Thứ Tư, 19 tháng 10, 2016

Vỹ Dạ chợ, Vỹ Dạ vườn, Vỹ Dạ thơ – Nguyễn thị Kim Thoa

Trước khi viết những dòng ký ức này, tôi không có ý định làm một đối sánh giữa Vỹ Dạ xưa và Vỹ Dạ nay. Tôi chỉ muốn ghi chép lại những gì tôi đã quen biết về các thứ cây trồng trong vườn nhà tôi và những vườn nhà khác thuộc khu vực Vỹ Dạ trước 1975 để giúp những ai trong các độc giả đời sau muốn biết về một khía cạnh đã góp phần làm cho một làng đã một thời đi vào tâm hồn của một nước.
Nhưng khi nghĩ lại cái tựa đề đã viết, tức thì sự đối sánh xưa – nay hiện ra trước mắt tôi như hai cực ở hai đầu cuộc đời mình. Đầu kia là ký ức với những năm tháng sinh thành của một người nữ trẻ giữa một Vỹ Dạ vườn với những thăng trầm của cuộc sống: có vui, có buồn, có đau khổ, có hạnh phúc, có tự hào hãnh diện, có tự ti xấu hổ, có hy vọng, có tuyệt vong… Đầu này duy chỉ có nhức nhối – nhức nhối – nhức nhối trước một Vỹ Dạ chợ đang phát triển như một cái bướu ngày một to, một nặng trước trán, trên lưng của tuổi già.
Cảm nhận như thế tôi không hề có ý định bài bác “chợ” như một khâu không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường chính danh mà thương mãi được xem là bộ máy tuần hoàn vận chuyển “máu” theo nhu cầu của mọi cơ phận lớn nhỏ khác nhau của một cơ thể sống (xã hội) bình thường và lành mạnh.
Thời nhỏ đã nhiều lần tôi đi chợ Vỹ Dạ để bán những thứ thu nhặt từ trong vườn và để mua các thứ mình cần hoặc theo lời dặn của mẹ, của chị.
Con buôn trong nền văn hóa quan lại trọng sĩ đã bị đánh giá thấp nhất trong hệ thống giá trị xã hội bấy giờ (sĩ – nông – công – thương). Nhưng con buôn tại chợ Vỹ Dạ mà tôi đã giao tiếp không hoàn toàn là “một lũ thương nhân đa trá”. Họ đã để lại trong ký ức những ngày thơ dại của tôi những dấu ấn đẹp đẽ mà khi lớn lên tôi gọi là văn hóa: Không mua rẻ bán đắt, không trao hàng giả hàng xấu, tôm thúi cá ương cho trẻ con, người già, phụ nữ mang bầu và đàn ông (có vợ đẻ) đi chợ.
Ngày nay nhìn bề ngoài cái chợ vốn là một phần của Vỹ Dạ xưa vẫn còn đó, trông có vẻ còm cõi chịu đựng giữa một Vỹ Dạ đổi thay đã ồ ạt và đang lăm le “chợ hóa” bất cứ nơi nào có thể. Đường phố mở to, khách sạn cao tầng sang trọng, nhà hàng hoành tráng phô trương, khu vui chơi giải trí xập xình chấp chới ồn ào náo nhiệt, cà phê đèn mờ, phòng mát xa, quán ca ra ô kê, tiệm thời trang, tiệm hớt tóc và những căn nhà hình ống mới xây trên những mảnh vườn đã cắt xé ra từ mặt bằng vườn xưa.
Một Vỹ Dạ như thế là niềm thỏa thuê của những ông chủ mới, là khách “víp” thường xuyên của các doanh nghiệp chân rết của nền kinh tế thị trường. Những đại diện cho thượng đế thời này đã đến đây sau những giờ lãnh đạo, họp hành, lên lớp, vạch chương trình kế hoạch mệt mỏi ở công đường. Với những thức ăn đồ uống cầu kỳ quí hiếm, cường dương, bổ thận, bên những cô gái ngực nở chân dài, họ có toàn quyền và trọng trách phục hồi sức lực để ngày mai tiếp tục lãnh đạo.
Kinh tế thị trường – định hướng xã hội chủ nghĩa. Phương tiện và mục đích. Mục đích biện minh cho phương tiện. Mục đích tốt (xã hội chủ nghĩa) nên tất cả các phương tiện dù xấu đến đâu cũng đều tốt cả.
Kinh tế thị trường thì Vỹ Dạ thực sự đổi đời. Vườn biến thành chợ, người làm chủ chợ biến thành con buôn. Và mọi thứ trên Vỹ Dạ, trên Thừa Thiên Huế, trên đất nước từ đất đai, rừng biển, đến con người đều trở thành hàng hóa, bất kể trẻ em, người già, phụ nữ mang bầu, người bệnh tật và cả đến người chết. Tất cả đều là hàng hóa, đều là đối tượng kinh doanh. Bọn thương nhân “đa trá” là chủ nhân ông của nền kinh tế tư sản phản động, một thời không đội trời chung, nay trở thành đồng nghiệp phải ngả mũ chào thua các đối tác. Thua ở cái đầu tối tăm đa trá. Thua ở cái bụng chất chứa tham lam trương phình.
Tôi không phải là người hiếu cổ để mãi thương tiếc một Vỹ Dạ xưa không còn lý do để tồn tại và phát triển từ nguyên trạng. Nhưng cưỡng bức Vỹ Dạ đi theo con đường kinh tế thị trường kiểu này là cắt lìa nguồn mạch quá khứ vốn là một phần của Thừa Thiên Huế di sản.
Để Vỹ Dạ nay được cứu chữa phần nào trước khi nó hoàn toàn biến mất, để độc giả đời sau nhận biết một thời Vỹ Dạ có vóc dáng như thế, như thế… Và cũng để đính chính những sáng tác hoàn toàn thiếu căn cứ của một số tác giả cho rằng: “Vỹ Dạ có bến đò rợp bóng dừa xanh”, “Vỹ Dạ có những hàng rào dâm bụt (bông cẩn) thẳng tắp”, “Vườn Vỹ Dạ không trồng cau vì chủ nhân vườn Vỹ Dạ ngại con cháu gái của mình bắc chước “con gái Năm Phổ (mà) ở lỗ trèo cau.” (1), tôi xin ghi lại những gì tôi biết và vài cảm nhận về Vỹ Dạ.
Làng Vỹ Dạ được tạo lập trên cánh đồng lau lách (vi dã) mấy trăm năm trước bởi các cư dân đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ theo chân Công chúa Huyền Trân Nam tiến, và sau này, các vương tôn công tử đa phần là con cháu vua Minh Mệnh, các thượng thư, quan lại cao cấp trực thuộc triều Nguyễn và Tôn nhơn phủ thuộc dòng họ Nguyễn Phước – là dòng họ có công đầu trong công cuộc mở cõi, thống nhất đất nước và xây dựng kinh đô Huế. Là một bộ phận của vương triều, người Vỹ Dạ còn chia phần nỗi cay đắng nhục nhã khi vương triều bị Pháp đánh bại, phải đầu hàng, để rồi trở thành triều đình An Nam bị tướt hết quyền lực, bị bảo hộ và trở nên suy tàn.
Nằm ven sông Hương và sông đào Như Ý, Vỹ Dạ tọa lạc ở phía đông kinh thành, bên kia Đập Đá. Người Vỹ Dạ quay mặt về phía chính Tây bên bờ bắc sông Hương để ngưỡng vọng đế đô nơi hoàng đế nhà mình đang ngự trị. Chẳng bao lâu sau cái thời đoạn vinh quang tưởng không bao giờ dứt ấy, người Vỹ Dạ hướng tầm nhìn về phía tây-nam qua sông Như Ý, để phải thấy một tòa nhà cao tầng trông như một pháo đài, đó là tòa Khâm sứ Pháp uy nghi quyền lực đứng sừng sững bên bờ nam sông Hương trông chừng tứ phía.
Từ phía đông-nam, qua tây-bắc, người Vỹ Dạ gặp gỡ trên đường làng mình, giao tiếp, kết bạn, làm thông gia, làm chính sự, và làm thơ với một bộ phận cư dân các làng Vân Dương, Ngọc Anh, Lại Thế, Năm Phổ, và Dương Nỗ – cũng xuất thân từ triều đình và con cháu nội ngoại dòng họ Nguyễn Phước.
Vỹ Dạ còn có một bộ phận lãnh thổ nằm giữa sông Hương gọi là cồn Hến hay Bồi Thành. Từ Cồn Hến người Vỹ Dạ nhìn qua bờ bắc sông Hương thấy Gia Hội và Bãi Dâu.
Vị trí, đất đai, sông nước có diện tích khoảng 2,2km2, con người và lịch sử như thế, nhưng từ xưa du khách chỉ biết có một Vỹ Dạ với những “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,” – một thế giới cây cảnh, hoa lá và tâm hồn của một bộ phận dân cư trong các khu vườn nằm kề bên nhau ở hai bên con đường cái duy nhất dài trên 2km (trước 1975 gọi là đường Thuận An, sau 1975 gọi là Nguyễn Sinh Cung) chạy thẳng từ Đập Đá đến nghẹo chợ Mai cách bờ sông Hương khoảng một trăm mét phía tay trái, cách đồng lúa hai, ba, bốn, năm trăm mét phía tay phải tùy theo từng khúc đoạn. Đoạn trên gọi là Vỹ Dạ thượng, khúc dưới gọi là Vỹ Dạ hạ.
Vườn Vỹ Dạ xưa đa phần là vườn của các Mệ, các Cụ. Ngoài ra còn có vườn chùa và một số ít vườn của các thành phần cư dân khác mua lại của các gia đình quí tộc sa sút chuyển cư, hoặc tạo lập nên từ những mảnh đất ruộng nhỏ phía đồng lúa.
Tôi sinh ra và lớn lên trong thời nhà Nguyễn đã suy tàn và cáo chung, nên vườn phủ chỉ có nghe mà không được thấy. Tôi chỉ biết và thấy được một số vườn của các hoàng thân quốc thích thế hệ Ưng, Bửu, Vĩnh (cháu chắt đời thứ tư, thứ năm của vua Minh Mạng) và một số vườn khác của các cụ thượng dòng Tôn Thất, Nguyễn Khoa.
Theo tiến sĩ Phan Thanh Hải, giám đốc bảo tàng Huế, thời nhà Nguyễn còn thịnh trị, trong và ngoài thành cố đô có hàng trăm phủ đệ, riêng Vỹ Dạ có trên mười. Và vườn Vỹ Dạ là không gian văn hóa, là bối cảnh kiến trúc của các phủ đệ. Tại Vỹ Dạ ngoài phủ Tuy Lý, tiến sĩ Hải còn kể tên, nhưng không cho biết vị trí và hiện trạng của 13 phủ còn lại (2).
Là cư dân Vỹ Dạ tôi chỉ biết đại khái về phủ Tuy Lý, ít biết hơn về phủ Kiến An, nghe tên và chỉ biết vị trí về một phủ thứ ba có tên là Vy Dã chỉ còn một nửa trụ cổng.
Thời học tiểu học, tôi là đứa mê thích hoa bướm, cây cỏ, nên một mình hay cùng bạn bè luồn lách theo các vườn Vỹ Dạ từ thôn Hô Lâu xuống cầu Ông Thượng, đến Lại Thế, Ngọc Anh và một phần của thôn Năm Phổ. Không có một vườn phủ nào đúng nghĩa được lưu giữ trong ký ức của tôi.

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Địa-Phương-chí-Cao-Thị-Hoàng, lòng biết ơn của tôi. (Kỳ 05)



 Kết quả hình ảnh cho song nuoc mien tay
Địa-Phương-chí-Cao-Thị-Hoàng, lòng biết ơn của tôi. (Kỳ 05)

(Tiếp theo và hết)
Vẫn phong cách của một người viết “địa phương chí” ngoại hạng, bài “Con cá bống kèo vùng quê ngoại” của CTH, với tôi, có dễ là bài viết mang nhiều tính ẩn dụ nhất, trong số những bài viết đặc biệt của tác gỉa này.
Mở vào phân đoạn 3 chuyện “Con cá bống kèo vùng quê ngoại” vẫn là một đoạn văn chan chứa thi tính, pha lẫn chút văn chương dân giã:
“Long Hựu vào mùa gió chướng. 
“Những cây so đũa nở bông trắng xóa trong vườn, những dây đậu rồng đậu trái xanh mượt đang cố leo qua tường đất bỏ hoang. Mùa gió chướng nhắc nhở mùa hội cá bống kèo. Có bông so đũa, có trái đậu rồng xắt liễn, có từng khoanh ớt sừng trâu mỏng xéo... hòa tan cùng me hoặc lá giang hay cơm mẽ... là chắc mẩm ba bó một giạ rằng mình, có nồi canh chua cá bống kèo quê nhà vừa nóng hổi, vừa thổi, vừa húp hít hà...giữa những ngày cuối thu đầu đông, mát trời ông địa!”
Để rồi mỗi đoạn văn kế tiếp là một ẩn dụ được xây dựng trên tinh thần dân tộc, bản chất tự cường của người Việt… qua những sự kiện thực tế của giai đoạn nhiễu nhương nhất của lịch sử hiện đại, CTH viết:
 “… Mẹ con cá bống kèo tận lực đào hang thật sâu để tránh đạn pháo từ chi khu Cần Đước bắn xuống, từ Hạm Đội ngoài biển bắn vào. Mấy đứa con thắc mắc, hỏi mẹ: 
- Cái xứ Long Hựu có gì mà mình phải bám miết vậy mẹ? Sao không bỏ đi quách cho rồi? 
“Mẹ vừa lấy đuôi soi lỗ, vừa lấy miệng cạp đất đổ ra ngoài. 
“- Ở đâu quen đó. Đến nơi lạ chẳng dễ gì. Vả lại, chiến tranh thì chỗ nào cũng chiến tranh. Tránh vỏ dưa, trợt vỏ dừa, chớ được gì đâu. 
“Sống chết có số và trời kêu ai nấy dạ biết sao? 
“Mẹ nói vậy là cố giấu bầy con biết vết thương lòng của dòng họ kèo, vết thương dai dẵng và luôn chực chờ rướm máu nếu ai đó vô tình chạm phải. 
“Lúc mẹ tròn năm tháng tuổi - cái tuổi bước vào ngưỡng xuân thì phơi phới - tình cờ mẹ nghe lén câu chuyện giữa ông ngoại với bà ngoại về nỗi đau của dòng họ cá bống kèo. 
“Rừng ngặp mặn do thiên nhiên ban tặng chúng sinh trải dài theo bờ biển từ khu rừng Sát đến mũi Cà Mau: Cây mắm, cây đước, cây sú vẹt, cây bần, cây tràm...đua nhau mọc lên chắn sóng giữ đất. Muôn loài thủy sinh mặn lợ đoàn kết tình thương mến thương sinh sôi nẩy nở. Trời đất sinh ra hai dòng cá bóng kèo. Dòng anh vây lớn, dòng em vây nhỏ; cùng sống theo tinh thần chị ngã em nâng, nhưng tính khí anh em hoàn toàn khác nhau. Anh say sức mạnh, lúc nào cũng muốn chứng tỏ đẳng cấp của mình qua cái vây lớn cơ bắp. Ngược lại, em thích tung tăng bôi lội tự do trong miền đất được sống, yêu thương và giúp đỡ mọi loài. Phúc chung dòng, họa khác giống!”
 “Rồi một đêm đất tối trời mù, anh bỏ xứ Long Hựu nước mặn đồng chua đi giang hồ phiêu bạt. Em ở lại chốn quê chí thú mần ăn, sống cùng cái cực cái nghèo, bám đất giữ nước. 
“Trong chốn giang hồ gió tanh mưa máu, anh thần phục loài Cá Ngựa sống biển khơi; nhận Cá Ngựa làm Sư phụ, tình nguyện làm thân khuyển mã hầu mong Sư phụ đoái thương truyền thụ bí kiếp thần thông, để mai kia mốt nọ qui cố hương múa gậy vườn hoang khoe tài trí hơn người, hô phong hoán vũ giựt le và mần cha thiên hạ. Cá Ngựa cũng chẳng phải tay tầm thường. Nó biết tỏng tòng tong lỗ đít cá bống kèo vây lớn lỗ đít mấy khía, biết tâm địa muốn gì; nhưng nó giả đò khù khờ không biết. Cái đó, người đời thường bảo: Người khôn ăn nói nửa chừng / Để cho thằng dại nửa mừng nửa lo.” 
Từ những đặc tính riêng của loài cá này (mà đa phần chúng ta không hề biết), CTH mượn lời “trưởng thượng” là ông, bà ngoại bày cá này, để lai tỉnh nhân tâm, bằng những đối thoại dưới đây:
“… Tiếng bà ngoại tằng hắng có vẻ tức tối, hỏi ông ngoại: 
“- Bọn Cá Ngựa có phù phép gì ghê gớm, khiến anh cá bống kèo vây lớn nhà ta khiếp sợ phải quỵ lụy nhục nhã như vậy? 
“Ông ngoại cười ngất: 
“- Qua sông phải lụy lấy đò. Người cao vì ta cúi xuống. Ngựa - kể cả ngựa Xích Thố - còn chưa sợ, mắc mớ chi sợ Cá Ngựa? 
“Ông ngoại ngưng một lát, rồi nói tiếp: 
“- Có điều, đôi mắt Cá Ngựa nhô cao di động, thừa khả năng nhìn thấy kẻ thù hoặc con mồi mà không cần di chuyển. Với một cái vòi dài để mút con mồi nếu như nó muốn, một cái đuôi dài để giữ thăng bằng và bảo vệ mình khi gặp luồng nước dữ. Có lẽ, anh cá bống kèo vây lớn mê là mê cái chỗ nầy! 
“Có tiếng hớp nước của bà ngoại và giọng trầm đầy ái ngại: 
“- Nếu quả thực anh cá bống kèo vây lớn mê đôi mắt nhô cao di động, cái vòi và cái đuôi dài... chẳng hiểu anh có biết rằng, được những ngữ đó, Cá Ngựa trải qua một đời sống kỳ quặc chẳng giống ai: Cá Ngựa cái đẻ trứng vào túi ấp của Cá Ngựa đực và Cá Ngựa đực ấp trứng từ hai đến ba tuần thì trứng nở con. Cá Ngựa con chui ra như Cá Ngựa đực đẻ. Đeo đuổi cái không thể sẽ rước họa vào thân, học cái không nên sẽ hại dòng tộc chủng loài. 
“Rồi bà ngoại quả quyết: 
“- Cá Ngựa hoặc Cá Bống Kèo, cá nào cũng là cá. Biết cá nào hơn cá nào mà tầm sư học đạo? Đã thân phận cá ắt im lặng và cá sẽ đưa đến hệ quả thắng thua. Thắng thua từ cá,thì có nghĩa lý gì trong cái man man trời đất chúng sinh? Người nợ chúng sinh, chớ chưa chắc chúng sinh nợ người!”
Khoan nói tới khía cạnh những “thông điệp” mà tác giả muốn gửi tới người đọc như: Hãy “tự lực, tự cường”, đừng cầu lụy ngoại nhân, quay về với tinh truyền thống “anh em một nhà” thì, chỉ với những hiểu biết cặn kẽ của CTH về cách thức truyền giống của loài cá ngựa, cũng đã đủ thỏa mãn bản chất tò mò của độc giả!
Nhưng “thông điệp” CTH muốn gửi tới người đọc của mình, không dừng ở đó. Càng bước về phần cuối chuyện, độc giả không cần phải động não, cũng thấy ngay sự khác biệt giữa ý niệm thiện / ác; luân lý và phi luân; Nhân bản và vong thân…
Thác lời “cá bống kèo”, CTH nhấn mạnh:  
“… Trong bầy con của mẹ, không phải đứa nào cũng đồng ý với mẹ nhịn nhục ra đi. Có đứa muốn một trận sống mái cho ra ngô ra khoai. Có đứa nói nó ít, ta nhiều và sợ chi cái lũ cá ngựa chống lưng bọn cá bống kèo vây lớn. Có đứa bậm trợn và bức xúc hơn: ‘Sao mình không cậy nhờ lực lượng cá thòi lòi, lươn, chình, chạch... hình thành liên minh chống bọn chúng, giữ lãnh địa sinh sống lâu đời’. Hiểu nỗi lòng của các con, mẹ nói: “Ích kỷ, lợi quyền gây thù hận, sẽ đau khổ và khó khăn khi hòa giải”. Rồi mẹ khuyên nhủ các con như khuyên nhủ chính mình: ‘Đừng để ngày sau thiên hạ ghi câu cõng rắn cắn gà nhà trong lịch sử cá bống kèo vây nhỏ’! 
“Mọi chuyện tưởng rằng yên, nhưng lại không yên; rõ là do đức cạn trí nông và thấy một ly nhích đi một dặm của Trưởng lão cá bống kèo vây lớn, lần hồi đẩy giống nòi rơi vào đại họa diệt chủng. 
“Thu tóm xong lãnh địa của cá bống kèo vây nhỏ, Trưởng lão trở thành lãnh chúa và tự cho mình có quyền năng vô hạn. Lão dối trá và khoát lác rằng: ‘Sư phụ cá ngựa có sức mạnh tình dục vô địch, còn lão và dòng tộc thì trong cơ thể chứa hàm lượng đạm tinh khôi thiên nhiên vô tận’. Lời nổ rân trời lan rất xa và đến tai con người. Gặp lúc gạo châu củi quế, kinh tế bao cấp khó khăn, con người ùn ùn đổ xô nhau truy tìm và đánh bắt cá ngựa ngâm rượu làm thuốc, bán cho những kẻ suy yếu cái đứng hàng thứ ba trong tứ khoái. Rồi rừng ngập mặn bị tàn phá, các loài thủy sản ven bờ cạn kiệt, các ao nhân tạo nuôi tôm sú mọc lên như nấm, con cá bống kèo bất luận vây lớn hoặc vây nhỏ đều vơi dần,vơi dần theo thói háo ăn sạch sành sanh của con người. Lớp ăn, lớp phá, của trời nào chịu thấu; nói chi đến của chùa! 
“Về nương náo ở vàm kinh Nước Mặn riết rồi cũng quen nước quen cái, tàu ghe qua lại chạy rần rất suốt ngày đêm, mẹ con cá bống kèo vây nhỏ sống tạm ổn. Trong lúc đó, miền đất quê ngoại Long Hưụ bắt đầu khai hoang phục hóa, chuyển vụ nuôi trồng; Trưởng lão cùng dòng tộc cá bống kèo vây lớn bị người bắt giết gần hết và không còn đất dung thân. Mẹ cầm lòng chẳng đặng, bắn tin đến Trưởng lão: ‘Mẹ sẵn sàng đùm bọc, bởi nhiễu điều phủ lấy giá gương...’, bài học đầu đời mẹ từng thuộc khi mới lớn. Hôm trùng phùng với Trưởng lão ở doi đất bồi, mẹ lờ đi chuyện cũ không vui, mà chỉ nói: 
“- Con vật nếu có ác, thì cùng lắm chỉ ác do bản năng; nhất thời, cấu xé ăn thị nhau rồi thôi. Con người ác, chẳng những ác do bản năng mà còn ác do trí khôn; không những ác nhất thời mà còn ác lâu dài, hỗ trợ bởi mưu ma chước quỷ. Người đối với người còn lạnh lùng vô cảm, huống chi đối với loài vật chúng ta..”. 
Đó là trích đoạn ở phân đoạn 4 của chuyện “Con cá bống kèo vùng quê ngoại”. Ở phân đoạn này, CTH cũng ghi lại cảnh những con cá bống kèo thấy một cô gái bị chen lấn rớt xuống dòng kinh. Mọi người đứng nhìn! Cuối cùng một ông già phải nhảy xuống nước, cứu mạng cô gái. Tác giả ghi lại, như một thí dụ điển hình về tính vô cảm của hiện thực xã hội hôm nay:
“…Nỗi buồn của người nầy, lại là niềm vui của kẻ khác. Tiếng khóc của sự khổ đau mất mát, lại là trận cười hả hê được của. Con chim ngừng tiếng hót khi đồng loại gặp tai ương. Con người tiền thầy bỏ túi, mặc đồng loại đói cơm thiếu áo. Trưởng lão thấm thía cho cái nhân tình thế thái - mà thật ra, cái nhân tình thế thái nó tùy thuộc vào cái hình thái xã hội cũng nên. Khó nói lắm! Định mệnh chưa hẳn, mầu nhiệm trong tay Thiên Chúa chắc đâu?”
Trước khi ra khỏi chuyện “Con cá bống kèo vùng quê ngoại” ở phân đoạn 5, áp chót, CTH trở lại với một trong những thao thức, khắc khoải, âu lo của mình là: Mối ưu tư đau đáu về tương quan máu / thịt giữa con người và thiên nhiên, về bản năng hay thú tính của con người, khi nhấn mạnh:
“… Long Hựu bây giờ dẫu có bỏ công đi tìm đỏ con mắt, cũng không dễ gì gặp con cá bống kèo thiên nhiên. Ngần ấy năm thôi, con người tàn phá và xoay chuyển môi trường sinh thái biến đổi chóng mặt và ngợp thở. Cái ăn và thức uống thời hiện đại, đã khéo léo và len lỏi từng bước thống lĩnh cái miệng của mỗi con người trong gia đình, nhất là những người trẻ. 
“Cá bống kèo nuôi thường tự sự nhau rằng: Tiên hiền thuở trước bị con người coi rẻ mạt, người giàu sang quyền thế có bao giờ chấm mút món cá bống kèo? Hạng dân cùng đinh, manh lệ, từng bị liệt vào hạng cá kèo. Dân nghèo đi coi hát, đi coi đá bóng...đi...tất tất đều bị liệt vào cái hạng cá kèo! Nghĩ tội cho ông bà ông vải nhà kèo! Nay thì cuộc đổi đời đã khác, tụi mình được người giàu sang quyền thế tôn vinh Minh chủ đệ nhất thực trong cái rừng ẩm thực hồ lốn của con người. 
“Nghiệt nỗi, cá bống kèo do con người nuôi thì mần sao sánh được sinh khí đất trời nuôi? Lòng người sao so đo được lòng càn khôn vũ trụ? Cá bống kèo ngoài thiên nhiên phải đến bảy, tám tháng tuổi trưởng thành. Cá bống kèo nuôi trong ao hồ chỉ cần khoảng hai tháng rưởi đến ba tháng, đã nằm gọn trong cái nồi lẩu nghi ngút khói chốn kinh thành. Con người cái chi cũng gấp gáp: Chơi gấp gáp, ăn gấp gáp, mánh mun xào chẻ gấp gáp... chỉ có làm thì tà tà như chim Đa Đa, đít bà xã xà xà! Điều cần biết để sống tốt thì họ ít biết, điều không nên biết thì họ biết rành rẽ trên mức rành rẽ ở đời. Như thịt cá bống kèo thơm và bổ dưỡng, giúp người đau yếu ăn lại sức. Nhớt bám thân cá bống kèo, chính là vị thuốc thần kỳ tăng cường tinh lực cho cái bản lĩnh của quý ông lẫn quý bà lạnh cảm. Xét cho cùng, câu ca dao dân gian ở Long Hựu từng khẳng định: Trăm con Cá Ngựa ngoài khơi / Không bằng cục nhớt bám nơi lưng Kèo. Nó cũng chỉ ra vì sao dân nhà quê nấu cá bống kèo để nguyên nhớt, chỉ hớt bọt khi nước sôi. Đồng thời, cá bống kèo để nguyên con khi nấu nướng, vì cắt khúc cá sẽ cứng không ngon. Đó là nói cá bống kèo thiên nhiên. Cá bống kèo nuôi bằng kỹ thuật công nghệ với thức ăn tăng trọng, thìhình dáng mang vẻ con cá bống kèo thứ thiệt, nhưng chất lượng chỉ có Diêm Vương thấu hiểu và Trung tâm Ung Bướu mới rõ nguồn cơn. 
“Thói thường, quyền lực càng cao; của ăn của để thừa mứa trào họng, thì người ta càng run vì sợ đau, sợ bịnh, sợ chết...lưỡi lắc léo, miệng nói cứng, nhưng thâm tâm sợ đủ thứ sợ. Vì vậy, thường lui tới sư sãi, xây cất chùa chiền, đồng bóng bói toán, vái lạy ngày đêm và thực hiện mọi phương tiện biện minh cứu cánh trường sinh bất tử. Than ôi! Tần Thủy Hoàng không làm được, những kẻ hậu sinh sao cãi nổi số trời! 
“Thời hiện đại, người quay về tìm ăn cá thiên nhiên mỗi ngày một nhiều - trong đó, có cá bống kèo - Cuộc tàn sát cá mẹ lẫn cá con: Già không bỏ, nhỏ không tha đang diễn ra gay gắt và ác liệt. Con cá hủn hĩn kho tộ, bầy cá ròng ròng kho tiêu...vốn thuộc người nghèo khi xưa; nay là những món đặc sản xác định đẳng cấp của kẻ ăn. Ai dám chắc rằng: Tiểu nhân hôm nay, ngày mai không là đại nhân?”
Và, đây là đoản văn ở phân đoạn 6, như một tiếng thở dài có từ nỗi buồn chín nẫu, của tài hoa Cao Thị Hoàng:
“…Từng cánh cò rạng đông đáp đồng, báo hiệu một ngày mới trên miền quê ngoại Long Hựu. Con cá bống kèo thiên nhiên tuyệt chủng vì con người và con người chết dần bởi con cá bống kèo nuôi. Quả báo chăng? Có thể lắm chớ! Nhiều đêm Trưởng lão ngộ ra rằng: 
Con người chém giết nhau từ cái ăn, phúc họa từ cái lỗ miệng! Biết mà vẫn phải... mới đau!” 
.
Với vốn sống phong phú, lại thụ đắc kiến thức uyên bác (đặc biệt về những sinh vật bé mon, tôi tin, tương lai, sẽ có một nhà văn nghiên cứu, phê bình văn chương, bỏ công viết nguyên một cuốn sách về những cống hiến quý báu của Cao Thị Hoàng, y cứ trên những bài viết mang tính “địa phương chí” chung cho đất nước của tác giả này.
Riêng, hôm nay, ở đây, trước khi chấm dứt bài viết sơ quát của mình, tôi mong một ngày nào sẽ được gặp Cao Thị Hoàng, để nói lời cảm ơn của tôi, về những gì tôi đã nhận, hưởng được từ cõi-giới văn xuôi Cao Thị Hoàng!.!
Dám mong vậy thay.'

Du Tử Lê
(California, July 2016)  
01 Tháng Mười 2016  dutule.com


Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

Cao Thị Hoàng - Con cá bống kèo miền quê ngoại (Kỳ 04)


 Kết quả hình ảnh cho song nuoc mien tay


Cao Thị Hoàng - Con cá bống kèo miền quê ngoại (Kỳ 04)
 (Tiếp theo kỳ trước)

Cao Thị Hoàng tiếp tục gửi tới bạn đọc những gì, tuồng như có sẵn trong kho kiến thức cực kỳ phong phú. Nhưng với bài “Con cá bống kèo miền quê ngoại”, tác giả đã cho thấy mức độ giầu có của mình ở lãnh vực ca dao Nam bộ, nhiều hơn bất cứ một bài viết nào khác. Những câu ca dao đồng quê, không phải ai cũng biết (dù ở tuổi nào, trình độ nào).
Mở đầu với hai câu ca dao, được chọn làm phụ đề:
“Cá kèo mà gặp mắm tươi
Như nơi đất khách gặp người cố tri”
Tác giả đã dẫn người đọc hòa nhập vào “câu hò tình tứ trong đêm thanh vắng”:
“Ghe ai đỏ mũi, trảng lườn
Phải ghe Cần Đước xuống vườn thăm em”
Rồi:
“Người khôn ăn nói nửa chừng
Để cho thằng dại nửa mừng nửa lo”
Hoặc:
“Trăm con cá ngựa ngoài khơi
Không bằng cục nhớt bám nơi lưng Kèo”
Cũng với tiểu phẩm “Con cá bống kèo miền quê ngoại”, trong một đoản  văn, Cao Thị Hoàng khéo léo đề cập đến nhiều lãnh vực khác nhau. Từ địa phương chí, lịch sử kháng chiến chống Pháp, tới văn học và, đóng góp thiết thực của cá bống kèo, khi viết:

 “… Bầy cá bống kèo hãnh diện về quê ngoại Long Hựu của mình. 
Long Hựu là cù lao, cách ngăn huyện lỵ Cần Đước bởi con kinh Nước Mặn do thực dân Pháp đào, khi bình định xong Nam Kỳ lục tỉnh. Long Hựu từng giữ vai trò căn cứ hậu cần của nghĩa quân Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định, từng đóng góp sức người sức của vào đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu (*) đánh đồn Cần Giuộc, giết một số lính Tây và trừng trị tên Tri huyện sở tại. Tuần phủ Gia định Đỗ Quang thời bấy giờ, đã đích thân yêu cầu cụ Nguyễn Đình Chiểu viết ''Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc'', một áng văn bất hủ làm rung động lòng người: 
"Ôi!

Một trận khói tan
Nghìn năm tiết rỡ
...
Đau đớn mấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều.
Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, con bóng xế dật dờ trước ngõ
...
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân.
Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm, cảm bởi một câu vương thổ."

(trích''Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc'')

“Công bằng mà nói, loài cá bống kèo Long Hựu đã tự nguyện biến đời mình thành con khô, con mắm ... làm thực phẩm dự trữ nuôi bạn nghèo, nuôi nghĩa quân những lúc khó khăn cái ăn…” 

Và, rất ý nghĩa khi qua lời kể của “Mẹ cá bống kèo” (hay Mẹ Việt Nam?) lịch sử của vùng đất nổi tiếng trong sử Việt, được nhắc lại, kèm theo ẩn dụ: Kể chuyện xưa, cảnh báo chuyện nay:

“Nói gì thì nói, tận đáy lòng mẹ cá bống kèo vẫn coi Long Hựu là quê ngoại yêu dấu của mình. Mẹ chứng kiến bao cuộc biển dâu trên vùng đất nghèo khó và đau khổ nầy. Mẹ khóc hết nước mắt, khi nhìn thấy từng bầy con chết ngạt vì những vết dầu loang trên mặt nước, do tàu chiến xâm lược Pháp đổ ra. Rồi mẹ và các con ngơ ngác, thao thức khi chúng xây pháo đài Rạch Cát (**) ở xóm Minh Long nhằm án ngữ sông Vàm Cỏ, sông Rạch Cát đổ ra sông Soài Rạp. Dòng chữ ghi ở cổng ''Ouvreges du Rach Cat 1910'' như thách thức và khẳng định sự hiện hữu của chúng…”

Là nhà văn có khả năng làm chủ mọi xung động tình cảm; kể cả niềm hãnh diện tổ quốc hay, tinh thần dân tộc… Cao Thị Hoàng đã dễ dàng trở lại với tâm bão của bài viết:   

“Xưa nay, dân bản xứ thắng quân xâm lược cũng nhiều. Thực dân Pháp, không tránh khỏi quy luật ngàn đời đó. Con cá bống kèo trở lại cuộc sống ên bình trên triền sông, bãi bồi Rạch Cát; trên ruộng lúa Long Hựu. Cá bống kèo đào hang khắp nơi muôn chốn, từng bầy rượt đuổi nhau bùn sình bắn tung tóe. Điệp trùng quân ngũ những cái đầu nhom nhom như hàng vạn trái mù u trôi thành giề theo dòng nước. Những chủ đáy thúc thủ và bất lực trước lực lượng hằng hà sa số kể cá bống kèo tranh nhau chui vào đáy. Sợ bễ đáy, rách lưới; chủ đáy đành xả đáy. Đêm đêm cá bống kèo nhảy soi sói theo ánh đèn dầu trai thay dầu lửa, chỉ nửa canh giờ cũng đủ nồi cháo cá bống kèo đặc quẹo và béo ngậy, năm bảy người ăn thừa mứa. Ruộng cấy lúa mùa chín vàng rỏ nước khô đồng, một vũng nước sềnh sệt có hàng chục con cá bống kèo nằm chồng lên nhau quấn quýt, thò lỏ mắt nhìn trời tháng giêng mây trắng. 
Mẹ cá bống kèo thường nhỏ to than thở với còng, cua, cá...chòm xóm chung quanh: Thiên nhiên ưu đãi con người, nhưng con người phụ bạc thiên nhiên. Có khi, nhẫn tâm hơn thế nữa! Cá bống kèo là món ăn của dân nghèo trắng tay cháy túi; bọn trọc phú, kẻ bề trên, dễ mấy ai thò tay thọc đũa thịt cá bống kèo. Người ta bắt cá bống kèo giạ nầy qua giạ khác, ủ phân trồng dưa hấu xanh da, đỏ ruột cát để lâu không đổ ruột hư thúi. Nỗi tiếng một thời: Dưa hấu Long Hựu, Long Trì... 
Sau mùa về biển lấy nhau và sinh đẻ, cá bống kèo quay trở lại đất cũ. Nó lặng ngắm giang sơn đổi mới, nó tự hào nhà trăm cột của phú hộ Hương sư Trần Văn Hoa, cất trên đất Cầu Ngang làng Long Hựu đầu thế kỷ 20. Nó phấn kích khi nghe bạn thương hồ đi ghe qua sông Rạch Cát, bất chợt hò câu hò tình tứ trong đêm thanh vắng: Ghe ai đỏ mũi, trảng lườn / Phải ghe Cần Đước xuống vườn thăm em? Nó phấn kích cũng phải thôi, bởi Long Hựu từ rất lâu nổi tiếng đóng các loại ghe xuồng - đặc biệt đóng ghe bầu - khắp vùng sông nước Nam Bộ. Thời gian bào mòn thế sự, vật đổi thì sao dời. Long Hựu tách ra làm hai: Long Hựu Đông, Long Hựu Tây. Nói cho vui, nếu Long Hựu Đông có nhà trăm cột, có Đồn Rạch Cát trên trăm năm, thì Long Hựu Tây có tay nghề tài hoa đóng ghe bầu tuyệt kỹ. Đôi mắt ở mũi ghe toát ra thần lực, khiến các loài thủy quái, hà bá...miền sông biển khiếp sợ mỗi khi nhìn thấy. 
Đối với con cá bống kèo, Long Hựu Đông hay Tây thì cũng chỉ là một Long Hựu mến yêu, một miền đất hứa của riêng mình.”

Ngoài tư cách nhà văn, tôi không biết Cao Thị Hoàng có còn là một nhà thơ? Chỉ thấy rằng, trong bất cứ bản văn mang tính địa dư chí nào, tác giả cũng có những đoạn văn tả cảnh nhiều thi tính. Cũng thế, trong “Con cá bống kèo miền quê ngoại” là:
“Long Hựu vào mùa gió chướng. 
Những cây so đũa nở bông trắng xóa trong vườn, những dây đậu rồng đậu trái xanh mượt đang cố leo qua tường đất bỏ hoang. Mùa gió chướng nhắc nhở mùa hội cá bống kèo. Có bông so đũa, có trái đậu rồng xắt liễn, có từng khoanh ớt sừng trâu mỏng xéo... hòa tan cùng me hoặc lá giang hay cơm mẽ…”

Hoặc:
“…Câu chuyện mẹ kể đã dứt từ lâu, bầy con vẫn còn đắm chìm trong suy nghĩ giữa tiếng pháo gầm xa theo con nước lớn.

(…)

“Tháng tư quê ngoại trời mưa sa giông 
Nhớ hôm ra đi, mẹ tần ngần dưới ánh nắng chiều phôi phai tràn mặt sông Rạch Cát, lòng mẹ hòa tan theo từng lọn đất phù sa và lón nước lợ vùng hạ khó nghèo…”
(Kỳ sau tiếp)
_______
Chú thích:
(*) Ngày 16.12.1861 (có sách ghi ngày 14.12.1861) (Chú thích của  CTH.)

(**) Còn gọi Đồn Rạch Cốc, khởi công xây 1903 và khánh thành 1910) (Chú thích của CTH.)

17 Tháng Bảy 2016
Du Tử Lê