiến
Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm đã qua đời lúc 10 giờ 27 phút hôm nay 15-6-2016, nhằm ngày 11-5 âm lịch, tại Hà Nội, hưởng thọ 99 tuổi ta, con số “dương cùng” đúng theo vận hạn dịch lý.
Nhà danh họa tuổi Mậu Ngọ, sinh năm 1918. Không rõ ngày tháng.
Giấy tờ ghi là ngày 20 tháng 10 năm 1922, các tư liệu về sau đều chép theo như vậy. Và cáo phó chính thức, cũng như thông tin báo chí đã ghi như vậy.
Ông sinh tại làng Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình khoa bảng và giàu có. Thân sinh là Nguyễn Tư Tái, xuất thân phó bảng, làm quan rồi từ nhiệm, về quê khai hoang, lập nên ấp Lạc Lâm và được dân làng tôn làm thành hoàng. Mẹ tên Trần Thị Luật, là người chữ nghĩa, đã khuyến khích con nặn tượng đất thó, từ tấm bé, ghi khởi điểm cho con đường nghệ thuật của danh họa về sau.
Gia đình, bảy anh chị em, đều thành đạt.
Nguyễn Tư Nghiêm học và tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương, Hà Nội, khóa cuối, khóa 15 (1941-1946) cùng Bùi Xuân Phái, với ông là bạn thân thiết. Cùng thi tốt nghiệp cuối năm 1946, nhưng vì cuộc Toàn quốc kháng chiến, nên không kịp nhận kết quả. Do đó có tư liệu nói ông tốt nghiệp 1952, trường Mỹ thuật kháng chiến.
Lúc đầu, ông vẽ sơn dầu; bức Người gác Văn Miếu (1944), chỉ có một mảng màu, thời đó đã được đánh giá cao, là tranh hiện đại, và được giải nhất cuộc Triển lãm Duy nhất (Salon Unique) thời đó. Đồng thời ông còn hai bức Cổng làng Mía  Cánh đồng quê nổi tiếng.
Thời kỳ đầu Cách Mạng tháng 8, ông về quê, tham gia cướp chính quyền, rồi tham dự chính quyền ở huyện. Trước đây có tài liệu nói ông làm Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân huyện, nhưng là nhầm ông với người cùng tên là ông Hoàng Nghiêm. Tiếp theo đó, ông tích cực tham gia kháng chiến chống Pháp, chuyên vẽ tranh địch vận. Năm 1948 ông ra Việt Bắc, công tác ở cơ quan Hội Văn nghệ tại xã Xuân Áng, Phú Thọ. Tại đây ông điều khiển xưởng vẽ Xuân Áng, bắt đầu vẽ sơn mài rồi chuyên về kỹ thuật này.
Ông nổi tiếng vì đã đưa gam màu lạnh, xanh lam, xanh lá cây, vào sơn mài. Họa sĩ từ tốn kể lại rằng không tài giỏi gì: chỉ dùng màu lam Phổ (bleu de Prusse) phủ lên vàng thếp, thành màu xanh lục, theo yêu cầu vẽ tranh bộ đội vào thời điểm ấy. Kỳ thật, đây là khúc quành của nghệ thuật hội họa sơn mài, tạo nét linh động, đa sắc, tươi mát, đồng thời đưa sơn mài đến gần hiện thực hơn. Giai đoạn này, tại Hội nghị văn nghệ Việt Bắc, 1949, giá trị tranh sơn mài còn bị tranh cãi, trên cơ sở ba tác phẩm sơn mài của Nguyễn Tư Nghiêm: Cụ già học i tờ, Vệ quốc quân đứng gác đêm,  Vệ quốc quân ngồi giữa cánh đồng, những bức sơn mài đầu tay. Năm trước, 1948, ông đã được giải nhất cuộc triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, nhưng với bức khắc gỗ Dân quân Phù Lưu.
Sau 1954, về Hà Nội, ông tiếp tục sáng tác đủ thể loại: phấn tiên, màu nước, sơn dầu, sơn mài. Vì quan hệ với phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, ông bị chính quyền lên án cùng với các bạn đồng nghiệp khác: Sỹ Ngọc, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái, Văn Cao, Phan Tại… Ông kể lại: năm 1959, ông bị đưa đi bệnh viên tâm thần tại Khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai. Sau một tháng ở đó, ông bị “tước” toàn bộ những thứ có trên người. Thời đó chưa có thẻ Đảng, nên không có chuyện ông “trả lại thẻ Đảng” như truyền thuyết. Nhưng sau khi ra Viện ông bị coi như bị mất hết, kể cả Đảng tịch.
Ngoài ra, tranh ông còn bị lên án là không “hiện thực” như tranh con mèo sáu chân, con ngựa tám chân, là… “sai đường lối”. Ngược lại, bức sơn mài “Con Nghé quả thực” sáng tác năm 1957, theo đường lối, đề cao việc phân chia tài sản sau cuộc Cải Cách Ruộng Đất, được dư luận chính thức đề cao, được giải thưởng Mỹ thuật toàn quốc, được lưu trữ tại viện Bảo tàng mỹ thuật hiện nay, ông lại không tâm đắc. Ông tâm sự với bằng hữu: “nhưng sự đời vẫn thế! Cái người ta thích thì chưa chắc đã phải là cái mình thích, và ngược lại”. Câu nói thường thôi, nhưng trong hoàn cảnh nào đó, lại là bi kịch. Về sau, ông vẽ lại nhiều lần đề tài Con Nghé, bản nổi tiếng được sáng tác năm 1968, sau này thuộc bộ sưu tập Đức Minh.
Họa sĩ trải qua một thời gian dài gian nan, điêu đứng, sinh nhai bằng cách vẽ tranh thương mãi, qua các đề tài: Gióng, Kiều, Múa Cổ… và tùy đơn đặt hàng. Đặc biệt là tranh “con giống” theo mười hai con giáp trong âm lịch. Từ cuộc triển lãm năm Rồng, 1988 Mậu Thìn, tranh ”con giống” mới đựơc sắp xếp thành hệ thống “lục thập hoa giáp” theo quan niệm Âm Dương Ngũ Hành, ví dụ hai năm Thân Dậu, (Khỉ Gà), hành Kim, màu trắng làm chủ…, tranh Ngựa chủ màu đỏ vì hành Hỏa, v.v.
Giới phê bình nghệ thuật đã có nhận xét: tranh Nguyễn Tư Nghiêm phối hợp bút pháp hiện đại với tư duy cổ truyền, địa phương, tạo nên bản sắc riêng. Đường nét, màu sắc, nhịp điệu, không khí luôn luôn được phong cách hóa, dựa theo họa tiết trống đồng Đông Sơn, hoa văn đồ gốm Lý Trần, tranh tượng dân gian, kiến trúc đình chùa, nhịp điệu chèo tuồng, múa hát truyền thống. Kỹ thuật tạo hình, cho dù hiện đại và cách điệu, vẫn gợi lên được khí hậu tín ngưỡng dân tộc – và các nền văn hóa lân cận Đông nam Á.
Là nghệ sĩ, thì ai ai cũng cần đời sống nội tâm phong phú. Nơi Nguyễn Tư Nghiêm, tâm linh có khuynh hướng thần bí, rung cảm như bị cuốn hút vào cõi u linh. Do đó nhìn toàn bộ, nghệ thuật ông hướng theo thi pháp huyền nhiệm – poétique mystique – và từng tác phẩm một thỉnh thoảng truyền đạt một cảm xúc thần bí. Người không nắm bắt được xúc cảm này, cho rằng ông cầu kỳ hay lập dị. Nhưng ta có thể hiểu chất dân tộc trong nghệ thuật Nguyễn Tư Nghiêm không phải là một dụng tâm bảo vệ truyền thống, trong ý chí bảo thủ, mà là một nhu cầu siêu linh, từ tiềm thức chuyển lên ý thức và thể hiện, hóa thân, thành nghệ thuật. Chất dân tộc không phải là hoài niệm, mà là khai phóng và dự phóng, là siêu hình hiển linh thành hình khối, một “truyền kỳ họa lục”; có vậy mới hóa giải được mâu thuẫn trong tranh ông: chất cổ truyền trong nét hiện đại, chất dân tộc và tầm thế giới.
Tranh ông mang tính cách bản địa nhưng không phải là “sắc màu viễn xứ” (exotisme), ngược lại khá gần trường phái Siêu thực Âu Châu, và tác phẩm lừng danh của Chagall, Miro, thậm chí một số tranh Picasso mà ông hằng ưa thích. Tranh “lục thập hoa giáp” của Nguyễn Tư Nghiêm không giống tranh Tết hiện hành của nhiều đồng nghiệp Việt Nam, mà lại gần với những “thú vật đồ” (bestiaire) trong truyền thống phương Tây, mà các họa sĩ hiện đại trên thế giới thường vẽ lại. Sự trùng hợp là do niềm đồng cảm thẩm mỹ chung cho một thời đại chứ không phải là sao chép lẫn nhau.
Đồng thời đây đó, ông có khuyên giới họa sĩ trẻ nên bảo vệ và phát huy mỹ quan dân tộc, như vậy là đúng đường lối, và là thống nhất lời nói với việc làm, lý luận với thực hành; kỳ thật đây là hai phạm trù khác nhau. Không phải nói đúng là vẽ đẹp. Do đó, mà chúng tôi cho rằng trong sáng tạo nghệ thuật Nguyễn Tư Nghiêm không có “ý chí bảo thủ”. Còn ngoài đời, ông nói gì lại là chuyện bên lề. Quan niệm nghệ thuật và giá trị nghệ thuật của họa sĩ nằm trong bức tranh, chứ không phải trong lời nói. Thơ, tiểu thuyết cũng vậy thôi. Nói chung, làm cái gì, thì mình phải là mình trước đã (dĩ nhiên khi “người ta” cho phép: sự đời vẫn thế). Ngày nay, tranh Nguyễn Tư Nghiêm được đánh giá cao, liên tiếp nhận nhiều giải thưởng như giải nhất triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, với tác phẩm Gióng 1990, và giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật, 1996.
Đến năm Bính Thân 2016 này, họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm đạt 99 tuổi ta, Nguyễn Khuyến, trong Di chúc, đã gọi là “ngã hạn phùng cửu cửu”. Ông ra đi trong tiếc thương nhưng cũng là quy luật.
Bức tranh Tết cuối cùng chúng tôi có được là tranh Hổ “Thiên hình” vẽ năm Canh Dần 2010. So với tranh cọp những giáp trước, thì bức “Thiên hình” này phảng phất nét chân dung tự họa, như tranh Cọp trong tuyết, 1849, Hokusai vẽ lúc cuối đời, xem rất xúc động.
clip_image002
Nguyễn Tư Nghiêm không ngừng sáng tạo, miệt mài lao động, cống hiến cuộc đời cho nghệ thuật, đạt đến những họa phẩm tân kỳ, dung hòa truyền thống dân tộc sâu xa với trào lưu hiện đại thế giới, ông là tấm gương sáng mà không dễ gì hậu sinh có người theo kịp.
Từ chốn tha hương, chúng tôi thành kính gửi lên anh linh ông tấm lòng ngưỡng mộ trọng vọng.
Orleans, 15-6-2016.
Chép lại từ  http://vandoanviet.blogspot.com/