Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2017
Thứ Sáu, 23 tháng 6, 2017
Thơ TỪ HOÀI TẤN Tháng giêng đi về Huế
Sông Hương Núi Ngự - Nguồn: linkhay.com
Tặng ông bà NQT
Gởi
lại bản tình ca nơi đất Huế
Năm
tháng mòn bánh xe trục lăn
Một
ngày lại như một ngày khác
Chỉ
có mối tình ta sủi tăm
Trên
dòng sông suốt mấy nghìn năm lặng lẽ
Như
con người ở đây
Như
cảnh vật ở đây
Những
đền đài lăng miếu di tích
Ghi
dấu một triều đại
Ghi
dấu sự lầm lỡ của một thời tuổi trẻ ta
Và khi em đến
Mùa
đông năm ấy trên dốc Nam Giao
Rồi
em đã đi
Về
một cõi nào không biết
Cõi
ấy là gì cũng không còn ai nhớ
Chỉ
mình ta thơ thẩn một cơn buồn
Buổi sáng sương sớm bên bờ sông
Mù
như một ngày tháng chạp
Bức
tường rêu phủ niềm ăn năn
Những
cuộc đời thất lạc
Cây
bằng lăng bên lan can tường thành bông hoa chưa nở
Con
đường tưởng như dài nỗi lạnh vắng
Gởi lại một bản tình ca nơi đất Huế
Phi
trường mù báo hiệu đợt mưa dài
Mùa
còn mưa Xuân vẫn dầm mưa
Quanh
quẩn đi về
Quanh
quẩn cùng ai
Từ Hoài Tấn
Huế,
đầu xuân 2017
https://phamcaohoang.blogspot.com/
https://phamcaohoang.blogspot.com/
Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017
Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh : Cho một kiếp mơ được yêu nhau
Tác giả hai bài thơ đã cùng âm nhạc của Phạm Duy trở thành bất hủ trong lòng người Việt, nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, đã ra đi vào ngày 9/6/2017 tại miền Nam California. Một cái tên lớn của văn hoá Việt Nam đã hoá mây về trời trong những ngày ở quê nhà đầy mưa và mây xám.
Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, là đôi tác phẩm trong hàng loạt các sáng tác của bà như truyện ngắn, truyện dài, thi tập... mà danh mục có đến 17 ấn bản, từ năm 1960 đến 1990.
Tài liệu về bà, chủ yếu được trích từ sách "Văn nghiệp & cuộc đời Minh Đức Hoài Trinh" do phu quân của bà là Nguyễn Huy Quang chép lại (sách đề tác giả là Nguyễn Quang). Hiện sách gần như tuyệt bản. Trong đó nói rõ tiểu sử của bà như sau:
"Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982. Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học.
Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.
Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979"...
Về câu chuyện văn bút quốc tế, có rất nhiều chi tiết đáng ngưỡng mộ tâm sức của bà.
Sau năm 1975, rất nhiều hội đoàn chính danh liên kết với quốc tế của miền Nam Việt Nam như Hướng đạo sinh, Ngân hàng, báo chí... đều bị đứt đoạn. Hội nhóm văn chương tự do của miền Nam sau thời điểm đó đều tan tác, mỗi người một hướng.
Theo quy định của Văn bút Quốc tế, muốn tái lập, thì tổ chức nhân danh quốc gia đó phải có ít nhất là 20 thành viên. Từ một nền văn hoá có đến hàng ngàn danh sĩ của miền Nam, việc liên lạc và tập hợp 20 người vào năm 1977 đến 1979 đã trở nên khó khăn vô cùng, nhất là khi cuộc sống của người Việt di tản còn vất vả và ly tán.
Năm 1978, nữ thi sĩ và là nhà báo Minh Đức Hoài Trinh một mình tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ 43 tổ chức ở Stockholm, Thụy Điển, và đơn độc một tiếng nói Việt Nam ở đó, bà vận động các nhà văn và các bút nhóm quốc tế quen biết ủng hộ cho việc thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese Abroad Pen Centre) chính danh là thành viên của Pen International, với lý do nối kết lại hoạt động của giới trí thức tự do Việt Nam sau chiến tranh. Đây là việc mà ai cũng thấy là vô hy vọng vì sự chống đối mạnh mẽ của phe thân cộng, lúc đó đang nổi lên trong Pen International. Nhưng kết quả bỏ phiếu thì thật bất ngờ: 23 phiếu thuận – 23 phiếu chống. Rất nhiều nhà văn trong hội đồng đã cảm động trước tâm nguyện của bà nên đã bỏ phiếu đồng ý. Tiếc là kết quả không như ý.
Năm 1979, tại Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế kỳ 44 ở Rio de Janeiro, Brazil, cuộc vận động của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh thành công. Và Văn Bút Việt Nam Hải ngoại tồn tại đến ngày hôm nay, vẫn chính danh là nhánh văn bút quốc tế thuộc Pen International.
Mục đích và tâm lực của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là muốn xây dựng một tiếng nói truyền thông có tầm quốc tế cho giới trí thức người Việt đang phải ly tán, nhất là vào lúc khi muốn cất tiếng thì lại quá lạc loài. Tầm nhìn của một phụ nữ như bà, vào thời gian ấy, quả thật đáng ngưỡng mộ.
Từ năm 1982, Minh Đức Hoài Trinh định cư ở Hoa Kỳ, sau đó ở gần nơi cư trú của nhạc sĩ Phạm Duy. Nơi Midway City, mà ông thường diễn dịch một cách thơ mộng là Thị trấn giữa đàng.
Nói về cơ duyên của sự kết hợp thi ca và âm nhạc của Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, nhạc sĩ Phạm Duy có ghi lại trong hồi ký Vang vọng một thời: “Tôi bấy giờ đang là quân nhân... bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô. Từ tướng Tư lệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con... ai cũng đều mê mẩn cô bé này. Phạm Ngọc Thạch từ Trung ương đi bộ xuống vùng trung du để vào Nam bộ, khi ghé qua Thanh Hóa, cũng phải tới Trường Văn hóa để xem mặt Hoài Trinh. Hồi đó, Minh Đức Hoài Trinh đã được Đặng Thái Mai coi như là con nuôi và hết lòng nâng đỡ.
Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp. Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ”...
Là người sống cùng thời đại với nữ văn sĩ Pháp Francoise Sagan, và cũng là người theo Tây học nhưng tư tưởng bàng bạc theo thuyết cõi tạm của Phật giáo, ngôn ngữ của bà luôn u uẩn nhưng ngôn từ của bà thì dữ dội và đắm đuối đến ngộp thở, đọc lại vẫn bàng hoàng:
"Đừng bỏ em một mình
Trời đất đang làm kinh
Rừng xa quằn quại gió
Thu buốt vết hồ tinh"
Hay
"Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận nghìn sau
Tình xanh không lo sợ
Hoặc trong bài "Tình chúng mình sẽ được vẽ lên tranh" có đoạn:
"Anh còn sống là mình còn xa cách
Vì cuộc đời hay ghét kẻ yêu nhau
Vì hạnh phúc phải xây trên nhiều thử thách
Xã hội điên cuồng, nhân loại ngợp thương đau"
Tạm biệt bà, một danh nhân của nền văn hoá đầy sức sống mãnh liệt của miền Nam Việt Nam tự do. Thêm một người nữa đã khuất, và thêm những núi đồi hùng vĩ lại mọc lên mà hậu sinh sẽ cứ phải ngước nhìn trong trầm mặc. Những ngọn núi nhắc rằng đỉnh cao của kiếp người là để sống và mơ được yêu thương nhau, dẫu muôn thương đau.
Phụ lục: Các tác phẩm của Minh Đức Hoà Trinh đã xuất bản gồm có:�Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).
Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017
Thơ CÁI TRỌNG TY
BIÊN CƯƠNG
Tưởng niệm nhà thơ PHẠM NGỌC LƯ
biên
cương hành chí hồ thỉ
ngôn
ngữ thơ di lụy một đời
người về bản quán nhà tan nát
tâm
tư ưu uất tháng năm trôi
ngồi đây mời bạn chung rượu đắng
kẻ sĩ đạp gai giày cỏ qua sông
xa
bao năm một ngày thoáng
gặp
gió
phi trường bình định
cát
bay bay
vội vàng tay vẫy không hẹn lại
thuở ấy bụi đường lắm tai ương
ta
theo trận mạc về an phú
thời xuân thu
sớm biển chiều rừng
bước đi lửa tình sắp cạn
nhìn
lại mình rách nát tang thương
bạn tôi chí lớn mài gươm bén
chảy máu đời thơ buổi chợ tàn
ai
hiểu cho mi đời thất chí
chung
rượu này đối ẩm với ai
đêm
xưa gác trọ vài ba đứa
chơi một phùa sảng khoái
tan
hàng
nay
hong bếp cũ tro than lạnh
nhìn
đăm đăm vách lá chơ vơ
chỉ thấy tháng ngày xuôi lớp lớp
đời mi trôi quạnh quẽ vào ra
nhớ bạn đêm về đau vết cắt
dấu đời qua dao nhọn cứa vào tim
ta
qua cầu nhìn giòng sông khập khiểng
máu
về tim nhịp đập luân hồi
đêm
nay ngâm lại biên cương trấn
hành
phương đông uất hận ngút ngàn
mây
đùn kìn kịt từ đất khổ
vó
ngựa cao nguyên đỏ xóm làng
cung
đàn xưa ai người tri kỷ
chiếu bạc đời soi nỗi đắng cay
giông
bão đời xoay
gãy
rồi bút bạc
đời sang trang khép
khúc
oan tình
hình
như gió thổi qua liếp cửa
vi
vu nghe tiếng gọi trùng khơi
gọi ai nơi tận cùng biên tái
mây
khói tàn tro phủ tượng đài
ta
rơi giòng lệ về chốn cũ
dấu giày thô ngươi ở trọ quê nhà
Cái
Trọng Ty
Texas, May
26 2017
Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017
VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC
NHÀ THƠ
PHẠM NGỌC LƯ
ĐÃ QUA ĐỜI VÀO TỐI THỨ SÁU, 26.5.2017 TẠI ĐÀ NẴNG
HƯỞNG THỌ 71 TUỔI. NHÀ THƠ SẼ ĐƯỢC ĐƯA VỀ MAI TÁNG
TẠI QUÊ NHÀ PHÚ VANG, HUẾ VÀO NGÀY 31.5.2017
TẠI QUÊ NHÀ PHÚ VANG, HUẾ VÀO NGÀY 31.5.2017

Xin chia buồn cùng chị Quý và gia đình.
Nguyện cầu linh hồn người quá cố
Nguyện cầu linh hồn người quá cố
sớm yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.
Trần Huiền Ân Trương Vũ Đỗ Hồng Ngọc Lữ Kiều Lê Phương Nguyên Hải Phương Trần Hoài Thư Phạm Văn Nhàn Võ Tấn Khanh Lữ Quỳnh
Phạm Nhuận Nguyên Minh Cao Thoại Châu Nguyễn Quốc Thái Quan San
Thành Tôn Luân Hoán Trần Doãn Nho Hoàng Lộc Nguyễn Trọng Khôi
Nguyễn Xuân Thiệp Khuất Đẩu & Huyền Chiêu Từ Hoài Tấn Lê Văn Thiện
Bắc Phong Huỳnh Ái Tông Nguyễn Miên Thảo Viêm Tịnh Võ Chân Cửu Hạ Đình Thao
Lãm Thúy Trần Thị Nguyệt Mai Nguyễn Quang Chơn Duyên & Tùng
Nguyễn Sông Ba Lê Ký Thương Đặng Kim Côn Hoàng Xuân Sơn
Thu Vàng Nguyễn Thị Thanh Bình Hoàng Thị Bích Ti Nguyễn Minh Nữu
Thân Trọng Sơn Nguyễn Lệ Uyên Nguyễn Âu Hồng Hà Thúc Sinh
Lê Văn Trung Ngô Phan Lưu Nguyễn Dương Quang Nguyễn Hòa
Đỗ Trường Mai Quang Nguyễn Đức Nhơn Văn Công Lê Gia Nguyễn
Tôn Nữ Thu Dung Nguyễn Thị Khánh Minh Trần Bang Thạch Triều Hạnh
Lương Thư Trung Phan Xuân Sinh Cái Trọng Ty Tô Thẩm Huy
Trần Phù Thế Nguyễn Thanh Châu Phan Ni Tấn Hoài Ziang Duy
Đoàn Văn Khánh Trương Văn Dân & Elena Phạm Cao Hoàng & Cúc Hoa
Mang Viên Long Thúy Phương Trần Yên Hòa Huỳnh Hữu Võ Tô Duy Thạch
Đoàn Văn Khánh Trương Văn Dân & Elena Phạm Cao Hoàng & Cúc Hoa
Mang Viên Long Thúy Phương Trần Yên Hòa Huỳnh Hữu Võ Tô Duy Thạch
_____________________________________________________
PHẠM
NGỌC LƯ

Nhà thơ Phạm Ngọc Lư (1946-2017)
Tên
thật Phạm Ngọc Lư, bút hiệu khác Phạm Triều Nghi. Sinh năm 1946 (Bính Tuất) ở
Vinh Xuân, huyện Phú Vang, tỉnhThừa Thiên. Nơi ông sinh là một làng nhỏ vùng
duyên hải cách thành phố Huế khoảng 30 cây số về hướng Ðông Nam. Ngay từ
thuở ấu thơ, Phạm Ngọc Lư đã được cha và người bác truyền dạy chữ
Hán.
Ông
là cựu học sinh Quốc Học, sinh viên Viện Hán học và Ðại học Văn Khoa Huế.
Sau khi tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn, ông về dạy học ở Tuy Hòa. Năm sau,
1968, theo lệnh động viên ông nhập ngũ khóa 5/68 Sĩ quan trừ bị Thủ
Ðức. Sau 9 tuần ở quân trường, ông lại được biệt phái trở về ngành
giáo dục. Bắt đầu viết năm học đệ tứ. Có bài trên các nguyệt san, tạp chí Nghệ
Thuật, Văn, Bách Khoa, Trình Bày, Khởi Hành, Ý Thức, Tuổi Ngọc…
Tác
phẩm đã xuất bản:
– ĐAN TÂM (Thư Ấn quán 2004)
– MÂY NỔI (tự in 2007)
Sau
năm 1975, Phạm Ngọc Lư bỏ nghề dạy học. Từ đây, hoàn cảnh, xã hội đã
đẩy Phạm Ngọc Lư phiêu bạt nhiều nơi, có những lúc cuộc sống, tâm
hồn tuyệt vọng, tưởng chừng ông đã đoạn tuyệt với thi ca. Nhưng rồi
chính nó lại là điểm tựa, giúp ông vượt qua những đắng cay, tủi
nhục ấy. Và Ðà Nẵng mới là nơi hội tụ, điểm dừng chân cuối, không
chỉ riêng ông, mà còn của nhiều thi nhân lỡ bước khác. Gần đây có tin
Phạm Ngọc Lư bị bệnh. Chúng ta cầu chúc ông sớm bình phục.
Nghĩ
về nhà thơ Phạm Ngọc Lư, Cung Tích Biền viết: Ông xuất hiện khá sớm trên văn
đàn Miền Nam, trước 1975, qua các tập san văn chương; trong dòng văn học phóng
khoát, bay bổng. Thơ buổi này? Là của nửa lãng mạn, và nửa kia của Lửa, trong đấu
tranh sống còn. Mỗi tâm thức là nghìn gạn hỏi về phận người trong một Việt Nam
phân ly Bắc-Nam. Một Việt Nam bị cuộc chiến ác liệt, vừa của bom đạn máu lửa vừa
của ý thức hệ thù nghịch. Nó thách thức và ngăn cách toàn triệt với hạnh phúc;
lại rất gần gũi trong ý nghĩa lưu đày.
Nhưng
đây cũng là thời kỳ may mắn cho những ai làm văn học nghệ thuật, đương nhiên là
ở Miền Nam. Vì cái thực tế nơi đây, là đầy rẫy rủi ro lại phong phú những mong
chờ. Rất nhiều cảm thán về thân phận nhưng cũng thừa những nụ cười về nghịch lý
đời thường. Và, vì họ được sống, được làm Người Sáng tạo, trong một môi trường
tự do. Có nghìn tự do lựa chọn. Có biển tư tưởng để tương phùng. Và trên hết, từ
một thế giới rộng mở, đa dạng, sầm uất những phát biểu, họ tồn tại trong đầy đủ
ý nghĩa của Tồn Tại. Phạm Ngọc Lư là một Ðóa Hoa, trong vườn hoa sắc màu hoằng
viễn này.
Hồi
ấy, hơn ba mươi lăm năm trước, tôi đọc thơ Lư mà chưa hề có dịp gặp mặt. Cứ
nghĩ, anh là một người giàu trầm tư, vừa sống vừa phiêu bồng thấy ra:
Ngàn sau
hồn chữ rêu phong
Miên man
thiên địa… tấc lòng du du…
Phạm
Ngọc Lư
Năm
2008, gặp Phạm Ngọc Lư ở Ðà Nẵng, Cung Tích Biền ghi nhận: Một làn da trắng lấm
tấm bụi phong trần. Một khuôn mặt xương xương khắc khổ. Một giọng nói mềm của
Huế. Một thân người mảnh mai. Duy đôi mắt sáng, một vầng sáng đã xám đậm những
rêu đời. Ðó là chân dung Nhà thơ Phạm Ngọc Lư. Tôi cũng rất mừng là anh còn
sáng tác. Và cái tốt đẹp trên cùng, là anh còn giữ được chừng mực cái tinh túy
Chính-Mình.
Phạm
Ngọc Lư, qua thời cuộc thăng trầm, làm thân phiêu dạt, nhưng không hóa ra bọt
bèo. Mà anh đã minh triết nhận ra cái Tính Lý của cuộc Sinh – Diệt:
Đất đá
thở ra mùi u uất
Bốn bề
hun hút rợn màu tang
Ai chết
quanh đây mà cú rúc
Mà cơn
gió lạnh réo hồn oan
Ai trong
muôn dặm không về nữa
Cố lý mười
năm mộng bẽ bàng
Cố
lý hành – Phạm Ngọc Lư
(Bài viết của NGUYỄN & BẠN HỮU -
Nguồn: Báo Trẻ online)
phamcaohoang.blogspot.com
phamcaohoang.blogspot.com
Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017
Bài thơ của những năm gió bụi : Lau lách Bình Thành
Ta về đây phất ngọn cờ lau
Dẫn bầy lâu la là đám con nhỏ
Tập trận trên những luống khoai mỳ
Trồng bờ đắp mới xong hôm qua
Bên dòng nước phèn tanh tưởi
Những luống khoai của một trận địa nghèo khó
Với bầy con ở trần quanh năm
Bên mụ vợ ở nhà quê đụng giường thì đẻ
Hàng chục năm quá khứ bỏ lại sau lung
Cùng những ngày phố thị bị truy đuổi
Những năm đau lòng vĩnh biệt một cuộc chiến tranh
Cảnh chia ly không ngờ tới
Bỏ lại một chặng đường
Bởi không còn cách nào để ở lại với những ngày lang
thang và đói
Sau những cuộc ra đi thất bại
Ta về đây với bông hoa tràm đồng nội
Rừng bạt ngàn lau lách
Đất bưng biền
Nước trong xanh chỉ để soi mặt mình, không uống được
Những trảng bàng mênh mông nối tiếp tận chân trời
Chỉ để thấy sự cô độc của kẻ không nơi nương náu
Về dựng chòi trên bờ kinh xáng múc
Những nhát cuốc xuống vùng đất mùn
Khơi tìm mạch sống
Những năm ấy như là
Kẻ thất phu
Mang nỗi đau ngày lưu lạc
Kẻ thất phu tự an ủi mình bằng vinh quang của sự hèn
nhát cam chịu cuộc đời
Bên người vợ quê suốt ngày ca sáu câu vọng cổ
Những năm ấy như là
Chìm đắm êm ái với sự vô vọng
*
Rừng ở đây và đất cũng ở đây
Từng ngày rồi từng năm tháng
Mười lăm năm không nghĩ sẽ qua
Dòng kinh xáng nước lớn ròng đôi bận
Nằm chờ biền sông dưới bóng cây gừa
Xuôi con nước thuận dòng về bến chợ
Hàng đã lên bờ rượu đã bày ra
Vài con khô cá sặc
Chung ly rượu bằng hữu thương hồ
Ngất trời sảng khoái
Bèn cất tiếng ca rằng
Ta về đây về đây
Phấp phới ngọn cờ lau
Lãng tử hay tráng sĩ hề
Dửng dưng lòng nguội lạnh
Quê hương hay đất nước hề
Có còn không một cõi
Để
Những tháng năm tràn qua
Chỉ là giấc mộng đầu hôm
TỪ
HOÀI TẤN
(Xã
Bình Thành Huyện Đức Huệ Tỉnh Long An - Biên giới Việt Miên những năm 1980s
Viết
lại Sài Gòn tháng 2/2017)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)